Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan tới hành vi không sử dụng bao cao su thường xuyên khi quan hệ với khách hàng quen ở nhóm phụ nữ bán dâm, Nghệ An năm 2022

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (24.9 MB, 11 trang )

DOI: />
SỬ DỤNG BAO CAO SU KHI QUAN HỆ TÌNH DỤC
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VỚI HÀNH VI
KHÔNG SỬ DỤNG BAO CAO SU THƯỜNG XUYÊN KHI QUAN HỆ
VỚI KHÁCH QUEN Ở NHÓM PHỤ NỮ BÁN DÂM, NGHỆ AN NĂM 2022
Lê Thị Quỳnh Trang1*, Dương Thị Hiền1, Nguyễn Song Hà1, Phạm Đình Du1,
Phan Khánh Ly2, Đỗ Minh Hiệp3, Hồng Thị Thanh Hà3, Phạm Hồng Thắng3,
Khưu Văn Nghĩa4, Trần Văn Hiệp5
1
Trung tâm Kiểm sốt bệnh tật tỉnh Nghệ An
2
Cục phịng chống HIV/AIDS, Bộ Y tế, Hà Nội
3
Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Hà Nội
4
Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh
5
Trung tâm Kiểm sốt bệnh tật tỉnh Thanh Hóa

TĨM TẮT
Theo số liệu báo cáo trên thế giới và Việt Nam, phụ nữ bán dâm (PNBD) là một trong những nhóm có nguy
cơ cao lây nhiễm HIV. Chương trình giám sát trọng điểm HIV/STI lồng ghép hành vi (HSS+) năm 2022 tại
tỉnh Nghệ An điều tra cắt ngang 200 PNBD nhằm mô tả thực trạng sử dụng bao cao su và các yếu tố liên
quan đến hành vi không sử dụng bao cao su thường xuyên khi quan hệ với khách quen ở nhóm này. Kết
quả cho thấy tỷ lệ PNBD sử dụng bao cao su tất cả các lần quan hệ tình dục với khách lạ là 85,4%, với
khách quen là 79,9%, với chồng/người yêu là 29,5%. Kết quả phân tích cho thấy các yếu tố làm giảm tỷ lệ
sử dụng bao cao su trong tất cả các lần quan hệ tình dục của PNBD với khách quen là: Trình độ học vấn
từ tiểu học trở xuống (OR = 4,18; 95%KTC: 1,15 - 15,15), chưa từng được nhận bao cao su miễn phí (OR
= 4,76; 95%KTC: 1,83 - 12,34), khơng khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 3 tháng qua
(OR = 2,51; 95%KTC: 1,04 - 6,02). Do đó, cần có những biện pháp tăng cường độ bao phủ của các dịch
vụ dự phòng lây nhiễm HIV và truyền thơng cho nhóm phụ nữ bán dâm, từ đó làm tăng tỷ lệ sử dụng bao


cao su và giảm tỷ lệ nhiễm HIV cho nhóm này khi quan hệ tình dục với khách hàng đặc biệt là trong nhóm
khách hàng được coi là khách quen.
Từ khoá: Phụ nữ bán dâm; HIV; bao cao su; giám sát trọng điểm

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo báo cáo của Chương trình phối hợp
của Liên hợp quốc về HIV/AIDS năm 2021, các
nhóm nguy cơ cao (phụ nữ bán dâm và khách
hàng của họ, nam quan hệ tình dục đồng giới,
người tiêm chích ma túy, người chuyển giới)
và bạn tình của họ chiếm 70% số ca nhiễm trên
toàn thế giới. Cũng theo báo cáo này, phụ nữ bán
dâm (PNBD) có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp
30 lần so với phụ nữ trưởng thành [1]. Tại Việt
*Tác giả: Lê Thị Quỳnh Trang
Địa chỉ: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Nghệ An
Điện thoại: 0973 463 044
Email:

Nam, dịch HIV vẫn đang tập trung ở các nhóm
nguy cơ cao trong đó có nhóm PNBD. Theo số
liệu giám sát trọng điểm HIV, tỷ lệ nhiễm HIV
vào năm 2012 là 2,7% và năm 2018 là 3,6% [2].
PNBD cũng là một trong hai nhóm nguy cơ cao
trong giám sát trọng điểm HIV hàng năm tại tỉnh
Nghệ An. Theo kết quả giám sát trọng điểm từ
năm 2010 đến năm 2020, tỷ lệ nhiễm HIV trong
nhóm này dao động từ 1% đến 3% [3].
Mặt khác, các nghiên cứu trước đây đã chỉ
ra rằng khơng sử dụng bao cao su có liên quan

Ngày nhận bài: 26/10/2022
Ngày phản biện: 18/11/2022
Ngày đăng bài: 08/12/2022

Tạp chí Y học dự phòng, Tập 32, số 8 Phụ bản - 2022

161


đáng kể đến việc lây nhiễm HIV [4, 5]. Bên
cạnh đó, đối tượng khách quen là một trong
những đối tượng được cho là thường xuyên có
hành vi mua dâm, những đối tượng này thường
có xu hướng chủ quan tiềm ẩn nhiều rủi ro lây
truyền HIV và các bệnh qua đường tình dục
cho nhóm đối tượng PNBD và ngược lại. Các
yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng bao cao su
của PNBD khi quan hệ tình dục với khách quen
đã được chỉ ra trong một số nghiên cứu trước
đây như thời gian bán dâm, trình độ học vấn,
số lần bán dâm, biết địa điểm xét nghiệm HIV,
biết tình trạng HIV của bạn tình [6, 7].
Nghiên cứu của chúng tơi được thực hiện
nhằm mục tiêu mô tả thực trạng sử dụng bao
cao su và các yếu tố liên quan đến hành vi
không thường xuyên sử dụng bao cao su khi
tiếp khách quen ở nhóm PNBD năm 2022 tại
tỉnh Nghệ An. Các kết quả thu được của nghiên
cứu có thể đưa ra những góc nhìn thống kê cụ
thể hơn liên quan đến nhóm đối tượng PNBD

và hành vi sử dụng bao cao su của nhóm này.

về việc hướng dẫn giám sát dịch tễ học HIV/
AIDS và giám sát các nhiễm trùng lây truyền
qua đường tình dục, cỡ mẫu phụ nữ bán dâm
được giám sát từ 150 - 300 mẫu. Tại Nghệ An,
nhóm phụ nữ bán dâm được giám sát với cỡ
mẫu là 200 định kỳ mỗi 2 năm.
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu: Lập bản đồ điểm nóng, xây dựng
khung mẫu dựa trên số liệu lập bản đồ. Lựa chọn
ngẫu nhiên các tụ điểm tại các huyện được lựa
chọn làm giám sát trọng điểm, sau đó mời tất cả
các PNBD có mặt tại tụ điểm đó tham gia vào
nghiên cứu. Trường hợp tổng số PNBD đã mời
tại các tụ điểm được chọn nhỏ hơn số mẫu cần
thiết, tiếp tục bốc thăm ngẫu nhiên trong số các
tụ điểm còn lại để bổ sung cho đến khi đủ cỡ
mẫu. Sau khi tiến hành lựa chọn ngẫu nhiên đối
tượng nghiên cứu tại các tụ điểm được chọn, cỡ
mẫu cụ thể tại từng huyện là: Quỳnh Lưu với
31 mẫu, Cửa Lò với 35 mẫu, Diễn Châu với 9
mẫu, thành phố Vinh với 125 mẫu.
2.6 Biến số nghiên cứu

II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nữ giới, 16 tuổi trở
lên (tính đến thời điểm bắt đầu nghiên cứu),
đã từng bán dâm ít nhất một lần trong vòng 1

tháng trước thời điểm thu thập mẫu, và thuộc tụ
điểm điều tra.
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiêu cứu: Thị xã Cửa Lò, huyện
Diễn Châu, Quỳnh Lưu, thành phố Vinh - tỉnh
Nghệ An.
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được
tiến hành từ tháng 8/2022 đến hết tháng 9/2022.
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu
Theo hướng dẫn tại Thông tư 09/2012/TTBYT ngày 24/5/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế
162

Gồm 3 nhóm biến số: (1) Một số đặc điểm
dân số, xã hội: Tuổi, trình độ học vấn, tình trạng
hôn nhân, thời gian bán dâm, hành vi nguy cơ
lây nhiễm HIV, tiếp cận các dịch vụ dự phòng,
kết quả xét nghiệm HIV và STIs; (2) Hành vi:
Sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với
khách quen, khách lạ, chồng/người yêu; (3)
Nhận dịch vụ can thiệp: Nhận bao cao su miễn
phí, nhận chất bơi trơn miễn phí, được tư vấn
sử dụng bao cao su và tình dục an tồn, khám
các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Biến số đầu ra là tình trạng ln sử dụng
bao cao su khi tiếp khách quen - là khách hàng
thường xuyên của đối tượng nghiên cứu. Những
đối tượng cho biết chỉ sử dụng BCS khi tiếp
khách quen ở mức thường xuyên, thỉnh thoảng

và không sử dụng sẽ được coi là không luôn
luôn sử dụng bao cao su khi tiếp khách quen.
2.7 Phương pháp thu thập thông tin
Điều tra viên thực hiện phỏng vấn trực tiếp
đối tượng nghiên cứu với bộ câu hỏi thiết kế
sẵn. Sau khi được sự đồng ý của đối tượng

Tạp chí Y học dự phịng, Tập 32, số 8 Phụ bản - 2022


nghiên cứu, tiến hành lấy mẫu máu (đối với xét
nghiệm HIV, xét nghiệm giang mai) và mẫu xét
nghiệm các bệnh lây truyền qua đường tình dục
(đối với xét nghiệm lậu, chlamydia, trùng roi).
2.8 Xử lý và phân tích số liệu
Điều tra viên nhập các thông tin thu thập
được trên ứng dụng ODK Collect, sau đó làm
sạch bằng Excel, xử lý phân tích bằng phần
mềm Stata 14.0.
Thống kê mơ tả: Kết quả được trình bày
dưới dạng sử dụng tần số, tỷ lệ phần trăm, giá
trị trung bình, độ lệch chuẩn.
Phân tích hồi quy logistic: Giá trị OR, KTC
95% được dùng để đo lường mối liên quan.
2.9 Đạo đức nghiên cứu
Người tham gia nghiên cứu được giải
thích cụ thể các quy trình, lợi ích khi tham gia

phỏng vấn. Nghiên cứu được thực hiện dựa
trên tính bảo mật và tự nguyện của người tham

gia. Điều tra viên không thu thập các thông tin
định danh của người tham gia mà thay bằng
mã số nghiên cứu.
Chương trình giám sát trọng điểm lồng ghép
hành vi đã được Bộ Y tế phê duyệt tại Quyết
định 373/2016/QĐ-BYT ngày 10/02/2017 về
việc phê duyệt kế hoạch giám sát trọng điểm
HIV, giám sát trọng điểm các nhiễm trùng lây
truyền qua đường tình dục, giám sát trọng điểm
HIV lồng ghép hành vi của các tỉnh, thành phố.

III. KẾT QUẢ
Giám sát trọng điểm lồng ghép hành vi năm
2022 tại tỉnh Nghệ An được thực hiện trên 200
PNBD. Phân tích các thơng tin đã thu thập chúng
tôi thu được một số kết quả cụ thể như sau:

Bảng 1. Một số đặc điểm nhân khẩu học và hành vi ở nhóm phụ nữ bán dâm
tại tỉnh Nghệ An năm 2022 (n = 200)
Đặc tính

Tần số (n)

Tỷ lệ (%)

 

 

16 - 24


 59

29,5 

25 - 49

 137

68,5 

 4

2,0

Tuổi
Nhóm tuổi

> 49
Tuổi trung bình (Biến thiên) (năm)
Nhỏ nhất – Lớn nhất

30,5 (± 8,3)
17 - 63

Thời gian bán dâm trung bình (± ĐLC) (năm)
Biến thiên

1,9 (± 3,3)
< 1 - 22


Thời gian bán dâm

 

 

< 1 năm

 97

48,5

1 - 3 năm

 65

32,5

> 3 năm

 38

19,0 

 

 

Chưa lập gia đình


79

39,5

Đang có chồng

36

18,0

Ly dị, ly thân, góa chồng

85

42,5

Tình trạng hơn nhân

Trình độ học vấn

 

 

Mù chữ, tiểu học

37

18,5


Trung học cơ sở

113

56,5

Trung học phổ thơng trở lên

50

25,0

Tạp chí Y học dự phịng, Tập 32, số 8 Phụ bản - 2022

163


Bảng 1. Một số đặc điểm nhân khẩu học và hành vi ở nhóm phụ nữ bán dâm
tại tỉnh Nghệ An năm 2022 (n = 200) (tiếp)
Đặc tính

Tần số (n)

Tỷ lệ (%)

1 – 10

19


9,5

11 – 25

116

58,0

26 – 30

65

32,5

< 30

28

14,0

30 - 100

150

75,0

> 100

22


11,0

< 30

37

18,5

30 - 100

147

73,5

> 100

16

8,0

 

 

0

0,0

200


100

Số ngày bán dâm trong 1 tháng qua (ngày)

Số lần bán dâm trung bình 1 tháng qua

Số khách hàng trung bình 1 tháng qua

Đã từng tiêm chích ma túy

Chưa bao giờ
Có chồng/người u tiêm chích ma túy (n = 147)

 

 

2

1,4

Khơng

119

80,9

Khơng biết/Khơng trả lời

26


17,7



Độ tuổi trung bình của nhóm PNBD năm
2022 tại tỉnh Nghệ An là 30,5 ± 8,3, lớn nhất là
63 tuổi và nhỏ nhất là 17 tuổi. Nhóm tuổi 14 49 chiếm đa số với 68,5%. Thời gian bán dâm
trung bình là 1,92 năm, trong đó nhóm có thời
gian hành nghề dưới 1 năm chiếm 48,5%, từ
1 - 3 năm chiếm 32,5%, trên 3 năm chiếm 19%.
Tỷ lệ PNBD đang có chồng chiếm ty lệ thấp
nhất với 18,0%. Trình độ học vấn của nhóm

164

PNBD tham gia HSS+ chủ yếu là trung học cơ
sở (56,5%). Trong 1 tháng qua, nhóm PNBD
có số ngày bán dâm từ > 10 - 25 ngày chiếm tỷ
lệ cao nhất (58,0%), số lần bán dâm trung bình
trong 1 tháng qua từ 30 - 100 lần chiếm 75,5%,
số PNBD có từ 30 - 100 khách hàng trong 1
tháng qua chiếm 73,5%. Khơng có PNBD nào
tiêm chích ma túy, tỷ lệ chồng/người u có
tiêm chích ma túy là 1,4% (Bảng 1).

Tạp chí Y học dự phòng, Tập 32, số 8 Phụ bản - 2022


Bảng 2. Tỷ lệ tiếp cận với các dịch vụ dự phịng lây nhiễm HIV ở nhóm phụ nữ bán dâm

tại tỉnh Nghệ An năm 2022 (n = 200)
Đặc điểm

Tần số (n)

Tỷ lệ (%)

 

 

Trong vòng 12 tháng qua

99

49,5

Trên 12 tháng qua

12

6,0

Chưa bao giờ

89

44,5

Trong vòng 12 tháng qua


81

40,5

Trên 12 tháng qua

11

5,5

Chưa bao giờ

108

54

Trong vòng 12 tháng qua

99

49,5

Trên 12 tháng qua

24

12,0

Chưa bao giờ


77

38,5



123

61,5

Khơng

77

38,5

Trong vịng 12 tháng qua

132

66,0

Trên 12 tháng

38

19,0

Chưa bao giờ


30

15,0

Nhận bao cao su miễn phí

Nhận chất bơi trơn miễn phí

Được tư vấn sử dụng bao cao su và tình dục an tồn

Khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 3 tháng qua

Lần xét nghiệm HIV gần đây nhất

Kết quả xét nghiệm HIV
n (%; 95% KTC)
Dương tính

0 (0,0; 0 - 0)

Âm tính

200 (100; 98,17 - 100)

Kết quả xét nghiệm giang mai
n (%; 95% KTC)
Dương tính

2 (1,0; 0,1 - 3,5)


Âm tính

198 (99,0; 96,43 - 99,87)

Kết quả xét nghiệm Chlamydia
n (%; 95% KTC)
Dương tính

1 (0,5; 0,01 - 2,75)

Âm tính

199 (99,5; 97,24 - 99,98)

Kết quả xét nghiệm lậu
n (%; 95% KTC)
Dương tính

0 (0,0; 0 - 0)

Âm tính

200 (100; 98,17 - 100)

Kết quả xét nghiệm trùng roi
n (%; 95% KTC)
Dương tính
Âm tính


0 (0,0; 0 - 0)
200 (100; 98,17 - 100)

Tạp chí Y học dự phòng, Tập 32, số 8 Phụ bản - 2022

165


Trong vòng 12 tháng qua, tỷ lệ PNBD từng
nhận bao cao su miễn phí là 49,5%, chất bơi
trơn là 40,5%, có 49,5% từng được tư vấn sử
dụng bao cao su và tình dục an tồn. Có 44,5%
chưa bao giờ được nhận bao cao su miễn phí,
54% chưa bao giờ nhận chất bôi trơn và 38,5%
chưa bao giờ được tư vấn sử dụng bao cao su
và tình dục an tồn. Tỷ lệ PNBD từng khám
các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 3

%
100
90
80
70
60
50
40
30
20
10
0


tháng qua là 61,5%. Tỷ lệ PNBD có xét nghiệm
HIV trong vòng 12 tháng qua là 66%, trên 12
tháng là 19%. Trong số đó có 98,8% tự khai báo
tình trạng HIV là âm tính. Có 15% PNBD chưa
bao giờ xét nghiệm HIV (Bảng 2). Kết quả xét
nghiệm cho nhóm PNBD tham gia phỏng vấn
cho thấy khơng có ai nhiễm HIV, tỷ lệ dương
tính với giang mai là 1%, bị Chlamydia là 0,5%
(Bảng 2).

1,5
14,6

20,1

70,5
98,5

85,4

79,9

29,5
Lần QHTD gần nhất Với khách quen trong Với khách lạ trong 1 Với chồng/người yêu
1 tháng qua
tháng qua
trong 1 tháng qua



Khơng

Hình 1. Tỷ lệ ln ln sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục với khách hàng
ở nhóm phụ nữ bán dâm tại tỉnh Nghệ An năm 2022 (n = 200)

Có 98,5% phụ nữ bán dâm trả lời có sử
dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần
đây nhất, tỷ lệ ln ln sử dụng bao cao su
khi quan hệ tình dục với khách quen là 79,9%,
với khách lạ là 85,4%. Trong số những phụ nữ

166

bán dâm có quan hệ tình dục với chồng/người
yêu trong 1 tháng qua, có 29,5% sử dụng bao
cao su trong tất cả các lần quan hệ, cịn lại đa
số khơng bao giờ hoặc ít khi sử dụng bao cao
su (Hình 1).

Tạp chí Y học dự phịng, Tập 32, số 8 Phụ bản - 2022


Bảng 3. Mơ hình đa biến giữa tình trạng khơng luôn luôn sử dụng bao cao su khi tiếp khách quen
trong 1 tháng qua và các nhóm yếu tố liên quan ở nhóm đối tượng phụ nữ bán dâm trong giám sát
trọng điểm 2022 tại Nghệ An (n = 169)

Biến độc lập

Không sử dụng
BCS 100% khi tiếp

khách quen
n (%)

OR (95%KTC)

OR hiệu chỉnh
(95%KTC)

Nhóm tuổi
16 - 24

9 (23,8)

1

-

25 - 29

11 (25,6)

1,14 (0,42 - 3,15)

-

≥ 30

14 (16,1)

0,64 (0,25 - 1,63)


-

Chưa lập gia đình/Ly hơn/Ly thân/góa

25 (17,9)

1

-

Đang có chồng

9 (31,0)

2,07 (0,84 - 5,08)

-

Trung học phổ thông trở lên

8 (17,0)

1

1

Trung học cơ sở

17 (18,9)


1,13 (0,45 - 2,86)

1,47 (0,52 - 4,13)

Dưới tiểu học/Tiểu học

9 (28,1)

1,91 (0,65 - 5,63)

4,18 (1,15 - 15,15)

< 1 năm

13 (16,9)

1

-

1 - 3 năm

12 (22,4)

1,42 (0,60 - 3,35)

-

> 3 năm


8 (23,5)

1,51 (0,56 - 4,08)

-

Tình trạng hơn nhân

Trình độ học vấn

Thời gian bán dâm

Số ngày bán dâm trong 1 tháng qua
1 – 10

3 (15,0)

1

-

> 10 – 25

15 (21,1)

1,52 (0,39 - 5,87)

-


> 25 – 30

16 (20,5)

1,46 (0,38 - 5,61)

-

< 30 lần

1 (14,3)

1

-

30 - 60 lần

2 (15,4)

1,09 (0,08 - 14,66)

-

> 60 lần

31 (20,8)

1,58 (0,18 - 13,58)


-

8 (8,6)

1

1

26 (34,2)

5,52 (2,32 - 13,14)

4,76 (1,83 - 12,34)

4 (4,8)

1

-

30 (34,9)

10,58 (3,53 - 31,72)

-

9 (9,1)

1


-

25 (35,7)

5,55 (2,39 - 12,89)

-

Số lần bán dâm trong tháng

Nhận bao cao su miễn phí
Đã từng
Chưa bao giờ
Nhận chất bơi trơn miễn phí
Đã từng
Chưa bao giờ

Được tư vấn sử dụng bao cao su và tình dục an toàn
Đã từng
Chưa bao giờ

Khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong 3 tháng qua


13 (11,9)

1

1


Khơng

21 (35,0)

3,97 (1,81 - 8,72)

2,51 (1,04 - 6,02)

7 (5,7)

1

1

23 (29,9)

3,83 (1,56 - 9,38)

2,29 (0,81 - 6,47)

Xét nghiệm HIV
Đã từng
Chưa bao giờ

Tạp chí Y học dự phòng, Tập 32, số 8 Phụ bản - 2022

167


Mơ hình đa biến với biến đầu ra là tình trạng

sử dụng bao cao su khi tiếp khách quen trong
1 tháng qua và các yếu tố liên quan bao gồm:
Tình trạng học vấn, nhận bao cao su miễn phí,
khám các bệnh lây truyền qua đường tình dục
trong 3 tháng qua và tình trạng xét nghiệm HIV.
Kết quả cho thấy, có 3 yếu tố thực sự có mối
liên quan tới tình trạng sử dụng BCS khi tiếp
khách quen trong 1 tháng qua của phụ nữ bán
dâm. Cụ thể, những đối tượng có học vấn dưới
tiểu học/tiểu học có khả năng khơng sử dụng
BCS 100% khi tiếp khách quen cao gấp 4,18
lần so với những đối tượng có trình độ Trung
học phổ thông trở lên (OR = 4,18; 95%KTC:
1,15 - 15,15). Bên cạnh đó, những PNBD
chưa từng nhận BCS miễn phí có khả năng đã
không sử sụng BCS 100% khi tiếp khách quen
cao gấp 4,76 lần những PNBD đã từng (OR =
4,76; 95%KTC:1,83 - 12,34). Tương tự, những
PNBD không khám các bệnh lây truyền qua
đường tình dục trong 3 tháng qua có khả năng
đã không sử sụng BCS 100% khi tiếp khách
quen cao gấp 2,51 lần so với những đối tượng
có khám trong 3 tháng vừa rồi (OR = 2,51;
95%KTC: 1,04 - 6,02).

IV. BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu trên 200 PNBD tham
gia HSS+ tại tỉnh Nghệ An cho thấy tỷ lệ nhiễm
HIV ở nhóm này là 0%, thấp hơn so với kết
quả giám sát trọng điểm tại các tỉnh khác những

năm trước đây: Tại Hải Phòng năm 2016 là 2%
[8], tại khu vực phía Nam năm 2018 là 4,8%
[9]. Tỷ lệ ln sử dụng bao cao su khi QHTD
với khách hàng cũng cao hơn khi so sánh với
kết quả của những nghiên cứu khác tại Việt
Nam [9 – 11] hoặc trên thế giới [12]. Những
điểm khác trong các nghiên cứu này có thể do
địa bàn nghiên cứu, thời điểm triển khai nghiên
cứu và cỡ mẫu nghiên cứu khác nhau.
So sánh tỷ lệ luôn sử dụng BCS giảm dần
theo mức độ thân quen của các loại bạn tình
giảm dần theo thứ tự với khách lạ (85,4%),
khách quen (79,9%) và với chồng, người yêu
(29,5%), kết quả này tương tự với nghiên cứu
tại khu vực miền Nam vào năm 2018 với các
168

tỷ lệ lần lượt là 73,0%, 66,7% và 19,9% [6].
Thực tế cho thấy, việc tun truyền về tình dục
an tồn và sử dụng bao cao su khi quan hệ tình
dục chủ yếu hướng đến nhóm đối tượng PNBD.
Tuy nhiên với kết quả thu được, có thể thấy tỷ
lệ PNBD ln sử dụng bao cao su khi QHTD
với khách hàng vẫn còn thấp so với mong đợi.
Trong vòng 12 tháng qua, tỷ lệ PNBD từng
nhận bao cao su miễn phí là 49,5%, chất bơi
trơn là 40,5%, có 49,5% từng được tư vấn sử
dụng bao cao su và tình dục an tồn. Tỷ lệ
PNBD chưa bao giờ nhận bao cao su, chất bôi
trơn và được tư vấn tình dục an tồn lần lượt là

44,5%; 54% và 38,5%. Tại 4 huyện triển khai
nghiên cứu, hiện tại các chương trình can thiệp
giảm hại như phát bao cao su, chất bôi trơn, tư
vấn xét nghiệm HIV vẫn đang được triển khai.
Với kết quả thu được như trên, có thể thấy mức
độ tiếp cận của nhóm phụ nữ bán dâm đối với
các biện pháp can thiệp là chưa cao.
Kết quả xét nghiệm dương tính với HIV và
các bệnh lây truyền qua đường tình dục của
nhóm phụ nữ bán dâm tham gia giám sát trọng
điểm lồng ghép hành vi năm 2022 tại tỉnh Nghệ
An thấp hơn so với những năm trước đây (tỷ lệ
bị nhiễm HIV, lậu, trùng roi là 0%, giang mai là
1%, chlamydia là 0,5%) [3]. Tỷ lệ dương tính
với HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình
dục thấp, tỷ lệ từng nhận bao cao su, chất bôi
trơn thấp có thể giải thích do nhóm PNBD tham
gia nghiên cứu năm nay chủ yếu là nhóm mới
hành nghề, đồng thời các chiến dịch truy quét
tệ nạn xã hội trên địa bàn tỉnh diễn ra mạnh mẽ,
nhóm PNBD ít khi lộ diện và khó tiếp cận, mặt
khác từ năm 2019 đến nay do ảnh hưởng của
dịch COVID-19 nên các dịch vụ dự phịng như
phát BCS, chất bơi trơn miễn phí gặp nhiều khó
khăn khi tiếp cận với nhóm đối tượng đích này.
Khi so sánh các kết quả thu được, có 3 yếu
tố thực sự có mối liên quan tới tình trạng sử
dụng bao cao su khi tiếp khách quen trong 1
tháng qua của phụ nữ bán dâm. Cụ thể, nhóm
có học vấn dưới tiểu học/tiểu học có khả năng

khơng sử sụng BCS 100% khi tiếp khách quen
cao gấp 4,18 lần so với nhóm có trình độ học
vấn cao hơn. Những PNBD chưa từng nhận bao
cao su miễn phí có khả năng đã khơng sử sụng

Tạp chí Y học dự phịng, Tập 32, số 8 Phụ bản - 2022


BCS 100% khi tiếp khách quen cao gấp 4,76 lần
những PNBD đã từng được nhận, những PNBD
không khám các bệnh lây truyền qua đường tình
dục trong 3 tháng qua có khả năng đã không sử
sụng BCS 100% khi tiếp khách quen cao gấp
2,51 lần so với những đối tượng có khám trong
3 tháng vừa rồi. Kết quả này khác với nghiên
cứu của Carin Andrews khi cho thấy yếu tố
có liên quan đáng kể đến việc sử dụng BCS
thường xuyên là thời gian bán dâm ngắn hơn,
trình độ học vấn cao hơn và PNBD khơng có
bạn tình thường xun [7]. Việc sử dụng BCS
khi QHTD cịn phụ thuộc vào tính sẵn có của
BCS, có thể giải thích cho việc những PNBD
từng được nhận BCS miễn phí sẽ có tỷ lệ sử
dụng cao hơn. Đồng thời những PNBD có trình
độ học vấn cao hơn, từng đi khám các bệnh lây
truyền qua đường tình dục sẽ được tư vấn về
tác dụng của việc sử dụng BCS khi QHTD, do
đó cũng sẽ ảnh hưởng đến nhận thức cũng như
hành vi sử dụng BCS của những đối tượng này.
Năm 2022, giám sát trọng điểm lồng ghép

hành vi trên nhóm PNBD được triển khai trong
hồn cảnh dịch COVID-19 đã cơ bản được
khống chế. Tuy nhiên nghiên cứu của chúng tơi
vẫn cịn một số hạn chế như một số đối tượng
được tiếp cận từ chối tham gia vào nghiên cứu,
đối tượng nghiên cứu được lựa chọn thuận tiện
thay vì chọn ngẫu nhiên nên có thể ảnh hưởng
đến tính đại diện của mẫu và kết quả nghiên
cứu. Mặt khác, mơ hình hoạt động của nhóm
PNBD sau những năm dịch đã có những thay
đổi, do đó kết quả có thể khác biệt so với những
năm trước.
Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, các
yếu tố về tiếp cận dịch vụ BCS, khám bệnh lây
truyền qua đường tình dục đều là những yếu
tố có thể can thiệp được, từ đó có cơ sở cho
việc đưa ra các giải pháp hiệu quả hơn cho các
chương trình can thiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ
An nói riêng.

V. KẾT LUẬN
Tỷ lệ phụ nữ bán dâm sử dụng bao cao su
tất cả các lần quan hệ tình dục với khách lạ là

85,4%, với khách quen là 79,9%, với chồng/
người yêu là 29,5%. Các yếu tố làm tăng tỷ lệ
sử dụng bao cao su trong tất cả các lần quan hệ
tình dục với khách quen của phụ nữ bán dâm là:
Trình độ học vấn, được nhận bao cao su miễn
phí, khám các bệnh lây truyền qua đường tình

dục trong 3 tháng qua. Kết quả nghiên cứu cho
thấy tỷ lệ luôn sử dụng bao cao su với bạn tình
ở phụ nữ bán dâm ở Nghệ An cần tiếp tục được
cải thiện. Việc tăng cường thêm các biện pháp
nhằm mở rộng độ bao phủ của các dịch vụ dự
phịng lây nhiễm HIV, trong đó có phát bao cao
su miễn phí và khám các bệnh lây truyền qua
đường tình dục là cần thiết, từ đó tăng tỷ lệ tiếp
cận dịch vụ ở nhóm phụ nữ bán dâm và giảm tỷ
lệ lây nhiễm HIV trong nhóm này.
Lời cảm ơn: Chúng tơi xin trân trọng cảm
ơn Trung tâm Kiểm sốt bệnh tật tỉnh Nghệ An;
Cục Phòng, chống HIV/AIDS; Viện Vệ sinh
dịch tễ Trung ương; Viện Pasteur Thành phố
Hồ Chí Minh; Viện Pasteur Nha Trang; Viện
Đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng
- Trường Đại học Y Hà Nội; Trung tâm kiểm
sốt bệnh tật Hoa Kỳ thơng qua Dự án hợp
tác CDC-RFA-GH 18-1852 - Chương trình
Khẩn cấp của Tổng thống về Cứu trợ AIDS
(PEPFAR) và đặc biệt là những người người
tham gia nghiên cứu đã giúp chúng tôi thực
hiện nghiên cứu này.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. UNAIDS. Global HIV & AIDS statistics — 2020
fact sheet. Cited 2021 Jan 22. ids.
org/sites/default/files/media_asset/UNAIDS_
FactSheet_en.pdf.
2. Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương. Báo cáo kết

quả triển khai giám sát trọng điểm HIV và giám
sát trọng điểm HIV lồng ghép hành vi năm 2021.
2022.
3. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Nghệ An. Báo
cáo kết quả giám sát trọng điểm HIV/STI, giám
sát trọng điểm HIV lồng ghép hành vi - nhóm phụ
nữ bán dâm năm 2020, tỉnh Nghệ An. 2020.
4. Medhi GK, Mahanta J, Paranjape RS, el al.
Factors associated with HIV among female sex
workers in a high HIV prevalent state of India.
AIDS Care. 2012; 24 (3): 369 – 376.

Tạp chí Y học dự phịng, Tập 32, số 8 Phụ bản - 2022

169


5. Szwarcwald CL, Damacena GN, de Souza-Júnior
PRB, el al. Factors associated with HIV infection
among female sex workers in Brazil. Medicine
(Baltimore). 2018; 97 (1 Suppl): S54 – S61.
6. Nguyễn Vũ Thượng, Nguyễn Duy Phúc. Thực
trạng sử dụng bao cao su và một số yếu tố liên
quan ở phụ nữ mại dâm tại một số tỉnh khu vực
miền Nam năm 2018. Tạp chí Y học dự phịng.
2020; 30 (1): 54 - 63.
7. Andrews C, Faxelid E, Sychareun V,
Phrasisombath K. Determinants of consistent
condom use among female sex workers in
Savannakhet, Lao PDR. BMC Womens Health.

2015; 15: 63.
8. Trần Thị Bích Hồi, Nguyễn Duy Hùng, Trần Thị
Thúy Hà và cộng sự. Thực trạng nhiễm HIV và
các hành vi nguy cơ ở nhóm phụ nữ bán dâm
và nam quan hệ tình dục đồng giới qua giám sát
trọng điểm tại Hải Phịng năm 2016. Tạp chí Y
học dự phòng. 2018; 28 (9): 192 - 198.
9. Nguyễn Duy Phúc, Khưu Văn Nghĩa, Nguyễn Thị

170

Bích Hồng và cộng sự. Xu hướng và một số yếu
tố liên quan đến nhiễm HIV ở phụ nữ mại dâm
qua giám sát trọng điểm tại khu vực phía Nam,
2012 - 2018. Tạp chí Y học dự phòng. 2019; 29
(11): 245 - 253.
10. Dương Văn Vịnh, Dương Công Thành, Lương
Thị Vy và cộng sự. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV và hành
vi lây nhiễm ở nhóm nghiện chích ma túy và phụ
nữ bán dâm tại tỉnh Bắc Giang năm 2014. Tạp chí
Y học dự phịng. 2016; 26 (9 (182)): 14 - 20.
11. Dương Công Thành, Nguyễn Thị Thanh Hà,
Hoàng Thị Thanh Hà và cộng sự. Tỷ lệ nhiễm
HIV, hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV và tiếp cận
các dịch vụ về HIV/ AIDS trong các nhóm nguy
cơ cao tại Việt Nam năm 2014. Tạp chí Y học dự
phòng. 2016; 26 (9 (182)): 109 - 116.
12. Lépine A, Treibich C, Ndour CT, el al. HIV
infection risk and condom use among sex workers
in Senegal: evidence from the list experiment

method. Health Policy Plan. 2020 May 1; 35 (4):
408 – 415.

Tạp chí Y học dự phịng, Tập 32, số 8 Phụ bản - 2022


CONDOM USE AND SOME RELATED FACTORS ASSOCIATED TO THE
BEHAVIOR OF NOT USING CONDOMS REGULARLY WHEN HAVING
SEX WITH REGULAR CUSTOMERS IN THE GROUP OF FEMALE SEX
WORKERS, NGHE AN IN 2022
Le Thi Quynh Trang1, Duong Thi Hien1, Nguyen Song Ha1, Pham Dinh Du1,
Phan Khanh Ly2, Do Minh Hiep3, Hoang Thi Thanh Ha3, Pham Hong Thang3,
Khuu Van Nghia4, Tran Van Hiep5
1
Center for Disease Control Nghe An province
2
Vietnam Authority of HIV/AIDS Control, Ministry of Health, Hanoi
3
National Institute of Hygiene and Epidemiology, Hanoi
4
Pasteur Institute in Ho Chi Minh City
5
Center for Disease Control Thanh Hoa province
Female sex workers are the population
at high risk for HIV infection. In Nghe An
province, HIV sentinel surveillance (HSS)
in 2022 aimed to determine the prevalence
of condom use and associated factors with
inconsistent condom use with regular clients
among female sex worker (FSW). A crosssectional study was conducted among 200

FSWs revealed that consistent condom use in
the past month was higher with irregular clients
(85.4%), lower with regular clients (79.9%), and
lowest with “love mates” (29.5%). Multivariate
analysis revealed 3 factors associated with
decreased consistent condom use with regular

clients, respectively as followed: lower primary
education education (OR = 4.18; 95%KTC:
1.15 - 15.15), neverget free condoms (OR =
4.76; 95%KTC: 1.83 - 12.34), did not check
up sexually transmitted infections (STIs) last
3 months (OR = 2.51; 95%KTC: 1.04 - 6.02).
There is a need to mobalize resource for HIV
intervention prevention programs targeting
these key populations to increase access to
prevention, increase condom use, and to
prevent further HIV transmission sustainably.
Keywords: Female sex worker; condom;
sentinel surveillance

Tạp chí Y học dự phòng, Tập 32, số 8 Phụ bản - 2022

171



×