BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
HUỲNH LÊ PHƯƠNG NGHI
BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU BẰNG BIỆN PHÁP
ĐÒI LẠI TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT DÂN
SỰ VIỆT NAM
KHĨA LUẬN CHUN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
HUỲNH LÊ PHƯƠNG NGHI
BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU BẰNG BIỆN PHÁP
ĐÒI LẠI TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT DÂN
SỰ VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: Th.S ĐẶNG LÊ PHƯƠNG UYÊN
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan rằng tồn bộ nội dung khóa luận “Bảo vệ quyền sở hữu bằng
biện pháp đòi lại tài sản theo pháp luật Dân sự Việt Nam” là kết quả của quá trình
tổng hợp và nghiên cứu của bản thân, dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Đặng
Lê Phương Uyên. Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã được
nêu rõ trong phần trích dẫn tài liệu tham khảo. Các thơng tin được nêu trong khóa
luận là trung thực và hồn tồn chính xác, đúng sự thật.
Tác giả
Huỳnh Lê Phương Nghi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
TỪ VIẾT TẮT
1.
BLDS
Chỉ thị 772/CT-
TỪ ĐƯỢC VIẾT TẮT
Bộ luật Dân sự
Chỉ thị số 772/CT-TATC của Tòa án nhân dân tối
TATC
cao ngày 10 tháng 7 năm 1959 về việc đình chỉ
áp dụng pháp luật cũ của phong kiến đế quốc
3.
DNTN
Doanh nghiệp tư nhân
4.
HĐTP
Hội đồng thẩm phán
5.
HĐXX
Hội đồng xét xử
6.
Nghị định
62/2017/ NĐ-CP
2.
7.
8.
9.
Nghị định 63/NĐCP
Nghị định 01/NĐCP
Sắc lệnh 47/SL
Nghị định số 62/CP ngày 16 tháng 5 năm 2017 của
Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật Đấu giá tài sản
Nghị định số 63/CP ngày 18 tháng 8 năm 1995
của Chính phủ về quyền sở hữu và sử dụng đất
đai
Nghị định số 01/CP ngày 3 tháng 1 năm 1995
của Chính phủ quy định về quyền sở hữu tài sản
khác
Sắc lệnh của Chủ tịch chính phủ lâm thời số 47
ngày 10 tháng 10 năm 1945 quy định về việc cho
phép tạm thời sử dụng một số luật lệ cũ hiện hành
ở ba miền Bắc, Trung, Nam.
10.
Sắc lệnh
97/SL
Sắc lệnh của Chủ tịch chính phủ nước Việt Nam
Dân chủ cộng hòa số 97/SL ngày 22 tháng 5 năm
1950 quy định về việc sửa đổi một số quy lệ và chế
định trong dân luật
11.
12.
TAND
Thơng tư
01/2012/TTNHNN
Tịa án nhân dân
Thơng tư số 01/2012/TT-NHNN của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam ngày 16 tháng 02 năm 2012
quy định về việc chiết khấu giấy tờ có giá của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức
tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu ............................................................................................ 2
3. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................................... 4
4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................... 4
5. Bố cục đề tài ........................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU BẰNG
BIỆN PHÁP ĐÒI LẠI TÀI SẢN ............................................................................. 6
1.1. Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp đòi lại tài sản .................... 6
1.1.1. Khái niệm quyền sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu ................................................. 6
1.1.2. Khái niệm biện pháp đòi lại tài sản .................................................................. 7
1.2. Đặc điểm của việc bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp đòi lại tài
sản ............................................................................................................................... 8
1.3. Quy định về bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp đòi lại tài sản theo pháp
luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ ................................................................... 14
1.3.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 ........................................ 14
1.3.2. Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước ngày
01/01/2017................................................................................................................. 18
1.4. Quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp
đòi lại tài sản ............................................................................................................ 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................ 33
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU
BẰNG BIỆN PHÁP ĐÒI LẠI TÀI SẢN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HỒN
THIỆN ...................................................................................................................... 34
2.1. Chủ thể có quyền địi lại tài sản ...................................................................... 34
2.2. Chủ thể bị đòi lại tài sản .................................................................................. 39
2.3. Điều kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình ................................ 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................ 56
KẾT LUẬN CHUNG .............................................................................................. 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 58
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bảo vệ quyền sở hữu là một trong những vấn đề quan trọng trong thực tiễn
xã hội ngày nay. Đối với công dân quyền sở hữu là một trong những quyền dân sự
cơ bản và được pháp luật bảo vệ. Bằng nhiều hình thức khác nhau, pháp luật cho
phép các chủ thể có thể tự bảo vệ quyền sở hữu của mình hoặc có thể yêu cầu cơ
quan nhà nước bảo vệ quyền sở hữu của mình khi có hành vi xâm phạm quyền sở
hữu. Vì vai trị quan trọng của quyền sở hữu trong đời sống kinh tế - xã hội và tính
đa dạng, phức tạp của các quan hệ về tài sản nên tranh chấp về quyền sở hữu luôn
là vấn đề phức tạp trong đời sống xã hội và trong xét xử của tòa án. Hàng năm, tòa
án các cấp phải hịa giải hàng nghìn vụ án tranh chấp tài sản, trong đó có một số
lượng lớn các vụ kiện đòi lại tài sản của chủ sở hữu tài sản đối với người chiếm
hữu, sử dụng tài sản khơng có căn cứ pháp luật.
Bộ luật Dân sự năm 1995 đã bước đầu có những quy định cụ thể về biện
pháp đòi lại tài sản, đây được coi là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án các cấp
giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu nói chung, và đặc biệt là tranh chấp về
vấn đề đòi lại tài sản nói riêng. Trong q trình thi hành Bộ luật Dân sự năm 1995
đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết cần sửa đổi, bổ sung, đó là lý do Bộ luật Dân sự năm
2005 ra đời. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quy định của Bộ luật Dân
sự năm 2005 về khởi kiện đòi lại tài sản vẫn còn những thiếu sót, bất cập dẫn đến
trong thực tiễn áp dụng còn nhiều vướng mắc, kéo dài thời gian tố tụng, đặc biệt
là những vụ việc liên quan đến quyền sử dụng đất. Nên để đáp ứng được yêu cầu
thực tiễn, cũng như khắc phục được những hạn chế, bất cập đối với vấn đề bảo vệ
quyền sở hữu bằng biện pháp địi lại tài sản thì Bộ luật Dân sự năm 2015 đã được
ra đời với những điểm mới và tiến bộ. Mặc dù vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 vẫn
còn mang những khuyết điểm, hạn chế khi áp dụng vào thực tiễn giải quyết tranh
chấp, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia vào
tranh chấp dân sự. Ví dụ như nội dung của các quy định cịn khó hiểu, có thể gây
ra nhiều cách hiểu khác nhau, chưa thể bao hàm được hết các trường hợp có thể
xảy ra trên thực tiễn, chưa thống nhất, đồng bộ các quy định về cùng một vấn đề.
Để góp phần hồn thiện các quy định của pháp luật về biện pháp đòi lại tài
sản và nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế, cần nghiên cứu, hoàn thiện các quy
định của pháp luật có liên quan đến các quy định về biện pháp đòi lại tài sản là rất
cần thiết.
2
Với ý nghĩa đó, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Bảo vệ quyền sở hữu
bằng biện pháp đòi lại tài sản theo pháp luật dân sự Việt Nam” làm đề tài khóa
luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến pháp luật tài sản nói chung và pháp
luật bảo vệ quyền tài sản nói riêng trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Các
cơng trình nghiên cứu đã cơng bố về vấn đề này rất phong phú và đa dạng. Bên
cạnh đó cịn có một số tài liệu tuy khơng nghiên cứu trực tiếp về bảo vệ quyền sở
hữu bằng biện pháp đòi lại tài sản theo pháp luật Dân sự Việt Nam, tuy nhiên các
tài liệu này vẫn là nguồn tham khảo cho bài nghiên cứu của tác giả. Một số nghiên
cứu cụ thể bao gồm:
Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về tài
sản, quyền sở hữu và thừa kế, Lê Minh Hùng, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt
Nam, nguồn tài liệu này cung cấp cho tác giả kiến thức lý luận về biện pháp đòi
lại tài sản và các đặc điểm cơ bản của biện pháp đòi lại tài sản, hậu quả pháp lý
sau khi biện pháp đòi lại tài sản được áp dụng nhằm bảo vệ quyền sở hữu. Đây là
nền tảng để tác giả sâu hơn về các vấn đề cơ bản.
Hồng Thế Liên (2008), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005, tập
1, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Sách chuyên khảo này tuy không trực tiếp các
vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp đòi lại tài sản nhưng đối
tượng nghiên cứu của tác giả cũng là tài sản (trong đó có tiền là một loại tài sản có
thể trở thành đối tượng của biện pháp đòi lại tài sản), nên tài liệu này giúp tác giả
nhận biết được tiền trong giai đoạn nào sẽ là tài sản riêng biệt, tiền trong giai đoạn
nào thì được gọi là vật.
Đinh Thị Tâm (2012), “Kiện đòi lại tài sản - Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội. Trong phạm vi bài
luận văn, tác giả đã tập trung nghiên cứu các khía cạnh lý luận và thực tiễn về các
quy định pháp luật liên quan đến quy định về biện pháp đòi lại tài sản nhằm bảo
vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu và người chiếm hữu hợp pháp trong phạm vi pháp
luật Việt Nam. Từ đó, đưa ra được những hạn chế và bất cập trong các quy định
của pháp luật Dân sự Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu thêm quy định của nước
ngồi liên quan đến vấn đề này, đưa ra được những kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật. Bài nghiên cứu cũng đã giúp tác giả có các thơng tin liên quan đến việc
3
pháp luật Việt Nam đã quy định như thế nào về vấn đề bảo vệ quyền sở hữu bằng
biện pháp đòi lại tài sản.
Tống Thị Hương (2014), “Bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật Dân sự Việt
Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội khoa Luật. Luận văn
đã khái quát hóa đặc trưng của bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật Việt Nam trên
các đặc điểm về mục đích bảo vệ, chủ thể thực hiện biện pháp, chủ thể đối kháng,
thời điểm thực hiện biện pháp... Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra được ưu điểm mà
bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật dân sự mang lại cho chủ sở hữu, người chiếm
hữu hợp pháp. Từ đó, có những đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện quy định pháp
luật dân sự liên quan đến vấn đề bảo vệ quyền sở hữu, cũng như nâng cao khả năng
bảo vệ quyền sở hữu trên thực tiễn.
Bùi Đăng Hiếu (2005), Tiền – Một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân
sự, Tạp chí Luật học số 1. Tác giả đã tập trung nghiên cứu một số vấn đề pháp lý
cơ bản của tiền. Đây là một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự. Theo pháp
luật dân sự Việt Nam thì tiền là một loại tài sản riêng biệt. Thông qua tài liệu, tác
giả đã sử dụng đặc điểm tiền có tính năng đặc biệt, từ đó phân tích các trường hợp
để đi đến kết luận tiền có thể hoặc khơng trở thành đối tượng của biện pháp đòi lại
tài sản.
Vũ Thị Hồng Yên, “Khái niệm tài sản trong pháp luật dân sự và kiến nghị
sửa
đổi
Bộ
luật
Dân
sự
năm
2005”, />[ngày
06/3/2023]. Tác giả đã tập trung nghiên cứu các khái niệm về tài sản trong pháp
luật dân sự, đưa ra các kiến nghị nhằm sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Thông qua tài liệu, tác giả đã sử dụng khái niệm về tài sản để làm rõ thêm loại tài
sản nào sẽ được áp dụng biện pháp đòi lại tài sản nhằm bảo vệ quyền sở hữu khi
có hành vi xâm phạm xảy ra trên thực tế.
Nguyễn Hữu Huyên – Song Huy, “Bảo vệ quyền sở hữu –
nhìn từ góc độ luật so sánh”, [ngày 06/03/2023]. Trong bài viết này, nhóm tác giả tiếp
cận vấn đề theo phương pháp đánh giá tính khả thi của các quy định, chế định về
bảo vệ quyền sở hữu trong thời gian qua, đồng thời đặt nó trong mối tương quan
so sánh với pháp luật của các nước tiêu biểu cho các hệ thống luật khác nhau trên
thế giới, để từ đó rút ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm phục vụ cho việc sửa đổi,
bổ sung BLDS 2005.
4
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của khóa luận tốt nghiệp, tác giả chủ yếu tập trung nghiên
cứu một số vấn đề lý luận chung liên quan đến biện pháp đòi lại tài sản nhằm bảo
vệ quyền sở hữu, từ đó đi sâu phân tích các quy định của pháp luật về biện pháp
này và việc áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước trong việc giải quyết tranh
chấp trong việc đòi lại tài sản. Và quy định của pháp luật một số nước trên thế giới
về vấn đề này. Từ đó chỉ ra những điểm chưa đồng bộ, chưa thống nhất, còn bất
cập của các quy định pháp luật, đồng thời đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện
các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về biện pháp đòi lại tài sản.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài hướng đến nghiên cứu các vấn đề nhằm góp phần đi sâu làm rõ các
vấn đề liên quan đến biện pháp đòi lại tài sản nhằm bảo vệ quyền sở hữu. Trong
mỗi chương, tác giả đưa ra làm sáng tỏ các vấn đề lớn từ góc độ lý luận, so sánh
đối chiếu các mối tương đồng của pháp luật các quốc gia trên thế giới để từ đó góp
phần hồn thiện pháp luật. Chính vì vậy, đề tài đã vận dụng các phương pháp
nghiên cứu khác nhau để phân tích, so sánh, đối chiếu, giải thích và đưa ra những
kết luận nhằm giúp người đọc hiểu rõ những vấn đề mà nhóm tác giả muốn hướng
tới, cụ thể như sau:
Phương pháp tổng hợp, tác giả sử dụng xuyên suốt nội dung đề tài nhằm
cung cấp đầy đủ, đồng thời chắt lọc các quy định pháp luật, từ đó rút ra những kết
luận chung nhất về biện pháp địi lại tài sản.
Phương pháp phân tích là phương pháp mà tác giả ln đặt lên vị trí ưu tiên
trong quá trình làm sáng tỏ vấn đề tác giả sử dụng phương pháp này để làm rõ
những quy định của pháp luật một cách chuyên sâu, phân tích quy định của pháp
luật nước ngoài nhằm đưa ra lý luận mang tính xác thực nhất.
Phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng thường xuyên bởi tính
xác thực của đề tài muốn hướng đến là cách nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện
nhất. Khi làm sáng tỏ đề tài, tác giả luôn đặt vấn đề ở hướng so sánh giữa các quy
định pháp luật và giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật nước ngoài được thể hiện
cụ thể ở trong nội dung của Chương 2, cùng các phương pháp khác đưa ra nhìn
nhận đa chiều về vấn đề hướng đến.
Ngồi ra cịn một số phương pháp khác để bổ trợ thêm: phương pháp hệ
thống, phương pháp xã hội học, phương pháp giải thích pháp luật… Tất cả các
phương pháp này được tác giả sử dụng hỗ trợ xen lẫn, qua lại với nhau, mục đích
5
là để làm sáng tỏ những vấn đề cụ thể trong mỗi chương và liên kết những chương
lại với nhau thành một đề tài trọn vẹn nhất.
5. Bố cục đề tài
Ngoài phầ n mở đầ u, kế t luâ ̣n, danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo, đề tài gồ m 2
chương:
Chương 1. Những vấ n đề chung về bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp đòi
lại tài sản.
Chương 2. Thực tiễn áp dụng quy định bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp
đòi lại tài sản và một số kiến nghị hoàn thiện.
6
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU
BẰNG BIỆN PHÁP ĐÒI LẠI TÀI SẢN
Thực tế ngày nay, đã xuất hiện thêm nhiều hành vi nhằm xâm phạm quyền
sở hữu, các hành vi này diễn ra rất đa dạng, tinh vi, với nhiều hình thức khác nhau.
Chính vì thực tiễn như vậy, BLDS năm 2015 đã có những quy định cụ thể nhằm
bảo vệ quyền sở hữu. Tuy nhiên những quy định này hiện nay vẫn còn một số bất
cập, hạn chế, cũng như chưa giải quyết được triệt để các trường hợp trên thực tế
đặc biệt là vấn đề bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp đòi lại tài sản. Trong nội
dung Chương 1, tác giả sẽ tập trung phân tích những khía cạnh cơ bản nhất về
quyền sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu, tài sản, đòi lại tài sản, làm rõ và hiểu rõ về các
vấn đề này trước khi đào sâu phân tích các khía cạnh của các cơ sở pháp lý liên
quan, tham khảo pháp luật nước ngoài cũng như đưa ra quan điểm của tác giả về
vấn đề này.
1.1. Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp đòi lại tài sản
1.1.1. Khái niệm quyền sở hữu, bảo vệ quyền sở hữu
(i) Khái niệm quyền sở hữu
Theo từ điển Tiếng Việt, quyền sở hữu được hiểu là “Quyền chiếm hữu, sử
dụng và định đoạt đối với tài sản của mình”. Quyền sở hữu là quyền của duy nhất
chủ sở hữu đối với tài sản; quyền sở hữu là quyền tổng hợp của các quyền năng cụ
thể đối với tài sản, đó là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt1.
Còn theo quy định tại Điều 158 BLDS năm 2015 thì BLDS đã đưa ra một
định nghĩa về quyền sở hữu bằng cách liệt kê những nội dung của quyền sở hữu
và chủ thể của quyền này. Đây có thể xem là một phương pháp lập pháp rất riêng
của Việt Nam, vì qua nghiên cứu luật dân sự của các nước trên thế giới, tác giả
thấy họ không đưa ra khái niệm về quyền sở hữu trong BLDS, mà khái niệm này
chỉ tồn tại trong khoa học luật.2
Và với quy định theo Điều 158 BLDS năm 2015 thì nếu chủ thể chỉ có một
hoặc hai quyền nêu trên sẽ không được công nhận là chủ sở hữu đầy đủ của tài sản,
lúc này họ có thể là chủ sở hữu giảm thiểu do đã chuyển quyền chiếm hữu, quyền
sử dụng cho người khác (như quyền hưởng dụng…). Ngoài ra, trường hợp chủ thể
Từ
điển
Tiếng
Việt,
[ngày 05/03/2023].
2
Nguyễn Hữu Huyên – Song Huy, “Bảo vệ quyền sở hữu – nhìn từ góc độ luật so sánh”,
[ngày 06/03/2023].
1
7
chỉ có một hoặc hai quyền theo Điều 158 cịn có thể được gọi là chủ thể quyền
khác đối với tài sản theo quy định tại Điều 159 của BLDS năm 2015 (Quyền khác
đối với tài sản là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phối tài sản thuộc quyền
sở hữu của chủ thể khác)3.
(ii) Khái niệm bảo vệ quyền sở hữu
Bảo vệ quyền sở hữu là vấn đề vơ cùng thiết thực, có ý nghĩa quan trọng
trong đời sống kinh tế, xã hội ngày nay. Ngay từ thuở ban sơ, những ngày đầu xã
hội nguyên thủy, loài người đã biết chiếm giữ các sản vật tự nhiên để đáp ứng cho
nhu cầu của mình. Khi chế độ tư hữu trong xã hội bắt đầu xuất hiện, đặc biệt là tư
hữu về tư liệu sản xuất thì con người cũng ngày càng có ý thức hơn trong việc
chiếm hữu, sử dụng và bảo vệ những thứ gọi là tài sản của chính mình.
Theo Từ điển tiếng Việt thì “bảo vệ” là chống lại mọi sự xâm phạm để giữ
cho luôn được nguyên vẹn4. Bảo vệ quyền sở hữu được hiểu là sự tác động của
pháp luật đến xử sự của con người, nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi
xâm hại đến quyền sở hữu, giữ cho quyền sở hữu được nguyên vẹn. Nhà nước bảo
vệ quyền sở hữu thông qua các phương thức điều chỉnh khác nhau. Phương thức
điều chỉnh là cách thức, biện pháp mà Nhà nước sử dụng để bảo vệ chủ sở hữu
khỏi những hành vi xâm phạm quyền sở hữu, khắc phục những thiệt hại cho chủ
sở hữu.
Pháp luật cho phép chủ sở hữu có thể tự thực hiện bất kỳ biện pháp nào mà
pháp luật khơng cấm và tương xứng với tính chất, mức độ xâm phạm quyền sở
hữu để bảo vệ quyền của mình trước các hành vi xâm hại. Hành vi tự bảo vệ quyền
sở hữu rất đa dạng, tuy nhiên hiệu quả mà các biện pháp này mang lại còn phải
phụ thuộc vào khả năng của chủ sở hữu. Trong trường hợp biện pháp tự bảo vệ
không hiệu quả thì chủ sở hữu có quyền u cầu tịa án, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành
vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu và yêu cầu bồi thường thiệt
hại5. Và tùy thuộc vào tính chất, mức độ, hành vi, trường hợp vi phạm cụ thể để
có phương thức kiện dân sự bảo vệ quyền sở hữu phù hợp.
1.1.2. Khái niệm biện pháp đòi lại tài sản
Theo Điều 159 BLDS năm 2015.
Từ
điển
Tiếng
Việt,
[ngày 05/03/2023].
5
Theo Điều 164 BLDS năm 2015.
3
4
8
Hiện nay, pháp luật vẫn được coi là công cụ nhạy bén và hiệu quả nhất để
quản lý xã hội, trong đó có bảo vệ quyền sở hữu. Nó đảm bảo rằng tất cả các quyền
tài sản được thực hiện một cách có trật tự và hiệu quả nhất. Trong đó, địi lại tài
sản là phương thức bảo vệ quyền sở hữu, theo đó chủ sở hữu, chủ thể có quyền
khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm những quyền
trên phải trả lại tài sản. Đòi lại tài sản là một trong những phương thức bảo vệ
quyền sở hữu rất hữu hiệu, bởi lẽ, phương thức này giúp chủ sở hữu, chủ thể có
quyền khác đối với tài sản khơi phục lại tồn bộ quyền của mình đối với tài sản
như trước khi xảy ra hành vi xâm phạm6.
Quyền đòi lại tài sản là quyền của chủ sở hữu có thể tự mình truy tìm và địi
lại tài sản hoặc u cầu cơ quan Tịa án có thẩm quyền buộc các chủ thể là người
có hành vi chiếm hữu khơng có căn cứ pháp luậtphải trả lại tài sản cho mình. Quyền
địi lại tài sản được BLDS năm 2015 quy định tại Điều 166 như sau: “Chủ sở hữu,
chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền địi lại tài sản từ người chiếm hữu,
người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản khơng có căn cứ pháp luật”. Tuy
nhiên, không phải trong mọi trường hợp chiếm hữu, sử dụng, được lợi về tài sản
khơng có căn cứ pháp luật đều phải hoàn trả tài sản. Một số trường hợp không phải
trả lại tài sản đã được BLDS năm 2015 quy định như: trường hợp người chiếm
hữu, người được lợi về tài sản khơng có căn cứ pháp luật đã được xác lập quyền
sở hữu theo thời hiệu được quy định tại Điều 236 BLDS năm 2015 hoặc các trường
hợp đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình được quy định tại Điều 167, Điều
168 BLDS năm 20157.
Tóm lại, bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp đòi lại tài sản được hiểu là
một cá nhân, pháp nhân, cụ thể là chủ sở hữu tài sản được pháp luật quy định cho
phép có quyền tự bảo vệ hoặc ngăn chặn người khác xâm phạm quyền sở hữu của
mình bằng các hình thức như tự mình truy tìm và đòi lại tài sản hoặc yêu cầu cơ
quan Tòa án có thẩm quyền buộc các chủ thể là người có hành vi chiếm hữu khơng
có căn cứ pháp luật phải trả lại tài sản cho mình. Từ đó ngăn ngừa những hành vi
xâm hại đến quyền sở hữu của chủ sở hữu tài sản.
1.2.
Đặc điểm của việc bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp đòi lại tài sản
Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế,
Lê Minh Hùng, Nxb.Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.360.
7
Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế,
Lê Minh Hùng, Nxb.Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.360, 361.
6
9
Đòi lại tài sản là một trong những biện pháp nhằm bảo vệ quyền sở hữu.
Trong đó sẽ bao gồm biện pháp chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản
tự truy tìm và địi lại tài sản; biện pháp kiện đòi lại tài sản. Biện pháp địi lại tài
sản có những đặc điểm sau đây:
Một là, đối tượng của biện pháp đòi lại tài sản phải xác định được và đang
tồn tại trên thực tế. Theo BLDS năm 2015, tại Điều 105 quy định khá cụ thể tài
sản là gì với cách thức liệt kê. Mặc dù vậy thì khơng phải tất cả những gì được liệt
kê tại Điều 105 BLDS năm 2015 đều trở thành đối tượng của biện pháp đòi lại tài
sản nhằm bảo vệ quyền sở hữu. Đối tượng được xác định là tài sản không chỉ bao
gồm những vật hiện hữu trong đời sống thực mà còn bao gồm cả những vật sẽ
được hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, đối tượng trong tranh chấp đòi lại tài
sản chỉ bao gồm vật được xác định và vẫn tồn tại trên thực tế. Đòi lại tài sản gắn
với việc bảo vệ quyền sở hữu cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài
sản nên khơng thể địi lại tài sản mà tài sản đó lại khơng thể xác định, chưa nằm
trong sự chiếm hữu.
Với các loại tài sản được liệt kê tại Điều 105 BLDS năm 2015 thì tiền được
pháp luật Việt Nam coi là một loại tài sản riêng biệt8. Xuất pháp từ tính chất cũng
như cơ chế pháp lý điều chỉnh mà tiền được xem là một loại tài sản riêng biệt. Khi
tiền bị chiếm hữu khơng có căn cứ pháp luật thì về mặt bản chất chủ sở hữu khơng
thể kiện địi lại tài sản thơng thường được mà thực chất là kiện yêu cầu bồi thường
thiệt hại. Giả sử, trường hợp một người trộm cắp tiền của người khác rồi dùng tiền
đó để mua tài sản thì người bị mất tiền khơng thể kiện địi lại tiền của mình từ
người đã bán tài sản được, nếu người bán tài sản đó là người khơng ngay tình thì
chủ sở hữu có thể kiện u cầu bồi thường thiệt hại. Chủ sở hữu chỉ có thể kiện
địi lại tiền (với tư cách là kiện đòi lại tài sản) trong trường hợp biết rõ số seri của
những tờ tiền đó mà hiện đang bị người khác chiếm hữu khơng có căn cứ pháp
luật. Đối với trường hợp tiền đã được bao gói niêm phong mà bị người khác chiếm
hữu trái pháp luật và hiện số tiền đó vẫn đang cịn ngun bao gói thì việc kiện
địi lại tài sản trong trường hợp này thực chất là kiện đòi lại tài sản là vật (một gói
tiền) chứ khơng hẳn là kiện đòi lại tiền. Do vậy, tùy từng trường hợp cụ thể mà
tiền có thể là đối tượng hoặc khơng phải là đối tượng của kiện đòi lại tài sản.9
Theo Điều 105 BLDS năm 2015.
Đinh Thị Tâm (2012), Kiện đòi lại tài sản - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật
học, trường Đại học Luật Hà Nội, tr.30, 31.
8
9
10
Theo pháp luật dân sự hiện hành, giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận
nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có
giá trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và những điều kiện khác10,
những loại giấy tờ có giá ghi danh và cấm chuyển nhượng khơng được coi là giấy
tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong giao lưu dân sự bởi lẽ, mất chúng
không phải là mất tiền, chúng chỉ đơn giản là những loại giấy tờ có giá trị minh
chứng cho quyền sử dụng, quyền yêu cầu, quyền định đoạt hay quyền sở hữu nói
chung mà thơi. Chỉ những giấy tờ có giá khơng ghi danh, có thể chuyển giao, cầm
cố, thế chấp... và mất nó coi như mất tiền mới được coi là giấy tờ có giá với tư
cách là một loại tài sản trong pháp luật dân sự.11 Giấy tờ có giá có thể là đối tượng
của quyền đòi lại tài sản.
Đối với “quyền tài sản” được quy định tại Điều 115 BLDS năm 2015 (Điều
181 BLDS năm 2005), đó là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản
đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản
khác. Đó có thể là quyền gắn liền với một tài sản hoặc quyển mà khi thực hiện nó,
chủ sở hữu sẽ có được tài sản. Trong hệ thống phân loại cơ bản về tài sản tại Điều
105 BLDS năm 2015 (Điều 163 BLDS năm 2005), khái niệm “quyền tài sản” được
xây dựng để đối lập, loại trừ khái niệm “vật”. Do vậy, có thể hiểu khái niệm “vật”
theo pháp luật dân sự Việt Nam phải là vật hữu hình. Đối lập với vật hữu hình,
quyền tài sản có thể được hiểu là vật vơ hình. Như vậy, theo luật dân sự Việt Nam,
quyền tài sản không bao gồm quyền sở hữu vật và các quyền tài sản như quyền sử
dụng đất, quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kể mang tính chất bất động sản
theo luật dân sự Việt Nam.12
Quyền tài sản là tài sản vơ hình và do đó, quyền tài sản đó khơng thể được
thực hiện như các tài sản hữu hình khác. Căn cứ vào đặc điểm của phương thức
đòi lại tài sản, quyền tài sản không phải là đối tượng của biện pháp địi lại tài sản
thơng thường. Khi quyền tài sản bị xâm phạm thì tùy theo tính chất, mức độ của
hành vi xâm phạm mà chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền
khởi kiện yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm hoặc khởi kiện yêu cầu bồi thường
thiệt hại.
Theo khoản 1 Điều 2 Thông tư 01/2012/TT- NHNN.
Nguyễn Thị Anh Thơ (2006), Giấy tờ có giá – Một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự, Luận
văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.18.
12
Nguyễn Thị Hằng (2010), Pháp luật đăng ký bất động sản của Việt Nam và Nhật Bản – Một số kiến nghị
hoàn thiện pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.8.
10
11
11
Tuy nhiên hiện nay, trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp, khi phải xác
định đối tượng của biện pháp địi lại tài sản thì gặp một số vấn đề vướng mắc trong
việc xác định các loại giấy tờ (Giấy tờ như giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà,
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy đăng ký xe máy…) có phải là tài sản
khơng. Và trong trường hợp quyền sở hữu, quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài
sản bị xâm phạm, thì tùy vào từng trường hợp cụ thể có thể áp dụng biện pháp địi
lại tài sản hoặc các biện pháp khác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở
hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản.
Tóm lại, theo định dạng về tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài
sản được quy định tại Điều 105 BLDS năm 2015 thì khi các loại tài sản này bị
chiếm hữu trái pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở
hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì tùy vào từng trường hợp nhất định,
những chủ thể này sẽ có quyền áp dụng biện pháp đòi lại tài sản theo quy định của
pháp luật. Và để áp dụng phương thức này thì trước tiên, tài sản đó phải xác định
được và đang còn tồn tại trên thực tế. Chỉ khi tài sản xác định được thì bên bị xâm
phạm mới có thể địi lại và bên xâm phạm mới có cơ sở để trả lại tài sản đó. Nếu
tài sản địi lại là vật thì đó là vật đặc định, tức là “vật phân biệt được với các vật
khác bằng những đặc điểm riêng về ký hiệu, hình dáng. màu sắc, chất liệu, đặc
tính, vị trí”13, ví dụ: tài sản địi lại là xe máy đã qua sử dụng thì phải xác định xe
đó là loại xe gì, mang nhãn hiệu nào, hình dáng, màu sắc, số khung, số máy... Nếu
đó là những loại tài sản khác thì cũng phải xác định được, ví dụ: tài sản địi lại là
quyền sử dụng đất (quyền tài sản) thì phải xác định được mảnh đất đó ở đâu, có
diện tích bao nhiêu, loại đất gì, tứ cận tiếp giáp... Đồng thời, tài sản phải đang cịn
tồn tại trên thực tế thì mới có thể áp dụng phương thức địi lại tài sản đó.
Trên thực tế, nhiều trường hợp có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền
khác đối với tài sản của các chủ thể nhưng tài sản đó khơng cịn trên thực tế nữa
như tài sản bị dịch chuyển, bị người khác xác lập quyền sở hữu, bị tiêu hủy hoặc
bị rời khỏi người chiếm hữu mà khơng tìm lại được... thì sẽ không thể áp dụng
phương thức này14. Đây là điều kiện quan trọng đối với phương thức địi lại tài
sản, vì chủ sở hữu áp dụng biện pháp đòi lại tài sản phải căn cứ vào những điểm
Theo khoản 2 Điều 113 BLDS năm 2015.
Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế,
Lê Minh Hùng, Nxb.Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.361.
13
14
12
nhận dạng tài sản của họ, là căn cứ quan trọng, bằng chứng xác thực để đòi lại
được tài sản đang bị chiếm hữu trái pháp luật bảo vệ quyền lợi cho họ.
Ngồi ra thì để áp dụng biện pháp địi lại tài sản thì tài sản đó phải đang
hiện cịn (cịn ngun tình trạng ban đầu hoặc về cơ bản là vẫn cịn nhưng có giảm
sút hoặc tăng lên về giá trị tài sản), nếu tài sản đã mất, khơng cịn nữa hoặc bị hủy
hoại thì khơng thể áp dụng biện pháp đòi lại tài sản. Lúc này, chủ sở hữu có quyền
áp dụng biện pháp kiện bồi thường thiệt hại.
Hai là, chủ thể có quyền địi lại tài sản. Trong phạm vi phân tích vấn đề bảo
vệ quyền sở hữu bằng biện pháp địi lại tài sản thì chủ thể có quyền địi lại tài sản
là chủ sở hữu – người mà có tài sản đang bị chủ thể khác chiếm hữu khơng có căn
cứ pháp luật mặc dù tài sản đó có thể được khơi phục lại tình trạng ban đầu, đó
chính xác là những gì chủ sở hữu mong muốn nhất. Để quyền chiếm hữu đối với
tài sản của chủ sở hữu được bảo vệ thì chủ sở hữu phải áp dụng biện pháp đòi lại
tài sản. Trong những trường hợp như vậy, chủ sở hữu có nghĩa vụ chứng minh
quyền sở hữu và chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản đang tranh chấp.
Ba là, đối với người bị địi lại tài sản thì điều quan trọng nhất đó là chủ thể
này phải là người đang thực tế chiếm hữu khơng có căn cứ pháp luật đối với tài
sản đang tranh chấp. Vì có nhiều trường hợp, chủ sở hữu phát hiện người chiếm
hữu tài sản của mình lúc trước là khơng có căn cứ pháp luật nhưng sau đó người
này đã trở thành chủ sở hữu của tài sản đó do được xác lập quyền sở hữu theo thời
hiệu hoặc xác lập quyền sở hữu theo các quy định khác của pháp luật. Và cũng có
trường hợp chủ sở hữu đã “địi nhầm người”, trường hợp này là người trực tiếp
xâm phạm đến quyền sở hữu (như lấy cắp, ăn trộm...) đã chuyển giao tài sản cho
một chủ thể khác, lúc này không thể áp dụng đòi lại tài sản.
Và trong biện pháp đòi lại tài sản có quy định trường hợp tự chủ sở hữu,
chủ thể có quyền khác đối với tài sản truy tìm, địi lại tài sản và kiện địi lại tài sản.
Hai biện pháp này được thực hiện bởi những chủ thể có quyền lực khác nhau vì
thế mà hai biện pháp này có những điểm khác biệt thể hiện thông qua các mặt như
sau:
Một là, cách thức xác định tình trạng tài sản. Để xác định tài sản hiện đang
cịn tồn tại hay khơng? Hiện giờ đang nằm trong sự quản lý, kiểm sốt, sử dụng
khơng có căn cứ pháp luật của người nào? Trong phương thức tự mình địi lại tài
sản thì: Chủ sở hữu sẽ thơng qua việc thu thập thông tin về tài sản như đăng thơng
tin tìm kiếm, nhờ người tìm hiểu… Người có quyền xác định được hiện ai là người
13
đang nắm giữ, quản lý, sử dụng tài sản của mình và tình trạng tài sản đang như thế
nào thì có thể thực hiện quyền địi lại tài sản. Cịn phương thức kiện địi tài sản thì
chủ sở hữu sẽ chuẩn bị đầy đủ các tài liệu, chứng cứ… chứng minh cho việc khởi
kiện của mình là có cơ sở. Và dựa trên những tài liệu, chứng cứ mà người khởi
kiện đưa ra thì Tịa án sẽ xem xét và nếu tài liệu, chứng cứ của người khởi kiện là
đúng thì sau đó các cơ quan nhà nước sẽ tiến hành các biện pháp nhằm buộc người
bị kiện phải trả lại tài sản cho người khởi kiện.
Hai là, xác định chủ thể đang thực tế giữ tài sản. Đối với phương thức truy
tìm và địi lại tài sản trong biện pháp tự bảo vệ vẫn cịn nhiều khó khăn nhất định
đối với chủ sở hữu của tài sản. Đó là trong khi truy tìm thơng tin về tài sản đang
bị thất lạc không phải lúc nào chủ sở hữu pháp cũng xác định đúng được tình trạng
tài sản của mình đang như thế nào và chủ thể nào đang nắm giữ, quản lý, sử dụng
tài sản của mình. Chưa kể đến việc chủ sở hữu cũng gặp khó khăn khi phải tìm các
biện pháp nhằm ngăn chặn hành vi chuyển giao, tẩu tán tài sản từ người chiếm hữu
khơng có căn cứ pháp luật15. Còn đối với phương thức kiện địi tài sản thì chủ sở
hữu khi cung cấp đầy đủ thơng tin, chứng cứ… cho Tịa án thì phần nào đó Tịa án
sẽ đảm bảo cho việc địi lại tài sản của chủ sở hữu được thực hiện, nếu tài sản đó
đã bị tẩu tán, hủy hoại… thì trong q trình tịa án giải quyết vụ án, người khởi
kiện có thể yêu cầu người bị kiện bồi thường thiệt hại cho mình, đảm bảo được
phần nào quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu.
Ba là hiệu quả mà phương thức tự đòi lại tài sản; phương thức kiện đòi lại
tài sản mang lại. Đồi với phương thức đòi lại tài sản trong biện pháp tự bảo vệ:
Chủ sở hữu pháp hoặc người được chủ sở hữu ủy quyền có thể gửi yêu cầu bằng
văn bản hoặc bằng miệng đến người bị yêu cầu với một biện pháp bảo đảm duy
nhất là sự tự nguyện trả tài sản từ người hành vi nắm giữ, quản lý, sử dụng tài sản
khơng có căn cứ pháp luật. Trong trường hợp này, chủ sở hữu có thể cho người có
hành vi xâm phạm quyền sở hữu biết nếu họ không trả lại tài sản thì họ có thể bị
kiện ra Tịa án. Cho dù vậy thì bảo đảm trả tài sản bằng sự tự nguyện hoặc cho
người xâm phạm biết họ có thể bị kiện ra Tịa nếu khơng trả lại tài sản không phải
là sự đảm bảo chắc chắn. Do đó, việc tự địi lại tài sản từ người chiếm hữu không
Tống Thị Hương (2014), “Bảo vệ quyền sở hữu theo pháp luật Dân sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật
học, Đại học quốc gia Hà Nội khoa Luật, tr.35.
15
14
có căn cứ pháp luật vẫn phụ thuộc vào sự thương lượng của đôi bên để tài sản được
trả lại nhanh hay chậm, giảm thiểu thiệt hại cho đôi bên.
Trong khi đối với phương thức kiện đòi tài sản, khi đã có quyết định của
Tịa án tun người bị kiện phải trả lại tài sản cho người khởi kiện, thì người bị
kiện buộc phải trả lại tài sản, và việc thi hành án sẽ được thực hiện dưới sự giám
sát của Cơ quan thi hành án, lúc này, việc đòi lại tài sản sẽ được đảm bảo bới các
cơ quan nhà nước, mang tính bắt buộc, mệnh lệnh. Do đó, việc quyền và lợi ích
hợp pháp của chủ thể bị hành vi xâm phạm quyền sở hữu xâm phạm đến trong
phương thức kiện đòi tài sản sẽ được đảm bảo hơn sơ với phương thức tự địi tài
sản.
Tóm lại, phương thức kiện đòi tài sản cũng như phương thức tự đòi lại tài
sản đã tạo điều kiện thuận lợi cho chủ sở hữu bảo vệ quyền sở hữu của mình trước
những hành vi xâm phạm quyền sở hữu của các chủ thể khác. Việc tự địi cũng có
một số ưu điểm nhất định so với kiện địi, ví dụ như tính ơn hịa, linh động, tiết
kiệm, khơng cần thơng qua thủ tục phức tạp... Tuy nhiên, vì những ưu điểm và tính
thực tế, cụ thể trong các tranh chấp địi lại tài sản thì chủ sở hữu sẽ quan tâm đến
việc liệu quyền lợi hợp pháp của mình có được bảo vệ hay khơng, chủ thể có hành
vi xâm phạm có bồi thường thích đáng với những thiệt hại mà họ phải gánh chịu
hay khơng mà phương thức kiện địi lại tài sản mang lại mà hiện nay phương thức
này được áp dụng một cách phổ biến và rộng rãi. Và phương thức kiện đòi lại tài
sản mang lại hiệu quả cao, tạo điều kiện khắc phục những thiệt hại về vật chất cho
chủ sở hữu.
1.3. Quy định về bảo vệ quyền sở hữu bằng biện pháp đòi lại tài sản theo
pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ
Trên thực tế, các quy định về bảo vệ quyền sở hữu, đặc biệt là biện pháp
đòi lại tài sản trong hệ thống pháp luật ở nước ta đã được hình thành từ rất sớm và
ngày một phát triển. Các quy định ở những thời kỳ sau sẽ kế thừa có chọn lọc tinh
hoa trong các quy định ở thời kỳ trước và khơng ngừng hồn thiện để đáp ứng điều
kiện kinh tế, xã hội trong thời kỳ mới.
1.3.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII là giai đoạn phát triển rực rỡ và dường như là
thời kỳ cực thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam, đó là giai đoạn trị vì của các
triều đại phong kiến Lý, Trần, Lê sơ và Nguyễn. Trong khoảng thời gian cai trị của
mình các triều đại phong kiến này đã để lại cho con cháu đời sau một kho tàng di
15
sản đồ sộ, từ khoa học đến văn học…và đặc biệt phải kể đến hệ thống pháp luật.
Khi nói đến pháp luật thì Bộ Luật Hồng Đức (hay cịn gọi là Quốc triều hình luật)
của nhà Lê sơ và bộ Hồng Việt luật lệ (hay cịn gọi là Bộ luật Gia Long) của nhà
Nguyễn được xem là tiêu biểu nhất trong thời kỳ phong kiến Việt Nam. Sau khi
thực dân Pháp đô hộ được nước ta (năm 1858), pháp luật Dân sự chịu ảnh hưởng
mạnh mẽ của BLDS Cộng hòa Pháp. Ngoại trừ những quy định mang tính lạc hậu
nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị thì pháp luật thời kỳ này
cũng mang nhiều điểm tiến bộ và phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn.
(i) Thời kỳ phong kiến
Trong quá trình trị vì và quản lý đất nước, nhà Lê đã tiến hành nhiều cuộc
cải cách lớn trong hầu hết các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, quân sự, và cả pháp
luật. Trong mỗi lĩnh vực lại đạt được những thành tựu cụ thể và đặc biệt trong lĩnh
vực lập pháp, thành công lớn nhất của nhà Lê là đã xây dựng và ban hành Bộ luật
Hồng Đức (Quốc triều hình luật). Các vấn đề về sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu
cũng được ghi nhận khá cụ thể trong bộ luật này.
Pháp luật có những quy định cho phép chủ sở hữu được lấy lại tài sản (ruộng
đất) đã bị người khác bán trộm, bị người khác chiếm đoạt ngồi ý chí của mình.
Người bán trộm tài sản phải chịu hình phạt rất nặng cả về nhân thân và tài sản. Có
các quy định thể hiện rõ quyền và nghĩa vụ của người mua ngay tình và khơng
ngay tình. Đối với trường hợp người mua biết rõ người bán không phải là chủ sở
hữu hoặc khơng có quyền bán nhưng vẫn mua (khơng ngay tình) thì ngồi hình
phạt về nhân thân cịn phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu và mất tiền mua. Cịn nếu
người mua khơng biết người bán tài sản cho họ không phải là chủ sở hữu (người
mua ngay tình) thì họ được lấy lại tiền từ người bán và còn được bồi thường một
khoản tiền từ người bán tài sản cho mình16.
Ngồi ra, Quốc triều hình luật cũng có quy định về thời hiệu địi lại tài sản
trong một số trường hợp cụ thể: Đối với ruộng đất cầm cố mà chủ ruộng xin chuộc
thì phải trong niên hạn là 30 năm, “Nếu quá niên hạn mà xin chuộc thì khơng được.
Trái lẽ mà cố cưỡng đi kêu, thì phải phạt 50 roi, biếm một tư.”17 Bên cạnh đó, “Con
trai từ 16 tuổi, con gái từ 20 tuổi trở lên, mà ruộng đất của mình để người trưởng
họ hay người ngoài cày hay ở, đã quá niên hạn mới cố cưỡng địi lại, thì phải phạt
16
17
Theo Điều 382, Điều 386 Quốc triều hình luật.
Theo Điều 384 Quốc triều hình luật.
16
80 trượng và mất ruộng đất (niên hạn: người trưởng họ 30 năm, người ngồi 20
năm). Nếu vì binh hoa hay đi siêu bạt mới về, thì khơng theo luật này”. Đây là một
quy định hết sức cần thiết và tiến bộ trong thời kỳ này nhằm tránh tình trạng bỏ
hoang ruộng đất cũng như ổn định các giao dịch dân sự, bảo vệ quyền lợi chính
đáng của các chủ thể.
Trong Quốc triều hình luật các quy định về quyền sở hữu cũng như bảo vệ
quyền sở hữu không được quy định thành chương, mục cụ thể, riêng biệt mà được
bố trí theo kiểu “xâm nhập của những điều khoản riêng biệt thuộc loại này vào
phần dành cho loại khác”. Nằm trong mối liên hệ với rất nhiều điều khoản của
Quốc triều hình luật, chế định sở hữu cũng như các chế định khác xứng đáng được
đánh giá là đã đạt đến độ hoàn thiện khá cao và được dùng làm khuôn mẫu cho các
triều vua sau này.18
Đến thời nhà Nguyễn, văn bản pháp luật trọng tâm của triều đại này là bộ
Hồng Việt luật lệ (hay cịn gọi là luật Gia Long). Bộ Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật
Gia Long) là sản phẩm lập pháp tiêu biểu của thời kỳ phong kiến nhà Nguyễn. Bộ
luật Gia Long cũng điều chỉnh nhiều mối quan hệ xã hội thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau giống với Bộ luật Hồng Đức thời Lê sơ. Trong lĩnh vực dân sự, Bộ luật này
tập trung bảo vệ quyền sở hữu tư nhân về tài sản, đặc biệt là ruộng đất.
Mặc dù vậy, bộ Hoàng Việt luật lệ lại khơng có các quy định một cách trực
tiếp về vấn đề đòi lại tài sản, mà chỉ có những quy định gián tiếp. Đối với ruộng
đất của dân lưu tán, quyền sở hữu của họ được bảo lưu khá dài, đợi họ trở về để
trả lại như dân lưu tán từ trước 1802 mà đến năm 1854 chưa quay về thì mới bị
mất quyền sở hữu, cịn trong thời hạn đó mà họ quay trở về thì người đang chiếm
hữu thực tế phải trả lại tài sản đó cho chủ cũ. Đối với ruộng đất bị bỏ hoang hoa
thì nhà Nguyễn cho phép người nào khai khẩn trước được nhận làm ruộng tư của
mình. Để bảo vệ quyền tư hữu, pháp luật cũng quy định những tội xâm phạm quyền
tư hữu tài sản bị trừng trị rất nặng.
Dù cịn có những hạn chế do sao chép gần nhà nguyên vẹn bộ luật của triều
Mãn Thanh Trung Hoa, do làm mất đi “bao nhiêu sự thần kỳ mới lạ trong bộ dân
Lê Thị Sơn (2004), Quốc triều hình luật – Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị, Nxb. Khoa học xã hội,
tr.361.
18
17
luật triều Lê”, nhưng bộ Hoàng Việt luật lệ của nhà Nguyễn vẫn là tài liệu có giá
trị để nghiên cứu các chế định về dân luật nói chung và chế định sở hữu nói riêng19.
Tóm lại, pháp luật thời phong kiến đã có các quy định về bảo vệ quyền sở
hữu, tạo cơ sở, nền móng cho hệ thống pháp luật dân sự hiện đại sau này dù chỉ
cho phép chủ sở hữu địi lại tài sản của mình đang trong sự chiếm hữu trái phép
của người khác trong một chừng mực nhất định. Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền sở
hữu thời kỳ này cịn mang nặng tính chất hình sự, thể hiện qua các hình phạt hà
khắc, cịn biện pháp dân sự cụ thể là đòi lại tài sản thì vẫn chưa có những quy định
cụ thể mang tính trực tiếp và cũng khơng có quy định cho người bị xâm phạm
quyền sở hữu có quyền tự mình đòi lại tài sản.
(ii) Thời kỳ Pháp thuộc
Trong khoảng thời gian Việt Nam nằm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp,
BLDS Napoleon 1804 đã ảnh hưởng nhiều đến nước ta, thể hiện qua việc thực dân
Pháp đã ban hành và thi hành ở Việt Nam ba Bộ luật tương ứng với ba xứ: Bộ Dân
luật Giản yếu Nam kỳ năm 1883 được áp dụng ở xứ Nam kỳ; Bộ Dân luật Bắc kỳ
năm 1931 áp dụng ở xứ Bắc kỳ, và Bộ Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật năm 1936 áp
dụng ở Trung kỳ. Trong cả ba Bộ luật này đã có những quy định khá cụ thể về các
vấn đề bảo vệ quyền sở hữu nói chung và biện pháp địi lại tài sản nói riêng.
Theo đó, với quy định tại Điều 9 Bộ Dân luật Trung kỳ cho thấy pháp luật
ghi nhận quyền sở hữu đối với tài sản, nghiêm cấm các hành vi xâm phạm đến
quyền sở hữu. Ngoài ra, pháp luật đã thừa nhận quyền sở hữu tư nhân là tuyệt đối.
Chủ sở hữu có toàn quyền chiếm hữu, hưởng dụng và định đoạt tài sản của mình,
có quyền được hưởng các quyền phát sinh từ tài sản.20
Trên cơ sở bảo vệ quyền sở hữu của chủ sở hữu thì Bộ Dân luật Bắc kỳ tại
Điều 554 cũng có quy định chủ sở hữu có quyền kiện người đang chiếm hữu tài
sản của mình để người đó trả lại tài sản trong mọi trường hợp.
Ngồi ra thì ba Bộ luật này cũng đã ghi nhận vấn đề quyền sở hữu được xác
lập theo thời hiệu, cụ thể, người chiếm hữu bất động sản trong vòng 15 năm liên
tục, ngay tình thì sẽ trở thành chủ sở hữu của tài sản đó. Điều này cũng có nghĩa
Đinh Thị Tâm (2012), Kiện đòi lại tài sản - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật
học, trường Đại học Luật Hà Nội, tr.16.
20
Theo Điều 426, Điều 465, Điều 466 Bộ Dân luật Bắc kỳ và Điều 467, Điều 479, Điều 480 Bộ Hoàng
Việt Trung kỳ Hộ luật.
19
18
là chủ sở hữu sẽ khơng có quyền địi lại tài sản trong trường hợp tài sản đã được
xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu cho người chiếm hữu.
Như vậy, có thể nói rằng vì chịu ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự Napoleon
1804, mà cả ba Bộ luật trên đã có một số quy định mang tính hiện đại, tiến bộ,
phản ánh đúng thực tiễn, trong đó có cả quy định về vấn đề đòi lại tài sản nhằm
bảo vệ quyền sở hữu. Mặc dù vậy nhưng vì nhằm bảo vệ cho quyền lợi, bảo vệ cho
chính quyền của thực dân Pháp nên những quy định về quyền sở hữu trong thời kỳ
này vẫn chưa thực sự bảo đảm cho người dân.
1.3.2. Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước ngày 01/01/2017
(i) Trước khi BLDS năm 1995 có hiệu lực
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 nước ta đã phải đối mặt với những nỗi
lo to lớn mới, đặc biệt là phải đối mặt với thù trong giặc ngồi nên chưa có điều
kiện để tập trung vào xây dựng một hệ thống pháp luật mới. Tuy nhiên, với tầm
nhìn xa rộng, nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của pháp luật trong đời
sống xã hội nói chung và trong việc xây dựng một nhà nước vững mạnh nói riêng,
đặc biệt là trong lĩnh vực pháp luật dân sự thì vào ngày 10/10/1945, tức là sau một
tháng kể từ ngày tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 47/SL
quy định về việc cho phép tạm thời sử dụng một số luật lệ cũ hiện hành ở ba miền
Bắc, Trung, Nam trên nguyên tắc: “Những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc
lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa”.
Trong lĩnh vực dân sự, theo tinh thần sắc lệnh 47/SL, các Bộ luật sau đây
vẫn được áp dụng: Bộ Dân luật Giản yếu Nam kỳ năm 1883, Bộ Dân luật Bắc kỳ
năm 1931 và Bộ Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật năm 1936 tương ứng với ba miền
Bắc, Trung, Nam trong thời gian chờ ban hành các văn bản pháp luật mới thống
nhất trong toàn quốc.
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hịa được thơng qua
ngày 9/11/1945. Với bản Hiến pháp đầu tiên này thì các quyền dân sự, đặc biệt là
quyền sở hữu của người dân được tôn trọng và bảo vệ, cụ thể là quyền tư hữu tài
sản của công dân Việt Nam được đảm bảo.21
Trong giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp, nhiều sắc lệnh đã được
ban hành giúp điều chỉnh các quan hệ xã hội mới. Trong lĩnh vực dân sự, ngày
22/5/1950, Chính phủ ban hành Sắc lệnh 97/SL: “Sửa đổi một số quy lệ và chế
21
Theo Điều 12 Hiến pháp năm 1946.
19
định trong dân luật” có ý nghĩa hết sức quan trọng. Sắc lệnh này tiếp tục triển khai
các quy định của pháp luật dân sự cũ, đồng thời có những bổ sung, sửa đổi nhất
định cho phù hợp với thể chế chính trị mới, đặt nền móng cho pháp luật dân sự sau
này. Về quyền sở hữu, Sắc lệnh này có quy định chỉ có quyền sở hữu hợp pháp
mới được pháp luật bảo hộ, nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm lợi ích người khác;
xâm phạm và chiếm đoạt tài sản của người khác22.
Với Chỉ thị 772/CT-TATC ngày 10/7/1959 về việc đình chỉ áp dụng pháp
luật cũ của phong kiến đế quốc đã chấm dứt việc áp dụng ba Bộ dân luật. Như vậy,
trong khoảng thời gian này chưa có quy định mới về địi lại tài sản.
Ở miền Nam, chính quyền Việt Nam Cộng hịa vẫn cho áp dụng các quy
định của Bộ Dân luật Giản yếu Nam kỳ và Bộ Hoàng Việt Trung kỳ Hộ luật. Năm
1972, chính quyền Việt Nam Cộng hịa do Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đứng
đầu cho cho ban hành Bộ Dân luật Sài Gịn. Bộ luật này đã có những quy định về
đòi lại tài sản khá đầy đủ và cụ thể.
Theo quy định tại Điều 722 Bộ Dân luật Sài Gòn thì chủ sở hữu có quyền
địi lại tài sản của mình là bất động sản hay một động sản nếu người đang chiếm
hữu nó là khơng ngay tình. Bên cạnh đó, Bộ luật này cũng có quy định trường hợp
chủ sở hữu đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình23. Đây là một quy định đã
bảo vệ mạnh mẽ người chiếm hữu ngay tình và mang tính tiến bộ khi đã hài hòa
được quyền lợi của cả chủ sở hữu và người chiếm hữu ngay tình. Trường hợp
người chiếm hữu ngay tình sở hữu tài sản một cách cơng khai, minh bạch thì khi
chủ sở hữu muốn địi lại tài sản của mình phải trả giá mua cho người chiếm hữu
ngay tình hợp lý.
Ngồi ra, Bộ Dân luật Sài Gịn cũng có quy định về thời hiệu kiện địi lại
tài sản. Theo đó, đối với tài sản là động sản thì thời hiệu khởi kiện là ba năm theo
quy định Điều 1488. Tuy nhiên, sau khi miền Nam được giải phóng thì cả hai miền
Nam Bắc áp dụng chung một hệ thống pháp luật, các Bộ luật ở miền Nam, trong
đó có Bộ Dân luật Sài Gịn lúc này đã bị bãi bỏ.
Ngày 31/12/1959, ở miền Bắc, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới nhằm
sửa đổi và phát triển Hiến pháp năm 1946, cũng như phù hợp với tình hình, bối
cảnh mới của đất nước lúc bấy giờ. Trong thời kỳ này, Nhà nước đã ban hành hàng
22
23
Theo Điều 12 Sắc lệnh 97/SL.
Theo Điều 1489 Bộ Dân luật Sài Gòn.