0
Lời nói đầu
Luận văn đợc hoàn thành theo chơng trình đào tạo cao học khoá 8 tại trờng
Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam.
Tôi xin chân Thành cảm ơn Ban giám hiệu trờng Đại học Lâm Nghiệp, khoa
sau đại học, các thây cô giáo và thầy Vũ Nhâm, ngời trực tiếp hớng dẫn khoa học đÃ
tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu và giành những
tình cảm tốt đẹp cho tôi trong thời gian học tập cũng nh quá trình hoàn thành luận
văn.
Nhân dịp này tôi xin tỏ lòng biết ơn Ban quản lý Dự án khu vực lâm nghiệp
và quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Chu, Uỷ ban nhân dân xà Tân Thành
huyện Thờng Xuân, cùng toàn thể đồng nghiệp bạn bè đà giúp đỡ động viên tôi hoàn
thành khoá học.
Mặc dù đà làm việc với tất cả sự nỗ lực, nhng do hạn chế về trình độ và thời
gian, nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp xây dựng quý báu của các nhà khoa học và bạn bè đồng
nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn./.
Xuân Mai ngày tháng 8 năm 2003
Tác giả
Đàm Đình Hùng
1
Chơng 1
Đặt vấn đề
Hệ sinh thái rừng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc bảo vệ môi trờng
sống và nền kinh tế quốc dân ở nhiều quốc gia. Giữ đất, giữ nớc, điều hoà khí hậu,
phòng chống ô nhiễm và thiên tai là những tác dụng chính của rừng, vì thế mà cho
đến nay nhiều nớc trên thế giới đà coi tác dụng bảo vệ môi trờng của rừng lớn hơn
nhiều so với giá trị kinh tế của nó. Tuy nhiên sức ép về kinh tế và dân số đà và đang
dẫn đến việc sử dụng quá mức tài nguyên rừng ở các nớc đang phát triển, đặc biệt là
nạn chặt phá rừng bừa bÃi. Tình hình đó làm cho nguồn tài nguyên có thể tái tạo đợc
nh rừng và đất rừng bị cạn kiệt nhanh chóng, môi trờng rừng nói riêng và môi trờng
sống nói chung bị suy thoái nghiêm trọng.
Phục hồi và phát triển rừng nhằm nâng cao độ che phủ của rừng, hớng tới sự
phát triển bền vững đà trở thành mục tiêu hàng đầu và cấp bách của nhiều quốc gia.
Sự phát triễn bền vững của mọi nền kinh tế quốc dân trớc tiên phải dựa vào sự bền
vững về môi trờng, điều này chỉ có thể thực hiện đợc thông qua việc khôi phục và
phát triển rừng. Chính phủ Việt Nam đà nhận thức đợc vấn đề này, đà có nhiều chủ
trơng, chính sách, chơng trình cấp quốc gia nhằm khôi phục và phát triển rừng, trớc
tiên là rừng phòng hộ đầu nguồn đà đợc ban hành và thực hiện. Chỉ có nâng cao độ
che phủ mới phát huy đợc chức năng phòng hộ, cải thiện môi trờng, hạn chế thiên
tai cho vùng hạ lu, cung cấp nớc cho sản xuất nông nghiệp, đóng góp vào công cuộc
Xoá đói giảm nghèo cho những ngời dân sống trên vùng đầu nguồn, vùng sâu,
vùng xa, vùng cực kỳ khó khăn. Với nhận thức trên, Chính phủ Việt Nam đà yêu cầu
Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB - Asian Development Bank) hỗ trợ phát triển
nguồn tài nguyên rừng ở Việt Nam. Một trong những hỗ trợ này đợc tiến hành mang
tên Dự án khu vực Lâm nghiệp và quản lý rừng phòng hộ đầu ngn (VN - ADB).
Víi kinh phÝ tõ ADB, Trung t©m Đầu t thuộc Tổ chức Lơng Nông Thế giới
(FAO) đà tiến hành nghiên cứu và xây dựng Dự án tổng thể cho toàn bộ Dự án trên
phạm vi khu vực đầu nguồn các sông Chu, sông Ba và hồ Trúc Kinh, thuộc bốn tỉnh:
Thanh Hoá, Gia Lai, Quảng Trị và Phú Yên. Điển hình và cũng là đầu tiên của chơng trình hỗ trợ này là Dự án khu vực lâm nghiệp và quản lý rừng phòng hộ đầu
nguồn Sông Chu Thanh Hoá, đợc triển khai tại huyện Thờng Xuân, một trong 11
huyện miền núi của Thanh Hoá. Cho đến nay Dự án đà triển khai đợc 5 năm và đang
ở giai đoạn cuối. Vấn đề đánh giá các hoạt ®éng cđa Dù ¸n cịng nh c¸c t¸c ®éng vỊ
kinh tế, xà hội và môi trờng, đề xuất các giải pháp để duy trì và phát triển các kết
quả mà Dự án mang lại từ đó định hớng hoạt động quản lý rừng bền vững, đúc kết
các kinh nghiệm của một Dự án có vốn đầu t nớc ngoài tại Việt Nam. Làm cơ sở cho
việc nhân rộng trên địa bàn toàn quốc cũng nh việc kêu gọi các nguồn vốn đầu t nớc
2
ngoài vào Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp, là việc làm cần thiết và có ý
nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Để góp phần giải quyết vấn đề này tôi tiến hành
thực hiện đề tài Nghiên cứu tác động của Dự án khu vực lâm nghiệp và quản lý
rừng phòng hộ đầu nguồn (VN - ADB) tại tiểu Dự án xà Tân Thành, huyện Thờng Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
3
Chơng 2
Tổng quan nghiên cứu
2.1/ Nhận thức về phát triển bền vững của các dự án lâm nghiệp
2.1.1. Quan điểm về phát triển bền vững (PTBV)
ủy ban Thế giới về Môi trờng & Phát triển (WCED - còn gọi là ủy ban
Brundtland) năm 1987 đà định nghĩa về PTBV nh sau: Phát triển bền vững là sự phát
triển nhằm thỏa mÃn các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phơng hại các nhu
cầu của thế hệ tơng lai (Lê Thạc Cán, 1995) [4].
Khái niệm PTBV vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính trừu tợng và đang trong
quá trình định hình (thực tế có tới 70 định nghĩa khác nhau về PTBV). Đối với các
nhà khoa học thì quan điểm PTBV đợc nhìn nhận theo nhiều khía cạnh khác nhau:
Các nhà kinh tế thì cho rằng: Muốn PTBV phải nâng cao ổn định chất lợng cuộc
sống ngời dân, chỉ khi đời sống ngời dân ổn định, no đủ mới giữ gìn hệ sinh thái.
Các nhà sinh thái học lại cho rằng: PTBV phải không làm ảnh hởng đến hệ sinh
thái, luôn luôn phải giữ cân bằng hệ sinh thái. Hợp nhất hai quan điểm trên ngời ta
đa ra một quan điểm nh sau: PTBV là không ngừng cải thiện chất lợng cuộc sống
ngời dân trên cơ sở không làm ảnh hởng đến hệ sinh thái. Về mặt lý thuyết thì quan
điểm tổng hợp này khá hoàn chỉnh vì nó đà đề cập đến một cách toàn diện các mặt
kinh tế và kỹ thuật, tuy nhiên nó lại đòi hỏi quá mức so với thực tế và khó có thể
thực hiện đợc. Vì vậy, tổ chức Lơng thực thế giới (FAO) đà đa ra quan điểm sau:
PTBV là không ngừng cải thiện chất lợng cuộc sống của ngời dân trên cơ sở chịu
đựng đợc của hệ sinh thái, có nghĩa là sự tác động của con ngời vào hệ sinh thái là
có ảnh hởng, nhng sự ảnh hởng đó không làm mất đi khả năng tự phục hồi của hệ
sinh thái.
Từ những khái niệm và quan điểm trên có thĨ rót ra nhËn thøc chung vỊ néi
dung cđa PTBV là Phát triển bền vững phải đảm bảo sử dụng đúng mức và bền
vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ đợc môi trờng sống. Đó không
chỉ là sự phát triển nền kinh tế - văn hóa - xà hội một cách vững chắc nhờ khoa học
công nghệ tiên tiến mà còn đảm bảo ổn định và cải thiện những điều kiện tự nhiên
mà con ngời đang sống trong đó và chính sự phát triển đang dựa vào đó để ổn định
bền vững. Có thể nói quan điểm về PTBV là quan điểm toàn diện tổng hợp, nghĩa là
muốn PTBV phải giải quyết hài hòa các mối quan hệ kinh tế - xà hội và môi trờng.
Khái niệm về tính bền vững là một lý thuyết mới và hầu nh cha đợc kiểm
nghiệm. Tuy nhiên, nói rộng ra thì tính bền vững sẽ phải mang tính bền vững về mặt
sinh thái (quan trọng nhất), có giá trị sống còn về mặt kinh tế, công lý và xà hội, bình
yên theo mọi cách, và sử dụng công nghệ hiện đại thích hợp và nhân văn. Tính bền
vững ở đây có nghĩa là sử dụng rộng rÃi các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển
4
bình đẳng, cung cấp các nhu yếu phẩm cho mọi ngời, sự tham gia của những tầng lớp
không có đẳng cấp xà hội, tự cung tự cấp theo vùng, địa phơng kiểm soát các nguồn
tài nguyên. Tính bền vững là một khái niệm động, có thể bền vững ở nơi này nhng lại
không bền vững ở nơi khác, bền vững ở thời điểm này nhng có thể không bền vững ở
thời điểm khác. Mặc dù tính bền vững khó xác định chính xác nhng việc đánh giá nó
có thể thực hiện đợc dựa vào những biểu hiện và xu hớng của các quá trình chi phối
chức năng của một hệ thống nhất định ở một địa bàn cụ thể (Dunmansky và Smith,
1993) [14].
Để có thể đánh giá đợc các hệ thống canh tác, việc định lợng hóa tính bền
vững bằng những chỉ tiêu cụ thể ngày càng trở nên cần thiết. Trong một số trờng
hợp, để đơn giản khi thực hiện ngời ta đà đo mặt không bền vững của vấn đề, ví dụ
đo lợng đất bị mất, lợng năng suất bị giảm sút...
2.1.2/ Sự phát triển theo hớng bền vững của rừng
Một hệ thống sử dụng tài nguyên rừng đợc xem là phát triển theo hớng bền
vững phải có đầy đủ các yếu tố cơ bản sau [11]:
Bền vững về mặt kinh tế: (I) phải có năng suất sinh học cao và luôn có xu hớng tăng dần; (II) chất lợng sản phẩm của hệ thống phải đáp ứng đòi hỏi của thị trờng;
(III) tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích trong một đơn vị thời gian của hệ thống
phải đạt giá trị cao; (IV) sù rđi ro cđa hƯ thèng ph¶i ë møc tèi thiểu.
Bền vững về mặt xà hội nhân văn: (V) phải đáp ứng đợc nhu cầu đa dạng
của ngời dân; (VI) phải phù hợp với năng lực thực tế của ngời sản xuất; (VII) phải có
tác dụng không ngừng nâng cao năng lực của ngời sản xuất; (VIII) phải đảm bảo tính
hợp hiến, phù hợp với pháp luật hiện hành và quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xà hội toàn vùng; (IX) phải đợc cộng đồng chấp nhận.
Bền vững về mặt sinh thái môi trờng: (X) phải duy trì và không ngừng cải thiện
sức sản xuất của đất; (XI) phải giữ đợc tỷ lệ che phủ mặt đất bằng hoặc vợt ngỡng tối thiểu,
trên mức an toàn sinh thái (XII) phải hạn chế sự xói mòn đất ở giới hạn cho phép; (XIII)
phải bảo vệ và duy trì đợc nguồn nớc cả về số lợng và chất lợng; và (XIV) phải đảm bảo,
duy trì và không ngừng nâng cao tính đa dạng sinh học của hệ thống.
2.1.3/ ý nghĩa của việc đánh giá các tác động của Dự án
Đánh giá tác động Dự án đợc hình thành nh một yêu cầu khách quan vì sự phát
triển bền vững của con ngời. Nó không chỉ cho biết hiệu quả kinh tế, xà hội, môi trờng của quá trình đầu t mà còn cho biết tổn thất về môi trờng do các hoạt động của
Dự án mang lại [16]. Ngoài ra thông qua việc đánh giá Dự án giúp chúng ta định lợng đợc các tổn thất môi trờng, từ đó nhanh chóng xác định đợc mức chi phí cần
thiết cho bảo vệ môi trờng, để điều chỉnh các hoạt động thực tiễn đảm bảo có lợi cho
bảo vệ môi trờng và sự tồn tại lâu bền của con ngời và thiên nhiên. Đánh giá hiệu
5
quả kinh tế môi trờng cũng là công cụ thông tin cơ bản để các cơ quan nhà nớc, các
tổ chức và cá nhân tiến hành quản lý tài nguyên và môi trờng một cách bền vững.
2.2/ Lịch sử ngiên cứu
2.2.1/ Trên thế giới
2.2.1.1/ Khái niệm về Dự án
Nói đến Dự án tức là phải nói đến một vấn đề nào đó mà con ngời cần quan tâm
giải quyết. Hay nói cách khác không có vấn đề thì sẽ không có Dự án. Trong lý thuyết
cũng nh thực tiễn quản lý kinh tế hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về
Dự án. Mỗi quan điểm về Dự ¸n xuÊt ph¸t tõ c¸ch tiÕp cËn kh¸c nhau tuú thuộc mục
đích nghiên cứu, khái niệm về Dự án đà và đang đợc bổ sung hoàn thiện [23].
Theo Cleland và King(1975): Dự án là sự kết hợp giữa các yếu tố nhân lực và tài
lực trong một thời gian nhất định để đạt đọc một mục tiêu định trớc.
Clipdap cho rằng: Dự án là một tập hợp các hoạt động để giải quyết một vấn đề
hay để hoàn thiện một trạng thái cụ thể trong một thời gian xác định.
Gittinger(1982) đa ra quan điểm: Dự án là tập hợp các hoạt động mà ở đó tiền
tệ đợc đầu t với hy vọng đợc thu hồi lại. Trong quá trình này các công việc kế hoạch
tài chính, vận hành hoạt động là một thể thống nhất, đợc thực hiện trong một khoảng
thời gian xác định.
Theo WB [15]: Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên
quan với nhau đợc thiết kế nhằm đạt đợc những mục tiêu nhất định trong một
khoảng thời gian nhất định.
Theo Lyn Squire [15]: Dự án là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn
tài nguyên hữu hạn vốn có, nhằm đem lại lợi ích cho xà hội càng nhiều càng tốt.
Từ điển xà hội học của của David Jary và Julia Jury [26], đa ra định nghĩa về
Dự án nh sau: Những kế hoạch của địa phơng đợc thiết lập với mục đích hỗ trợ các
hành động cộng đồng và phát triển cộng đồng. Theo định nghĩa này có thể hiểu Dự
án là một kế hoạch can thiệp có mục tiêu, nội dung, thời gian, nhân lực và tài chính
cụ thể. Dự án là sự hợp tác của các lực lợng xà hội bên ngoài và bên trong cộng
đồng. Với cách hiểu nh trên thì thớc đo sự thành công của Dự án không chỉ là việc
hoàn thành các hoạt động có tính kỹ thuật (đầu t cái gì, cho ai, bao nhiêu, nh thế
nào) mà nó có góp phần gì vào quá trình chuyển biến xà hội tại cộng đồng.
2.2.1.2/ Đánh giá Dự án
Đánh giá là một công việc thờng xuyên diễn ra trong các hoạt động của Dự án.
Đó là một khâu then chốt trong một chu trình Dự án, nhằm đa ra những nhận xét
theo định kỳ về kết quả thực hiện các hoạt động của Dự án trên cơ sở so sánh một số
chỉ tiêu đà lập trớc, hay nói khác đánh giá là quá trình xem xét một cách hệ thống và
6
khách quan nhằm cố gắng xác định tính phù hợp, tính hiệu quả và tác động của các
hoạt động ứng với mục tiêu đà vạch ra.
Trong các Dự án mà ở đó vai trò tham gia của các bên liên quan có ý nghĩa đặc
biệt quan trọng, thì công tác đánh giá đòi hỏi phải có sự tham gia của các bên liên
quan. Đánh giá có sự tham gia là một hệ thống phân tích đợc thực hiện bởi các nhà
quản lý Dự án và các thành viên đợc hởng lợi từ Dự án, cho phép họ điều chỉnh, xác
định lại chính sách hoặc mục tiêu, chiến lợc, sắp xếp lại các tổ chức các đơn vị triển
khai lại các nguồn lực nếu cần thiết. Nó là cơ hội cho cả ngời bên trong và ngời bên
ngoài cộng đồng dừng lại phản ánh về quá khứ và đa ra quyết định cho tơng lai.
Các lý thuyết về hớng dẫn và đánh giá đợc đề cập chi tiết trong các công trình
nghiên cứu của WHO, Gittinger, Dixon & Hufschmidt L.Therse Barker, Jim
Woodhill, FAO, WB. . .[30].
Các đánh giá liên quan đến việc đo lờng hay đa ra những nhận định, điển hình là
các công trình nghiên cứu của WHO, L.Therse Barker. Đây là một quá trình nhằm
đánh giá mức độ đạt đợc những mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể đà đề ra, tơng ứng
với chúng là hệ thống các hoạt động, các nguồn lực đà đợc triển khai và sử dụng nh
thế nào. Đối với một Dự án, đánh giá là xem xét một cách hệ thống để xác định tính
hiệu quả, mức độ thành công của Dự án, tác động xà hội cũng nh các tác động kinh tế
môi trờng đối với cộng đồng hởng thụ [23].
Trong một Dự án, hoạt động đánh giá là khâu cuối cùng trong tiến trình triển
khai Dự án cho cộng đồng. Thực ra đánh giá không chỉ tiến hành một lần vào cuối Dự
án - đó mới chỉ là đánh giá tổng thể. Trong quá trình thực hiện Dự án, hoạt động đánh
giá có thể đợc tiến hành vào những giai đoạn quan trọng, thờng gọi là đánh giá giai
đoạn. Nhiều tác giả cho rằng, điều quan trọng là phải tiến hành đánh giá có sự tham
gia của các bên có liên quan mà quan trọng nhất là ngời hởng lợi từ Dự án [29].
Các tác giả và các tổ chức trên thÕ giíi nh Jim Woodhill, Lisa Robins, Joachim
Theis, Heather. M. Grady [26] đà phân chia thành hai loại đánh giá: Đánh giá mục
tiêu và đánh giá tiến trình. Đánh giá mục tiêu là xem xét liệu Dự án có đạt đ ợc mục
tiêu đà định hay không, nó tập trung vào việc phân tích các chỉ số đo đạc hiệu quả thu
đợc. Đánh giá tiến trình, mở rộng diện đánh giá hơn so với loại đánh giá trên, sử dụng
tri thức và hiểu biết của nhiều ngời để xem xét nhiều vấn đề của Dự án.
Các phơng pháp đánh giá Dự án cũng đợc phát triển mạnh mẽ từ những năm
50, 60 của thế kỷ trớc, khi các Dự án phát triển cộng đồng ra đời. Các phơng pháp
bao gồm: Phơng pháp ngời dân tham gia đánh giá(PRA), phơng pháp phỏng vấn, phơng pháp động nÃo.
7
2.2.1.3 Các khía cạnh đánh giá tác động của Dự án
Trên thế giới, việc đánh giá các tác động kinh tế, xà hội, môi trờng của Dự án
hay một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó đà có lịch sử hàng trăm năm có thể
chia làm hai giai đoạn.
Giai đoạn 1: Từ đầu những năm 1960 đến cuối những năm 1970 với đặc trng của giai đoạn này là những nghiên cứu xung quanh những vấn đề về chất lợng
môi trờng mâu thuẫn với sự tăng trởng kinh tế.
Ban đầu là những nghiên cứu về vấn đề đảm bảo an toàn lơng thực, đồng thời
bảo vệ đợc môi trờng sinh thái thông qua việc hạn chế nạn phá rừng. Nhiều công trình
nghiên cứu về ảnh hởng của các phơng thức sử dụng đất, các hoạt động canh tác đến
đất đai và môi trờng đà đợc công bố nh: Nghiên cứu của Freizendaling (1968) về Tác
động của con ngời đến sinh quyển; Gober (Pháp, 1968) về Đất và việc giữ độ phì
của đất - các nhân tố ảnh hởng đến sử dụng đất... Tổ chức nông nghiệp và lơng thực
của Liên hợp quốc (FAO) trong nhiều năm nghiên cứu vấn đề canh tác trên đất dốc đÃ
đa ra các mô hình canh tác có hiệu quả nh SALT 1, SALT 2, SALT 3, SALT 4 [25].
Đến đầu những năm 1970, Quốc hội Hoa Kỳ đà ban hành luật chính sách quốc
gia về môi trờng, thờng gọi tắt là NEPA. Luật này quy định rằng tất cả những kiến nghị
quan trọng ở cấp tiểu bang về luật pháp, hoạt động kinh tế, kỹ thuật lúc đa ra xét duyệt
để đợc nhà nớc chấp nhận đều phải kèm theo một báo cáo về tác động đến môi trờng
của việc làm đợc kiến nghị. Tiếp theo Hoa Kỳ là Canada, Australia, Anh, Nhật, Đức...
cũng lần lợt ban hành luật đánh giá tác động môi trờng (Lê Thạc Cán, 1994) [4]. Trong
những năm 1970 và đầu 1980, ở một số nớc đang phát triển nh Thái Lan, Singapo,
Philippine, Indonesia... đà ban hành những quy định về đánh giá tác động môi trờng
[15].
Năm 1972, Liên hiệp quốc đà tổ chức hội nghị về môi trờng của con ngời với
mục đích là tìm hớng giải quyết những tác động không mong muốn mà cuộc cách
mạng khoa học và kỹ thuật gây ra đối với môi trờng sống. Các tổ chức UNEP,
UNDP, WB đà công bố Tuyên bố về các chính sách và thủ tục về môi trờng nói
lên quan điểm phải kết hợp giữa phát triĨn kinh tÕ - x· héi víi viƯc b¶o vƯ môi trờng
và quy định trong các Dự án phát triển do các cơ quan này viện trợ hoặc cho vay vốn
phải báo cáo đánh giá tác động môi trờng (Lê Thạc Cán, 1994) [4].
Năm 1979, tổ chức FAO đà xuất bản tài liệu Phân tích các Dự án lâm nghiệp
do Hans M-Gregersen và Amoldo H. Contresal biên soạn. Đây là tài liệu giảng dạy
dùng cho các địa phơng mà tổ chức FAO có đầu t Dự án trồng rừng và phát triển lâm
nghiệp; tài liệu này tơng đối đầy đủ và phù hợp với điều kiện đánh giá hiệu quả các Dự
án lâm nghiệp ở các nớc đang phát triển.
8
Giai đoạn 2: Từ đầu những năm 1980 đến nay, với đặc trng của giai đoạn
này là phát triển bền vững, trong đó đà thể hiện đợc sự bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giữa
phát triển kinh tế và bảo vệ môi trờng.
Từ những năm 1980 cho đến nay, khái niệm phát triển bền vững đà đợc nêu ra
và ngày càng trở nên phổ biến. Ngày nay quan điểm phát triển bền vững đà trở thành
một quan điểm chính thống và bắt buộc mọi ngời không thể bỏ qua. Bản báo cáo
Tơng lai Chung của Chúng ta của ủy ban Brundtland (1987) đà công nhận đánh
giá tác động môi trờng là một cấu thành thiết yếu trong quá trình thúc đẩy phát triển
bền vững. Báo cáo cũng đà vạch ra sự tham gia rộng lớn hơn của cộng đồng vào các
quyết định có ảnh hởng đến môi trờng, tạo điều kiện cho các cộng đồng sử dụng có
hiệu quả các nguồn tài nguyên địa phơng.
Tại Hội nghị quốc tế về môi trờng năm 1992, ở Rio de Janeiro (Braxin) đà đi
đến tiếng nói chung là: Phải kết hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trờng và phát triển
kinh tế - x· héi, híng tíi mét sù ph¸t triĨn bỊn vững trong phạm vi từng nớc trên thế
giới [17].
Năm 1994, Walfredo Raqual Rola đà đa ra một mô phỏng về tác động của
các phơng thức canh tác [25]. Theo mô phỏng này hiệu quả của một phơng thức
canh tác đợc đánh giá theo quan điểm tổng hợp, trên cả 3 mặt kinh tế, xà hội và sinh
thái môi trờng. Tất cả các tác động đó đều nhằm mục tiêu cuối cùng là phát triển
toàn diện kinh tế - xà hội và bảo vệ môi trờng sinh thái (PTBV).
2.2.2/ ở Việt Nam
2.2.2.1/ Khái niệm về Dự án
Các chơng trình Dự án đầu t có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát kinh
tế, xà hội và môi trờng sinh thái của một khu vực, đặc biệt là các vùng miền núi. Do
tính phức tạp của quá trình thực hiện (vỊ mỈt kinh tÕ, kü tht, tỉ chøc, x· héi), do
đó cần phải chuẩn bị đầy đủ cả về cơ sở vật chất, cơ sở khoa học, thực tiễn và chính
sách của Chính phủ theo một kế hoạch chặt chẽ, chi tiết và hợp lý trớc khi thực thi
Dự án.
Trong tác phẩm phát triển cộng đồng của mình Nguyễn Thị Oanh [19] đa ra
hai định nghĩa về Dự án nh sau:
- Dự án là sự can thiệp một cách có kế hoạch nhằm đạt đợc một hay một số
mục tiêu cùng hoàn thành những chỉ báo thực hiện đà định trớc tại một địa bàn và
trong một khoảng thời gian nhất định, có huy động sự tham gia thực sự của những
tác nhân và tổ chức cụ thể.
- Dự án là một tổng thể có kế hoạch những hoạt động (công việc) nhằm đạt một
số mục tiêu cụ thể trong một khoảng thời gian và trong khuôn khổ chi phí nhất định.
9
Theo Tô Duy Hợp và Lơng Hồng Quang [12], Dự án đợc hiểu nh một kế hoạch
can thiệp để giúp cộng đồng dân c hoặc cá nhân cải thiện điều kiện sống trên một
địa bàn nhất định.
Hội thảo PIMES về chơng trình phòng ngừa thảm họa đà đa ra hai khái niệm
về Dự án:
- Dự án là một quá trình gồm các hoạt động đà đợc lập kế hoạch nhằm đạt đợc
những thay đổi mong muốn hoặc đạt đợc một mục tiêu cụ thể nào đó.
- Dự án là một quá trình phát triển có kế hoạch, đợc thiết kế nhằm đạt đợc mục
tiêu cụ thể với khoản kinh phí xác định trong một thời gian nhất định.
Theo bài giảng về Quản lý lâm nghiệp xà hội của Trung tâm lâm nghiệp xÃ
hội, để nhìn nhận Dự án một cách đầy đủ nhất phải đứng trên nhiều khía cạnh khác
nhau: Về hình thức, về quản lý, về kế hoạch,về nội dung [23].
- Về mặt hình thức: Dự án là một tập tài liệu trình bày chi tiết và có hệ thống
các hoạt động và chi phí dới dạng một bản kế hoạch để đạt đợc những kết quả và
thực hiện đợc những mục tiêu nhất định trong tơng lai.
- Về mặt quản lý: Dự án là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật t lao
động để tạo ra các kết quả kinh tế, tài chính xà hội, môi trờng trong tuơng lai.
- Về mặt kế hoạch: Dự án là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết để đầu t sản
xuất kinh doanh, phát triển kinh tế - xà hội làm tiền đề cho các quyết định đầu t và tài trợ.
Dự án đầu t là một hoạt động riêng lẻ, nhỏ nhất trong công tác kế hoạch nền kinh tế.
- Về mặt nội dung: Dự án đợc coi là một tập hợp các hoạt động có liên quan
đến nhau, đợc kế hoạch hoá nhằm đạt đợc các mục tiêu đà định bằng việc tạo ra các
kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định thông qua việc sử dụng hợp lý các
nguồn lực xác định.
Mặc dù có sự khác nhau về cách định nghĩa Dự án, nhng các tác giả đều thống
nhất cho rằng: Mục tiêu của Dự án đều là tạo sự thay ®ỉi trong nhËn thøc vµ hµnh
®éng, thay ®ỉi ®iỊu kiƯn sống của cộng đồng trên cả ba mặt kinh tế - xà hội và môi
trờng.
2.2.2.2/ Các khía cạnh đánh giá tác động của Dự án
ở Việt Nam các Dự án đầu t cho việc phát triển rừng đà đợc tiến hành cách
đây trên nửa thế kỷ nhng chỉ vài chục năm gần đây mới đợc thực hiện trên quy mô
lớn. Thời kỳ đầu chúng ta mới chỉ chú trọng đến hiệu quả kinh tế còn hiệu quả về xÃ
hội và môi trờng sinh thái hầu nh không đợc quan tâm đến. Chính vì vậy vấn đề
đánh giá tác động môi trờng ở nớc ta cho đến nay còn rất mới mẻ, đặc biệt là đánh
giá trên cả ba mặt kinh tế, xà hội và môi trờng của một Dự án.
10
Trớc những năm 1980, ở Việt Nam chỉ có những nghiên cứu nhỏ, không tập
trung và cha toàn diện về xói mòn đất. Tuy cũng đà có những nghiên cứu về ảnh hởng của các phơng thức canh tác đến đất, nớc nhng còn sơ sài và ở mức độ chung
chung, các chỉ tiêu đánh giá còn đơn giản.
Từ sau những năm 1980, kinh tế đất nớc phát triển kéo theo việc suy giảm tài
nguyên rừng cả về số lợng lẫn chất lợng do vậy công tác đánh giá tác động môi trờng bắt đầu đợc chú trọng và phát triển. Năm 1983, chúng ta mới chính thức bắt đầu
chơng trình nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và môi trờng [17]. Đến năm 1987,
Nguyễn Ngọc Sinh lần đầu tiên đa ra tài liệu Giới thiệu các phơng pháp đánh giá
tác động môi trờng [25].
Năm 1985, trong quyết định về điều tra, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên
nhiên và bảo vệ môi trờng, Hội đồng bộ trởng (nay là Chính phủ) đà nêu: Trong xét
duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật của các chơng trình xây dựng lớn hoặc các chơng
trình phát triển kinh tế - xà hội quan trọng, cần tiến hành đánh giá tác động môi tr ờng. Nh vậy có thể nói từ đây vấn đề đánh giá tác động Dự án đà trở thành một yếu
tố quan trọng không thể thiếu đợc trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xà hội ở nớc
ta.
Năm 1994, Lê Thạc Cán hoàn thành công trình nghiên cứu Đánh giá tác động môi
trờng - Phơng pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn tạo tiền đề cơ sở khoa học cho các nhà
nghiên cứu về môi trờng thực hiện những nghiên cứu tiếp theo.
Hoàng Xuân Tý (1994) với công trình Bảo vệ đất và đa dạng sinh học trong
các Dự án trồng rừng bảo vệ môi trờng đà tiến hành những nghiên cứu về kinh tế,
môi trờng. Song, trong các phân tích, đánh giá tác giả thờng thiên về một mặt hoặc
là kinh tế hoặc là môi trờng hay xà hội mà không đánh giá một cách toàn diện các
mặt trên [25].
Cũng trong năm 1994, nhiều công trình của nhiều tác giả khác đà tiến hành
những nghiên cứu về tác động môi trờng và hiệu quả kinh tế - xà hội của các phơng
thức canh tác nh: Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm với công trình Hiệu quả các biện pháp
canh tác trên đất dốc và Sử dụng đất trống, đồi núi trọc và bảo vệ rừng; Đặng Trung
Thuận, Trơng Quang Hải và tập thể với công trình Nghiên cứu và đề xuất mô hình
phát triển kinh tế môi trờng tại một số vùng sinh thái điển hình; Phùng Ngọc Lan, Vơng Văn Quỳnh với đề tài Nghiên cứu khả năng giữ nớc và bảo vệ đất của các phơng
thức canh tác trong các hộ gia đình ở huyện Hàm Yên - Tuyên Quang [25].
Trần Hữu Dào (1995) đà nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh doanh cả 3 mặt:
hiệu quả kinh tế, xà hội và môi trờng của mô hình trồng rừng quế thâm canh thuần
loài quy mô hộ gia đình tại Văn Yên - Yên Bái [9]. Trong đề tài tác giả đà trình bày,
sử dụng các phơng pháp, kü tht míi, tiÕn bé trong ph©n tÝch kinh tÕ l©m nghiƯp.
11
Tuy nhiên đề tài mới chỉ thiên về đánh giá hiệu quả kinh tế, cha chú trọng và đề cập
sâu đến hiệu quả xà hội và môi trờng.
Năm 1996, Đoàn Hoài Nam với luận văn thạc sỹ: Bớc đầu đánh giá hiệu quả
kinh tế - sinh thái của một số mô hình rừng trồng tại Yên Hơng - Hàm Yên - Tuyên
Quang [17], đà đề cập đến hiệu quả tổng hợp về mặt kinh tế và sinh thái của một số
mô hình rừng trồng, tuy nhiên cha thấy tác giả đề cập đến vấn đề xà hội.
Năm 1997, tiếp tục có những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế - môi
trờng nh: Nguyễn Thị Thanh An với luận văn thạc sỹ Đánh giá hiệu quả kinh tếmôi trờng của một số mô hình theo phơng pháp hệ số đờng ảnh hởng; Đoàn Thị
Mai với luận văn thạc sỹ Đánh giá hiệu quả kinh tế - môi trờng vì mục tiêu phát
triển bền vững cho một số phơng án sử dụng đất trong canh tác nông lâm nghiệp ở
vùng nguyên liệu giấy [16].
Năm 1998, Cao Danh Thịnh với đề tài thạc sỹ Thử nghiệm ứng dụng một số
phơng pháp định lợng có trọng số để so sánh hiệu quả kinh tế và môi trờng của một số
Dự án lâm nghiệp tại khu vực phòng hộ đầu nguồn sông Đà đà đề cập đến hiệu quả
tổng hợp kinh tế - môi trờng [10]. Trong đề tài tác giả đà đề cập đến vấn đề định lợng
có trọng số các chỉ tiêu đánh giá và cho biết phơng pháp tính trọng số bằng tơng quan
đạt độ chính xác cao hơn cả.
Năm 2002 Phạm Xuân Thịnh với đề tài thạc sỹ Đánh giá tác động của Dự án
KFW1 tại vùng Dự án xà Tân Hoa huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang [26] ®· ®Ị cËp
®Õn mét sè t¸c ®éng cđa Dù ¸n trên các mặt kinh tế, xà hội và môi trờng, quá trình
đánh giá có sử dụng các chỉ tiêu chỉ báo, có sự so sánh các lĩnh vực trớc và sau Dự án.
Tuy nhiên tác giả mới chỉ dừng lại ở những tác động tích cực cha đi sâu phân tích
những tác động tiêu cực của Dự án.
Công tác đánh giá tác động kinh tế, xà hội và môi trờng ë níc ta hiƯn nay cã
thĨ nãi cßn rÊt míi mẻ, đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển. Đây lại là vấn đề
phức tạp, đòi hỏi phải có đầu t thích đáng về thời gian và tiền của nên nhìn chung
chúng ta còn thiếu hụt về thông tin, về phơng pháp luận và kinh nghiệm hoạt động
thực tiễn. Chính những tồn tại trên đây là một trong những nguyên nhân gây trở ngại
cho công tác quản lý và bảo vệ môi trờng, thực hiện các chính sách về môi trờng nói
chung. Do vậy chúng ta cần phải tiếp tục có những nghiên cứu nhằm hoàn thiện dần
phơng pháp ln cịng nh tÝch l dÇn kinh nghiƯm thùc tiƠn, đồng thời làm phong
phú thêm nguồn thông tin cho các nhà nghiên cứu sau này. Xuất phát từ những lý do
nêu trên, và cũng chính là cơ sở cho việc lựa chọn đề tài nghiên cứu.
12
Chơng 3
Mục tiêu, giới hạn, nội dung và phơng pháp nghiên cứu
3.1/ Mục tiêu nghiên cứu
Về mặt lý luận: Nhằm hoàn thiện phơng pháp đánh giá tác động của các dự án có
vốn đầu t nớc ngoài đến các mặt kinh tế, xà hội và môi trờng sinh thái tại địa bàn
triển khai dự án, đồng thời làm rõ tác dụng phòng hộ của rừng đầu nguồn.
Về mặt thực tiển: Thông qua việc đánh giá các tác động của Dự án khu vực lâm
nghiệp và quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn trên các mặt kinh tế, xà hội và môi trờng, từ đó đề xuất các giải pháp duy trì phát triển các kết quả của Dự án.
3.2/ Giới hạn nghiên cứu
Đánh giá những tác động của Dự án là công việc phức tạp đòi hỏi nhiều nhân
lực, và thời gian. Vì vậy trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi không thể tiến hành
đánh giá toàn bộ trên địa bàn vùng Dự án, mà chỉ đánh giá tại địa bàn xà Tân Thành
huyện Thờng Xuân.
Hoạt động của Dự án mới chỉ diễn ra trong thời gian từ năm 1998 - 2002; Do
vậy trong phạm vi đề tài này chỉ đi sâu phân tích một số hoạt động chính của Dự án
nh: Quy hoạch sử dụng đất, điều tra lập địa, giao đất, trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh,
bảo vệ rừng, làm giàu rừng... trên các mặt mạnh, yếu, khó khăn, trở ngại và những
khuyến nghị cần thiết để thực hiện Dự án đợc tốt hơn.
Việc đánh giá tác ®éng cđa Dù ¸n ®Õn ph¸t triĨn kinh tÕ, x· hội và môi trờng
chỉ thực hiện một số chỉ tiêu phù hợp với đối tợng và thời gian nghiên cứu của luận
văn.
+ Về tác động của Dự án đến phát triển kinh tế: Chỉ giới hạn ở các vấn đề về:
Cơ cấu thu nhập, cơ cấu chi phí, phân loại kinh tế hộ gia đình và đánh giá hiệu quả
một số cây trồng chính của Dự án.
+ Về tác động xà hội: Đợc xem xét trên góc độ thu hút lao động, u tiên đào
tạo tập huấn, cơ cấu sử dụng thời gian trong sản xuất, vai trò của ngời phụ nữ và sự
bình đẳng về giới...
+ Tác động về mặt môi trờng sinh thái: chỉ giới hạn ở các vấn đề: Nâng cao độ
che phủ, độ phì của đất, xói mòn đất, cải thiện chất lợng nguồn nớc, đa dạng sinh học...
Những kết luận và đề xuất cũng chỉ dựa trên kết quả đánh giá các hoạt động của
Dự án tại tiểu Dự án xà Tân Thành huyện Thờng Xuân tỉnh Thanh Hoá.
3.3/ Nội dung nghiên cứu
3.3.1/ Đánh giá các hoạt động của tiểu Dự án xà Tân Thành trong thời kỳ từ
1998 - 2002
Phần này chủ yếu đánh giá các hoạt động của Dự án trên các mặt: Mạnh, yếu, cơ hội
và thách thức.
13
3.3.2/ Nghiên cứu tác động của Dự án đến môi trờng sinh thái, kinh tế - xà hội
trên địa bàn tiểu Dự án xà Tân Thành
Phần này chủ yếu đánh giá ảnh hởng của Dự án tới môi trờng sinh thái, kinh
tế, xà hội trên các mặt tích cực và hạn chế.
+ Tác động về mặt môi trờng:
- Nâng cao ®é che phđ cđa rõng trong khu vùc.
- N©ng cao độ phì của đất.
- Tăng cờng khả năng giữ nớc, hạn chế xói mòn đất.
- Cải thiện số lợng, chất lợng nguồn nớc trong khu vực.
- Bảo tồn tính đa dạng sinh học của vùng.
+ Tác động về mặt kinh tế:
- Nghiên cứu sự thay đổi về cơ cấu thu nhập, cơ cấu chi phí và phân loại kinh
tế hộ gia đình.
- Phân tích hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng rừng của Dự án làm cơ
sở cho việc đề xuất hớng phát triển rừng đầu nguồn trong thời gian tới.
+ Tác động về mặt xà hội:
- Nghiên cứu mức độ tham gia của ngời dân đối với quá trình thực hiện Dự án.
- Nghiên cứu tác động của Dự án đến nhận thức của ngời dân trong công tác
trồng, chăm sóc quản lý sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng, tác động của Dự án đến
chất lợng cuộc sống của ngời dân.
- Nghiên cứu tác động của Dự án đến vai trò của ngời phụ nữ và sự cân bằng
giới, sự thay đổi cơ cấu sử dụng thời gian của các hộ.
3.3.3/ Đề xuất hớng, giải pháp duy trì phát triển các kết quả của Dự án
3.4/ Phơng pháp nghiên cứu
3.4.1/ Phơng pháp luận
Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau
đợc thiết kế nhằm đạt đợc những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian
nhất định [5]. Bất kỳ một Dự án đầu t nào khi đi vào hoạt động cũng có những tác
động đến đời sống kinh tế - xà hội và môi trờng sinh thái. Những tác động đó có thể
là trực tiếp hoặc gián tiếp, tác động tích cực đến yếu tố này nhng lại tác động tiêu
cực đến yếu tố khác, những tác động này thay đổi theo thời gian và không gian cụ
thể. Nắm đợc bản chất của những tác động này, con ngời có thể điều chỉnh quy mô
cũng nh các nội dung hoạt động của Dự án sao cho các lợi ích đạt đợc là cao nhất
và hạn chế đến mức thấp nhất sự nảy sinh các tác động tiêu cực.
Dự án khu vực lâm nghiệp và quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn tại 4 tỉnh
Thanh Hoá, Gia Lai, Quản Trị và Phú Yên (do Ngân hàng phát triển châu á tài trợ)
là một trong những Dự án đầu t cho việc quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên
14
nhiên vùng đầu nguồn, hỗ trợ sản xuất, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho đồng
bào các dân tộc trong vùng Dự án. Đồng thời mở rộng diện tích, nâng cao độ che
phủ của rừng trong vùng Dự án, góp phần vào việc bảo tồn tính đa dạng sinh học của
rừng nhiệt đới Việt Nam. Tất cả các hoạt động của Dự án đều liên quan đến nhiều
cấp quản lý Dự án, cấp chính quyền địa phơng và liên quan đến nhiều khía cạnh
khác của đời sống kinh tế - xà hội.
Về nguyên tắc khi đánh giá tác động của một Dự án nào đó phải đứng trên
tổng thể các mối quan hệ của nó và quá trình đánh giá phải thực hiện trong thời gian
dài. Tuy nhiên đề tài chỉ giới hạn trong một số yếu tố, những yếu tố này đợc coi là
căn bản theo nghĩa chung có liên quan mật thiết đến các hoạt động của Dự án và
công tác khôi phục, quản lý bảo vệ tài nguyên rừng. Biểu hiện bằng định lợng, đó là
những chỉ tiêu đợc tính bằng các đơn vị đo lờng cụ thể. Biểu hiện bằng định tính, đó
Mục
là những chỉ tiêu khó lợng
hoátiêu
hoặcnghiên
không thểcứu
lợng hoá đợc. Do đó cần phải sử
dụng kết hợp phơng pháp tiếp cận có sự tham gia, các phơng pháp phân tích vấn đề
có sự tham với việc điều tra phân tích vai trò của rừng đầu nguồn đối với đời sống
Đốitrong
tợng khu
nghiên
cộng đồng
vựccứu
nghiên cứu. Toàn bộ quá
trình
nghiên
cứu,cứu
đánh giá của đề
Nội
dung
nghiên
tài đợc tóm lợc qua sơ đồ sau:
Phơng pháp nghiên cứu
Thu thập Thông tin
Điều kiện tự nhiên,
kinh tế - xà hội
Hiện trạng các mô
hình rừng trồng
Tình hình trồng rừng
tại khu vực
Điều tra thực địa:
Điều tra PRA
Điều tra ÔTC
Xử lý, tính toán
Đánh giá tác động của DA
Tác động môi trờng
Tác động kinh tế
Tác động xà hội
Đề xuất hớng và giải pháp duy trì kết quả của DA
15
Hình 3.1: Sơ đồ tổng quát quá trình nghiên cứu
3.4.2 Phơng pháp điều tra thu thập số liệu.
- Phơng pháp kế thừa tài liệu:
Phơng pháp này đợc áp dụng nhằm rút ngắn khối lợng và thời gian nghiên cứu.
Những số liệu đợc đề tài kế thừa bao gồm:
+ Kế thừa các văn bản, ấn phẩm có liên quan: Văn kiện dự án, bản đồ hiện
trạng đất đai, bản đồ lập địa, bản đồ qui hoạch, các báo cáo giám sát đánh giá dự án,
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xà hội, tài nguyên rừng của vùng dự án, các qui trình, qui
phạm, các kết quả nghiên cứu đà có, các phần mền xử lý số liệu.
+ Kế thừa tài liệu có liên quan khác đến các vấn đề nghiên cứu.
- Phơng pháp họp dân và phỏng vấn hộ gia đình
Phơng pháp này đợc áp dụng nhằm thu thập những thông tin giúp đánh giá tác
động của dự án đến môi trờng sinh thái (cải thiện nguồn nớc, bảo tồn tính đa dạng sinh
học); tác động kinh tế (chi phí, thu nhập, giá cả, thị trờng); tác động xà hội (lao động,
việc làm, ý thức của ngời dân trong việc quản lý bảo vệ rừng v..v..) dới góc độ nhìn
nhận của ngời dân địa phơng. Đề tài đà sử dụng phơng pháp đánh giá nông thôn có sự
tham gia của ngời dân (PRA) với nội dung định sẵn và các câu hỏi linh hoạt. Đối tợng
đợc phỏng vấn là các hộ gia đình có thời gian sinh sống lâu trên địa bàn nghiên cứu, và
có tham gia các hoạt động của dự án nh: trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ và làm giàu
rừng. Các hộ gia đình đợc lựa chọn theo phơng pháp điển hình đại diện về điều kiện
kinh tế - xà hội trong khu vực.
- Phơng pháp thu thập số liệu trên ô tiêu chuẩn rừng (OTC)
Ô tiêu chuẩn đợc lập theo phơng pháp điểnn hình với diện tích 500m2 (25m x
20m). Trên các OTC tiến hành xác định các chỉ tiêu cấu trúc của lâm phần nh loài
cây, đờng kính thân cây, chiều cao vút ngọn, cây tái sinh, độ tàn che (TC), độ che
phủ thảm tơi cây bụi (CP), độ che phủ thảm mục (TM).
+ Đờng kính thân cây đợc đo bằng thớc kẹp kính theo hai hớng đông tây nam
bắc sau đó tính trị số bình quân, độ chính xác đến cm.
+ Chiều cao vút ngọn đợc đo bằng thớc Blumbleiss kết hợp sào đo cao với độ
chính xác đến dm.
16
+ Độ dốc đợc xác định bằng địa bàn cầm tay và thớc đo cao.
+ Độ xốp đất đợc xác định bằng ống dung trọng (dung tích 100 cm3).
+ Độ tàn che, che phủ đợc xác định theo mạng lới điểm và trực quan.
3.4.3 Phơng pháp đánh giá tác động Dự án:
3.4.3.1/ Đánh giá các hoạt động của Dự án:
Các hoạt động của Dự án đợc tổng hợp đánh giá theo mô hình SWOT (mạnh,
yếu, khó khăn trở ngại, khuyến nghị) riêng biệt cho từng hoạt động.
3.4.3.2/ Phơng pháp đánh giá tác động môi trờng:
- Đánh giá sự thay đổi về diện tích rừng, độ che phủ của rừng trên cơ sở tổng
hợp kết quả trồng rừng của Dự án và so sánh với hiện trạng rừng năm 1998.
- Đánh giá sự thay đổi độ phì đất vào thời điểm trớc và sau Dự án dựa vào một
số chỉ tiêu chính nh: Độ PH, hàm lợng mùn tổng số, hàm lợng đạm tổng số, lân dễ
tiêu. Trong thực tế độ phì của đất đợc biểu hiện bằng nhiều tính chất cơ lý khác
nhau tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu đề tài chỉ tập trung đánh giá một số yếu tố
chính đà nêu trên. Các yếu tố trên đợc phân tích tại phòng thí nghiệm của Đoàn điều
tra quy hoạch lâm nghiệp Thanh Hoá.
- Cờng độ xói mòn đất (d): đợc xác định cho từng mô hình theo công thức (31) của TS. Vơng Văn Quỳnh (1999) [21]:
2
d 2 , 31 10 6 K
2
TC
CP TM X
H
(3 1)
d: Cờng độ xói mòn (mm/năm);
: Độ dốc mô hình ();
TC: Độ tàn che tầng c©y cao, lín nhÊt b»ng 1.
CP: Tû lƯ che phđ mặt đất của lớp cây bụi, thảm tơi, lớn nhất là 1.
H: Chiều cao vút ngọn trung bình của tầng cây cao (m)
TM là độ che phủ của lớp thảm khô trên mặt đất, lớn nhất bằng 1.
X: Độ xốp ®Êt, lín nhÊt b»ng 1.
K: ChØ sè xãi mßn cđa ma hay đại lợng phản ánh năng lực gây xói mòn
đất của ma, đợc xác định theo công thức (3-2):
12
K
i 1
Ri
5 , 8263 2, 481.Ln Ri 1
916 331.Lg
. 100
25 , 4
25 , 4
(3 – 2)
Ri: Lợng ma tháng thứ i trong năm, tính bằng mm/tháng.
- Lợng nớc thấm vào đất (W): xác định theo công thøc cña Vscotsky (1937) [17]:
W = Po - (Eb + T + S)
(3 - 3)
Trong đó:
W: Lợng nớc thấm vào đất (mm/năm)
17
Po: Lợng ma trung bình năm của khu vực (mm)
Eb: Lợng bốc hơi vật lý trung bình năm của khu vực (mm)
S: Dòng chảy bề mặt trung bình hàng năm (mm)
T: Lợng bốc hơi vật lý của thảm thực vật (mm)
S và T đợc tra theo bảng tra của Phạm Văn Sơn - Viện Khí tợng thuỷ văn (Phụ biểu).
- Tính đa dạng sinh học đợc xác định theo công thøc Simpson .
D 1
n
1 Ni
m
2
(3 – 4)
Trong đó: m là số loài của khu vực nghiên cứu.
ni: Số cá thể của loài thứ i.
N: Tổng số cá thể trong khu vực nghiên cứu.
- Khả năng cải thiện nguồn nớc trong khu vực: Đợc đánh giá bằng phơng pháp
đánh giá có sự tham gia của ngời dân.
3.4.3.3/ Phơng pháp đánh giá tác động kinh tế:
Phỏng vấn 3 nhóm hộ (khá, trung bình, nghèo) với các chỉ tiêu cơ thĨ nh thu
nhËp, chi phÝ, thêi gian lao ®éng, lấy trị số bình quân các chỉ tiêu của từng nhóm hộ
để so sánh cơ cấu và giá trị tuyệt đối tại các thời điểm trớc và sau Dự án.
Đánh giá hiệu quả kinh tế của một số mô hình trồng rừng chúng tôi sử dụng
các chỉ tiêu sau:
- Giá trị hiện tại thuần tuý (NPV): Công thức tính theo DK. Paul [9] nh sau:
n
NPV
t 0
Bt C t
1 r t
(3 5)
Trong đó:
NPV: Giá trị hiện tại thuần tuý
Bt: Tổng các khoản thu của năm thứ t
Ct: Tổng các khoản chi của năm thứ t
R: LÃi suất vay
t: Chỉ số năm (t = 0 n)
- Tỷ lệ thu nhập trên chi phí (BCR): Công thức tÝnh theo J.E. Gunter [9] nh sau:
n
BCR
Bt
1 r
t
t 0
n
1 r
t 0
(3 – 6)
Ct
t
18
- Tû lƯ thu håi néi bé (IRR): Lµ chØ tiêu đánh giá khả năng sinh lời tối đa của một
mô hình rừng trồng, nếu mô hình rừng trồng nào vay vốn với lÃi suất là IRR thì mô
hình rừng trồng đó sẽ hoà vốn. Nghĩa là khi NPV = 0 thì r = IRR.
3.4.3.4/ Phơng pháp đánh giá tác động về xà hội:
Tác động xà hội đợc đánh giá bằng phơng pháp đánh giá có sự tham gia của
ngời dân với các tiêu chí sau :
- Mức độ chấp nhận và tham gia của ngời dân đối với Dự án.
- Cơ cấu sử dụng thời gian và khả năng tạo việc làm.
- Đợc yêu tiên đào tạo tập huấn n©ng cao hiĨu biÕt khoa häc kü tht.
- ý thøc và vai trò của ngời dân trong việc quản lý bảo vệ rừng.
- Sự bình đẳng về giới và vai trò của ngời phụ nữ trong các hoạt động sản
xuất và đời sống.
Từ mục tiêu, nội dung và phơng pháp nghiên cứu cho thấy kết quả của đề tài
nh sau:
19
Chơng 4
Điều kiện cơ bản của khu vực nghiên cứu
4.1/ Quá trình hình thành và phát triển của Dự án
4.1.1/ Bối cảnh ra đời của Dự án
Trong những năm gần đây khí hậu thời tiết diễn ra thất thờng. Hạn hán kéo
dài, bảo tố, ma đá, lũ lụt xảy ra khắp nơi trong nớc đặc biệt là các tỉnh miền trung và
nam bộ. Thiệt hại về ngời và tài sản do thời tiết gây ra quả là không nhỏ, một trong
những nguyên nhân gây ra hậu quả này là do môi trờng sinh thái bị huỷ hoại, đặc
biệt là tài nguyên rừng. Hiện tợng chặt phá rừng bừa bÃi, khai thác lạm dụng vào
vốn rừng đà dẫn đến rừng bị suy thoái cả về số lợng lẫn chất lợng. Hơn nữa cộng
đồng dân tộc thiểu số ở một số vùng vẫn còn sử dụng những hệ thống canh tác lạc
hậu, năng suất cây trồng thấp. Họ không đủ đất để canh tác, không có đủ quyền sử
dụng đất lâu dài và ổn định. Do đó ngời dân phải khai hoang đất rừng để làm nơng
rẫy sống du canh du c. Chính vì những nguyên nhân đó mà diện tích rừng ngày càng
bị thu hẹp, độ che phủ của lớp thảm thực vật giảm sút, chức năng phòng hộ của rừng
suy giảm.
Nhận thức đợc giá trị to lớn của tài nguyên rừng nói chung và rừng đầu nguồn
nói riêng. Trong khuôn khổ chơng trình hợp tác, Chính phủ Việt Nam đà yêu cầu
Ngân hàng phát triển châu á (ADB) hỗ trợ phát triển tài nguyên rừng ở các vùng đầu
nguồn xung yếu của Việt Nam. Sự hỗ trợ này đợc tiến hành thông qua Dự án mang
tên, Dự án khu vực lâm nghiệp Việt Nam ADB.
Trung tâm t vấn đầu t thuộc tổ chức Lơng nông (FAO) đợc tuyển chọn thực hiện
công trình nghiên cứu và xây dựng Dự án tổng thể cho toàn bộ Dự án.
Sau khi nghiên cứu tài liệu về chơng trình phát triển rừng của vùng đầu nguồn
các tỉnh Miền trung, cuối năm 1995 một nhóm chuyên gia của Ngân hàng phát triển
Châu á đà đến làm việc với bộ Lâm Nghiệp cũ nay là bộ Nông Nghiệp &phát triển
nông thôn (NN&PTNT)và chính thức đề nghị đầu t cho Dự án, trên phạm vi khu vực
đầu nguồn thuộc 4 tỉnh Thanh Hoá, Gia lai, Quảng Trị và Phú Yên (Sông Chu, Sông
Ba, Hồ Trúc Kinh).
Từ tháng 10 năm 1995 đến tháng 3 năm 1996 một nhóm chuyên gia của trung
tâm đầu t thuộc tổ chức lơng thực và nông nghiệp (FAO) cùng với các chuyên gia của
bộ Nông Nghiệp Phát Triển Nông Thôn, đà tiến hành nghiên cứu và xây dựng Dự án
tổng thể cho toàn bộ Dự án trên phạm vi khu vực đầu nguồn Sông Chu, Sông Ba và hồ
Trúc Kinh. Cuối cùng đà lựa chọn đợc 50 tiểu Dự án (xÃ) của 4 tỉnh với tổng kinh phí
đầu t khoảng 53,2 triệu USD [22].
Trên cơ sở báo cáo của tổ công tác, tại cuộc hội thảo tháng 6 năm 1996 tổ chức
tại Hà nội các đại biểu đà nhất trí về việc xây dựng Dự án khu vực lâm nghiệp ADB