Tải bản đầy đủ (.ppt) (15 trang)

Cách mạng t8 đọc hiểu văn bản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (807.7 KB, 15 trang )

CHÀO MỪNG CƠ VÀ
CÁC BẠN ĐÃ ĐẾN VỚI
BUỔI THUYẾT TRÌNH
NGÀY HÔM NAY


NHĨM 3
• Giang Tuấn Duy
( Trưởng Nhóm )
• La Thị Nguyệt
• Trịnh Quang Vinh
• Hồng Thị Hà
• Hồng Anh Dũng
• Vũ Thị Lan

• Nguyễn Văn Minh
• Nguyễn Thị Phương
Thảo
• Phan Đức Hoan
• Đinh Lê Minh Vũ
• Lê Trà My
• Đinh Thị Thu Uyên


Có ý kiến cho rằng, Cách mạng tháng
Tám năm 1945 thắng lợi là “sự ăn may”
vì nó diễn ra trong điều kiện “trống vắng
quyền lực”.

Các bạn nghĩ sao về vấn đề này ???



Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc đầu tiên trên thế giới do giai cấp công nhân lãnh đạo giành được thắng lợi. Đây
là cuộc cách mạng có ý nghĩa to lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đồng thời góp
phần tích cực vào phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa, mở đầu cho kỷ nguyên
độc lập, tự do của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới trong thời kỳ đó.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công xuất phát từ nhiều nguyên nhân
khách quan và chủ quan. Sự thành cơng đó hồn tồn khơng phải là một sự ăn may
như một số nhận định sai lệch từng được đưa ra. Qua phân tích các nguyên nhân
cấu thành nên sự thành công của Cách mạng Tháng Tám, có thể nhận thấy rõ
thành cơng đó là kết quả tất yếu, xứng đáng với Đảng Cộng Sản Việt Nam và dân
tộc Việt Nam


Gồm 2 nguyên nhân :
1 : Nguyên Nhân Khách Quan
2: Nguyên Nhân Chủ Quan


1. Nguyên nhân khách quan
• Cách mạng Tháng Tám nổ ra trong bối cảnh quốc tế
rất thuận lợi: Kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta là phát
xít Nhật đã bị Liên Xô và các lực lượng dân chủ thế
giới đánh bại. Bọn Nhật ở Đông Dương và tay sai tan
rã. Đảng ta đã chớp thời cơ đó phát động toàn dân nổi
dậy tổng khởi nghĩa giành thắng lợi nhanh chóng


2. Nguyên nhân

chủ quan





Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hợp của
15 năm đấu tranh gian khổ của toàn dân ta dưới
sự lãnh đạo của Đảng. Lịch sử Đảng Cộng sản
Việt Nam đã xác nhận, để đi đến thành công của
Cách mạng Tháng Tám, Đảng phải trải qua ba
cuộc vận động cách mạng khó khăn,gian khổ.
Đó là: Cuộc vận động những năm 1930 - 1935
mà đỉnh cao là Xô-viết Nghệ Tĩnh (1930-1931),
tiếp theo là giai đoạn khủng bố trắng và thoái trào
cách mạng (1932 - 1935); Cuộc vận động những
năm 1936 - 1939, với cao trào Mặt trận Dân chủ
năm 1938, Đảng lại phải vượt qua tổn thất do
cuộc khủng bố của địch gây ra để đi tiếp chặng
đường mới; Cuộc vận động những năm 1939 1945, Đảng đã sáng suốt phát triển cả lực lượng
chính trị lẫn lực lượng vũ trang, dấy lên cao trào
tiền khởi nghĩa, chủ động nắm bắt thời cơ mới để
tiến hành Tổng khởi nghĩa. Chính nhờ trải qua ba
cuộc vận động đó, Đảng từng bước hoàn thiện
đường lối chiến lược và sách lược. Điều đó biểu
hiện ở một số vấn đề cơ bản sau :


- Từ chỗ tiến hành song song hai nhiệm vụ phản đế và phản phong, đến chỗ xác định rõ nhiệm
vụ trước mắt là giải phóng dân tộc Đây là cả một chặng đường chuyển biến nhận thức, đổi

mới tư duy khơng đơn giản. Luận cương chính trị của Đảng tháng 10-1930 nêu rõ: "Sự cốt
yếu của tư sản dân quyền cách mạng thì một mặt là phải tranh đấu để đánh đổ các di tích
phong kiến, đánh đổ các cách bóc lột theo lối tiền tư bổn và để thực hành thổ địa cách mạng
cho triệt để, một mặt nữa là tranh đấu để đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đơng
Dương hồn tồn độc lập. Hai mặt tranh đấu có liên lạc mật thiết với nhau, vì có đánh đổ đế
quốc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạng thổ địa được thắng lợi;
mà có phá tan chế độ phong kiến thì mới đánh đổ được đế quốc chủ nghĩa" (1). Phong trào
đấu tranh của quần chúng năm 1930 - 1931 cũng nổi lên với khẩu hiệu "Đả thực, bài phong",
khơng chỉ chống đế quốc xâm lược mà cịn đả đảo cả "Trí, phú, địa, hào”

Chuyển sang thời kỳ những năm 1936 - 1939, trước nguy cơ phát- xít, Đảng thành lập Mặt
trận Dân chủ Đông Dương nhằm kết hợp đấu tranh dân tộc với đấu tranh dân chủ để chống
phát-xít. Điều đó bước đầu tạo nên sức mạnh đồn kết tồn dân, biểu hiện ở cuộc mít tinh
đồ sộ với hơn hai vạn người tham dự ở nhà Đấu xảo Hà Nội, ngày 1-5-1938.


Đến giữa năm 1939, cuộc chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ, các nước đế quốc xâu xé
lẫn nhau, thời cơ giải phóng dân tộc sẽ đến, Đảng thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất
phản đế Đông Dương, kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, nêu cao nhiệm vụ giải
phóng dân tộc, tạm thời hạ thấp khẩu hiệu phản phong. Tại Hội nghị Trung ương 6, họp
từ ngày 6 đến ngày 8-11-1939, Đảng ta chỉ rõ: "Cách mệnh phản đế và điền địa là hai
cái mấu chốt của cách mệnh tư sản dân quyền. Không giải quyết được cách mệnh điền
địa thì khơng giải quyết được cách mệnh phản đế. Trái lại không giải quyết được cách
mệnh phản đế thì khơng giải quyết được cách mệnh điền địa... Hiện nay tình hình có đổi
mới. Đế quốc chiến tranh, khủng hoảng cùng với ách thống trị phát-xít thuộc địa đã đưa
vấn đề dân tộc thành một vấn đề khẩn cấp rất quan trọng. Đám đông trung tiểu địa chủ
và tư sản bổn xứ cũng căm tức đế quốc. Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy
quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa
cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết" . Nhờ vậy, chỉ trong thời gian ngắn,
một làn sóng cách mạng phản đế đã dấy lên, tiêu biểu là ba cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn,

Nam Kỳ, Đô Lương, làm rung động bộ máy thực dân .


Tháng 6-1941, Liên Xơ tun chiến với Đức. Sau đó, Đồng Minh quốc tế chống phátxít gồm Liên Xơ, Trung Quốc, Anh, Mỹ ra đời. Ở Việt Nam, thời cơ giải phóng dân tộc
đang đến gần. Đầu năm 1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước, chỉ đạo Hội nghị Trung
ương 8 (họp ở Pắc Bó, Cao Bằng). Tại Hội nghị này, Đảng đã hoàn thiện thêm một
bước nữa việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, thay khẩu hiệu "Phản đế" (của Hội
nghị Trung ương 6) hay "Phản đế cứu quốc" (của Hội nghị Trung ương 7) bằng khẩu
hiệu "Cứu quốc". Nghị quyết Hội nghị nêu rõ: "Chính sách của Đảng ta hiện nay là
chính sách cứu quốc, cho nên mục đích của các hội quần chúng cũng xoay về việc cứu
quốc là cốt yếu... Công hội từ nay lấy tên là Công nhân cứu quốc hội, thu nạp hết thảy
những người thợ Việt Nam muốn tranh đấu đánh Pháp - Nhật, lại có thể thu nạp hết cả
những hạng cai ký, đốc công trong xưởng mà những công hội trước kia không hề tổ
chức. Nông hội từ nay gọi là Việt Nam Nông dân cứu quốc hội, thu nạp hết thảy ông
dân đến cả hạng phú nông, địa chủ muốn tranh đấu đuổi Pháp - Nhật". Đồng thời, Mặt
trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương chuyển thành ba mặt trận "cứu quốc" của
ba dân tộc Việt, Miên, Lào. Ở Việt Nam, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (tức
Mặt trận cứu quốc, gọi tắt là Việt Minh) ra đời. Các đoàn thể cứu quốc phát triển rộng
khắp cả ba kỳ. Ngồi Cơng nhân cứu quốc, Nơng dân cứu quốc, cịn có Qn nhân (hay
binh sỹ, du kích) cứu quốc, Thương gia cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Thanh niên cứu
quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nhi đồng cứu vong... Như vậy, chiến lược cách mạng ngày
càng được hồn thiện và ln đi đơi với những sách lược cách mạng mềm dẻo, thêm
bạn bớt thù (như thu hút cả cai ký, đốc công, phú nông, địa chủ chống Pháp - Nhật vào
Mặt trận cứu quốc


Khi viết về thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, trong cuốn “Lịch sử
Việt Nam từ 1940 đến 1952”, nhà sử học Pháp Philippe Devillers nhận định: “Nó (Cách
mạng Tháng Tám - TG) cịn là kết quả lô-gic của Việt Minh trong mọi khu vực của đời
sống đất nước”. Trong xây dựng lực lượng vũ trang, chúng ta đã xây dựng được hai bộ

phận: lực lượng bán vũ trang của quần chúng và lực lượng vũ trang tập trung. Thực tế ta
đã xây dựng được 3 trung đội Cứu quốc quân3. Lực lượng này đã giữ vai trò quan trọng
trong đấu tranh vũ trang, cùng với lực lượng đông đảo của quần chúng tiến hành Tổng
khởi nghĩa trên khắp các địa phương trong cả nước. Đây cũng là cơ sở để ngày 22-121944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời, đánh dấu sự phát triển không
ngừng của lực lượng vũ trang cách mạng thông qua thực tiễn đấu tranh giành độc lập dân
tộc.


Trong Cách mạng tháng Tám, cùng với việc tạo thời cơ, Đảng ta đã đạt đến đỉnh cao của
nghệ thuật nắm và giành thời cơ. Tính từ khi Nhật đầu hàng Đồng minh cho đến khi quân
Đồng minh vào nước ta, thời cơ cho cách mạng chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn.
Nếu khơng có sự nhận định đúng và chớp thời cơ nhanh chóng của Đảng ta, thời cơ đó sẽ
trơi qua, cách mạng nổ ra khó thắng lợi. Khi Hồng quân Liên Xô đánh bại đội qn Quan
Đơng của Nhật, ngày 15-8-1945, Nhật Hồng tun bố đầu hàng quân Đồng minh vô điều
kiện. Ở Việt Nam, bọn tay sai của chúng cũng đã hoang mang đến cực độ. Lúc này, mặc dù
đang ốm nặng, song Hồ Chí Minh vẫn ln theo dõi sát tình hình và khẳng định: “đây là
một thời cơ quý và hiếm nếu bỏ qua thì khơng bao giờ có nữa”, và ra lời hiệu triệu: “Dù có
phải thiêu cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập dân tộc”. Chủ trương
đó, cùng với sự chuẩn bị của tồn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, đã tạo điều kiện thuận lợi
để Cách mạng Tháng Tám nổ ra đúng lúc và giành thắng lợi.


Để có được một cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trọn vẹn, không thể không
nhắc đến và nhấn mạnh vai trò của người lãnh đạo cao nhất và xuất sắc nhất: Hồ Chí
Minh. Một học giả nước ngồi đã bình luận: “...những đánh giá như vậy (với xu hướng
hạ thấp ý nghĩa của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - TG) không thể che giấu
sự thật rằng cuộc Cách mạng Tháng Tám là một thành tựu phi thường... Trong khi
những nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa khác bằng lòng ở lại Nam Trung Quốc và đợi
đến khi quân Nhật bị quân Đồng minh đánh bại, ông Hồ và các đồng sự của ông mới
chứng tỏ khả năng có thể đối phó với thách thức và đặt cả thế giới trước sự đã rồi”4.

Tại Hội thảo khoa học quốc tế: “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” tổ chức
tại Hà Nội (ngày 12 và 13-5-2010), trong tham luận: “Những bức ảnh biết nói”, nhà
nghiên cứu - nhà báo Mỹ - Bà Lady Borton cũng cho rằng: Hồ Chí Minh là người cách
mạng Việt Nam nhận được thông tin sớm nhất về việc quân Nhật đầu hàng Đồng minh
và đã chỉ đạo Tổng khởi nghĩa rất kịp thời, mau lẹ.


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, nằm trong quỹ đạo của cách mạng vô sản.
Đây là cuộc cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo, do đó, thành cơng của cách mạng là
triệt để, là "đến nơi" như Hồ Chí Minh khẳng định. Giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của
Cách mạng Tháng Tám là không thể phủ định được. Vì vậy, mọi mưu toan chống phá, sự
suy diễn chủ quan về cuộc cách mạng này đều khơng có giá trị.


Thank you for
watching



×