BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
PHAN NGỌC BẢO AN
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TRƯỜNG HỢP
NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI KHÔNG ÁP DỤNG
BIỆN PHÁP CẦN THIẾT
ĐỂ PHỊNG NGỪA, HẠN CHẾ THIỆT HẠI
KHĨA LUẬN CHUN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 – NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
PHAN NGỌC BẢO AN
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TRƯỜNG HỢP
NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI KHÔNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CẦN THIẾT
ĐỂ PHÒNG NGỪA, HẠN CHẾ THIỆT HẠI
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS. NGUYỄN TẤN HỒNG HẢI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 – NĂM 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tơi cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Tấn Hoàng Hải Giảng viên Khoa Luật Dân sự, Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Tơi
xin đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu
tham khảo. Tơi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả
PHAN NGỌC BẢO AN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TỪ/ CỤM TỪ VIẾT TẮT
TỪ/ CỤM TỪ ĐẦY ĐỦ
BLDS
Bộ luật Dân sự
BLDS năm 2015
Bộ luật Dân sự năm 2015 số 91/2015/QH13
BLDS năm 2005
Bộ luật Dân sự năm 2005 số 33/2005/QH11
BTTH
Bồi thường thiệt hại
CISG năm 1980
United Nations Convention On Contracts For The
International Sale Of Goods 1980 (Công ước Liên Hợp
Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 1980)
LTM năm 2005
Luật Thương mại năm 2005 số 36/2005/QH11
UPICC
UNIDROIT Principles of International Commercial
Contracts (Bộ quy tắc về Hợp đồng thương mại quốc tế)
Tr.
Trang
TAND
Tòa án Nhân dân
TANDTC
Tòa án Nhân dân Tối cao
UBND
Ủy ban Nhân dân
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
1.
Lý do chọn đề tài .............................................................................................1
2.
Tình hình nghiên cứu ......................................................................................2
3.
Mục đích nghiên cứu .......................................................................................5
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................5
5.
Phương pháp tiến hành nghiên cứu .................................................................5
6.
Bố cục tổng quát của khóa luận ......................................................................6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG
TRƯỜNG HỢP NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI KHÔNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CẦN
THIẾT ĐỂ PHÒNG NGỪA, HẠN CHẾ THIỆT HẠI ..........................................7
1.1. Khái quát về bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại khơng áp
dụng biện pháp cần thiết để phịng ngừa, hạn chế thiệt hại ....................................7
1.1.1. Khái niệm về bồi thường thiệt hại ............................................................7
1.1.2. Khái niệm về biện pháp để phòng ngừa hạn chế, thiệt hại .....................10
1.2. Đặc điểm của bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại khơng
áp dụng biện pháp cần thiết để phịng ngừa, hạn chế thiệt hại .............................12
1.3. Cơ sở xây dựng bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại khơng
áp dụng biện pháp cần thiết để phịng ngừa, hạn chế thiệt hại .............................15
1.3.1. Xây dựng trên cơ sở nguyên tắc thiện chí, trung thực trong các giao dịch
dân sự ................................................................................................................15
1.3.2. Xây dựng trên cơ sở bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
...........................................................................................................................17
1.3.3. Xây dựng trên cơ sở bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
...........................................................................................................................18
1.4. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi người bị thiệt hại khơng
áp dụng biện pháp cần thiết để phịng ngừa, hạn chế thiệt hại .............................20
1.5. Ý nghĩa của việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại không
áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, hạn chế thiệt hại .......................26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................29
CHƯƠNG 2: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TRƯỜNG HỢP NGƯỜI BỊ
THIỆT HẠI KHÔNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA, HẠN
CHẾ THIỆT HẠI - THỰC TIỄN THỰC HIỆN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
...................................................................................................................................30
2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại trong trường hợp
người bị thiệt hại không áp dụng các biện pháp phòng ngừa, hạn chế thiệt hại ...30
2.1.1. Quy định của pháp luật trong giai đoạn trước khi BLDS năm 2015 có hiệu
lực ......................................................................................................................30
2.1.2. Quy định của pháp luật trong giai đoạn sau khi BLDS năm 2015 có hiệu
lực ......................................................................................................................33
2.2. Thực tiễn và bất cập của việc áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại trong
trường hợp người bị thiệt hại không áp dụng các biện pháp phịng ngừa, hạn chế
thiệt hại ..................................................................................................................40
2.3. Giải pháp hồn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về
bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại khơng áp dụng các biện
pháp phịng ngừa, hạn chế thiệt hại .......................................................................48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................54
KẾT LUẬN ..............................................................................................................55
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC BẢN ÁN
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
BTTH là một chế định quan trọng trong lĩnh vực luật dân sự nói riêng và pháp
luật Việt Nam nói chung. BTTH vốn mang bản chất là sự bù đắp tổn thất đã xảy ra
dành cho bên bị thiệt hại từ hành vi vi phạm của bên vi phạm. Với bản chất này BTTH
có thể dễ bị lợi dụng nhằm trục lợi và trở nên biến chất. Do đó, để tránh bên bị thiệt
hại có tâm lý nạn nhân, trơng chờ vào việc bồi thường mà cố ý để mặc hậu quả xảy
ra thì BLDS năm 2015 đã chính thức quy định nghĩa vụ phòng ngừa, hạn chế thiệt
hại cho người bị thiệt hại. Việc quy định trường hợp BTTH này là một điều vô cùng
hợp lý và cần thiết đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Điều này vừa
giúp bên bị thiệt hại chủ động hạn chế tối đa các thiệt hại cho chính mình và bên gây
thiệt hại cũng có lợi khi khơng phải bồi thường các thiệt hại đã được hạn chế, khắc
phục.
Tuy nhiên, việc quy định trách nhiệm hạn chế, phòng ngừa thiệt hại trong
BTTH khơng nhằm tạo điều kiện cho bên cịn lại dễ dàng thực hiện hành vi vi phạm
không màng hậu quả. Nguyên tắc này sẽ đảm bảo cho bên bị thiệt hại được bồi hoàn
lại giá trị đã bỏ ra khi thực hiện các biện pháp phòng ngừa, hạn chế thiệt hại. Quy
định pháp luật về trường hợp bồi thường này khơng chỉ phù hợp về phương diện pháp
lý mà cịn ở phương diện đạo đức trong quan hệ dân sự. Nhìn từ góc độ kinh tế, việc
thừa nhận trách nhiệm hạn chế thiệt hại cho người bị thiệt hại có lợi cho xã hội.
BTTH khi người bị thiệt hại không áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng
ngừa, hạn chế thiệt hại không phải là vấn đề pháp lý mới. Tuy nhiên vấn đề này lại
chưa nhận được sự quan tâm đúng mức. Ở một số trường hợp việc BTTH không hợp
lý, không đủ bù đắp cho bên bị thiệt hại để họ khắc phục những hậu quả họ phải gánh
chịu. Trái lại thì vẫn tồn tại những điểm tiêu cực như lợi dụng quy định về BTTH để
bỏ mặc hậu quả, trục lợi nhằm đạt được mức BTTH lớn hơn thực tế có thể hạn chế
được.
Đây là lần đầu tiên BLDS Việt Nam quy định về nguyên tắc hạn chế thiệt hại
trong BTTH ngoài hợp đồng (Điều 585) cũng như quy định chính thức nghĩa vụ
phịng ngừa, hạn chế thiệt hại trong hợp đồng (Điều 362) để khắc phục các tình trạng
kể trên. Do vậy, khi ứng dụng các quy định này sẽ dễ nảy sinh nhiều vướng mắc và
bất cập trong việc áp dụng pháp luật. Cụ thể như việc cơ quan xét xử bỏ sót việc xem
xét trách nhiệm hạn chế thiệt hại của bên bị thiệt hại trong vụ án BTTH vì trong các
bộ luật trước, trách nhiệm này khơng được quy định chính thức. Việc giải thích về
tính “cần thiết”, “hợp lý” trong hành vi hạn chế, phòng ngừa thiệt hại cũng đang bị
bỏ ngỏ gây ra sự khơng thống nhất và khó khăn cho cơ quan xét xử lẫn những chủ
thể chịu sự điều chỉnh trực tiếp từ quy định này. Không chỉ vậy, khi bên bị thiệt hại
2
lựa chọn thực hiện hành động hạn chế thiệt hại khác nhau sẽ tạo nên các cách xác
định thiệt hại cần được bồi thường khác nhau. Điều này tạo nên nhiều ý kiến trái chiều
trong các cấp xét xử vì thiếu vắng quy chuẩn chung trong văn bản pháp luật. Thêm
vào đó, các cơng trình trước đây có nghiên cứu về vấn đề này cũng đã là kết quả của
việc nghiên cứu BLDS năm 2005 – Bộ luật chưa quy định chế định này nên sẽ khó
có cái nhìn bao quát về những quy định này.
Nhận thấy sự cần thiết có một cơng trình nghiên cứu vấn đề này trong bối cảnh
BLDS năm 2015 đang có hiệu lực, tác giả đã quyết định chọn đề tài “Bồi thường
thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại không áp dụng biện pháp cần thiết để
phòng ngừa, hạn chế thiệt hại” để làm khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong q trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, tác giả đã tìm thấy được một
số tài liệu có nghiên cứu đến các khía cạnh của ngun tắc BTTH khi người bị thiệt
hại không áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, hạn chế thiệt hại như sau:
2.1. Giáo trình, sách chuyên khảo
- Sách chuyên khảo của tác giả Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những
điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, NXB. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam
Theo quan điểm của tác giả Đỗ Văn Đại thì nguyên tắc người bị thiệt hại không được
bồi thường do không thực hiện các biện pháp ngăn chặn, hạn chế thiệt hại là một
nguyên tắc cần thiết giúp các bên thể hiện sự thiện chí trong giao dịch dân sự. Ngồi
ra, quy định về nguyên tắc này cũng được người viết đánh giá là đã góp phần “luật
hóa thực tiễn xử” đang tồn tại ở Việt Nam.
- Giáo trình Trường Đại học luật TP. HCM (2017), “Pháp luật về hợp đồng và
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, NXB. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam.
Giáo trình đã trình bày cơ bản về chế định BTTH cũng như các nguyên tắc để BTTH
theo BLDS năm 2015. Đây là tài liệu quan trọng và là nền tảng kiến thức để tác giả
làm cơ sở thực hiện phần cơ sở lý luận tại chương 1.
- Sách chuyên khảo của tác giả Đỗ Văn Đại (2018), Luật hợp đồng Việt Nam –
Bản án và bình luận bản án (tập 2) - (Xuất bản lần thứ 7), NXB. Hồng Đức - Hội
Luật gia Việt Nam. Tác giả Đỗ Văn Đại đã sử dụng những bản án xảy ra trên thực
tiễn để đúc kết và rút ra các nhận định về hạn chế thiệt hại của bên bị vi phạm trong
các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, dân sự…. Tuy nhiên, tác giả Đỗ Văn Đại
chỉ tập trung chủ yếu vào làm rõ trách nhiệm hạn chế thiệt hại nên vẫn chưa khai thác
sâu về việc BTTH trong trường hợp này.
- Sách chuyên khảo của tác giả Đỗ Văn Đại (2018), Luật bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án (tập 1) (xuất bản lần thứ 4),
NXB. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam. Tác giả Đỗ Văn Đại đã phân tích các cơ
3
sở pháp lý có ghi nhận trách nhiệm hạn chế tổn thất của người bị thiệt hại trong giai
đoạn trước và sau khi BLDS năm 2015 có hiệu lực. Đồng thời tài liệu cũng trình bày
quy định pháp luật của các quốc gia trên thế giới về việc BTTH khi người bị thiệt hại
không thực hiện các biện pháp ngăn chặn, thiệt hại. Đây là nguồn tài liệu quý báu,
giúp tác giả có cái nhìn khái qt về quy định của pháp luật quốc tế, giúp ích cho việc
so sánh và hồn thiện pháp luật Việt Nam.
2.2. Khóa luận, luận văn, luận án
- Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Trịnh Đoàn Hạnh Trang (2015), “Nghĩa
vụ hạn chế thiệt hại theo quy định của pháp luật Việt Nam”, trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh. Tại luận văn, tác giả đã trình bày cơ sở phát sinh nghĩa vụ
hạn chế thiệt hại, phân tích nghĩa vụ hạn chế thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể.
Tuy nhiên, luận văn chỉ tập trung làm rõ và xem việc ngăn chặn, phòng ngừa thiệt hại
là một nghĩa vụ của bên bị thiệt hại mà chưa phân tích sâu về việc BTTH trong trường
hợp này. Đồng thời, luận văn này được nghiên cứu dựa trên BLDS năm 2005 đã hết
hiệu lực nên chỉ có tính chất tham khảo.
- Luận văn Thạc sĩ Luật học của tác giả Võ Nguyên Tùng (2017), “Lỗi của bên
bị thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng”, trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh. Theo tác giả Võ Nguyên Tùng, quy định bên có quyền, lợi
ích bị xâm phạm khơng được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các
biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại là không hợp lý và tạo ra
sự bất công đối với bên bị thiệt hại. Tác giả luận văn nhận định quy định này đã quá
nghiêm khắc với sự thiếu sót của bên bị thiệt hại trong việc hạn chế và ngăn chặn
thiệt hại cho chính mình. Đây là một quan điểm có tính chất xây dựng, đáng để tác
giả nghiên cứu, phân tích đối với khóa luận của mình.
- Luận án Tiến sĩ Luật học của tác giả Bùi Thị Thanh Hằng (2018), “Bồi thường
thiệt hại do vi phạm hợp đồng”, trường Đại học Luật Hà Nội: trong luận án, tác giả
Bùi Thị Thanh Hằng đã dành một mục để nêu quan điểm về nghĩa vụ hạn chế thiệt
hại của bên bị vi phạm trong hợp đồng. Tác giả đã phân tích và so sánh nguyên tắc
hạn chế thiệt hại và BTTH hại của bên không thực hiện nghĩa vụ hạn chế giữa Công
ước Viên 1980, Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế. Đây
là tài liệu đáng để tác giả tham khảo trong nội dung pháp luật quốc tế về BTTH trong
hợp đồng.
2.3. Các bài viết trên báo, tạp chí
- Bài viết của tác giả Đỗ Văn Đại (2009), “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng: trách nhiệm hạn chế thiệt hại (bản án và bình luận bản án)”, Tạp chí Khoa học
Pháp lý, số 6/2009. Trong bài viết, tác giả Đỗ Văn Đại đã sử dụng một bản án thực
tế để phân tích về trách nhiệm hạn chế thiệt hại trong BTTH ngoài hợp đồng. Mặc dù
4
vậy, bài viết được viết dựa trên nền tảng là BLDS năm 2005 - bộ luật chưa có quy
định minh thị nguyên tắc hạn chế, phòng ngừa thiệt hại của người bị thiệt hại nên chỉ
có giá trị tham khảo.
- Bài viết của tác giả Đỗ Thành Công (2010), “Nghĩa vụ hạn chế thiệt hại do
vi phạm hợp đồng”, tạp chí Khoa học Pháp lý, số 04/2010. Tác giả Đỗ Thành Cơng
đã phân tích nghĩa vụ hạn chế thiệt hại khi bị vi phạm hợp đồng của một số quốc gia
thuộc hệ thống thông luật, của Bộ Nguyên tắc châu Âu về hợp đồng và của pháp luật
Việt Nam. Từ đó tác giả đã đưa ra các nhận định khi áp dụng pháp luật vào các vụ án
thực tiễn. Tuy nhiên, bài viết chỉ khai thác về nghĩa vụ hạn chế thiệt hại khi bị vi
phạm hợp đồng và chưa phân tích đến nghĩa vụ hạn chế thiệt hại trong BTTH ngoài
hợp đồng.
- Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền (2018), “Nghĩa vụ hạn chế tổn
thất và vấn đề xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong pháp luật thương mại”,
tạp chí Khoa học Pháp lý số 06(118)/2018. Trong bài viết này, tác giả Nguyễn Thị
Thanh Huyền đã sử dụng các ví dụ thực tế để phân tích mối quan hệ giữa nghĩa vụ
hạn chế tổn thất với cách thức xác định thiệt hại. Tuy nhiên, bài viết chỉ đề cập và
phân tích nghĩa vụ hạn chế tổn thất dựa trên Luật Thương mại, chưa khai thác khía
cạnh về hạn chế thiệt hại trong BLDS.
- Bài viết của tác giả Lê Văn Sua (2018), “Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng theo BLDS năm 2015”, Tạp chí Luật sư Việt Nam, số 10. Tác giả Lê
Văn Sua đã đưa ra ví dụ điển hình về người bị thiệt hại phải thực hiện nghĩa vụ phòng
ngừa, hạn chế thiệt hại. Tuy nhiên, do phải phân tích tồn bộ các nguyên tắc BTTH
nên tại nguyên tắc hạn chế thiệt hại tác giải chưa phân tích sâu và tồn diện.
- Bài viết của hai tác giả Huỳnh Thị Nam Hải và Hoàng Thị Hường (2021),
“Nghĩa vụ hạn chế thiệt hại của người bị thiệt hại và góp ý dự thảo Nghị quyết hướng
dẫn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng”, Tạp chí Tịa án Nhân dân
điện tử. Tại bài viết này, hai tác giả đã đưa ra một số góp ý cho dự thảo Nghị Quyết
hướng dẫn liên quan đến nghĩa vụ hạn chế thiệt hại. Điểm sáng của bài viết là các
kiến nghị được tác giả đưa ra về những hướng dẫn cụ thể thế nào là “cần thiết”, “hợp
lý” của các biện pháp hạn chế thiệt hại trong, ngoài hợp đồng.
- Bài viết của hai tác giả Phan Trung Pháp, Nguyễn Hoàng Thái Hy (2021),
“Nghĩa vụ hạn chế thiệt hại của bên bị vi phạm hợp đồng theo công ước Vienna 1980
về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số
01(140)/2021. Trong bài viết, các tác giả đã phân tích, cách giải thích và áp dụng điều
77 của CISG năm 1980 về nghĩa vụ hạn chế thiệt hại của bên bị vi phạm hợp đồng.
Từ đó, các tác giả bài viết đưa ra các biện pháp để giúp người mua và người bán trong
hợp đồng mua bán hàng hóa có thể áp dụng để hạn chế thiệt hại.
5
Tóm lại, các cơng trình nghiên cứu kể trên là nguồn tài liệu vô cùng quý giá
để tác giả nhận thức, học hỏi và kế thừa các quan điểm tiến bộ từ các chun gia để
hồn thành khóa luận tốt nghiệp của mình. Đồng thời, các tài liệu này cũng là kim
chỉ nam để tác giả định hướng, đưa ra kiến nghị về giải pháp xây dựng pháp luật về
trong trường hợp người bị thiệt hại không áp dụng biện pháp cần thiết để phòng ngừa,
hạn chế thiệt hại.
3. Mục đích nghiên cứu
Khi thực hiện khóa luận, tác giả đặt ra một số mục đích nghiên cứu cho đề tài
của mình như sau:
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về nguyên tắc trong trường hợp người bị thiệt hại
không thực hiện các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, hạn chế thiệt hại.
Thứ hai, chỉ ra được các điểm bất cập, hạn chế của quy định pháp luật hiện nay
về trường hợp khi người bị thiệt hại không thực hiện các biện pháp cần thiết để phòng
ngừa, hạn chế thiệt hại.
Thứ ba, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về nguyên
tắc và một số giải pháp để nâng cao hiệu quả thực thi quy định này trong thực tế xã
hội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận có đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật dân sự, thương
mại về trường hợp người bị thiệt hại không áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng
ngừa, hạn chế thiệt hại.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, dựa trên các phân tích về quy định pháp luật khi người bị thiệt hại
không áp dụng các biện pháp phịng ngừa, hạn chế thiệt hại khóa luận sẽ làm rõ cơ
sở lý luận về nguyên tắc BTTH này.
Thứ hai, khóa luận cũng sẽ làm rõ các quy định về hạn chế, phòng ngừa thiệt
hại của bên bị thiệt hại trong các văn bản pháp luật như BLDS năm 2005, LTM năm
2005 để nhận thấy được sự thay đổi của BLDS năm 2015 so với BLDS năm 2005.
Thứ ba, tác giả cũng nghiên cứu, đối chiếu các BLDS, Luật hợp đồng của các
quốc gia khác trên thế giới, các văn bản pháp luật quốc tế như CISG năm 1980,
UPICC nhằm chỉ ra được các điểm tiến bộ, hạn chế trong pháp luật Việt Nam về khi
người bị thiệt hại không phòng ngừa hạn chế thiệt hại.
5. Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này, tác giả sử dụng nhuần nhuyễn các phương pháp
nghiên cứu thường được dùng trong khoa học pháp lý, cụ thể như sau:
6
Phương pháp phân tích, tổng hợp: đây là phương pháp nghiên cứu các vấn đề
pháp lý liên quan bằng cách phân chúng ra thành từng bộ phận nhỏ, từng nội dung
nhỏ, tiến hành giải thích, chứng minh giúp cho việc nhận thức đầy đủ, toàn diện rồi
tổng hợp lại, liên kết lại thành các vấn đề pháp mang tính hệ thống, cụ thể để từ đó
đưa ra những đánh giá, kết luận cuối cùng. Tác giả dùng phương pháp này trong cả
chương 1 và chương 2 của khóa luận.
Phương pháp so sánh luật học: là phương pháp trình bày, đối chiếu những điểm
giống nhau, khác nhau giữa pháp luật ở hiện tại và quá khứ, giữa pháp luật trong nước
và nước ngoài, giữa pháp luật nước này và nước khác để phát hiện ra sự tương đồng
và khác biệt đối với các vấn đề pháp lý đang được nghiên cứu. Thơng qua so sánh
luật học, nhóm tác giả phát hiện, nhận diện những ưu điểm, khuyết điểm của các hệ
thống pháp luật để từ đó có những bài học kinh nghiệm trong việc đưa ra những giải
pháp hoàn thiện cụ thể. Phương pháp này được nhóm tác giả sử dụng hầu hết trong
cả Chương 1 và Chương 2 của khóa luận.
Phương pháp phân tích vụ việc, bình luận án: là phương pháp sử dụng những
tình tiết trong các vụ việc xảy ra trên trên thực tế, sử dụng các bản án, quyết định, án
lệ của Tòa án các cấp trong thực tiễn xét xử để phân tích, làm sáng rõ các vấn đề pháp
lý liên quan đến đề tài nghiên cứu, tiến hành bình luận bằng cách chỉ ra những điểm
thuyết phục, chưa thuyết phục trong việc áp dụng pháp luật, trong quá trình xử lý và
đưa ra hướng giải quyết của Tịa án, nêu lên ý kiến của mình cũng như đánh giá quan
điểm của người khác. Phương pháp này được nhóm tác giả sử dụng nhiều nhất và hầu
hết ở các phần trong Chương 2 của khóa luận.
Ngồi ra, tác giả còn thực hiện một số phương pháp nghiên cứu khác như thống
kê, chứng minh và tổng hợp trong q trình thực hiện khóa luận.
6. Bố cục tổng quát của khóa luận
Đề tài: “Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại không áp
dụng biện pháp cần thiết để phòng ngừa, hạn chế thiệt hại” gồm có 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt
hại không áp dụng biện pháp cần thiết để phòng ngừa, hạn chế thiệt hại.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị
thiệt hại không áp dụng biện pháp cần thiết để phòng ngừa, hạn chế thiệt hại và các
giải pháp hoàn thiện.
7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG
TRƯỜNG HỢP NGƯỜI BỊ THIỆT HẠI KHÔNG ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CẦN
THIẾT ĐỂ PHÒNG NGỪA, HẠN CHẾ THIỆT HẠI
BTTH khi người bị thiệt hại không áp dụng các biện pháp cần thiết để hạn chế,
phòng ngừa thiệt hại là quy định góp phần bảo đảm được tính pháp chế trong xã hội
khi không chỉ bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. mà cịn
bảo vệ được người có trách nhiệm BTTH thơng qua việc khơng phải bồi thường
những thiệt hại đáng lẽ có thể hạn chế được. Việc quy định trình trường hợp BTTH
này là kết quả của q trình“luật hóa thực tiễn xét xử”. Để có cái nhìn sâu sắc và tồn
diện tác giả sẽ tiến hành phân tích cơ sở lý luận của vấn đề này tại chương 1 của khóa
luận.
1.1. Khái quát về bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại không
áp dụng biện pháp cần thiết để phòng ngừa, hạn chế thiệt hại
Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
của mình một cách thiện chí, trung thực1. Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản
và cốt lõi của pháp luật dân sự đã đặt ra cho các chủ thể trong xã hội khi tham gia vào
quan hệ dân sự. Để cụ thể hóa ngun tắc mang tính “xương sống” này, các nhà lập
pháp hầu như đều lồng ghép nguyên tắc này cho từng phần, chương trong BLDS năm
2015. Khơng nằm ngồi quy luật đó, ngun tắc thiện chí, trung thực cũng đã được
thể hiện trong chế định về BTTH. Điều 362 và khoản 5 Điều 585 BLDS năm 2015 là
một minh chứng cho nguyên tắc thiện chí này. Cụ thể các quy định nói trên đã đề cập
đến trường hợp người bị thiệt hại sẽ không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do
họ không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho
chính mình. Nhằm tạo nền tảng cho việc phân tích tồn diện về trách nhiệm BTTH
trong trường hợp này tác giả sẽ tiến hành phân tích và làm rõ các khái niệm có liên
quan.
1.1.1. Khái niệm về bồi thường thiệt hại
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhu cầu thực hiện các giao dịch dân sự
ngày càng nhiều dẫn đến nhu cầu được bảo đảm quyền và lợi ích của các chủ thể
trong các giao dịch cũng ngày được quan tâm hơn. Do vậy, để các quyền được bảo
vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của các cá nhân, tổ chức được đảm
bảo thì Nhà nước sẽ buộc các chủ thể cịn lại trong xã hội phải tơn trọng các quyền
lợi tuyệt đối này. Đồng thời, nếu bất kỳ ai khi có hành vi xâm phạm, gây tổn hại đến
những quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khác thì sẽ phải chịu trách nhiệm
BTTH. Từ vai trò này, chế định BTTH ngày càng được xem là một quyền năng pháp
1
Khoản 3 Điều 3 BLDS năm 2015.
8
luật của bên bị vi phạm để yêu cầu bên vi phạm khắc phục các hậu quả xảy ra do hành
vi trái pháp luật hoặc hành vi vi phạm hợp đồng. Và cũng vì vai trị đó nên dù BTTH
được nghiên cứu ở góc độ nào thì BTTH cũng có thể được hiểu là một loại quan hệ
dân sự được phát sinh nhằm bù đắp những tổn thất, thiệt hại phát sinh là hậu quả của
hành vi trái pháp luật do bên gây thiệt hại gây ra xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt
hại2.
Theo Từ điển Luật học3: “bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm dân sự
nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách đền bù
các tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại”. Theo định nghĩa
này thì BTTH được xem như trách nhiệm pháp lý chỉ phát sinh khi có chủ thể gây ra
thiệt hại và khi này trách nhiệm bồi thường cần được thực thi với mục đích bù đắp và
khắc phục hậu quả cho bên bị thiệt hại. Mục đích của BTTH là đặt lợi ích vật chất
của bên bị thiệt hại vào vị trí đáng lẽ họ phải có nếu phía bên kia thực hiện nghĩa vụ
của mình4.
Trách nhiệm pháp lý thường được hiểu theo hai nghĩa là tích cực và tiêu cực.
Với nghĩa tích cực là các nghĩa vụ, bổn phận tích cực của các chủ thể trong việc chấp
hành pháp luật. Trong trường hợp chủ thể chịu trách nhiệm phải đền bù tổn thất tức
là họ đang gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất và tinh thần như trường hợp
BTTH chính là mặt tiêu cực của trách nhiệm pháp lý.
Đối với các quốc gia theo hệ thống Civil Law, BTTH được định nghĩa là việc
phải chi trả một khoản tiền nhằm khắc phục những thiệt hại do chủ thể vi phạm gây
ra do chậm thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ có khiếm khuyết5. Định nghĩa về BTTH
này cũng có nhiều điểm tương đồng với định nghĩa trong hệ thống Common Law.
Trong hệ thống Common Law này, BTTH được hiểu là việc phải chi trả một khoản
tiền với tính chất là một khoảng bù đắp cho những tổn thất hoặc thiệt hại của bên bị
thiệt hại mà bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải trả6. Theo BLDS Nhật
Bản, tại Điều 415 cũng có ghi nhận: “Trường hợp bên có nghĩa vụ khơng thực hiện
đúng mục đích của nghĩa vụ thì bên có quyền có quyền u cầu BTTH do việc khơng
thực hiện đó”. BLDS Đức cũng ghi nhận trách nhiệm BTTH trong phần chế định
Huỳnh Thị Nam Hải, Vanessa Demey (2023), “Nghĩa vụ hạn chế thiệt hại của người bị thiệt hại theo quy
định của pháp luật Pháp và Việt Nam”, Tạp chí Phát triển Khoa học & Cơng nghệ – Kinh tế - Luật và Quản
lý, truy cập lần cuối
ngày 18/6/2023.
3
Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB. Từ điển Bách khoa và
NXB. Tư Pháp, tr. 250.
4
Nguyễn Văn Luyện, Lê Thị Bích Thọ, Dương An Sơn (năm 2005), Luật hợp đồng thương mại quốc tế, NXB.
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 58.
5
Gérard Cornu (2004). Vocabulaire juridique, 6 édition, Presses Universitaires de France, tr. 324.
6
Lexique Juridiques (2015-2016), 23e édition, Dalloz, tr. 381
2
9
nghĩa vụ của mình như một khoản bù đắp thiệt hại cho bên đã có quyền và lợi ích hợp
pháp bị xâm phạm. Ở Việt Nam, tại các bộ luật cổ của nước ta cũng quy định BTTH
theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại như một khoản bồi thường7.
Dù được ghi nhận từ sớm, song đến nay trong cả BLDS năm 2005 và BLDS
năm 2015 đều không đưa ra định nghĩa thế nào là BTTH. Dù vậy, thông qua trách
nhiệm BTTH được quy định tại Điều 360 hay Điều 584 về căn cứ phát sinh trách
nhiệm BTTH trong BLDS năm 2015 giúp ta nhận thấy được bản chất của BTTH
chính là khoản đền bù cho bên bị thiệt hại từ những hành vi xâm phạm quyền, lợi ích
gây ra. Bản chất bù đắp, đền bù này càng được khẳng định hơn nữa khi tại LTM năm
2005 đưa ra định nghĩa BTTH trong quan hệ thương mại là việc bên vi phạm bồi
thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.
Từ các phân tích trên, dù khái niệm BTTH được quy định minh thị tại một điều
khoản nhất định hay được đúc kết thơng qua các ngun tắc thì tại Việt Nam hay
phần đông trên các quốc gia trên thế giới đều nhận định như sau: BTTH là việc bên
gây thiệt hại phải trả cho bên bị thiệt hại khoản tiền nhằm đền bù cho những tổn thất,
thiệt hại là hậu quả của hành vi vi phạm gây ra. Mục đích đền bù, bù đắp tổn thất cho
bên bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp chính là chức năng nổi bật và quan trọng
nhất của BTTH.
Ngoài ra, hiện nay cịn có một số quan điểm định nghĩa về chế định BTTH như
là: “một chế tài tiền tệ đặt ra cho những sai lầm của bên gây thiệt hại gây ra, xâm
phạm đến lợi ích của bên bị thiệt hại”8. Một số quốc gia còn ghi nhận BTTH là một
biện pháp trừng phạt hợp lý”9 dành cho bên gây thiệt hại. Chế tài này đặt ra buộc bên
vi phạm phải mất một khoản tiền chi trả cho bên sẽ được bên bị vi phạm sử dụng để
khôi phục lại tình trạng ban đầu như khi chưa có hành vi vi phạm và thỏa mãn các lợi
ích mà bên bị thiệt hại đáng lẽ được hưởng. Thông qua việc quy định chế tài, các nhà
lập pháp cũng xem BTTH như một trách nhiệm pháp lý của các bên khi thực hiện
giao dịch dân sự. Từ việc xem BTTH là một chế tài sẽ làm tiền đề để răn đe, phòng
ngừa khi một bên đang hoặc sẽ có ý định thực hiện hành vi phạm, ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích của chủ thể khác sẽ không tiếp tục thực hiện các hành vi trên. Nói
cách khác, BTTH dù với vai trò bù đắp tổn thất hay trừng phạt bên gây thiệt hại thì
BTTH vẫn là biện pháp giúp đảm bảo lợi ích xã hội nói chung và cân bằng lợi ích của
các chủ thể tham gia giao dịch nói riêng.
Điều 466 của Bộ luật Hồng Đức quy định: người gây thương tích cho người khác thì ngồi hình phạt bị đánh
rồi còn phải bồi thường cho nạn nhân số tiền từ 1 quan đến 100 quan;
Điều 271 Bộ luật Gia Long dự liệu: người làm gãy tay chân, hỏng mắt, hỏng các bộ phận cơ thể thì phải bồi
thường 1/2 tài sản của mình cho nạn nhân để họ ni thân.
8
Bùi Thị Thanh Hằng, BTTH do vi phạm hợp đồng, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.32.
9
Lê Nết (2006), Quyền Sở hữu trí tuệ, NXB. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, tr. 194.
7
10
Khoa học pháp lý thường chia BTTH thành hai loại là BTTH trong hợp đồng
và BTTH ngoài hợp đồng. Song ranh giới giữa hai loại thiệt hại này khá mong manh
và dễ nhầm lẫn10. Theo đó, các nhà soạn thảo đã dành Chương XX trong BLDS năm
2015 để ghi nhận về BTTH ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, sự tồn tại của BTTH trong
hợp đồng dường như không được quy định rõ ràng trong BLDS mà được suy luận ra
từ “BTTH ngoài hợp đồng”11. Do vậy, việc xác định trách nhiệm BTTH trong hay
ngoài hợp đồng cũng khá quan trọng và cần thiết để lựa chọn luật áp dụng và cơ sở
pháp lý điều chỉnh.
Trách nhiệm BTTH trong hợp đồng sẽ phát sinh khi bên vi phạm và bên bị vi
phạm có giao kết với nhau bằng hợp đồng và một bên đã vi phạm, gây thiệt hại cho
bên còn lại. Khi này, cách xác định thiệt hại và trách nhiệm bồi thường sẽ dựa vào
thỏa thuận của các bên trong hợp đồng là ưu tiên hàng đầu. Hoặc trong trường hợp
các bên khơng thỏa thuận thì sẽ dựa vào quy định của pháp luật mà các bên đã lựa
chọn trong hợp đồng để điều chỉnh. Ngược lại, trách nhiệm BTTH ngồi hợp đồng
được hình thành giữa các chủ thể bất kỳ mà trước đó khơng có quan hệ hợp đồng
hoặc tuy có quan hệ nhưng hành vi gây thiệt hại không xuất phát từ thực hiện hợp
đồng12. Khi một cá nhân, tổ chức có hành vi trái pháp luật làm ảnh hưởng đến tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác
của cá nhân, gây thiệt hại đến danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhận hoặc các chủ thể
khác thì người gây ra thiệt hại phải bù đắp tổn thất thực tế, trực tiếp cho bên bị vi
phạm. Việc BTTH sẽ được căn cứ vào quy định của BLDS và pháp luật chuyên ngành
để giải quyết.
Thông qua các phân tích trên, tác giả đã đúc kết ra được khái niệm BTTH dựa
trên các quan điểm của các chuyên gia và pháp luật nước ngoài như sau: BTTH là
việc bên thực hiện hành vi vi phạm đền bù những tổn thất, thiệt hại cho bên có quyền
và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.
1.1.2. Khái niệm về biện pháp để phòng ngừa hạn chế, thiệt hại
Theo từ điển tiếng Việt, “biện pháp” được định nghĩa là cách giải quyết, cách
làm một vấn đề cụ thể, “phòng ngừa” là tất cả các hành động được thực hiện để tránh
hoặc giảm thiểu thiệt hại có thể xảy ra trong tương lai, “hạn chế” là hành động được
thực hiện để giảm thiểu các tổn thất hoặc thiệt hại đã hoặc đang xảy ra13. “Thiệt hại”
Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, NXB. Hồng Đức Hội Luật gia Việt Nam, tr. 485.
11
Đỗ Văn Đại (2018), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án (tập
1) (Sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ 4), NXB. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 22.
12
Trường Đại học Luật TP.HCM (năm 2021), Giáo trình Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng, NXB. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 375.
13
Hoàng Phê và các tác giả khác (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng - Trung tâm từ Điển học, Hà Nội
- Đà Nẵng, tr. 64, 783, 415.
10
11
là những mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của 14. Ghép nghĩa các từ sẽ vơ hình
trung tạo ra khái niệm như sau: “biện pháp để phòng ngừa hạn chế thiệt hại chính là
cách làm, cách giải quyết vấn đề để tránh hoặc giảm thiểu những mất mát, hư hỏng
nặng nề về người và của đã đang và có thể sẽ xảy ra”. Việc giải thích bằng cách chiết
tự mặc dù đã giúp người đọc đúc kết ra được mục đích của biện pháp này song vẫn
chưa thể hiện đầy đủ được bản chất, từ đó dễ gây nhầm lẫn.
Trong quy định pháp luật, phòng ngừa, hạn chế thiệt hại đóng vai trị quan trọng
trong việc phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật và giảm thiểu ảnh
hưởng tiêu cực của chúng xảy ra trên thực tế. Do vậy, để hiệu quả pháp luật đạt cao
nhất, đòi hỏi các chủ thể áp dụng pháp luật phải hiểu đúng, hiểu sâu về biện pháp cần
thiết để phòng ngừa, hạn chế thiệt hại. Trong khoa học pháp lý, có ý kiến cho rằng
“thiệt hại được hiểu là sự thay đổi biến thiên theo chiều hướng xấu đi của tài sản, của
các giá trị nhân thân do pháp luật bảo vệ”15. Còn theo Từ điển Luật học thì “thiệt hại
là tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi
ích hợp pháp khác của cá nhân; tài sản, danh dự, uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể
khác được pháp luật bảo vệ”16. Tóm lại, thiệt hại sẽ được hiểu là sự giảm sút về lợi
ích vật chất của người bị thiệt hại mà họ đã có hoặc sự mất mát lợi ích vật chất mà
chắc chắn họ sẽ có lợi (lợi nhuận chắc chắn sẽ thu được)17.
Phịng ngừa là hoạt động nhanh chóng phát hiện, ngăn chặn khắc phục các yếu
tố có thể là nguyên nhân và điều kiện dẫn đến thiệt hại. Thông qua định nghĩa này, ta
có thể nhận biết được hành vi phịng ngừa sẽ được diễn ra trước khi hậu quả xảy ra.
Đây là kết quả của việc dự trù trước các thiệt hại đang và có thể sẽ xảy ra trong q
trình thực hiện giao dịch dân sự. Biện pháp phòng ngừa có thể hiểu là các hành vi của
cá nhân, tổ chức nhìn thấy trước được các tình huống có thể xảy ra thiệt hại và thực
hiện các hành động để hậu quả sẽ không xảy ra trên thực tế hoặc xảy ra nhưng ở mức
độ không nghiêm trọng như dự đoán.
Hạn chế thiệt hại là hoạt động được diễn ra trong và sau khi hành vi gây thiệt
hại đã diễn ra. Hạn chế thiệt hại nhằm mục đích để ngăn chặn các thiệt hại có thể tiếp
tục xảy ra nghiêm trọng hơn. Cụ thể, khi một bên đã có hành vi trái pháp luật hoặc
hành vi vi phạm hợp đồng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên còn
Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB. Văn hóa thơng tin, Hà Nội, tr. 1571.
Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật Dân sự Việt Nam, NXB. Đại học quốc
gia, tr. 471.
16
Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB. Từ điển Bách khoa và
NXB. Tư Pháp, tr. 560.
17
Hoàng Thế Liên (Chủ biên) (2013), Bình luận khoa học Bộ Luật Dân sự, tập 2, NXB. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr. 713.
14
15
12
lại và bên bị hại này sẽ sử dụng các hành động nhằm bảo vệ, giữ lại những lợi ích của
mình đang bị đe dọa, bị xâm phạm thì sẽ được xem là hạn chế thiệt hại.
Như vậy, ta có thể thấy biện pháp phòng ngừa, hạn chế thiệt hại chính là biện
pháp để bên bị thiệt hại bảo vệ những lợi ích đã, đang và sẽ có thể bị xâm phạm của
mình trước hành vi trái pháp luật của bên vi phạm.
Quy định trường hợp BTTH khi người bị thiệt hại khơng thực hiện biện pháp
cần thiết để phịng ngừa, hạn chế thiệt hại nhằm chặn đứng hoặc giảm bớt thiệt hại
đáng lẽ sẽ xảy ra. Quy định này là việc làm tích cực của bên bị thiệt hại và dựa trên
lợi ích chung của xã hội chứ khơng phải là quy định nhằm “bao che” cho hành vi trái
pháp luật của bên gây ra thiệt hại. Đây chính là một cách nhìn vĩ mơ của các nhà lập
pháp nhằm đảm bảo lợi ích và an ninh trật tự cho xã hội. Các biện pháp này không
phải mặc nhiên là trách nhiệm của bên bị thiệt hại phải áp dụng khi có thiệt hại xảy
ra. Việc áp dụng các biện pháp này phải được căn cứ dựa trên sự thật khách quan
được đặt trong thời gian và không gian cụ thể. Đồng thời, cơ quan xét xử cũng như
bên gây thiệt hại, bên bị thiệt hại sẽ phải xem xét đến khả năng của bên bị thiệt hại
trong việc phịng ngừa hạn chế thiệt hại. Ngồi ra, yếu tố sự thiện chí, hợp tác của
bên gây thiệt hại cũng sẽ được cân nhắc khi áp dụng nguyên tắc BTTH khi bên bị
thiệt hại không áp dụng các biện pháp phòng ngừa, hạn chế thiệt hại. Các điều kiện
cụ thể để áp dụng quy tắc BTTH này sẽ được tác giả phân tích chi tiết ở các phần sau.
Tóm lại, khái niệm về BTTH trong trường hợp bên bị thiệt hại khơng áp dụng
các biện pháp cần thiết để phịng ngừa, hạn chế thiệt hại là trường hợp bên thực hiện
hành vi vi phạm đền bù những tổn thất, thiệt hại cho bên có quyền và lợi ích hợp pháp
bị xâm phạm khi bên này đã để cho thiệt hại trở nên trầm trọng hơn hoặc không thực
hiện hành động gì để giảm thiểu, hạn chế, phịng ngừa thiệt hại xảy ra.
1.2. Đặc điểm của bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại không
áp dụng biện pháp cần thiết để phòng ngừa, hạn chế thiệt hại
Dựa trên những bản chất đặc trưng của BTTH trong trường hợp người bị thiệt
hại không áp dụng biện pháp cần thiết để phịng ngừa, hạn chế thiệt hại chúng ta có
thể rút ra những đặc điểm sau:
Một là, trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm BTTH nói riêng mang đặc
tính của trách nhiệm dân sự18. Trách nhiệm dân sự bao gồm trách nhiệm BTTH trong
hợp đồng và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, chỉ đến bất kỳ sự đáp trả về mặt dân
sự nào đối với những tổn hại gây ra cho người khác, nghĩa là đền bù bằng hiện vật
hoặc tương đương19. Khơng nằm ngồi giới hạn này, trường hợp BTTH khi người bị
Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, tập II, NXB. Tư Pháp, tr. 478.
Bùi Thị Thanh Hằng (2016), “Trách nhiệm dân sự, chế tài hay biện pháp khắc phục đối với hành vi vi phạm
hợp đồng?”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 03(331) T2/2017, tr. 34.
18
19
13
thiệt hại không áp dụng biện pháp cần thiết để phòng ngừa, hạn chế thiệt hại cũng là
một trách nhiệm dân sự. Khi này, bên gây thiệt hại phải gánh chịu các hậu quả bất lợi
và phải đáp trả, bù đắp cho bên bị thiệt hại căn cứ vào thiệt hại thực tế đã xảy ra. Tóm
lại, trách nhiệm BTTH là chế định phát sinh từ quan hệ dân sự và sẽ chịu sự điều
chỉnh của pháp luật dân sự.
Hai là, trách nhiệm BTTH còn được xác định là loại là trách nhiệm tài sản.
Trong trường hợp người bị thiệt hại có áp dụng thành cơng các biện pháp phịng ngừa,
hạn chế các thiệt hại thì các tổn thất đã xảy ra hoặc các chi phí bỏ ra để phịng ngừa,
hạn chế thiệt hại vẫn phải được tính tốn, lượng hóa thành tiền hoặc một đại lượng
vật chất nhất định để buộc bên gây thiệt hại bồi thường. Đối với những thiệt hại về
tinh thần mặc dù khơng thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy
định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại
Ba là, trách nhiệm BTTH sẽ được đảm bảo thực hiện bởi cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền. Theo định nghĩa của Black’s Law - Dictionary, trách nhiệm BTTH là
một loại trách nhiệm pháp lý nên sẽ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng với
người có hành vi vi phạm pháp luật, và sẽ được đảm bảo thực thi bằng các biện pháp
cưỡng chế nhà nước.
Bốn là, trách nhiệm BTTH trong hợp đồng được đặt ra khi và chỉ khi hội đủ ba
điều kiện: (1) Có thiệt hại thực tế xảy ra, (2) Có hành vi vi phạm hợp đồng, (3) Tồn
tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại thực tế xảy ra.
Còn đối với trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, các điều cần thỏa mãn để BTTH
được xác định là: (i) Phải có thiệt hại thực tế xảy ra, (ii) Phải có hành vi trái pháp
luật của người gây thiệt hại, (iii) Tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp
luật của người gây thiệt hại với thiệt hại thực tế xảy ra. Đây là những điều kiện cơ
bản nhất để xác định trách nhiệm bồi thường của bên đã gây ra thiệt hại.
Năm là, BTTH đem đến các hậu quả bất lợi cho người có hành vi vi phạm pháp
luật. Mọi người đều có quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Do vậy, bất
kỳ chủ thể nào xâm phạm đến những quyền này đều phải thực hiện trách nhiệm BTTH
sẽ giúp khôi phục, đền bù lại thiệt hại cho người bị thiệt hại.
Bên cạnh các đặc điểm chung vốn có của trách nhiệm BTTH, trường hợp BTTH
khi người bị thiệt hại không áp dụng biện pháp cần thiết để phịng ngừa, hạn chế thiệt
hại cũng có một số đặc điểm đặc trưng sau:
Thứ nhất, khởi điểm của nguyên tắc BTTH trong trường hợp người bị thiệt hại
không áp dụng biện pháp cần thiết để phòng ngừa, hạn chế thiệt hại xuất phát từ trách
nhiệm hạn chế thiệt hại trong hợp đồng.
Bản chất của hợp đồng chính là thỏa thuận mà các chủ thể ràng buộc chính mình
với một hoặc một số chủ thể khác để chuyển giao, làm hoặc không làm một công việc
14
nhất định. Trong hợp đồng song vụ, quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên kia và
ngược lại. Do đó khi một bên có hành vi làm trái các thỏa thuận trong hợp đồng sẽ
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của bên còn lại. Khi quyền lợi của mình bị ảnh
hưởng bên bị thiệt hại sẽ phát sinh quyền được yêu cầu bồi thường cho những lợi ích
bị mất và kể cả những lợi ích trong tương lai họ có được. Việc bồi thường này có thể
dễ bị lợi dụng, sinh ra tâm lý bỏ mặc hậu quả xảy ra để hưởng bồi thường của bên bị
thiệt hại. Điều này đã được các nhà lập pháp trên thế giới nhận thức rõ ràng từ sớm
và quy định nghĩa vụ hạn chế thiệt hại cho bên có quyền khi thiệt hại xảy ra. Minh
chứng cho điều này có thể đề cập đến Điều 77 của CISG năm 1980, hay Điều 7.4.8
hạn chế thiệt hại (Mitigation of Harm) của UPICC. Tại Việt Nam, nghĩa vụ hạn chế
thiệt hại này được ghi nhận rải rác trong các điều khoản tại BLDS năm 2005 và trong
giai đoạn này hạn chế thiệt hại chỉ xoay quanh vấn đề hợp đồng bảo hiểm tại Điều
575 hay bồi thường trong thời hạn bảo hành tại Điều 448. Để tránh bên bị thiệt hại
thụ động trong các tình huống xảy ra thiệt hại và nhận thấy sự cần thiết phải quy định
minh thị và chính thức thừa nhận trách nhiệm này trong cả trách nhiệm BTTH ngoài
hợp đồng nên các nhà lập pháp đã bổ sung cơ sở pháp lý trong BLDS năm 2015 cho
việc giải quyết vấn đề liên quan đến BTTH ngoài hợp đồng.
Thứ hai, các thiệt hại cần hạn chế, phòng ngừa trong trường hợp bồi thường này
phải do bên gây thiệt hại gây ra chứ không phải do lỗi của bên bị thiệt hại.
Khi áp dụng nguyên tắc BTTH do không áp dụng biện pháp phịng ngừa, hạn
chế thiệt hại thì người áp dụng pháp luật cũng như cơ quan tố tụng cần phải xác định
rõ thiệt hại xảy ra là do có hành vi xâm phạm, hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. Bên
bị thiệt hại không phải là bên có lỗi trong việc thiệt hại xảy ra này. Trong trường hợp
thiệt hại xảy ra là do bên bị thiệt hại có lỗi thì ngun tắc BTTH này sẽ khơng phát
sinh. Thay vào đó, một ngun tắc bồi thường khác được quy định tại khoản 4 Điều
585 BLDS năm 2015 sẽ được áp dụng. Cụ thể của nguyên tắc này là: khi bên bị thiệt
hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì khơng được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của
mình gây ra.
Thứ ba, trách nhiệm phịng ngừa hạn chế thiệt hại chỉ đặt ra khi bên bị thiệt hại
có đủ khả năng phịng ngừa, hạn chế thiệt hại nhưng khơng thực hiện.
BTTH chính là biện pháp mà các nhà lập pháp trao cho người bị thiệt hại để họ
bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, pháp luật không chỉ thực hiện chức năng bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức mà pháp luật cịn phải duy trì sự
ổn định cho xã hội. Do đó, nếu buộc bên vi phạm phải BTTH trong khi có căn cứ để
xác định bên bị thiệt hại khơng áp dụng các biện pháp để phịng ngừa, ngăn chặn thiệt
hại xảy ra dù có đủ điều khiện thì sẽ gây ra nhiều hệ lụy, tiền lệ xấu cho xã hội. Tuy
nhiên, để thực thi chế định vốn được tạo ra để bù đắp cho bên bị thiệt hại lại yêu cầu
15
bên này phải thực hiện các biện pháp để hạn chế thiệt hại xảy ra thì cần phải đảm bảo
các căn cứ chặt chẽ và chắc chắn về khả năng và điều kiện có thể thực hiện của bên
bị thiệt hại. Do vậy, sau hơn 7 năm ban hành BLDS năm 2015, Hội đồng Thẩm phán
TANDTC đã ban hành Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP để giải thích các điều kiện cụ
thể để có thể áp dụng BTTH trong trường hợp này. Phần các căn cứ cụ thể này sẽ
được tác giả phân tích cụ thể ở mục 1.3 của khóa luận.
Thứ tư, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại thanh tốn lại chi phí
mà bên bị thiệt hại đã bỏ ra để ngăn ngừa, hạn chế thiệt hại như một phần của thiệt
hại.
Các thiệt hại vật chất của bên bị vi phạm sẽ được định lượng và sẽ được bồi
thường bằng tiền hoặc bằng vật chất khác hoặc cũng có thể kết hợp hai hình thức.
Trong đó, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại cũng được xác
định là một phần không thể thiếu của thiệt hại vật chất được quy định tại khoản 2
Điều 361 BLDS năm 2015. Do vậy, khi bên có thiệt hại chủ động thực hiện hiện các
biện pháp hợp lý trong khả năng của bản thân để hạn chế thiệt hại thì vẫn sẽ được
xem xét và BTTH như bình thường. Ngược lại, nếu bên bị thiệt hại không thực hiện
các biện pháp hạn chế này thì bên gây thiệt hại có cơ sở để u cầu giảm mức bồi
thường bằng với mức thiệt hại có thể hạn chế được. Như vậy, việc quy định phải
thanh tốn lại các chi phí hợp lý cho bên bị thiệt hại khi họ đã chủ động thực hiện các
biện pháp phòng ngừa, hạn chế thiệt hại là một quy định tích cực cho bên bị thiệt hại,
giúp các chủ thể phát huy tốt nguyên tắc thiện chí trong các quan hệ dân sự.
1.3. Cơ sở xây dựng bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại
không áp dụng biện pháp cần thiết để phòng ngừa, hạn chế thiệt hại
1.3.1. Xây dựng trên cơ sở nguyên tắc thiện chí, trung thực trong các giao dịch dân
sự
Thái độ thờ ơ trước khó khăn của các bên trong giao dịch, thiếu trách nhiệm
khi thực hiện công việc hoặc lừa dối, không mong muốn thực hiện các cam kết, thỏa
thuận là không phù hợp với cách ứng xử mà nguyên tắc này đòi hỏi 20. BLDS năm
2015 đặt ra yêu cầu đối với cá nhân, pháp nhân phải căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh
để xác lập thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự của mình. Nếu trong quá trình thực
hiện mà mỗi bên gặp phải khó khăn, vướng mắc thì các bên phải cùng nhau bàn bạc
và tìm cách khắc phục trên tinh thần hợp tác, tương trợ, giúp đỡ nhau cùng giải quyết
khó khăn đó. Bên nào bị coi là thiếu thiện chí khơng trung thực trong việc xác lập
thực hiện quyền và nghĩa vụ sẽ bị coi là có lỗi và phải chịu hậu quả bất lợi do sự thiếu
thiện chí, thiếu trung thực gây ra.
20
Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, tập I, NXB. Tư Pháp, tr. 52.
16
Ngoài ra, từ xưa đến nay bản chất của việc dân sự chính là tùy thuộc ở đơi bên
nên tinh thần hợp tác, phối hợp và phụ thuộc lẫn nhau rất quan trọng. Các bên trong
quan hệ dân sự cần sự thiện chí và trung thực để các giao dịch dân sự đạt hiệu quả.
Do đó, khi xây dựng các BLDS, tinh thần thiện chí và trung trực đã được phát triển
thành một trong những nguyên tắc cơ bản. Các “cá nhân, pháp nhân phải xác lập,
thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung
thực”21. Đây là một trong các nguyên tắc cốt lõi của pháp luật nói chung và pháp luật
dân sự nói riêng. Nguyên tắc này sẽ chi phối mọi hành vi hoạt động của các chủ thể
trong quan hệ dân sự, đòi hỏi sự tuân thủ tuyệt đối và nếu các chủ thể có vi phạm
nguyên tắc này sẽ phải gánh chịu hậu quả bất lợi.
Thiện chí là từ ngữ ám chỉ lịng nhiệt tình, chân thành và ý định tốt đẹp của con
người trong các hoạt động hằng ngày như giao tiếp, hợp tác và kinh doanh. Trung
thực là một khía cạnh đạo đức, diễn tả sự ngay thẳng, thật thà, khơng lừa dối, khơng
bóp méo sự thật22. Khái niệm thiện chí và trung thực cịn được sử dụng khá thường
xuyên trong các bản hợp đồng, quy định pháp luật liên quan đến việc thực hiện các
giao dịch. Điều này chứng minh tầm quan trọng của nguyên tắc này trong đời sống
hằng ngày với mục đích duy trì sự ổn định của xã hội. Khi các nhà soạn thảo quyết
định bổ sung quy định bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu
thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn
chế thiệt hại trở thành ngun tắc BTTH cũng chính là để cụ thể hóa nguyên tắc cơ
bản của pháp luật dân sự nói trên.
Theo nguyên tắc thiện chí, các bên khi tham gia mọi giao dịch đều phải hỗ trợ,
giúp đỡ và tạo điều kiện cho bên còn lại thực hiện tốt nghĩa vụ. Do vậy, khi người bị
thiệt hại có khả năng phịng ngừa, hạn chế thiệt hại mà lại khơng có hành vi nào để
nhằm mục đích giảm thiểu thiệt hại nghĩa là họ đã khơng thiện chí. Ngun tắc thiện
chí sẽ không chấp nhận cho bên bị vi phạm nhận được các khoản bồi thường dựa trên
những thiệt hại mà họ có thể tránh được23. Do đó, bên bị thiệt thiệt hại sẽ phải chịu
trách nhiệm đối với phần thiệt hại này và sẽ không được bồi thường.
Tuy nhiên, nguyên tắc thiện chí cũng u cầu bên có nghĩa vụ cũng phải tích
cực giảm thiểu các hạn chế, khơng được lợi dụng sự thiện chí khi khắc phục thiệt hại
của bên bị thiệt hại để không thực hiện nghĩa vụ của mình. Như vậy, ngun tắc thiện
chí chính là nền tảng vững chắc cho nguyên tắc BTTH nói trên được hiện thực hóa
trong BLDS năm 2015. Đồng thời khi áp dụng nguyên tắc bồi thường này, nhằm
Khoản 3 Điều 3 BLDS năm 2015.
Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB. Từ điển Bách khoa và
NXB. Tư Pháp, tr. 756.
23
Hans Stoll & Georg Gruber, “Article 77”, Commentary on the UN Convention on the International Sale of
Goods (CISG), second edition, Oxford University Press, NewYork, 2005.
21
22
17
tránh trường hợp bên gây thiệt hại sẽ căn cứ vào việc phải áp dụng các biện pháp hạn
chế thiệt hại mà để mặc cho bên bị thiệt hại phải tự khắc phục hạn chế hậu quả thì
các cơ quan thực thi pháp luật phải xem xét đến hoàn cảnh của bên có quyền lợi bị
xâm phạm. Đồng thời các bối cảnh khi xảy ra thiệt hại cũng cần được xem xét kỹ
lưỡng sao cho nghĩa vụ hạn chế thiệt hại này được đưa ra hợp lý với khả năng của
bên bị vi phạm.
Bên cạnh việc quy định trực tiếp, ngun tắc thiện chí cịn chi phối việc BTTH
khi người bị thiệt hại không áp dụng các biện pháp để hạn chế thiệt hại thông qua
việc khi xác định thiệt hại. Cụ thể, phần “chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và
khắc phục thiệt hại” được quy định tại khoản 3 Điều 589, Điều 592 của BLDS năm
2015 là một thành tố quan trọng trong các thiệt hại được bồi thường. Thành tố này sẽ
khuyến khích người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm tích cực, thiện chí để
ngăn chặn và giảm thiểu thiệt hại xảy ra.
Từ các lý lẽ trên, ta có thể nhận thấy nguyên tắc trung thực thiện chí chính là
một trong những nền tảng quan trọng để xây dựng nên nguyên tắc BTTH trong trường
hợp người bị thiệt hại không áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, hạn chế
thiệt hại.
1.3.2. Xây dựng trên cơ sở bồi thường thiệt hại trong hợp đồng
Trách nhiệm BTTH trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng. Đặc điểm của loại trách
nhiệm này là giữa bên chịu trách nhiệm và bên bị thiệt hại có quan hệ hợp đồng và
thiệt hại phải do hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra.
Tại Điều 385 BLDS năm 2015 đã định nghĩa “hợp đồng là sự thỏa thuận giữa
các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Từ định
nghĩa này ta có thể nhận thấy khi ký kết hợp đồng thì các bên đã tự nguyện thỏa thuận,
xác lập sự ràng buộc pháp lý giữa các chủ thể với nhau về quyền và nghĩa vụ nhằm
đáp ứng hiệu quả lợi ích hợp pháp của các bên24. Hơn nữa, hợp đồng cịn được xem
như cơng cụ để san sẻ lợi ích và rủi ro giữa các bên. Do đó, khi các bên chấp nhận
giao kết hợp đồng với nhau sẽ phát sinh nghĩa vụ tuân thủ đúng những thỏa thuận
trong hợp đồng vì mục tiêu có lợi chung cho các bên. Nếu một bên có các hành vi
khơng đúng với thỏa thuận trong hợp đồng thì sẽ phát sinh thiệt hại cho bên còn lại.
Khi này, để bảo đảm quyền lợi cho bên bị vi phạm, trách nhiệm BTTH sẽ được đặt
ra cho bên đã có hành vi vi phạm hợp đồng.
Xuất phát từ sự tự nguyện thỏa thuận, hỗ trợ giúp đỡ nhau giữa các bên nên
trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu xảy ra các nguy cơ xảy ra thiệt hại hoặc có
24
Bùi Thị Thanh Hằng, BTTH do vi phạm hợp đồng, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.14.
18
thiệt hại phát sinh thì bên bị thiệt hại phải có trách nhiệm hạn chế thiệt hại xảy ra.
Trách nhiệm này đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật quốc tế cũng như
pháp luật của các quốc gia phát triển.
Tại Điều 77 của CISG năm 1980, “bên viện dẫn hành vi vi phạm hợp đồng phải
áp dụng các biện pháp hợp lý tùy thuộc từng trường hợp cụ thể để hạn chế thiệt hại
bao gồm cả các khoản lợi bị mất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra”. Bên bị thiệt
hại có tồn quyền để quyết định mình có thực hiện các biện pháp nhằm ngăn ngừa và
hạn chế thiệt hại xảy ra trên thực tế hay không. Quy định hạn chế thiệt hại trong CISG
năm 1980 sẽ không rập khuôn áp trách nhiệm hạn chế tổn thất lên bên bị thiệt hại.
Trong trường hợp này, các nhà soạn thảo sẽ cho phép loại bỏ yêu cầu BTTH đối với
những thiệt hại mà bên bị thiệt hại có thể hạn chế được.
Nguyên tắc hạn chế thiệt hại của người bị thiệt cũng được quy định tại Điều
7.4.8 UPICC như sau “Bên không thực hiện hợp đồng không phải chịu trách nhiệm
bồi thường đối với những thiệt hại mà bên bị thiệt hại lẽ ra phải hạn chế được bằng
những biện pháp hợp lý”. Ý nghĩa của Điều 7.4.8 là ngăn chặn việc bên bị thiệt hại
không hành động và trông chờ BTTH trong khi những thiệt hại này có thể tránh được
hoặc khắc phục được. Đồng thời các biện pháp ngăn chặn, hạn chế thiệt của bên bị
thiệt lại một lần nữa được nhắc đến trong Điều 9:505 Bộ nguyên tắc của luật hợp
đồng châu Âu (PECL).
Tại Việt Nam, LTM năm 2005 cũng tiếp thu các văn bản pháp luật quốc tế trong
lĩnh vực thương mại để trở thành văn bản đầu tiên quy định minh thị nghĩa vụ hạn
chế tổn thất của bên bị thiệt hại. Cụ thể, bên yêu cầu BTTH phải áp dụng các biện
pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được
hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra.
Nhìn chung, quy định về hạn chế thiệt hại của các văn bản pháp luật quốc tế
trong lĩnh vực hợp đồng là tương đối đầy đủ và là kim chỉ nam cho các văn bản pháp
luật dân sự tại Việt Nam. Quy định áp dụng các biện pháp hợp lý nhằm ngăn chặn,
hạn chế thiệt hại rất thiết thực, giúp pháp luật Việt Nam tiếp cận gần hơn với xu thế
thương mại toàn cầu. Bởi, các nhà lập pháp đã chính thức nhìn nhận việc BTTH sẽ
trở nên bất hợp lý khi bên có quyền đã để mặc cho thiệt hại xảy ra mà lẽ ra những
thiệt hại này có thể được giảm bớt hoặc triệt tiêu nếu được áp dụng các biện pháp cần
thiết và hợp lý kịp thời.
1.3.3. Xây dựng trên cơ sở bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trong lĩnh vực BTTH ngoài hợp đồng, nguyên tắc hạn chế thiệt hại của người
bị thiệt hại Việt Nam là một vấn đề không mới nhưng đến BLDS năm 2015 mới được
luật hóa thành một điều khoản cụ thể. Trong khi đó, một quốc gia thuộc hệ thống
thơng luật như Thụy Sỹ đã ghi nhận trách nhiệm đối với người bị thiệt hại đã được
19
quy định trong BLDS từ lâu25. Cụ thể, tại điều 44 của bộ luật này ghi nhận “Thẩm
phán có thể giảm tiền bồi thường hoặc không cấp tiền bồi thường, khi những hành
động mà bên bị tổn thất phải chịu trách nhiệm đã góp phần tạo ra thiệt hại, gia tăng
thiệt hại, hoặc rằng hành động đã tăng nặng tình trạng của con nợ”.26
Quy định hạn chế tổn thất tại các quốc gia Thông luật là rất phát triển đặc biệt
là Anh và Mỹ. Cụ thể, pháp luật dân sự các nước này không chấp nhận cho người yêu
cầu bồi thường đối với thiệt hại mà họ đáng ra không phải chịu nếu họ đã áp dụng
những biện pháp hợp lý để hạn chế mất mát. Đồng thời trong Luật tố tụng của các
nước này cũng đòi hỏi người khởi kiện phải tiến hành các biện pháp hợp lý để thiệt
hại mà họ yêu cầu bồi thường được giữ ở mức thấp nhất. Đây là sự chuyển giao và
áp dụng có chọn lọc từ BTTH trong lĩnh vực hợp đồng của họ và “được chấp nhận
tương tự trong lĩnh vực BTTH ngoài hợp đồng” tại các quốc gia này27.
Đối với Pháp, trong một khoảng thời gian dài nguyên tắc này không được ủng
hộ28. Theo quy định tại Điều 1382 của BLDS Pháp thì người gây thiệt hại phải bồi
thường tồn bộ thiệt hại và nạn nhân không bị ràng buộc để hạn chế thiệt hại của
mình vì lợi ích của người có trách nhiệm bồi thường29. Tịa án cấp giám đốc thẩm của
Pháp trong một vụ án30 đã không chấp nhận các lập luận trong học thuyết ủng hộ
giảm nhẹ trách nhiệm của bên gây thiệt hại hay nghĩa vụ của nạn nhân trong việc hạn
chế thiệt hại xảy ra cho mình. Tuy nhiên, hiện nay nét đặc trưng về hạn chế thiệt hại
của hệ thống thông Luật cũng đã được các quốc gia châu Âu lục địa tiếp thu và phát
triển trở thành một trong những trụ cột của lex mercatoria - một trong những nguyên
tắc được xây dựng vững chắc nhất31. Ý tưởng ghi nhận nghĩa vụ hạn chế thiệt hại của
bên có quyền đã từng được phát xem xét trong dự án cải cách luật của Pháp với nội
dung tương tự nội dung được ghi nhận trong CISG năm 1980, UPICC32. Các nhà lập
Đỗ Văn Đại (2018), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án (tập
1) (Sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ 4), NXB. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 223.
26
Dẫn theo Đoàn Nguyễn Phú Cường, Nguyễn Thị Hoa Cúc (2021), Một số vấn đề về bồi thường thiệt hại
trong hợp đồng theo pháp luật Việt Nam, luật một số nước châu Âu và cơng ước quốc tế, Tạp chí Nhân lực
Khoa học xã hội, tr.14.
27
Đỗ Văn Đại (2018), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án (tập
1) (Sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ 4), NXB. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 226.
28
Hugues Adida Canac (2012). “Mitigation of damage”: une porte entrouverte, Recueil Dalloz, tr.141
29
Dẫn theo Huỳnh Thị Nam Hải, Hoàng Thị Hường (2021), “Nghĩa vụ hạn chế thiệt hại của người bị thiệt hại
và góp ý dự thảo Nghị quyết hướng dẫn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng”, Tạp chí Tịa án
Nhân dân điện tử, xem tại: truy cập lần cuối ngày
23/4/2023.
30
Xem thêm Đỗ Văn Đại (2009) “Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: trách nhiệm hạn chế thiệt hại (bản án
và bình luận bản án)”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, số 6/2009, tr. 37.
31
Đỗ Văn Đại (2018), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án (tập
1) (Sách chuyên khảo, xuất bản lần thứ 4), NXB. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.224.
32
Jean Baptiste Racine, Laura Sautonie-Laguionie, Aline Tenenbaum and Guillaume Wicker (2008). European
Contract Law - Materials for a Common Frame of Reference: Terminology, Guiding Principles, Model Rules,
Sellier - European law publishers., tr. 274.
25