Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (117.09 KB, 3 trang )
Tác dụng chè vằng
Cây Chè vằng mọc tự nhiên ở khắp nơi trên đất nước ta, ở đồng
bằng cũng như miền núi, từ Hà Giang đến Lâm Đồng. Nó có thể
mọc ở các bờ rào, bờ giậu và chịu đựng tốt trong mọi điều kiện
thời tiết, khí hậu. Chính vì khả năng phân bố rộng rãi của cây
chè Vằng nên nó đã trở thành nguồn dược liệu phong phú
Cây Chè vằng mọc tự nhiên ở khắp nơi trên đất nước ta, ở đồng
bằng cũng như miền núi, từ Hà Giang đến Lâm Đồng. Nó có thể
mọc ở các bờ rào, bờ giậu và chịu đựng tốt trong mọi điều kiện
thời tiết, khí hậu. Chính vì khả năng phân bố rộng rãi của cây
chè Vằng nên nó đã trở thành nguồn dược liệu phong phú.
Cây Chè Vằng có công dụng chữa thông huyết,điều kinh, hay
điều trị đau khớp xương. Chè Vằng còn có thể dùng cho chị em
phụ nữ sau khi sinh bị nhiễm trùng, sốt cao, viêm hạch bạch
huyết, viêm tử cung và tuyến vú. Để chữa thông huyết điều kinh,
đau bụng hay khớp xương, mọi người có thế sắc uống một liều
20-30g khô/ngày. Với các bệnh như thiếu máu, mệt mỏi, kém
ăn, cảm, đau bụng hay vàng da, mỗi ngày ta có thể uống 8-16g.
Ở một số vùng như Quảng Nam, Đà Nẵng, hay Bình Trị Thiên,
phụ nữ sau khi sinh sắc Chè Vằng khô uống cả ngày để kích
thích ăn ngon miệng, tăng tiết sữa. Nước Chè Vằng còn dùng đế
tắm trị ghẻ ngứa.
Thành phần hóa học của cây Chè Vằng có các chất terpenoit,
glycosit đắng, flavonoit và ancaloit. Theo một nghiên cứu của
bệnh viện Thái Bình, cây Chè Vằng với một liều lượng nhất
định có tác dụng kháng khuẩn mạnh hơn một số kháng sinh đối
với tụ cầu khuẩn. Hay theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền,
Chè vằng còn có tác dụng chuyển dạng tế bào lympho. Nó còn
có tác dụng chống viêm cấp tính, viêm mãn tính, làm teo tuyến