Tải bản đầy đủ (.pdf) (72 trang)

Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1000.13 KB, 72 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

TRƯƠNG THỊ HUỆ

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2023


TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG
MẠI

SINH VIÊN THỰC HIỆN: TRƯƠNG THỊ HUỆ
KHÓA: 44

MSSV: 1953801011080

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.S NGUYỄN VĂN HÙNG

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2023



Tơi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Ths Nguyễn Văn Hùng, đảm bảo
tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo.
Tơi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.

Sinh viên thực hiện khóa luận

Trương Thị Huệ


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG
MẠI ............................................................................................................................ 4
1.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại ............ 4
1.1.1. Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại........................................ 4
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại .................................. 8
1.2. Lợi ích và rủi ro khi giao kết hợp đồng nhượng quyền thương mại ....... 13
1.2.1. Lợi ích khi giao kết hợp đồng nhượng quyền thương mại ....................... 13
1.2.2. Rủi ro khi giao kết hợp đồng nhượng quyền thương mại ........................ 15
1.3. Phân loại hợp đồng nhượng quyền thương mại ........................................ 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ....................................................................................... 22
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG
NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI, HẠN CHẾ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM ..................................................................... 23
2.1. Chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại.................................... 23
2.2. Điều kiện để hợp đồng nhượng quyền thương mại có hiệu lực ............... 31
2.3. Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại.................................. 35
2.3.1. Quyền và nghĩa vụ của bên nhượng quyền .............................................. 35

2.3.2. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận nhượng quyền ..................................... 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ....................................................................................... 55
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT
Luật Các tổ chức tín dụng năm

TỪ VIẾT ĐẦY ĐỦ
Luật Các tổ chức tín dụng (số 47/2010/QH12) ngày

2010
Luật Cạnh tranh năm 2018

16/6/2010
Luật Cạnh

tranh

(số

23/2018/QH14)

ngày

tranh


(số

27/2004/QH11)

ngày

(số

91/2015/QH13)

ngày

12/6/2018
Luật Cạnh tranh năm 2004

Luật Cạnh
03/12/2004

Bộ luật Dân sự năm 2015

Bộ luật Dân
24/11/2015

Luật Đầu tư năm 2020
Luật Doanh nghiệp năm 2020

Luật Đầu tư (số 61/2020/QH14) ngày 17/06/2020
Luật Doanh nghiệp (số 59/2020/QH14) ngày

Luật Hợp tác xã năm 2012

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
Luật Thương mại năm 2005
Nghị định số 122/2021/NĐ-CP

Nghị định số 31/2021/NĐ-CP

Nghị định số 01/2021/NĐ-CP
Nghị định số 98/2020/NĐ-CP

Nghị định số 08/2018/NĐ-CP

sự

17/6/2020
Luật Hợp tác xã (số 23/2012/QH13) ngày
20/11/2012
Luật Sở hữu trí tuệ (số 50/2005/QH11) ngày
29/11/2005
Luật Thương mại (số 36/2005/QH11) ngày
14/06/2005
Nghị định số 122/2021/NĐ-CP của Chính phủ ngày
28/12/2021 quy định về xử phạt vi phạm
chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư
Nghị định số 31/2021/NĐ-CP của Chính phủ
26/3/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi
một số điều của Luật Đầu tư
Nghị định số 01/2021/NĐ-CP của Chính phủ
04/01/2021 về đăng ký doanh nghiệp
Nghị định số 98/2020/NĐ-CP của Chính phủ


hành
ngày
hành
ngày
ngày

26/8/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán
hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng
Nghị định số 08/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày
15/01/2018 sửa đổi một số nghị định liên quan đến
điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý


nhà nước của Bộ Công thương
Nghị định số 50/2016/NĐ-CP

Nghị định số 50/2016/NĐ-CP của Chính phủ ngày

Nghị định số 120/2011/NĐ-CP

01/6/2016
Nghị định số 120/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày
16/12/2011 Sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính tại

Nghị định số 35/2006/NĐ-CP

một số nghị định của chính phủ quy định chi tiết
Luật Thương mại

Nghị định số 35/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày
31/03/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về
hoạt động nhượng quyền thương mại

Thông tư số 09/2006/TT-BTM

Thông tư số 09/2006/TT-BTM của Bộ Thương mại
ngày 25/5/2006 hướng dẫn đăng ký hoạt động
nhượng quyền thương mại


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhượng quyền thương mại là một phương thức kinh doanh hình thành khá lâu
đời trên thế giới. Phương thức này giúp cho các thương nhân có thể nhân rộng mơ
hình kinh doanh, danh tiếng của mình thơng qua việc chuyển nhượng quyền kinh
doanh, cho phép bên nhận nhượng quyền sử dụng danh tiếng của mình để cung ứng
sản phẩm dịch vụ. Ngược lại, phương thức này sẽ là cơ hội cho những thương nhân
mới, những thương nhân hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm, vốn,…có thể tận dụng
lợi thế từ bên nhượng quyền để gia nhập thị trường và tiến hành kinh doanh một
cách dễ dàng hơn.
Để tiến hành hoạt động thương mại này thì hợp đồng là một yếu tố quan trọng,
là hình thức pháp lý để thực hiện hoạt động, là nơi ghi nhận ý chí của các bên đối
với việc mua bán quyền kinh doanh, là căn cứ pháp lý quan trọng nhất để phát sinh
quyền và nghĩa vụ của các bên và cũng là cơ sở để giải quyết khi tranh chấp phát
sinh. Để xây dựng một hệ thống nhượng quyền thành cơng địi hỏi một bản hợp
đồng cụ thể, rõ ràng về quyền và nghĩa vụ cùng với sự tuân thủ nghiêm ngặt của các
bên. Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 35/2006/NĐ-CP của Chính phủ

ngày 31/03/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động nhượng quyền
thương mại khơng quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nhượng quyền
thương mại mà vấn đề này sẽ được thực hiện theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy
nhiên, thực tế, ngoài những điều kiện được quy định trong Bộ luật Dân sự năm
2015 dành cho mọi loại hợp đồng sẽ có những điều kiện khác mà nếu không đảm
bảo sẽ khiến hợp đồng nhượng quyền thương mại bị vô hiệu chẳng hạn như thời hạn
hoạt động tối thiểu trước khi tiến hành nhượng quyền. Đồng thời, Nghị định mới
nhất, Nghị định số 08/2018/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/01/2018 sửa đổi một số
nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà
nước của Bộ Cơng thương đã có một số sự sửa đổi, bổ sung đối với Nghị định số
35/2006/NĐ-CP về chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Với tầm quan trọng như vậy, các quy định pháp luật liên quan đến hợp đồng
nhượng quyền thương mại cần được nghiên cứu một cách hệ thống, có sự cập nhật
những sửa đổi, bổ sung mới về chủ thể của hợp đồng, những điều kiện để đảm bảo
cho hợp đồng có hiệu lực, từ đó giúp các bên có thể yên tâm tiến hành hoạt động
kinh doanh của mình. Chính vì vậy, đề tài “Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền
thương mại” được thực hiện.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nhượng quyền thương mại nói chung và hợp đồng nhượng quyền


2

thương mại ở Việt Nam khơng cịn là một vấn đề mới, đã có nhiều bài phân tích về
hoạt động này và cả về hợp đồng nhượng quyền, như:
Lương Thị Trúc (2022), Hợp đồng nhượng quyền thương mại và bài học kinh
nghiệm cho các thương nhân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Đại học Quốc gia Hà Nội. Bài Luận văn đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về hợp
đồng nhượng quyền thương mại bao gồm giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp
đồng, các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ và hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng.

Tuy nhiên, bài luận văn chưa nghiên cứu điều kiện để hợp đồng có hiệu lực, chưa
có sự cập nhật về điều kiện để bên nhận quyền được nhận quyền thương mại theo
Nghị định số 08/2018/NĐ-CP. Vì vậy khóa luận tốt nghiệp sẽ bổ sung điều kiện có
hiệu lực của hợp đồng.
Hồ Vĩnh Long (2006), Hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật
Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh. Luận văn đã có sự nghiên cứu khái quát hợp đồng nhượng quyền thương mại
về các nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại như cung cấp thơng tin,
phí, vấn đề hạn chế cạnh tranh, các quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền và
nhượng quyền. Tuy nhiên, bài luận văn chưa đưa ra được khái niệm tổng quát về
hợp đồng nhượng quyền thương mại, chưa nghiên cứu về điều kiện để hợp đồng có
hiệu lực. Vì vậy, khóa luận sẽ kế thừa và bổ sung những nội dung trên.
Ngồi ra cịn có Hợp đồng nhượng quyền thương mại và thực tiễn áp dụng của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Minh Hải; Pháp luật
về hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại công ty
cổ phần Trung Nguyên của tác giả Phan Thị Tuyết Hoa; Hợp đồng nhượng quyền
thương mại trong pháp luật Việt Nam của tác giả Đào Đặng Thu Hường. Tuy nhiên,
đa số đều được thực hiện khi Luật Thương mại vừa được ban hành nên sẽ có những
sự thay đổi nhất định so với thời điểm hiện tại. Chính vì vậy, khóa luận tốt nghiệp
sẽ thực hiện việc nghiên cứu các thay đổi này.
Có thể thấy kể từ khi Luật Thương mại được ban hành vào năm 2005 cho đến
nay đã có khá nhiều cơng trình nghiên cứu về nhượng quyền thương mại nói chung
và hợp đồng nhượng quyền thương mại nói riêng. Tuy nhiên mỗi cơng trình có mục
đích và định hướng nghiên cứu khác nhau, bên cạnh đó có những cơng trình được
thực hiện khi Luật Thương mại vừa có hiệu lực, cho đến nay Luật Thương mại đã
trải qua nhiều sự sửa đổi, bổ sung. Chính vì vậy khóa luận này sẽ thực hiện việc bổ
sung, hoàn thiện một số vấn đề như sau: thứ nhất, khóa luận sẽ nghiên cứu về chủ
thể của hợp đồng nhượng quyền thương mại, điều kiện để trở thành chủ thể của hợp
đồng sau khi Nghị định 08/2018/NĐ-CP có hiệu lực; thứ hai, khóa luận nghiên cứu



3

về điều kiện để hợp đồng có hiệu lực kết hợp với việc phân tích bản án và liên hệ
với pháp luật nước ngoài để đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam; thứ
ba, khóa luận phân tích một số quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền, bên nhượng
quyền, từ đó đưa ra hạn chế, tham khảo pháp luật nước ngoài để đề xuất hướng
hoàn thiện.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích của khóa luận là nhằm làm rõ hơn các vấn đề pháp lý liên quan đến
hợp đồng nhượng quyền thương mại về chủ thể, điều kiện, quyền và nghĩa vụ của
các bên trong hợp đồng, so sánh với quy định của một số quốc gia để từ đó đưa ra
những nhận định đúng đắn về sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với hợp
đồng nhượng quyền thương mại. Như vậy khóa luận sẽ có thể là tài liệu nghiên cứu
cho sinh viên ngành luật trong quá trình học tập liên quan đến vấn đề này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định về hợp đồng nhượng
quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam. Nhưng tác giả không đi vào nghiên cứu
toàn bộ các vấn đề mà chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu chủ thể, điều kiện có hiệu lực
của hợp đồng và một vài quyền, nghĩa vụ của các bên cần được phân tích làm rõ.
Bên cạnh đó có sự so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới để thấy được
những ưu điểm, hạn chế của pháp luật Việt Nam về các vấn đề này từ đó đưa ra một
số kiến nghị sửa đổi, bổ sung pháp luật để thúc đẩy hoạt động này phát triển.
5. Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Để làm rõ những vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, bao gồm phương pháp tổng hợp và
phân tích, phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực
tiễn,…
6. Bố cục tổng quát của khóa luận
Chương 1: Tổng quan về hợp đồng nhượng quyền thương mại

Chương 2: Thực tiễn quy định của pháp luật về hợp đồng nhượng quyền
thương mại, một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện


4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN
THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại
1.1.1. Khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại
Trước khi tìm hiểu hợp đồng nhượng quyền thương mại cần hiểu về nhượng
quyền thương mại. Nhượng quyền thương mại hay còn được gọi là franchise là một
hoạt động đang diễn ra phổ biến ở các quốc gia trên thế giới và Việt Nam khơng
phải là một ngoại lệ. Dưới góc độ kinh tế, nhượng quyền thương mại là một cách
thức tiến hành kinh doanh. Một bên (bên nhượng quyền) sẽ trao cho bên còn lại
(bên nhận quyền) một quyền gọi là “quyền kinh doanh”. Khi “quyền kinh doanh”
được trao cho bên nhận quyền, bên nhận quyền sẽ có quyền sử dụng mơ hình, bí
quyết kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại,...của bên nhượng quyền để bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ trong một thời gian nhất định nhằm mục đích sinh lợi.
Dưới góc độ pháp lý, ở các quốc gia khác nhau tồn tại những cách định nghĩa
khác nhau về phương thức kinh doanh này. Lý do của sự khác biệt này là bởi mỗi
quốc gia sẽ có một thể chế chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa khác nhau, trình độ
lập pháp của từng quốc gia cũng có sự chênh lệch vì vậy đã dẫn đến tồn tại những
cách định nghĩa khác nhau, thậm chí là khác nhau cả về tên gọi.
Theo Hiệp hội Nhượng quyền thương mại quốc tế, nhượng quyền thương mại
là mối quan hệ theo hợp đồng giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển
nhượng, trong đó, bên chuyển nhượng đề xuất hoặc phải duy trì liên tục quyền kinh
doanh, đào tạo nhân lực; bên nhận nhượng quyền hoạt động dưới nhãn hiệu hàng
hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do bên chuyển nhượng sở hữu hoặc
kiểm soát và bên nhận chuyển nhượng đang hoặc sẽ đầu tư đáng kể vốn vào doanh

nghiệp bằng các nguồn lực của mình1. Cách định nghĩa này đã nhấn mạnh vào
quyền được kiểm soát và nghĩa vụ hỗ trợ của bên nhượng quyền, đồng thời nhấn
mạnh đến nghĩa vụ tự đầu tư bằng vốn của bên nhận quyền. Từ nghĩa vụ tự đầu tư
bằng vốn cũng đã xác định tư cách pháp lý độc lập của bên nhượng quyền và bên
nhận quyền. Tuy nhiên, một quyền quan trọng đó là quyền được nhận phí từ việc
nhượng quyền thương mại chưa được bộc lộ thông qua định nghĩa trên.
Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ cũng đưa ra khái niệm về nhượng
quyền thương mại như sau: “Nhượng quyền thương mại là thoả thuận, theo đó bên
nhượng quyền có trách nhiệm hỗ trợ đáng kể cho bên nhận quyền trong việc điều
hành doanh nghiệp và kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của
Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam (tập II), Nhà xuất bản Tư pháp,
Hà Nội, tr. 216.
1


5

bên nhận quyền. Đồng thời bên nhượng quyền phải lisence nhãn hiệu cho bên nhận
quyền để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn hiệu hàng hoá của bên
nhượng và u cầu bên nhận thanh tốn một khoản phí tối thiểu” 2. Định nghĩa này
của Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ tương tự với Hiệp hội Nhượng quyền
thương mại quốc tế, cũng nhấn mạnh đến quyền kiểm soát và nghĩa vụ hỗ trợ của
bên nhượng quyền. Đồng thời định nghĩa đã đề cập đến vấn đề quan trọng, mục
đích của bên nhượng quyền thương mại khi thực hiện hoạt động này đó là chi phí
nhượng quyền. Định nghĩa này đã nhấn mạnh và làm nổi bật lên vai trò của bên
nhượng quyền hơn là bên nhận quyền, tuy nhiên không nhấn mạnh vào tư cách
pháp lý độc lập của hai bên trong mối quan hệ này.
Pháp luật của Australia định nghĩa nhượng quyền thương mại như sau:
“Nhượng quyền thương mại là thỏa thuận một bên (bên nhượng quyền) cấp cho bên
khác (bên nhận quyền) thực hiện hoạt động đề nghị giao kết hợp đồng, cung cấp

hoặc phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ trong lãnh thổ Australia theo hệ thống hoặc
kế hoạch kinh doanh mà cơ bản được xác định kiểm soát hoặc đề xuất bởi bên
nhượng quyền, theo đó: Việc tiến hành hoạt động kinh doanh được chủ yếu gắn liền
với thương hiệu, hoạt động quảng cáo hoặc biểu tượng thương mại của bên nhượng
quyền. Trước khi bắt đầu kinh doanh và trong quá trình kinh doanh, bên nhận quyền
phải thanh toán cho bên nhượng quyền một khoản chi phí nhượng quyền thương
mại”3. Định nghĩa trên là một định nghĩa khá toàn diện khi chỉ ra được bản chất của
của nhượng quyền thương mại bao gồm sự kiểm sốt từ phía bên nhượng quyền và
sự cấp quyền sử dụng các tài sản sở hữu trí tuệ thuộc bên nhượng quyền, đồng thời
chỉ ra mục đích của hợp đồng này là phí nhượng quyền.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “franchise” được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1999
tại Thông tư số 1254/1999/TT-BKHCNMT Hướng dẫn thực hiện Nghị định số
45/1998/NĐ-CP ngày 1 tháng 7 năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết về
chuyển giao công nghệ. Tại Thông tư này, hợp đồng franchise được gọi là hợp đồng
cấp phép đặc quyền kinh doanh. Theo điểm a mục 4.1.1 thì loại hợp đồng này u
cầu có sự phê duyệt của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường với nội dung cấp li
xăng sử dụng nhãn hiệu hàng hóa kèm theo các bí quyết sản xuất, kinh doanh được
chuyển giao từ nước ngồi vào Việt Nam có giá trị thanh tốn cho một Hợp đồng
trên 30.000 USD. Có thể thấy, ở Việt Nam, hợp đồng franchise đã xuất hiện từ sớm
nhưng lại được tiếp cận dưới góc độ là một hoạt động chuyển giao công nghệ liên
Phan Thị Tuyết Hoa (2012), Pháp luật về hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam và thực tiễn áp
dụng tại công ty cổ phần Trung Nguyên, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội,
tr.7.
3
Phan Thị Tuyết Hoa (2012), tlđd (2), tr. 8.
2


6


quan đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Cách tiếp cận này chưa phản ánh được bản chất
của hoạt động franchise là một hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi.
Nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn, năm 2005, hoạt động nhượng quyền thương mại
lần đầu tiên được pháp luật Việt Nam ghi nhận là một hoạt động thương mại độc lập
trong Luật Thương mại năm 2005.
Theo quy định tại Điều 284 của Luật Thương mại năm 2005, nhượng quyền
thương mại được định nghĩa như sau:
“Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng
quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:
1. Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ
chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng
hố, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh
doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;
2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền
trong việc điều hành công việc kinh doanh”.
Giống với nhiều định nghĩa của các quốc gia khác, pháp luật Việt Nam cũng
nhấn mạnh vào quyền kiểm soát và việc cho phép bên nhận quyền sử dụng các tài
sản thuộc sở hữu trí tuệ của bên nhượng quyền. Theo định nghĩa trên, tư cách pháp
lý độc lập của các bên cũng đã được nhấn mạnh thơng qua cụm từ “tự mình tiến
hành”.
Như vậy, với cách định nghĩa này, pháp luật Việt Nam khẳng định nhượng
quyền thương mại là một hoạt động thương mại, thể hiện đúng bản chất của hoạt
động này không phải là hoạt động chuyển giao công nghệ đơn thuần như trước đây.
Đây là một hoạt động thương mại nhằm mở rộng hệ thống kinh doanh của một chủ
thể kinh doanh (thương nhân) đã thành cơng trước đó thơng qua việc chia sẻ quyền
kinh doanh trên một tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, quy trình, bí quyết kinh
doanh cho một thương nhân khác4. Nhượng quyền thương mại là một hoạt động
thương mại, chính vì vậy nó sẽ mang bản chất của một hoạt động thương mại nói
chung tương tự như hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hoặc trung gian

thương mại.
Tuy mỗi quốc gia có những cách định nghĩa khác nhau về nhượng quyền
thương mại, nhưng có thể rút ra một cách chung nhất về định nghĩa của hoạt động
nhượng quyền thương mại như sau: nhượng quyền thương mại là hoạt động thương
Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Hướng dẫn học tập môn Luật Thương mại (tập 2), Nhà xuất bản Lao
động, tr. 194.
4


7

mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền tự mình mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ gắn với nhãn hiệu hàng hố, tên thương mại, bí quyết kinh
doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng
quyền. Bên nhượng quyền có quyền kiểm sốt bên nhận quyền trong việc điều hành
cơng việc kinh doanh. Bên nhận quyền phải thanh toán cho bên nhượng quyền một
khoản chi phí nhượng quyền thương mại.
“Bên nhượng quyền có thể trong cùng một lúc cho phép nhiều bên nhận quyền
khác nhau cùng sử dụng “quyền kinh doanh” của mình”5. Điều này sẽ giúp cho bên
nhượng quyền có thể mở rộng mạng lưới kinh doanh, quảng bá tên, nhãn hiệu, hình
ảnh của mình thơng qua đó tối đa hóa được lợi nhuận.
Để thực hiện được hoạt động nhượng quyền thương mại, hợp đồng nhượng
quyền thương mại là yếu tố quan trọng, là nơi ghi nhận quyền và nghĩa vụ giữa các
bên. Pháp luật Việt Nam có ghi nhận về hợp đồng nhượng quyền thương mại tại
Điều 285 Luật Thương mại năm 2005. Tuy quy định này có tên là hợp đồng nhượng
quyền thương mại nhưng chỉ quy định về hình thức của hợp đồng, khơng phải là
định nghĩa về hợp đồng nhượng quyền thương mại. Bên cạnh đó, Nghị định số
35/2006/NĐ-CP cũng chỉ đưa ra hai định nghĩa về hợp đồng phát triển quyền
thương mại và hợp đồng nhượng quyền thương mại thứ cấp. Từ đây có thể thấy các
văn bản pháp luật hiện hành ở Việt Nam chưa có định nghĩa về hợp đồng nhượng

quyền thương mại6.
Bộ luật Dân sự năm 2015 được xem là luật chung và Luật Thương mại năm
2005 là luật chuyên ngành. Trong trường hợp luật chun ngành khơng quy định có
thể sử dụng quy định trong luật chung. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có một khái
niệm chung nhất về hợp đồng tại Điều 385. Cụ thể, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa
các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Kết hợp
với khái niệm hoạt động nhượng quyền thương mại được quy định tại Điều 284
Luật Thương mại năm 2005, có thể đưa ra định nghĩa hợp đồng nhượng quyền
thương mại như sau:
“Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên nhượng quyền cho phép
và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ theo các điều kiện sau:
- Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ
chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên
thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh,
Hồ Vĩnh Long (2006), Hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 8.
6
Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), tlđd (4), tr. 198.
5


8

quảng cáo của bên nhượng quyền.
- Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong
việc điều hành công việc kinh doanh”7
Việc hiểu hợp đồng nhượng quyền như trên cũng có điểm tương đồng với một
số nước trên thế giới. Theo Hiệp ước cộng đồng chung châu Âu, khái niệm hợp
đồng nhượng quyền thương mại được hiểu “là một thỏa thuận trong đó, một bên là

bên nhượng quyền cấp phép cho một bên khác là bên nhận quyền khả năng khai
thác một “quyền thương mại” nhằm mục đích xúc tiến thương mại đối với một loại
sản phẩm hoặc dịch vụ đặc thù để đổi lại một cách trực tiếp hay gián tiếp một khoản
tiền nhất định. Hợp đồng này phải quy định những nghĩa vụ tối thiểu của các bên
liên quan đến: (i) việc sử dụng tên thông thường hoặc dấu hiệu của cửa hàng hoặc
một cách thức chung; (ii) việc trao đổi công nghệ giữa bên nhượng quyền và bên
nhận quyền; (iii) việc tiếp tục thực hiện của bên nhượng quyền đối với bên nhận
quyền trong việc trợ giúp, hỗ trợ thương mại cũng như kỹ thuật trong suốt thời gian
hợp đồng nhượng quyền thương mại còn hiệu lực”8.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại
Thứ nhất, về tính chất, hợp đồng nhượng quyền thương mại thể hiện đặc điểm
của hợp đồng li-xăng, hợp đồng chuyển giao công nghệ và hợp đồng đại lý. Nó như
một loại hợp đồng tổng hợp mang bản chất của nhiều loại hợp đồng khác. Hợp đồng
nhượng quyền thương mại mang bản chất của hợp đồng chuyển giao cơng nghệ ở
chỗ cả hai hợp đồng đều có sự chuyển giao quyền sử dụng công nghệ từ bên có
quyền sang bên nhận chuyển giao. Đặc điểm khiến hợp đồng nhượng quyền tương
đồng với hợp đồng li-xăng là đối tượng được chuyển giao quyền sử dụng trong hợp
đồng nhượng quyền thương mại cũng là đối tượng được chuyển giao trong hợp
đồng li-xăng. Không những vậy, hợp đồng nhượng quyền thương mại còn mang đặc
điểm của hợp đồng đại lý đó là cả hai bên chủ thể trong hợp đồng đều là các chủ thể
độc lập với nhau.
Tuy nhiên, các loại hợp đồng này không đồng nhất với hợp đồng nhượng
quyền thương mại. Hợp đồng nhượng quyền thương mại yêu cầu bên nhận quyền
phải thực hiện theo kế hoạch kinh doanh, cách thức tổ chức của bên nhượng quyền.
Bên cạnh đó, bên nhận quyền thương mại sẽ có quyền sở hữu đối với hàng hóa.
Trong khi đó, đối với hợp đồng đại lý, bên đại lý có quyền tự mình xây dựng kế
hoạch kinh doanh mà không phụ thuộc hay chịu sự quản lý, chi phối của bên giao
đại lý. Về quyền sở hữu đối với hàng hóa, bên đại lý chỉ là bên trung gian kết nối
7
8


Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), tlđd (4), tr. 198.
Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), tlđd (4), tr. 199.


9

giữa người bán và người mua, quyền sở hữu vẫn thuộc về bên bán (bên giao đại lý)
và sẽ chuyển sang cho người mua khi hàng hóa được bán. Một điểm khác biệt nữa
giữa hợp đồng nhượng quyền và hợp đồng đại lý đó là bên nhận quyền phải trả một
khoản phí cho bên nhượng quyền trong khi đó bên đại lý được hưởng thù lao đại lý
từ bên giao đại lý.
Đối với hợp đồng nhượng quyền thương mại và hợp đồng chuyển giao cơng
nghệ, tuy có sự giống nhau ở việc quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao từ
bên có quyền sang bên nhận cơng nghệ, tuy nhiên hai loại hợp đồng này vẫn có một
số điểm khác biệt. Thứ nhất, trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, bên
nhượng quyền vẫn là chủ sở hữu của công nghệ, chỉ chuyển giao quyền sử dụng đối
với công nghệ. Trong khi đó, hợp đồng chuyển giao cơng nghệ có thể sẽ chuyển
giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ cho bên nhận chuyển giao tùy
vào thỏa thuận của các bên. Trong trường hợp chuyển giao quyền sở hữu cơng nghệ
thì lúc này bên chuyển giao khơng cịn là chủ sở hữu của cơng nghệ nữa mà thay
vào đó là bên nhận chuyển giao công nghệ. Thứ hai, về phạm vi sử dụng công nghệ,
trong quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền có nghĩa vụ sử
dụng công nghệ đã được cấp quyền sử dụng mà không được phép tự ý phát triển
công nghệ ấy. Thêm vào đó, sản phẩm do bên nhận quyền cung cấp cho khách hàng
phải gắn tên, nhãn hiệu, tên thương mại của bên nhượng quyền dù cho bên nhận
quyền có tư cách độc lập so với bên nhượng quyền. Trong khi đó, trong quan hệ
chuyển giao cơng nghệ, bên nhận cơng nghệ có quyền lựa chọn giữ ngun cơng
nghệ hay phát triển công nghệ. Đồng thời, đối với sản phẩm do bên nhận chuyển
giao sản xuất ra, bên nhận chuyển giao có thể gắn tên thương mại, nhãn hiệu của

mình cho sản phẩm.
Hợp đồng nhượng quyền thương mại và hợp đồng li-xăng là hai loại hợp đồng
thường tạo ra sự nhầm lẫn vì có đối tượng được chuyển nhượng tương đồng nhau.
Có thể dựa vào một số yếu tố để phân biệt hợp đồng nhượng quyền thương mại với
hợp đồng li-xăng. Thứ nhất là về chủ thể của hợp đồng. Chủ thể của hợp đồng
nhượng quyền thương mại đòi hỏi cả hai bên trong quan hệ hợp đồng đều phải là
thương nhân, trong khi đó đối với hợp đồng li-xăng, các bên trong quan hệ có thể là
cá nhân, thương nhân hoặc tổ chức không phải là thương nhân, chỉ cần một bên có
quyền sở hữu đối với đối tượng sở hữu cơng nghiệp và bên cịn lại có nhu cầu sử
dụng, khai thác đối với đối tượng sở hữu công nghiệp. Tiếp theo là về nghĩa vụ của
các bên, trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền không được
phép tự ý thay đổi bất kỳ yếu tố được chuyển giao nào nếu khơng có sự xem xét,
thơng qua của bên nhượng quyền. Bên cạnh đó, bên nhận quyền phải chịu sự giám


10

sát chặt chẽ của bên nhượng quyền trong việc sử dụng các yếu tố này để đảm bảo
tạo ra sự thống nhất. Cuối cùng, bên nhượng quyền có nghĩa vụ đối xử bình đẳng
giữa các bên trong hệ thống. Ngược lại, bên chuyển quyền trong hợp đồng li-xăng
không được đưa ra điều khoản hạn chế bên nhận quyền cải tiến đối tượng sở hữu
công nghiệp (trừ nhãn hiệu). Bên nhận quyền cũng sẽ khơng phải chịu sự kiểm sốt
mà chỉ phải chịu sự kiểm tra về chất lượng hàng hóa, dịch vụ trong trường hợp các
bên có thỏa thuận. Đồng thời, bên chuyển quyền không bắt buộc phải đối xử bình
đẳng giữa các bên nhận chuyển quyền.
Có thể thấy hợp đồng nhượng quyền thương mại có mang bản chất của một số
loại hợp đồng khác, tuy nhiên nó vẫn có những điểm riêng biệt có thể phân biệt
được so với các loại hợp đồng khác.
Thứ hai, chủ thể của hợp đồng sẽ gồm hai bên là bên nhượng quyền và bên
nhận quyền. Cả hai bên đều phải là thương nhân.

Chủ thể của hợp đồng nhượng quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị
định số 35/2006/NĐ-CP bao gồm bên nhượng quyền là chủ sở hữu của hệ thống
nhượng quyền (nhượng quyền sơ cấp) và bên nhượng quyền thứ cấp trong mối quan
hệ với bên nhận quyền thứ cấp. Trong hợp đồng nhượng quyền sơ cấp, chủ thể
nhượng quyền là chủ sở hữu, là người trực tiếp thành lập và tiến hành kinh doanh,
phát triển đối với hệ thống kinh doanh dự kiến nhượng quyền. Chủ thể này tham gia
hợp đồng nhượng quyền thương mại khơng chỉ với mục đích thu về một khoản phí
nhượng quyền mà cịn muốn phát triển hơn nữa uy tín kinh doanh và sự nổi tiếng
của mình.
Bên nhận quyền được quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 35/2006/NĐCP. Theo đó bao gồm bên nhận quyền từ bên nhượng quyền sơ cấp và bên nhận
quyền thứ cấp trong mối quan hệ với bên nhượng quyền thứ cấp. Bên nhận quyền là
bên thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ nhằm tìm kiếm
lợi nhuận thơng qua phương thức mà bên nhượng quyền cho phép, dưới tên gọi,
nhãn hiệu của bên nhượng quyền. Thông qua hoạt động này, bên nhận quyền có thể
giảm rủi ro đối với hoạt động kinh doanh của mình bởi bên nhượng quyền đã xây
dựng được danh tiếng, chất lượng và lượng khách hàng nhất định, họ đã có sự trải
nghiệm thị trường và đã thành cơng. Bên cạnh đó, bên nhận quyền vẫn có thể tham
gia thị trường với tư cách độc lập so với bên nhượng quyền (độc lập về mặt tài
chính, pháp lý). Đây cũng là cơ sở để phân biệt bên nhận quyền với quan hệ chi
nhánh. Bên nhận quyền mặc dù kinh doanh dưới tên, nhãn hiệu và sự kiểm soát của
bên nhượng quyền nhưng hoàn toàn độc lập và chủ động trong việc kinh doanh của
mình, việc bên nhận quyền có lãi hoặc phát sinh lỗ khơng liên quan trực tiếp đến


11

bên nhượng quyền. Vấn đề pháp lý, tranh chấp của bên nhận quyền cũng sẽ do bên
này tự chịu trách nhiệm.
Thông thường, tùy vào hoạt động thương mại cụ thể mà một hoặc cả hai bên
đều phải là thương nhân. Chẳng hạn, hoạt động đại diện cho thương nhân yêu cầu

cả hai bên đều phải là thương nhân. Tuy nhiên, hoạt động mơi giới thương mại thì
chỉ u cầu bên mơi giới là thương nhân, bên cịn lại có thể là cá nhân, tổ chức
không phải là thương nhân. Theo pháp luật hiện hành, để thực hiện hoạt động
nhượng quyền thương mại, cả hai bên trong quan hệ đều phải là thương nhân.
Như vậy không phải mọi chủ thể kinh doanh đều có thể trở thành một bên của
hợp đồng nhượng quyền thương mại. Thương nhân theo quy định tại Điều 6 Luật
Thương mại năm 2005 sẽ bao gồm: tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá
nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh
doanh. Thương nhân là những chủ thể có đăng ký kinh doanh, chính vì vậy có một
số chủ thể kinh doanh nhưng không phải là thương nhân như người bán hàng rong,
buôn chuyến sẽ không thể trở thành chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương
mại. Qua đây có thể khẳng định rằng, chủ thể của hợp đồng nhượng quyền thương
mại bắt buộc phải có đăng ký kinh doanh. Khi đăng ký kinh doanh, các bên phải
đăng ký các ngành nghề mà mình dự định kinh doanh. Theo quy định tại Điều 6
Nghị định số 35/2006/NĐ-CP thì bên nhận quyền phải có đăng ký kinh doanh
ngành nghề phù hợp với đối tượng của quyền thương mại. Tuy nhiên, quy định này
đã được bãi bỏ tại Nghị định số 08/2018/NĐ-CP. Kể từ đây, bên nhận quyền chỉ cần
đáp ứng điều kiện là thương nhân đã có thể tham gia vào hợp đồng nhượng quyền
thương mại.
Thứ ba, đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại là “quyền thương
mại” và nội hàm của quyền thương mại được giải thích tại khoản 6 Điều 3 Nghị
định số 35/2006/NĐ-CP. Theo đó, quyền thương mại được xác định bao gồm một,
một số hoặc toàn bộ các quyền sau :
(i) Quyền được bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự
mình tiến hành cơng việc kinh doanh cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ theo một hệ
thống do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên
thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên
nhượng quyền;
(ii) Quyền được bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền sơ cấp quyền
thương mại chung;

(iii) Quyền được bên nhượng quyền thứ cấp cấp lại cho bên nhận quyền thứ
cấp theo hợp đồng nhượng quyền thương mại chung;


12

(iv) Quyền được bên nhượng quyền cấp cho bên nhận quyền quyền thương
mại theo hợp đồng phát triển quyền thương mại.
Như vậy có thể hiểu một cách đơn giản quyền thương mại là quyền được tiến
hành công việc mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ theo cách thức do bên
nhượng quyền quy định và được gắn với các dấu hiệu nhận biết bên nhượng quyền
(nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh,
quảng cáo của bên nhượng quyền). Có thể thấy quyền (i) là quyền ln có mặt trong
mọi hợp đồng nhượng quyền thương mại, nếu khơng có quyền (i) thì những quyền
khác đều khơng thể phát sinh. Bên cạnh đó, quyền thương mại còn bao gồm quyền
cấp lại quyền thương mại cho chủ thể khác. Những quyền này được cấp cho bên
nhận quyền thơng qua một hợp đồng có thời hạn. Sau khi hợp đồng này kết thúc,
bên nhận quyền phải chấm dứt hành vi sử dụng các đối tượng thuộc “quyền thương
mại” của bên nhượng quyền trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Bên cạnh
đó, những “quyền thương mại” này là những tài sản vơ hình, rất khó để xác định
chất lượng, giá trị, sự tồn tại của nó nếu bên nhượng quyền khơng cơng bố thơng
tin. Chính vì vậy, bên nhượng quyền có nghĩa vụ cung cấp, công bố thông tin về
những “quyền thương mại” và hệ thống kinh doanh của mình cho bên nhận quyền
biết.
Cần phân biệt trường hợp nhượng quyền thương mại với trường hợp chuyển
giao hoàn toàn các yếu tố thuộc khái niệm “quyền thương mại”. Hợp đồng nhượng
quyền thương mại không làm chấm dứt quyền sở hữu của bên nhượng quyền đối
với các quyền thương mại này, trong khi đó, chuyển giao hồn toàn một yếu tố
trong “quyền thương mại” sẽ làm chấm dứt hoàn toàn quyền sở hữu của bên chuyển
giao. Bên cạnh đó, bên nhượng quyền thương mại sẽ có quyền kiểm soát và phát

sinh nghĩa vụ hỗ trợ bên nhận quyền trong việc tiến hành các công việc kinh doanh.
Hệ quả đó là sẽ tồn tại song song hai cơ sở kinh doanh kinh doanh cùng một mặt
hàng, hai cơ sở kinh doanh này vừa tương trợ lẫn nhau vừa là đối thủ cạnh tranh với
nhau.
Thứ tư, hợp đồng nhượng quyền thương mại phải được lập dưới hình thức văn
bản. Nhượng quyền thương mại về bản chất cũng là một giao dịch. Căn cứ theo quy
định tại khoản 1 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì một giao dịch dân sự có thể
được thể hiện dưới các hình thức: lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể, tùy thuộc
thỏa thuận của các bên và pháp luật khác có quy định cụ thể về hình thức của giao
dịch. Tuy nhiên, tại Điều 285 Luật Thương mại năm 2005 quy định giao dịch
nhượng quyền thương mại phải được thể hiện dưới hình thức là văn bản hoặc một
hình thức có giá trị tương đương. Điều này nghĩa là hợp đồng nhượng quyền thương


13

mại phải được thể hiện bằng văn bản. Nhượng quyền thương mại là một hoạt động
phức tạp, liên quan đến nhiều loại hợp đồng khác nên phải lập dưới dạng văn bản để
ghi nhận một cách cụ thể ý chí của hai bên. Hình thức tương đương ở đây được giải
thích tại khoản 15 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005. Theo đó, hình thức tương
đương văn bản bao gồm: điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức
khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa là khi các bên sử dụng các hình thức này
để thể hiện hợp đồng thì nó sẽ có giá trị như văn bản và vì vậy thỏa mãn yêu cầu về
hình thức. Tuy nhiên, trên thực tế, có sự chênh lệch giữa khoản 15 Điều 3 Luật
Thương mại năm 2005 về những hình thức có giá trị tương đương văn bản so với
Điều 10 Luật Giao dịch điện tử năm 2005. Bởi lẽ, theo Điều 10 Luật Giao dịch điện
tử năm 2005 thì điện báo, fax là một hình thức thể hiện thơng điệp dữ liệu trong khi
đó Luật Thương mại năm 2005 lại xem điện báo, fax là một hình thức tồn tại song
song với thông điệp dữ liệu. Nhưng tóm lại, khi sử dụng những hình thức này thì nó
đều có giá trị tương đương như khi sử dụng văn bản giấy.

Cuối cùng, hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể sẽ dẫn đến phân chia
thị trường và hạn chế cạnh tranh. Khi tham gia hoạt động trên, việc thỏa thuận về
giá của hàng hóa, dịch vụ là một yếu tố không tránh khỏi để tạo ra sự đồng bộ trong
hệ thống và thỏa thuận này sẽ có thể tạo thành thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Các
bên cần có sự thỏa thuận một cách hợp lý trong phạm vi cho phép của luật để đảm
bảo không vi phạm pháp luật nhưng vẫn đảm bảo được tính đồng bộ trong tồn hệ
thống nhượng quyền.
1.2. Lợi ích và rủi ro khi giao kết hợp đồng nhượng quyền thương mại
1.2.1. Lợi ích khi giao kết hợp đồng nhượng quyền thương mại
Hợp đồng nhượng quyền thương mại là bước đầu tiên để thiết lập quan hệ hợp
tác giữa các bên. Một khi được giao kết, nó sẽ được xem như “luật” và trở thành cơ
sở pháp lý cho quan hệ hợp tác giữa các bên khi tham gia hoạt động nhượng quyền
thương mại. Từ đó quyền của các bên được đảm bảo, tạo ra sự vận hành thống nhất
giữa các cơ sở nhượng quyền, thúc đẩy cả hai bên cùng phát triển.
Hợp đồng nhượng quyền thương mại là một hợp đồng song vụ, các bên trong
hợp đồng vừa có quyền vừa có nghĩa vụ, quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên
kia và ngược lại. Như vậy, khi tham gia vào hợp đồng nhượng quyền thương mại,
cả hai bên đều sẽ có những lợi ích nhất định. Lợi ích của bên nhận quyền đạt được
được khi tham gia hợp đồng nhượng quyền thương mại là:
- Thứ nhất, giúp tích lũy kinh nghiệm cho bên nhận quyền mới tham gia kinh
doanh. Bên mới kinh doanh thường là bên có ít kinh nghiệm trong việc xây dựng
thương hiệu, quảng bá sản phẩm, quản lý hệ thống kinh doanh. Trong khi đó bên


14

nhượng quyền là bên đã có trải nghiệm và sự thành công nhất định trong việc kinh
doanh, quảng bá sản phẩm, vận hành và quản lý hệ thống kinh doanh. Thông qua
hợp đồng nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền sẽ được bên nhượng quyền hỗ
trợ, hướng dẫn trong việc kinh doanh từ đó tích lũy được các kinh nghiệm cần thiết.

Sau khi hợp đồng nhượng quyền kết thúc, hai bên khơng có nhu cầu tiếp tục hợp tác
thì bên nhận quyền cũng đã có một số kinh nghiệm nhất định từ đó có thể tăng tỉ lệ
thành cơng trong cơng việc kinh doanh tiếp theo của mình.
- Thứ hai, giảm thiểu rủi ro, tăng tỉ lệ thành công và tiết kiệm thời gian, chi phí
cho bên nhận quyền. Sở dĩ hợp đồng nhượng quyền thương mại đem lại lợi ích này
là vì bên nhận quyền sẽ khơng phải tự mình xây dựng thương hiệu, thử nghiệm sản
phẩm, dịch vụ, thử nghiệm thị trường, quảng cáo sản phẩm, dịch vụ. Bên nhượng
quyền là bên đã có sản phẩm được đưa vào thị trường và được thị trường đón nhận.
Vì vậy khi giao kết hợp đồng nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền sẽ có thể
thừa hưởng những thành cơng này của bên nhượng quyền mà không cần bắt đầu lại,
từ đó sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí và tăng tỉ lệ thành cơng khi thương hiệu đó
đã được người dùng tin tưởng.
- Thứ ba, khi tham gia vào hệ thống nhượng quyền thương mại thông qua hợp
đồng nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền sẽ có thể kinh doanh những loại
hàng hóa, dịch vụ đã được chuẩn hóa về chất lượng. Bởi lẽ, thông thường, bên nhận
quyền sẽ tham gia vào hệ thống mà đã có được sự thành cơng nhất định. Để có được
thành cơng thì dịch vụ, hàng hóa phải là dịch vụ, hàng hóa chất lượng, phù hợp với
nhu cầu của người tiêu dùng. Chính vì lẽ đó, bên nhận quyền khi gia nhập cũng sẽ
được kinh doanh những hàng hóa, dịch vụ này.
- Thứ tư, hợp đồng nhượng quyền thương mại là công cụ cho các doanh
nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trong hoạt động kinh doanh 9. Giá cả,
chất lượng là các yếu tố quan trọng trong việc cạnh tranh của các sản phẩm hàng
hóa, dịch vụ trên thị trường. Việc chất lượng không tốt sẽ khiến việc cạnh tranh
giảm, giá cao cũng sẽ kéo khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ trên thị trường
đi xuống. Việc giao kết hợp đồng nhượng quyền thương mại giúp bên nhận quyền
xác định được giá, chất lượng của các loại hàng hóa, dịch vụ hiện có trên thị trường,
tránh được những rủi ro tiềm ẩn trong việc tăng chi phí khơng đáng có khi hoạt
động.
Khi tham gia nhượng quyền thương mại, bên nhượng quyền cũng sẽ thu lại
được một số lợi ích như sau:

Nguyễn Minh Hải (2016), Hợp đồng nhượng quyền thương mại và thực tiễn áp dụng của các doanh nghiệp
vừa và nhỏ ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam Học viện
Khoa học Xã hội, tr. 12.
9


15

- Thứ nhất, mở rộng thị trường, mạng lưới kinh doanh, thăm dò được hiệu quả
đầu tư khi thâm nhập được vào các thị trường mới, quảng bá nhãn hiệu của mình
một cách nhanh chóng với chi phí và rủi ro thấp. Bởi lẽ, bên nhận quyền và bên
nhượng quyền là hai chủ thể độc lập với nhau. Bên nhượng quyền chỉ cần cho phép
bên nhận quyền sử dụng các “quyền thương mại của mình”, hỗ trợ bên nhận quyền
trong việc thiết lập các dấu hiệu nhận biết của thương hiệu, trong việc kiểm soát
chất lượng sản phẩm, dịch vụ còn việc đầu tư cho cơ sở vật chất, nguồn tài chính và
nhân lực sẽ do bên nhận quyền chịu trách nhiệm chi trả. Từ đó việc lỗ hay lời của
bên nhận quyền sẽ do chính bên ấy chịu trách nhiệm, nếu bên ấy chịu lỗ nghĩa là thị
trường tại nơi đó chưa sẵn sàng cho loại sản phẩm, dịch vụ đó. Bên nhượng quyền
đã có thể thăm dị thị trường mà khơng tốn nhiều chi phí. Khơng những vậy, việc
nhượng quyền thương mại có thể giúp đem tên tuổi của hệ thống kinh doanh đó đi
đến nhiều nơi bất kể khoảng cách địa lý. Điều này đã giúp mở rộng mạng lưới,
quảng bá cho chính thương hiệu đó, giúp thương hiệu được biết đến nhiều hơn ở
nhiều nơi mà khơng tốn thêm chi phí quảng cáo.
- Thứ hai, khi giao kết hợp đồng nhượng quyền thương mại, bên nhượng
quyền có thể tối đa hóa thu nhập từ việc bên nhận quyền phải trả tiền để sử dụng
quyền thương mại và phí theo tỉ lệ trên doanh thu. Khơng những vậy có thể bên
nhận quyền cịn phải mua sản phẩm, nguyên liệu, dịch vụ từ bên nhượng quyền để
kinh doanh. Bên nhượng quyền cũng có thể sẽ nhận được hoa hồng khi chỉ định bên
thứ ba cung ứng nguyên liệu, dịch vụ cho bên nhận quyền.
- Thứ ba, hợp đồng nhượng quyền thương mại sẽ nâng cao năng lực cạnh

tranh của bên nhượng quyền. Khi giao kết hợp đồng nhượng quyền thương mại, bên
nhượng quyền sẽ tiêu chuẩn hóa chất lượng dịch vụ, hàng hóa, tiêu chuẩn cả về
phong cách cung cấp dịch vụ, hàng hóa này. Như vậy, nếu một cơ sở kinh doanh
làm tốt nhiệm vụ, thậm chí là tốt hơn so với những tiêu chuẩn cũng sẽ tạo ra uy tín,
lịng tin của khách hàng đối với tồn bộ hệ thống. Khơng những vậy, khách hàng có
thể trở thành kênh quảng cáo cho doanh nghiệp. Khách hàng chính là sự tồn tại của
hệ thống, có được uy tín, lịng tin của khách hàng sẽ giúp cho doanh nghiệp có được
lợi thế cạnh tranh so với những đối thủ khác. Thêm vào đó, việc quảng cáo thương
hiệu thơng qua sự mở rộng của các cơ sở kinh doanh cũng giúp tăng độ nhận diện
thương hiệu, giúp cho nhiều khách hàng biết đến tạo ra lợi thế cạnh tranh cho bên
nhượng quyền.
1.2.2. Rủi ro khi giao kết hợp đồng nhượng quyền thương mại
Bất kỳ một vấn đề gì cũng đều tồn tại hai mặt là ưu điểm và rủi ro, hợp đồng
nhượng quyền thương mại cũng không là ngoại lệ. Bên cạnh những lợi ích như đã


16

đề cập, khi giao kết hợp đồng nhượng quyền thương mại, cả bên nhượng quyền và
bên nhận quyền đều phải đối mặt với một số rủi ro.
Bên nhận quyền sẽ đối mặt với các rủi ro như sau:
- Thứ nhất, khơng sở hữu hồn tồn thương hiệu. Như đã đề cập, bên nhận
quyền khi giao kết hợp đồng nhượng quyền thương mại với bên nhượng quyền sẽ
được bên nhượng quyền giao quyền sử dụng các quyền thương mại, còn quyền sở
hữu vẫn thuộc về bên kia. Chính vì lẽ đó, khi hợp đồng nhượng quyền thương mại
kết thúc, bên nhận quyền sẽ khơng cịn quyền gì đối với các quyền thương mại trên.
Lúc này, bên nhận quyền nếu muốn tiếp tục hoạt động kinh doanh thì phải giao kết
hợp đồng nhượng quyền mới hoặc tự xây dựng thương hiệu cho riêng mình dựa trên
các kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình hoạt động nhượng quyền thương mại.
- Thứ hai, dễ bị chấm dứt hợp đồng vì vi phạm thỏa thuận về chất lượng hàng

hóa, dịch vụ mà chưa thu hồi được vốn. Chất lượng hàng hóa, dịch vụ là một yếu tố
quan trọng phải đảm bảo nếu không sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống nhượng
quyền thương mại, chính vì vậy đây thường là điều khoản chấm dứt hợp đồng nếu
vi phạm. Khi xuất phát từ việc bên nhận quyền khơng hồn tồn sở hữu thương hiệu
trong khi đó có nghĩa vụ phải đảm bảo về mặt chất lượng dịch vụ, hàng hóa, khi
nghĩa vụ này bị vi phạm sẽ dẫn đến hợp đồng bị chấm dứt, bên nhận quyền đối diện
với rủi ro chưa thu hồi được vốn.
- Thứ ba, đối diện với nhiều loại rủi ro vì chưa tìm hiểu, đánh giá đầy đủ tiềm
năng của hệ thống nhượng quyền thương mại, chưa đánh giá đầy đủ về thị trường.
Hệ thống nhượng quyền thương mại theo yêu cầu của luật chỉ cần hoạt động một
năm là có thể tiến hành nhượng quyền. Một năm có thể q ít để một doanh nghiệp
có thể hoạt động bền vững, trong khi đó thơng tin do bên nhượng quyền cung cấp
có thể quá hấp dẫn khiến bên nhận quyền dễ dàng quyết định tham gia khi chưa tìm
hiểu kỹ. Thực tế, có rất nhiều trường hợp vì tin vào lời hứa hẹn hồi vốn nhanh của
chủ thương hiệu dẫn đến khơng tìm hiểu, gia nhập hệ thống sau đó làm ăn thua lỗ
phải dừng kinh doanh. Bên nhượng quyền vì để đảm bảo chất lượng của sản phẩm
mà có những quy định về cách bảo quản, sử dụng nguyên liệu. Tuy nhiên, cũng có
trường hợp bên nhượng quyền lạm dụng quyền này để có thể kiếm thêm chi phí từ
việc bán nguyên liệu. Chẳng hạn quy định gói nguyên liệu đã mở thì chỉ được phép
sử dụng trong ngày, nếu khơng sử dụng hết thì buộc phải bỏ đi khiến một lượng lớn
nguyên liệu bị lãng phí trong khi bên nhận quyền buộc phải mua thêm nguyên liệu
nếu muốn tiếp tục hoạt động. Bên cạnh đó, bên nhượng quyền có quyền sắp xếp địa
điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ cho bên nhận quyền. Từ đó, rủi ro từ thị trường do
chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng cũng sẽ khiến bên nhận quyền gặp khó khăn.


17

- Thứ tư, bên nhận quyền mất đi sự kiểm sốt và sáng tạo trong cơng việc kinh
doanh, các chính sách, chiến lược kinh doanh,…Bên nhận quyền mặc dù là bên độc

lập so với bên nhượng quyền, đồng thời là bên bỏ chi phí để đầu tư, nhưng lại
khơng thể thay đổi việc kinh doanh theo ý muốn của mình dù rằng ý tưởng đó có
thể đem lại nhiều lợi nhuận hơn. Lý giải cho điều này là nhằm tạo ra sự đồng bộ
giữa các cửa hàng kinh doanh và đảm bảo tính cạnh tranh giữa các cơ sở nên bên
nhượng quyền phải quy định một cách thống nhất về chính sách, phương thức kinh
doanh và bên nhận quyền phải tuân theo. Điều này cũng khiến cho sự sáng tạo của
bên nhận quyền bị hạn chế.
- Thứ năm, bên nhận quyền phải chịu sự cạnh tranh từ các cơ sở kinh doanh
khác và cả với bên nhượng quyền. Tuy bên nhận quyền gia nhập hệ thống nhượng
quyền thương mại có thể hạn chế được sự cạnh tranh từ phía các đối thủ cạnh tranh
ngoài hệ thống nhưng phải đối diện với việc cạnh tranh từ chính các cơ sở khác
trong hệ thống. Trong một khu vực địa lý có thể có nhiều cơ sở kinh doanh trong
cùng một hệ thống kinh doanh và chỉ cần một chút khác biệt trong cách cung cấp
hàng hóa, dịch vụ cũng đủ để khiến một cơ sở kinh doanh trong chuỗi phát triển
hơn so với cơ sở kinh doanh khác trong cùng một khu vực địa lý.
Bên nhượng quyền khi tham gia vào hoạt động nhượng quyền sẽ có thể đem
đến nhiều lợi ích như có khoản thu từ việc nhượng quyền, thu nhập cố định từ việc
cung cấp nguyên liệu, tuy nhiên cũng phải đối mặt với một số rủi ro, như:
- Thứ nhất, rủi ro đánh mất uy tín, lịng tin mà bên nhượng quyền đã xây dựng
được. Từng cơ sở kinh doanh trong chuỗi nhượng quyền thương mại về mặt pháp lý
là những chủ thể hoàn toàn độc lập với nhau. Tuy nhiên, trên thực tế, đối với người
tiêu dùng, những cơ sở kinh doanh này đều được nhận diện dưới một tên gọi chung.
Vì vậy một cơ sở kinh doanh kinh doanh sản phẩm kém chất lượng, nhân viên phục
vụ thực hiện nhiệm vụ không tốt sẽ gây ảnh hưởng cho toàn bộ chuỗi, khiến tất cả
cơ sở kinh doanh khác bị mất uy tín, lịng tin từ khách hàng. Chính vì điều này mà
việc đảm bảo về chất lượng và sự đồng bộ trong hệ thống đóng vai trị quan trọng
trong sự tồn tại của hệ thống nhượng quyền.
- Thứ hai, nguy cơ bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Để tạo nên một hệ thống
nhượng quyền thương mại thành cơng địi hỏi bên nhượng quyền phải trao cho bên
kia quyền sử dụng các đối tượng thuộc sở hữu trí tuệ của mình, đặc biệt là bí mật

kinh doanh chẳng hạn như cơng thức chế biến món ăn, thức uống. Đổi lại, bên nhận
quyền sẽ trả cho bên nhượng quyền một khoản phí cho việc sử dụng này. Tuy
nhiên, vì vậy mà bên nhượng quyền sẽ đối mặt với nguy cơ bị xâm phạm về bí
quyết, thơng tin liên quan đến việc kinh doanh sau khi hợp đồng nhượng quyền


18

chấm dứt. Dù cho các bên có thể thỏa thuận về nghĩa vụ bảo mật thông tin, thỏa
thuận không cạnh tranh trong và sau khi chấm dứt hợp đồng, thì sau khi kết thúc
nghĩa vụ này, bí mật kinh doanh vẫn đối diện với nguy cơ bị xâm phạm.
- Thứ ba, đối diện với vấn đề bị cạnh tranh. Bên nhượng quyền và bên nhận
quyền cùng kinh doanh một mặt hàng, sản phẩm, một dịch vụ và cả hai có tư cách
độc lập. Chính vì lẽ đó, bên nhận quyền và bên nhượng quyền sẽ trở thành đối thủ
cạnh tranh.
- Thứ tư, bên nhượng quyền đối diện với nguy cơ mất kiểm soát đối với việc
kinh doanh. Mặc dù hợp đồng nhượng quyền thương mại sẽ quy định về các hạn
chế, nghĩa vụ phải tuân theo của bên nhận quyền. Tuy nhiên, để tối đa hóa lợi
nhuận, bên nhận quyền vẫn có thể thực hiện các hành vi vi phạm như giảm giá bán,
thực hiện các chiến dịch quảng cáo, khuyến mại không theo kế hoạch nhằm tranh
giành khách hàng. Lúc này, bên nhượng quyền dù có quyền kiểm tra, giám sát đối
với bên nhận quyền, tuy nhiên có thể do khoảng cách về địa lý hoặc một vài lý do
khác, thậm chí là khơng vì bất kỳ lý do gì thì một khi bên nhận quyền đã cố tình
làm trái, sẽ rất khó để bên nhượng quyền có thể kiểm sốt được vấn đề này.
Có thể thấy hợp đồng nhượng quyền thương mại đem đến nhiều lợi ích tuy
nhiên cùng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Chính vì vậy bên nhận quyền phải suy xét cẩn
thận trước khi quyết định gia nhập hệ thống nhượng quyền. Ngược lại, bên nhượng
quyền cũng phải cân nhắc kỹ lưỡng và tìm kiếm đối tác đáng tin cậy để trở thành
cộng sự đồng hành với hệ thống của mình.
1.3. Phân loại hợp đồng nhượng quyền thương mại

Căn cứ vào mục đích của hợp đồng nhượng quyền thương mại, có thể chia
hợp đồng nhượng quyền thương mại thành nhượng quyền phân phối sản phẩm và
nhượng quyền sử dụng công thức kinh doanh.
- Nhượng quyền phân phối sản phẩm là việc bên nhượng quyền sẽ sản xuất
hoặc nhập khẩu hàng hóa sau đó ký hợp đồng nhượng quyền với bên nhận quyền.
Hợp đồng này sẽ gồm hai bên là bên nhận quyền và bên nhượng quyền. Bên
nhượng quyền sẽ đồng thời là nhà phân phối. Hình thức này có sự tương đồng với
hợp đồng phân phối. Tuy nhiên, bên nhận quyền sẽ sử dụng tên thương mại, nhãn
hiệu, biểu tượng của bên nhượng quyền để phân phối sản phẩm ấy ra thị trường.
Khi sử dụng phương thức này sẽ giảm thiểu rủi ro bị lộ bí mật kinh doanh của bên
nhượng quyền. Bên nhận quyền sẽ ít nhận được sự hỗ trợ và cũng hạn chế bị kiểm
soát bởi bên nhượng quyền bởi lẽ bên nhượng quyền quan tâm đến việc phân phối
sản phẩm nhiều hơn là việc chuẩn hóa hình thức của cơ sở kinh doanh nhận quyền.
Việc khơng kiểm sốt chặt chẽ cũng ít ảnh hưởng đến bên nhượng quyền vì sản


19

phẩm do bên này sản xuất ra, chất lượng đã được chuẩn hóa theo chính tiêu chuẩn
của bên này. Theo hình thức này, bên nhận quyền thậm chí có thể áp dụng phương
thức kinh doanh của chính mình và việc áp dụng phương thức kinh doanh ấy có
thành cơng hay khơng sẽ khơng ảnh hưởng nhiều đến tồn bộ chuỗi nhượng quyền.
Hình thức này thường được sử dụng với nhượng quyền tại các cửa hàng xăng dầu,
phân phối nước giải khát và đại lý bán ô tô.
- Nhượng quyền sử dụng cơng thức kinh doanh là hình thức mà bên nhượng
quyền sẽ chuyển giao phương thức sản xuất một, một số sản phẩm, phương thức
cung ứng một dịch vụ nhất định ra thị trường. Đồng thời với việc chuyển giao kỹ
thuật kinh doanh sẽ là chuyển giao công thức điều hành quản lý. Bên nhượng quyền
có thể là bên phân phối nguyên liệu phục vụ quá trình sản xuất sản phẩm, cung ứng
dịch vụ nhưng cũng có thể sẽ chỉ định bên thứ ba thông qua hợp đồng giữa bên

nhượng quyền với bên thứ ba. Chẳng hạn như hệ thống nhượng quyền cà phê Trung
Nguyên, tại đây Trung Nguyên sẽ đào tạo bên nhận quyền công thức pha chế các
loại thức uống mà Trung Nguyên đang cung cấp. Đối với những thức uống là cà
phê, Trung Nguyên sẽ trực tiếp sản xuất và cung cấp nguyên liệu để pha chế. Với
những thức uống khác, nguyên liệu vẫn sẽ do Trung Nguyên cung cấp cho bên nhận
quyền nhưng sẽ do bên thứ ba sản xuất, cung cấp cho Trung Nguyên. Như vậy, với
hình thức này, bên nhận quyền sản xuất ra sản phẩm sau đó phân phối sản phẩm
dưới tên, nhãn hiệu của bên nhượng quyền. Khác với phương thức nhượng quyền
sản phẩm, phương thức này địi hỏi sự kiểm sốt chặt chẽ và hỗ trợ từ bên nhượng
quyền. Các chuẩn mực về chất lượng sản phẩm, phương thức cung cấp dịch vụ phải
được đảm bảo tuân thủ theo bởi lẽ khi bên nhận quyền sản xuất hàng hóa, cung ứng
dịch vụ khơng chất lượng sẽ ảnh hưởng đến tồn bộ hệ thống.
Căn cứ vào tính chất mối quan hệ giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền
thì có thể chia hợp đồng nhượng quyền thành hợp đồng nhượng quyền riêng lẻ (trực
tiếp), hợp đồng nhượng quyền độc quyền và hợp đồng nhượng quyền phát triển khu
vực.
- Hợp đồng nhượng quyền thương mại riêng lẻ là hợp đồng được giao kết trực
tiếp giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Bên nhượng quyền trong trường
hợp này sẽ được hiểu là chủ sở hữu của quyền thương mại hoặc bên nhượng quyền
thứ cấp trong hợp đồng nhượng quyền độc quyền. Đây là hình thức nhượng quyền
cơ bản và phổ biến nhất. Bên nhận quyền trong hợp đồng này không thể nhượng
quyền lại cho người khác, chỉ có thể chuyển giao tồn bộ hợp đồng nhượng quyền
này cho bên thứ ba nếu được sự đồng ý của bên nhượng quyền. Bên cạnh đó, chỉ có
thể thành lập một cơ sở kinh doanh, trong trường hợp muốn thành lập nhiều hơn


×