BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ MỸ NGỌC
BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI
TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH TRÊN KHÔNG
GIAN MẠNG – NGHIÊN CỨU VÀ SO SÁNH
VỚI PHÁP LUẬT HOA KỲ
KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 – NĂM 2023
TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 7 – NĂM 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Phụ lục 2:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
Mẫu trang phụ bìa (Khổ 210 x 297 mm)
LÊ THỊ MỸ NGỌC
BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH TRÊN
KHÔNG GIAN MẠNG – NGHIÊN CỨU VÀ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT
HOA KỲ
GVHD: THẠC SĨ ĐẶNG NGUYỄN PHƯƠNG UYÊN
TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 – NĂM 2023
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Quý Thầy Cô Trường Đại học Luật Thành phố
Hồ Chí Minh, đặc biệt xin cảm ơn Cô Đặng Nguyễn Phương Uyên – Giảng viên
Khoa Luật Dân sự Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn tận
tình, thường xuyên động viên, khích lệ, tạo điều kiện tốt nhất giúp tác giả hoàn
thành công trình nghiên cứu này.
Tác giả xin cảm ơn Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tác giả được tiếp cận với những tài
liệu tham khảo quan trọng và bổ ích.
Tác giả xin cảm ơn các anh/chị, bạn – những người đã động viên tác giả
trong suốt thời gian hoàn thành Khóa luận vừa qua.
Khóa luận này là công trình nghiên cứu đầu tay của tác giả, không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Do đó, tác giả rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ
Quý Thầy Cô để Khóa luận được hoàn thiện hơn. Tác giả xin chân thành cảm ơn.
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan Khóa luận “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm
điện ảnh trên không gian mạng – nghiên cứu và so sánh với pháp luật Hoa Kỳ” là
công trình nghiên cứu của bản thân tác giả. Những luận điểm, ý tưởng, nhận xét,
đánh giá của cơ quan, tổ chức và các tác giả khác sử dụng trong bài viết đều đã
được trích dẫn rõ ràng, đầy đủ.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 6 năm 2023
Tác giả
Lê Thị Mỹ Ngọc
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT
NỘI DUNG ĐƯỢC VIẾT TẮT
Bộ Luật Dân sự 2015 (Luật số
Bộ Luật Dân sự 2015
91/2015/QH13) của nước Cộng hòa Xã
hội
Chủ
nghĩa
Việt
Nam
ngày
24/11/2015
Bộ
Bộ Luật Hình sự 2015
ĐƯQT
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam
2013
Luật An ninh mạng 2018
Luật
hình
sự
(Luật
số
100/2015/QH13) của nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày
27/11/2015
Điều ước q́c tế
Hiến pháp nước Cộng hịa Xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam ngày 28/11/2013
Luật An ninh mạng (Luật
24/2018/QH14) ngày 12/6/2018
số:
Luật Điện ảnh 2022
Luật Điện ảnh (Luật số: 05/2022/QH15)
ngày 15/6/2022
Luật SHTT 2005
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Sở hữu trí tuệ (Luật số:
07/2022/QH15) ngày 16/6/2022
Nghị định 100/2006/NĐ-CP
Nghị định số 100/2006/NĐ-CP của
Chính phủ ngày 21/9/2006 quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều
của Bộ Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ
về quyền tác giả và quyền liên quan,
được sửa đổi bởi Nghị
85/2011/NĐ-CP ngày 20/9/2011
định
Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16
tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy
Nghị định 131/2013/NĐ-CP
định xử phạt vi phạm hành chính về
quyền tác giả, quyền liên quan, sửa đổi
bởi Nghị định số 28/2017/NĐ-CP ngày
20/3/2017
Nghị định số 17/2023/NĐ-CP của Chính
Nghị định 17/2023/NĐ-CP
phủ ngày 26/4/2023 quy định chi tiết
một số điều và biện pháp thi hành Luật
Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền
liên quan
Nghị định số 72/2013/NĐ-CP của Chính
phủ ngày 15/7/2013 quy định về quản lý,
Nghị định 72/2013/NĐ-CP
cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và
thông tin trên mạng, sửa đổi bởi Nghị
định số 27/2018/NĐ-CP ngày 01/3/2018
NSDLĐ
Người sử dụng lao động
QTG
Quyền tác giả
SHTT
Sở hữu trí tuệ
Thông tư số 28/2014/TT-BVHTTDL
của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
ngày 31/12/2014 quy định về quản lý
hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế
Thông tư 28/2014/TT-BVHTTDL
thuộc diện quản lý chuyên ngành văn
hóa của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch, sửa đổi bởi Thông tư số
26/2018/TT-BVHTTDL ngày 11/9/2018
Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLTBTTTT-BVHTTDL của Bộ Thông tin
Thông tư liên tịch số 07/2012/TTLTBTTTT-BVHTTDL
và Truyền thông – Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch ngày 19/6/2012 quy định
trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp
dịch vụ trung gian trong việc bảo hộ
quyền tác giả và quyền liên quan trên
môi trường mạng Internet và mạng viễn
thông
Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH
VBHN sớ 07/VBHN - VPQH
VBQPPL
của Văn phịng Q́c Hội ngày 25 tháng
6 năm 2019 Luật Sở hữu trí tuệ
Văn bản quy phạm pháp luật
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN TÁC
GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG ...........9
1.1. Quyền tác giả và quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh ............................9
1.1.1. Khái quát chung về quyền tác giả ..............................................................9
1.1.2. Khái quát chung về quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh .................13
1.2. Không gian mạng và bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên
không gian mạng .....................................................................................................17
1.2.1 Khái quát về không gian mạng .................................................................17
1.2.2 Khái quát về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không
gian mạng ...........................................................................................................18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................19
CHƯƠNG 2. VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI
TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG THEO QUY ĐỊNH
CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT HOA KỲ .............................21
2.1 Chủ thể được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không
gian mạng .................................................................................................................21
2.1.1 Chủ thể được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không
gian mạng theo pháp luật Việt Nam ..................................................................21
2.1.2 Chủ thể được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không
gian mạng theo pháp luật Hoa Kỳ .....................................................................23
2.2 Nội dung quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian mạng .26
2.2.1 Nội dung quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian mạng
theo pháp luật Việt Nam ....................................................................................26
2.2.2 Nội dung quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian mạng
theo pháp luật Hoa Kỳ .......................................................................................27
2.3 Căn cứ xác lập quyền tác giả về tác phẩm điện ảnh ......................................29
2.3.1 Căn cứ xác lập quyền tác giả về tác phẩm điện ảnh theo pháp luật Việt
Nam ....................................................................................................................29
2.3.2 Căn cứ xác lập quyền tác giả về tác phẩm điện ảnh theo pháp luật Hoa Kỳ
...........................................................................................................................30
2.4 Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian
mạng .........................................................................................................................31
2.4.1 Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian
mạng theo pháp luật Việt Nam ..........................................................................31
2.4.2 Thời hạn bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian
mạng theo pháp luật Hoa Kỳ .............................................................................32
2.5 Hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không
gian mạng .................................................................................................................34
2.5.1 Hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không
gian mạng theo pháp luật Việt Nam ..................................................................34
2.5.2 Hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không
gian mạng theo pháp luật Hoa Kỳ .....................................................................35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................37
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC
PHẨM ĐIỆN ẢNH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT
SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ............................................................................38
3.1 Thực trạng bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian
mạng tại Việt Nam ..................................................................................................38
3.1.1 Thực trạng về hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh
trên không gian mạng tại Việt Nam ...................................................................38
3.1.2 Nguyên nhân của tình trạng xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm
điện ảnh trên không gian mạng tại Việt Nam ....................................................42
3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền tác giả
đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian mạng tại Việt Nam .........................47
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh
trên không gian mạng ........................................................................................47
3.2.2 Các biện pháp khác về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh
trên không gian mạng ........................................................................................49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ........................................................................................51
KẾT LUẬN ..............................................................................................................52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................53
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Điện ảnh là một lĩnh vực đóng vai trò đặc biệt trong đời sống xã hội ở Việt
Nam, cùng với sự tiến bộ của xã hội cũng như nhu cầu giải trí ngày càng cao của
người dân, Nhà nước đã đầu tư cơ sở vật chất, các phương tiện và thiết bị tương đối
hoàn chỉnh, cũng như có hệ thống các quy phạm pháp luật đã góp phần vào sự phát
triển của ngành công nghiệp không khói này. Trong những năm gần đây, với sự chú
trọng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và bảo hộ quyền tác giả đối với tác
phẩm điện ảnh nói riêng, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng, hoàn
thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ, bảo hộ quyền tác giả trên không gian
mạng, đặc biệt là sự tham gia vào các Điều ước quốc tế đa phương và song phương
như: Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật năm 1886 (có hiệu
lực tại Việt Nam từ ngày 26/10/2004); Hiệp định Bản quyền của Tổ chức Sáng chế
Thế giới (WCT) được thông qua vào năm 1996 với mục đích tăng cường bảo vệ
quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số và quốc tế; Hiệp định quốc tế TRIPs
được ký kết trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhằm tạo ra
một khung pháp lý về chính sách chung về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi
quốc tế và điều chỉnh các quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại; Hiệp định
giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hợp
chủng quốc Hoa Kỳ về thiết lập quan hệ quyền tác giả ngày 27/6/1997…
Bên cạnh đó, với sự bùng nổ mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0,
không gian mạng ngày càng phủ rộng trên toàn lãnh thổ quốc gia, giúp cho việc tiếp
cận các tác phẩm điện ảnh không còn khó khăn. Vào năm 2007 số lượng người sử
dụng Internet ở Việt Nam là 17.718.112 người thì đến năm 2019 đã tăng lên 64
triệu người (tức là khoảng 67%) dân số1. Sự phủ sóng của Internet đã giúp cho các
tác giả tác phẩm điện ảnh có thể quảng bá tác phẩm của mình tới đông đảo công
chúng một cách thuận tiện, nhanh chóng và tiết kiệm. Song song với đó, ngành điện
ảnh nói chung và tác giả tác phẩm điện ảnh nói riêng phải đối mặt với thách thức
lớn liên quan đến việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh. Với trình độ
công nghệ ngày một tiến bộ đã tạo điều kiện cho các hành vi xâm phạm quyền tác
giả đối với tác phẩm điện ảnh được diễn ra dễ dàng, nhanh chóng và tinh vi hơn bởi
Vnetwork, “Các số liệu thống kê Internet Việt Nam 2019”, />20/04/2023
1
1
môi trường này giúp cho việc sao chép, đăng tải, sao lưu các tác phẩm điện ảnh bất
hợp pháp nhanh chóng chỉ với vài thao tác máy tính đơn giản. Bên cạnh đó, việc
xem phim “lậu”, đăng tải bất hợp pháp những đoạn phim, phát tán lên các trang
mạng xã hội hay việc tải thông tin tự do từ mạng xã hội xuống máy tính cá nhân
được đa số người sử dụng xem là việc bình thường, không phải trả tiền sử dụng hay
không bị người sử dụng coi là hành vi ăn cắp. Chính nhận thức này đã gây ra thiệt
hại rất lớn đến quyền lợi hợp pháp của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đối với
tác phẩm điện ảnh.
Từ vai trò quan trọng của tác phẩm điện ảnh nên hiện nay pháp luật cần có
những giải pháp ngăn chặn các hành vi xâm phạm cũng như bảo hộ quyền tác giả
đối với tác phẩm điện ảnh. Với mong muốn nghiên cứu những quy định pháp luật
về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh cũng như mong muốn tìm ra các
giải pháp thích hợp để nâng cao việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện
ảnh đặc biệt là trên môi trường không gian mạng, tác giả đã chọn đề tài: “Bảo hộ
quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian mạng - nghiên cứu và
so sánh với pháp luật Hoa Kỳ”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bảo hộ quyền tác giả nói chung và bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện
ảnh nói riêng là mảng đề tài đã được nhiều nhà khoa học, tác giả quan tâm, nghiên
cứu theo nhiều góc độ và hình thức khác nhau từ khái quát đến cụ thể. Tác giả xin
liệt kê một số công trình như sau:
Trên thế giới có các công trình nghiên cứu sau:
Mengna Liang (2020), Copyright issues related to reproduction rights arising
from streaming. Bài viết tập trung vào trách nhiệm pháp lý của những người dùng
phát trực tuyến các tác phẩm trái phép thông qua việc phân tích hành vi sao chép
của người dùng nền tảng phát trực tuyến theo cách tiếp cận của Vương quốc Anh và
Liên minh Châu Âu. Ngoài ra, bài viết còn đề cập đến trách nhiệm pháp lý của
những người dùng truyền phát nội dung trái phép thông qua các dịch vụ mạng.
Xia Liu, Yunfei Zha (2018), Copyright Protection of Digital Movies Using the
Coalition of Technology and Law in China. Bài báo này cho biết pháp luật Trung
Quốc không xác định trách nhiệm của người sử dụng dẫn đến dù có các cam kết
chống vi phạm bản quyền phim kỹ thuật số nhưng đều không đạt được hiệu quả.
Vậy nên giải pháp là cần có sự liên minh giữa công nghệ và luật pháp. Chủ sở hữu
bản quyền cần tích cực thực hiện bảo vệ kỹ thuật để giảm thiểu tác động của vi
2
phạm bản quyền, đồng thời khi việc tự bảo vệ không thành công hoặc có sơ suất thì
pháp luật sẽ căn cứ vào dữ liệu kỹ thuật và bằng chứng để trừng trị nghiêm khắc kẻ
vi phạm, răn đe những kẻ phạm tội.
Nick Gladden (2003), When California Dreamin Becomes a Hollywood
Nightmare; Copyright Infringement and the Motion Picture Screenplay: Toward an
Improved Framework. Bài báo nghiên cứu về vấn đề vi phạm bản quyền và kịch
bản điện ảnh, tập trung vào việc cải tiến khung pháp lý hiện tại. Cụ thể, bài viết đề
xuất việc thiết lập một hệ thống đăng ký tác giả kịch bản và các quy trình kiểm tra
chất lượng nội dung. Điều này sẽ giúp tạo ra một cơ sở dữ liệu toàn diện về các kịch
bản phim đã được đăng ký, từ đó hỗ trợ xác định chính xác quyền sở hữu và tăng
cường bảo vệ pháp lý.
Kateryna Poturai (2021), Features of International and Legal protection of
cinematographic works. Bài viết phân tích luật pháp quốc tế về bảo hộ quyền tác
giả nói chung và tác phẩm điện ảnh nói riêng, với trọng tâm là công ước Berne.
NikhilBharadwa, Copyright protection in the Digital age: Challenges and
Solutions. Bài nghiên cứu này tập trung vào các thách thức mà ngành điện ảnh đối
mặt trong việc bảo vệ bản quyền trong thời đại kỹ thuật số và đề xuất các giải pháp
để giảm thiểu vi phạm bản quyền.
Liye Ma, Alan L.Montgomery, Param Vir Singh, and Michael D.Smith
(2014), An Empirical analysis of the impact of pre-release movie piracy on boxoffice revenue. Bài báo phân tích ảnh hưởng của việc vi phạm bản quyền phim trước
khi phát hành đến doanh thu. Việc nghiên cứu góp phần vào việc phát triển tài liệu
về vi phạm bản quyền và tiêu thụ phương tiện kỹ thuật số.
Pail Goldstein (2019), International Copyright: Principles, Law, and Practice.
Cuốn sách này giới thiệu về quyền tác giả quốc tế và các vấn đề liên quan đến bảo
hộ tác phẩm trên toàn cầu.
Michael C. Donaldson và Lisa A. Callif (2021), Clearance & Copyright:
Everything You Need to Know for Film and Television. Cuốn sách này tập trung vào
các khía cạnh pháp lý liên quan đến quyền tác giả, bảo hộ tác phẩm và quy trình xin
phép trong ngành công nghiệp điện ảnh.
Tóm lại, vấn đề bảo hộ quyền tác giả nói chung và bảo hộ quyền tác giả đối
với tác phẩm điện ảnh nói riêng đã được nhiều học giả trên thế giới quan tâm. Mỗi
bài viết lại mang một hướng tiếp cận riêng và những kết quả từ những bài nghiên
3
cứu trên giúp tạo cái nhìn tổng quan về vấn đề bản quyền trên thế giới và cũng là
nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho Khóa luận này.
Tại Việt Nam có các công trình nghiên cứu sau:
Dưới hình thức giáo trình, có một số giáo trình nghiên cứu sau đây:
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Luật sở hữu
trí tuệ (Tái bản, có sửa chữa, bổ sung), TS. Nguyễn Hồ Bích Hằng, TS. Nguyễn
Xuân Quang (Chủ biên), NXB. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam; Trường Đại
học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, PGS.TS. Vũ Thị Hải Yến
(Chủ biên), NXB, Công an nhân dân: Các giáo trình này đã cung cấp những kiến
thức cơ bản, mang tính nền tảng về hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam
nhằm phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu của sinh viên. Tuy nhiên, vì là công
trình nghiên cứu về pháp luật sở hữu trí tuệ nói chung cũng như đối tượng tiếp cận
là sinh viên nên các công trình này chủ yếu đề cập đến những vấn đề lý luận mang
tính khái quát. Trong đó, về vấn đề bảo hộ quyền tác giả mặc dù các giáo trình dành
một chương riêng để trình bày, nghiên cứu tuy nhiên chưa quá đi sâu phân tích cũng
như chưa đưa ra điểm bất cập và hướng hoàn thiện đối với các quy định hiện hành
về hoạt động này.
Dưới hình thức các bài Luận văn Thạc sĩ Luật học, có các cơng trình nghiên
cứu:
- Trần Anh Hùng (2009), Vấn đề bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Hoa Kỳ,
Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội: Công trình tập trung nghiên
cứu về các quy định bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Hoa Kỳ từ đó, đưa ra các
bài học kinh nghiệm và những giải pháp kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về
bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam. Do đó, công trình tập trung nghiên cứu tổng thể
các quy định về bảo hộ quyền tác giả chưa đi sâu vào phân tích, nghiên cứu về vấn
đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh.
- Nguyễn Thu Hương (2016), Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh
trên Internet theo quy định của Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội: Công trình tập trung nghiên cứu các
vấn đề lý luận, thực trạng về quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm
điện ảnh trên Internet thông qua Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam. Qua đó,
đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm
điện ảnh trên Internet tại Việt Nam. Bài viết đã đi sâu vào phân tích vấn đề bảo hộ
4
quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh nhưng cịn một sớ vấn đề chưa được phân
tích như căn cứ xác lập quyền tác giả.
- Đỗ Huỳnh Yến Vy (2020), Hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi
trường kỹ thuật số theo pháp luật Hoa Kỳ, Pháp và kinh nghiệm đối với Việt Nam,
Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh: Công
trình xác định các hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số
theo pháp luật Hoa Kỳ, Pháp và Việt Nam, từ đó, đưa ra các kiến nghị hoàn thiện
pháp luật Việt Nam trong việc xác định hành vi xâm phạm và các biện pháp xử lý
hành vi xâm phạm quyền tác giả trong môi trường kỹ thuật số. Công trình chỉ tập
trung nghiên cứu về hành vi xâm phạm quyền tác giả trên môi trường kỹ thuật số,
không trình bày các quy định khác về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện
ảnh.
Như vậy, vấn đề về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không
gian mạng đã được nhiều học giả, nhà nghiên cứu quan tâm và mỗi tác giả lại chọn
cho mình một hướng tiếp cận riêng. Song chủ yếu các tác giả nghiên cứu về vấn đề
bảo hộ quyền tác giả nói chung. Các công trình nghiên cứu về bảo hộ quyền tác giả
đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian mạng còn ít. Tuy nhiên, những kết quả
đạt được từ những công trình nghiên cứu nêu trên đều mang những giá trị khoa học
nhất định và là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả trong suốt quá trình
thực hiện Khóa luận này.
Dưới hình thức bài báo khoa học, bài viết đăng trên các Tạp chí chun
ngành, có thể kể đến các bài viết như:
ThS. Nguyễn Phương Thảo (2022), Bảo vệ quyền tác giả trong hoạt động phát
trực tuyến (streaming) - trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian,
Tạp chí Tịa án nhân dân; Nguyễn Phương Thảo (2021), Góp ý quy định về trách
nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian, Kỷ yếu hội thảo khoa học về
“sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ: những vấn đề lý luận và thực tiễn”, do
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí tổ chức; Nguyễn Thị Hồng Nhung (2015),
Xử lý vi phạm quyền tác giả trên internet bằng biện pháp hành chính ở Việt Nam,
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 12.
Các bài viết nêu trên cũng đã phân tích được một số vấn đề liên quan đến bảo
hộ quyền tác giả trên môi trường Internet, các vấn đề về trách nhiệm pháp lý của
các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong việc ngăn chặn các hành vi xâm
phạm quyền tác giả. Tuy nhiên, với vai trò là những bài viết ngắn đăng trên tạp chí
5
chuyên ngành nên chỉ có thể đề cập đến một số khía cạnh về bảo hộ quyền tác giả,
chưa đi sâu phân tích một cách toàn diện về hoạt động này.
3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích phân tích, đánh giá, luận giải để làm rõ
về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian mạng trong pháp
luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, cụ thể:
Thứ nhất, phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề bảo hộ
quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian mạng, qua đó tìm ra những
điểm bất cập, chưa rõ của các quy định pháp luật và đưa ra những đánh giá, nhận
xét.
Thứ hai, phân tích pháp luật Hoa Kỳ về vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với
tác phẩm điện ảnh để rút ra những điểm tương đồng, khác biệt của những quy định
này so với quy định trong pháp luật Việt Nam, qua đó làm cơ sở cho việc hoàn thiện
pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không
gian mạng.
Thứ ba, phân tích, bình luận thực tiễn vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác
phẩm điện ảnh trên không gian mạng tại Việt Nam nhằm tìm ra các nguyên nhân về
pháp luật, xã hội dẫn đến thực trạng.
Thứ tư, đưa ra một số kiến nghị cụ thể, phương hướng hoàn thiện pháp luật
góp phần nâng cao hiệu quả trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện
ảnh trên không gian mạng tại Việt Nam.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh
trên không gian mạng”, trong đó, đề tài tập trung vào các đối tượng nghiên cứu
quan trọng sau:
(i) Quyền tác giả nói chung và quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên
không gian mạng nói riêng;
(ii) Các quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ về quyền tác
giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian mạng;
(iii) Thực tiễn áp dụng pháp luật trong xã hội; dựa trên những quy định và vụ
việc thực tiễn của nước ngoài để đề xuất kiến nghị phù hợp với tình hình kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam.
5. Phạm vi nghiên cứu
6
Vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian mạng
là một vấn đề lớn, có nhiều hướng tiếp cận và góc độ nghiên cứu khác nhau. Trong
khuôn khổ và điều kiện thời gian nghiên cứu Khóa luận tốt nghiệp, tác giả chỉ tập
trung nghiên cứu về các quy định liên quan đến vấn đề bảo hộ quyền tác giả đối với
tác phẩm điện ảnh được quy định tại Luật SHTT 2005 và các văn bản quy phạm
pháp luật có liên quan; các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm điện
ảnh trên không gian mạng sẽ được tác giả tập trung nghiên cứu các hành vi xâm
phạm trên môi trường Internet.
Tác giả cũng tham khảo quy định về pháp luật Bản quyền của Hoa Kỳ để có
cơ sở đối chiếu, so sánh với pháp luật Việt Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ nội dung đề tài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng kết hợp nhiều
phương pháp nghiên cứu khác nhau, được thể hiện cụ thể như sau:
Đối với Chương 1: Tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, diễn
giải để làm rõ các khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa liên quan đến quyền tác giả, bảo hộ
quyền tác giả, tác phẩm điện ảnh, bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh,
không gian mạng và bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không
gian mạng.
Đối với Chương 2: Tác giả sử dụng các phương pháp tổng hợp, phân tích,
chứng minh, diễn giải, bình luận để trình bày về các quy định của pháp luật hiện
hành về việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian mạng.
Đồng thời sử dụng phương pháp so sánh để làm sáng tỏ một số điểm tương đồng và
khác biệt trong quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ về vấn đề
bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian mạng.
Đối với Chương 3: Tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, bình
luận thực trạng bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên không gian
mạng tại Việt Nam. Từ đó, rút ra các nguyên nhân dẫn đến thực trạng và đưa ra các
đề xuất, kiến nghị, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền tác giả đối với tác
phẩm điện ảnh trên không gian mạng ở Việt Nam.
7. Bố cục của Khóa luận
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo thì Khóa luận có
kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1. Lý luận chung về quyền tác giả và quyền tác giả đối với tác phẩm
điện ảnh trên không gian mạng
7
Chương 2. Vấn đề pháp lý về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh
trên không gian mạng theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ
Chương 3. Thực trạng bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên
không gian mạng tại Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện
8
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN TÁC
GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG
1.1. Quyền tác giả và quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh
1.1.1. Khái quát chung về quyền tác giả
Việc sáng tạo ra các tác phẩm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học là
một nhu cầu không thể thiếu của đời sống con người và cũng là quyền sáng tạo
đương nhiên của mọi cá nhân. Chính vì vậy, khi các tác phẩm này được hình thành,
công bố, phổ biến làm phát sinh các vấn đề liên quan đến việc khai thác, sử dụng
tác phẩm. Những vấn đề này cần được điều chỉnh bằng pháp luật để bảo vệ quyền
lợi của tác giả cũng như những người sử dụng và toàn xã hội. Từ đó, pháp luật dần
dần ghi nhận và quy định các quyền tác giả để đáp ứng nhu cầu trên.
Thứ nhất, về khái niệm quyền tác giả
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, quyền tác giả được định nghĩa theo
nghĩa khách quan là “Tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh từ việc sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học”2. Còn
theo nghĩa chủ quan là “Quyền của cá nhân đã trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc
toàn bộ tác phẩm, bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản”3. Như vậy, theo Từ
điển này thì thuật ngữ “quyền tác giả” được hiểu là tổng hợp các quy phạm pháp
luật điều chỉnh về quyền của cá nhân trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ
thuật, khoa học.
Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ “quyền tác giả” được ghi nhận như sau:
Theo Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật được
thông qua vào năm 1886 thì “Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với
tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc chủ sở hữu” 4. Theo định nghĩa của Tổ chức sở
hữu trí tuệ thế giới (WIPO): “Quyền tác giả là một thuật ngữ pháp lý chỉ quyền của
người sáng tác đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật của họ”5.
Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Chủ biên PGS.PTS.Nguyễn
Ngọc Hòa, NXB Công an nhân dân, tr.107
2
Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, Chủ biên PGS.PTS.Nguyễn
Ngọc Hòa, NXB Công an nhân dân, tr.107
3
4
Trần Anh Hùng (2009), Vấn đề bảo hộ quyền tác giả theo pháp luật Hoa Kỳ, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.9
5
WIPO, “Copyright – What is Copyright?”, 19/04/2023
9
Dưới góc độ pháp luật các quốc gia, những hệ thống pháp luật khác nhau lại
có những định nghĩa về quyền tác giả khác nhau. Theo hệ thống Thông luật
(Common Law), quyền tác giả được gọi bằng thuật ngữ “Bản quyền – Copyright”,
xuất phát từ các nước theo hệ thống Anh – Mỹ, chú trọng đến giá trị thương mại của
tác phẩm. Do vậy, họ sử dụng thuật ngữ “Bản quyền” để nhấn mạnh đến khả năng
khai thác tác phẩm thông qua việc sao chép, phân phối… mang lại các giá trị kinh tế
cho chính chủ sở hữu6, nghĩa là các quốc gia sẽ đứng về phía các nhà khai thác giá
trị kinh tế của tác phẩm chứ không phải đứng về phía người sáng tạo ra tác phẩm.
Còn theo hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (Civil Law), quyền tác giả được gọi
bằng thuật ngữ “Quyền tác giả - Author’s right”. Nếu như ở hệ thống Thông luật
(Common Law), các quyền nhân thân hầu như thiếu vắng hoặc không được coi
trọng thì ở các nước thuộc hệ thống Civil Law, đây lại là yếu tố quan trọng của
quyền tác giả. Trọng tâm của quyền tác giả ở các nước thuộc hệ thống châu Âu lục
địa là bảo vệ quyền của người sáng tạo ra tác phẩm, nhấn mạnh quyền lợi về mặt
tinh thần mà tác giả của tác phẩm sẽ được hưởng: quyền được trích dẫn khi tác
phẩm được sử dụng; quyền bảo đảm tác phẩm không bị sửa đổi, bổ sung, thay đổi,
chuyển thể dưới mọi hình thức mà không được sự đồng ý của tác giả (coi trọng sự
gắn kết chặt chẽ giữa tác giả và tác phẩm mà tác giả đã sáng tạo nên).
Tại Việt Nam, chế định về quyền tác giả cũng được ghi nhận trong nhiều văn
bản như Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013; Bộ luật Dân sự 2015;
Luật SHTT năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022 và các văn bản dưới
luật khác. Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật SHTT 2005 thì “Quyền tác giả là
quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu”.
Như vậy, quyền tác giả là quyền bảo hộ các sáng tạo của tác giả trong lĩnh vực văn
học và nghệ thuật có tính nguyên gốc như thơ, tranh vẽ, tác phẩm điện ảnh, tiểu
thuyết… của tất cả các tác giả như nhạc sĩ, đạo diễn, nhà văn…
Tóm lại, theo các quan điểm trong khoa học pháp lý thì quyền tác giả là quyền
của người sáng tạo đối với các tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật do chính họ
sáng tạo. Quyền tác giả bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả liên
quan đến tác phẩm, các quyền này được nhà nước bảo hộ thông qua pháp luật.
Thứ hai, đặc điểm quyền tác giả
6
Trường Đại học Luật thành phớ Hờ Chí Minh (2020), Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ (Tái bản, có sửa chữa,
bổ sung), Chủ biên TS. Nguyễn Hồ Bích Hằng, TS. Nguyễn Xuân Quang, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia
Việt Nam, tr.62
10
Quyền tác giả ngoài đặc điểm chung là tính vô hình và thời gian bảo hộ nhất
định thì quyền tác giả còn có những đặc điểm riêng như sau:
Một là, quyền tác giả bảo hộ hình thức sáng tạo, khơng bảo hộ nội dung, ý
tưởng sáng tạo
Quyền tác giả tập trung vào bảo hộ hình thức sáng tạo mà không bảo hộ ý
tưởng và nội dung sáng tạo, có nghĩa là bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng chứ
không bảo hộ bản thân ý tưởng. Những ý tưởng có thể tương tự nhau nhưng nếu
khác nhau về cách thức thể hiện, sự sắp xếp ngôn từ để biểu đạt ý tưởng thì sẽ tạo
nên những tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả7. Chẳng hạn cùng một ý tưởng về
mùa thu Hà Nội thì những bài hát như “Có phải em mùa thu Hà Nội” (nhạc: Trần
Quang Lộc, thơ: Tô Như Châu); “Hà Nội mùa thu” (Vũ Thanh)… đều được bảo hộ
quyền tác giả. Mặt khác, nếu hình thức thể hiện của một ý tưởng trùng với nội dung
ý tưởng đó thì hình thức cũng không được bảo hộ 8. Quyền tác giả bảo hộ tác phẩm,
còn tác phẩm là sự hình thành một ý tưởng dưới một hình thức nhất định9.
Hai là, quyền tác giả bảo hộ tác phẩm không phân biệt nội dung, chất lượng
Những yếu tố của một tác phẩm như: đẹp hay xấu; hay hay dở; đơn giản hay
phức tạp… đều không là những điều ảnh hưởng tới khả năng bảo hộ quyền tác giả
của tác phẩm. Chẳng hạn: một bộ phim đạt giải Oscar cho phim hay nhất và một bộ
phim đạt giải Mâm Xôi Vàng cho phim tệ nhất thì đều được bảo hộ quyền tác giả.
Quyền tác giả bảo hộ tác phẩm không phân biệt nội dung nhưng không đồng nghĩa
với việc nội dung nào cũng đều được bảo hộ. Đối với những tác phẩm có nội dung
trái pháp luật, đạo đức xã hội hay đi ngược lại với những lợi ích của Nhà nước, lợi
ích công cộng thì sẽ không được bảo hộ.
Ba là, tác phẩm cần phải được định hình dưới một hình thức nhất định
Định hình là sự biểu hiện bằng chữ viết, các ký tự khác, đường nét, hình khối,
bố cục, màu sắc, âm thanh, hình ảnh hoặc sự tái hiện âm thanh, hình ảnh dưới dạng
vật chất nhất định để từ đó có thể nhận biết, sao chép hoặc truyền đạt10. Một tác
phẩm có thể được định hình trên giấy, gỗ, ổ đĩa, các phương tiện kỹ thuật số… Tại
7
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Luật sở hữu trí tuệ (Tái bản, có sửa chữa,
bổ sung), Chủ biên TS. Nguyễn Hồ Bích Hằng, TS. Nguyễn Xuân Quang, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia
Việt Nam, tr.63
8
NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tlđd (1), tr.64
Lê Nết (2006), Quyền SHTT, NXB. Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr.49
Khoản 3 Điều 3 Nghị định 17/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở
hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan
9
10
11
nhiều quốc gia, việc định hình dưới một hình thức vật chất là điều kiện quan trọng
để tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, ví dụ như theo hệ thống pháp luật Anh –
Mỹ cụ thể là theo Luật Bản quyền Hoa Kỳ năm 1976, tác phẩm dạng nói phải được
định hình dưới dạng vật chất hữu hình như viết trên giấy, lưu trữ trong băng đĩa…
thì mới được bảo hộ11. Ngược lại, ở một số quốc gia khác, định hình dưới dạng vật
chất không phải là điều kiện bắt buộc để bảo hộ tác phẩm. Pháp luật SHTT Việt
Nam theo hướng việc thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định là điều kiện
tiên quyết để tác phẩm được bảo hộ. Quy định yêu cầu tác phẩm phải được định
hình dưới dạng vật chất nhất định giúp tác phẩm dễ dàng lưu trữ, tạo thuận lợi cho
chủ sở hữu quyền trong việc thực hiện các quyền của mình, làm chứng cứ khi xét
xử các tranh chấp về QTG. Tuy nhiên, tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian thì
không cần phải định hình dưới dạng hình thức nhất định bởi đặc thù của các tác
phẩm này là kết quả lao động sáng tạo trí tuệ của một tập thể, một cộng đồng từ rất
lâu đời và mang tính truyền miệng từ đời này sang đời khác.
Bốn là, tác phẩm được bảo hộ phải có tính ngun gốc
Tính nguyên gốc là một điều kiện quan trọng để tác phẩm được bảo hộ, có
nghĩa là tác phẩm phải do chính tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của
mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác. Tính nguyên gốc phải thể
hiện “màu sắc” riêng của tác giả, do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ
của mình. Nội dung, ý tưởng hay chủ đề của tác phẩm không cần phải mới mà
người sáng tác phải có hình thức thể hiện mới đối với ý tưởng, nội dung, chủ đề đó.
Lưu ý rằng tính mới và tính nguyên gốc là hai khái niệm không đồng nhất, một tác
phẩm không có tính mới vẫn có thể có tính nguyên gốc. Ví dụ: bộ phim “Đất
phương Nam” về nội dung là không mới so với tiểu thuyết cùng tên của Đoàn Giỏi
nhưng vẫn mang tính nguyên gốc vì mang dấu ấn riêng của tác giả, bộ phim là kết
quả đầu tư sáng tạo về bối cảnh, lời thoại, dựng phim… Tính nguyên gốc cũng
không loại trừ khả năng kế thừa của tác phẩm khác, chẳng hạn như tác phẩm
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du dựa vào cốt truyện của tiểu thuyết “Kim Vân Kiều
truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân và sáng tạo lại bằng hình thức thơ lục bát. Cả hai
tác giả trên đều được công nhận là tác giả đối với tác phẩm của mình.
Điều 102 Luật Bản quyền Hoa Kỳ 1976: “…original works of authorship fixed in any tangible medium of
expression…”
11
12
Năm là, quyền tác giả phát sinh một cách tự động từ khi tác phẩm được sáng
tạo mà không cần phải đăng ký với cơ quan có thẩm quyền
Nguyên tắc bảo hộ tự động đối với tác phẩm được ghi nhận tại Công ước
Berne năm 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật: “Việc hưởng và
thực hiện các quyền này không lệ thuộc vào một thể thức, thủ tục nào;…” 12 Đối với
nhiều đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp chỉ được pháp luật bảo hộ khi đã
đăng ký hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của ĐƯQT mà Việt Nam là
thành viên, thì đối với các đối tượng của QTG, việc đăng ký tại Cục Bản quyền tác
giả là không bắt buộc vì tác phẩm được bảo hộ một cách tự động kể từ khi được
sáng tạo ra và thể hiện dưới một hình thức nhất định. Tuy nhiên, việc đăng ký sẽ
giúp tác giả, chủ sở hữu quyền thông báo đến cơ quan quản lý Nhà nước về việc tác
phẩm được sáng tạo ra và chủ thể đang nắm giữ quyền; tạo chứng cứ quan trọng khi
có tranh chấp xảy ra; là sự đảm bảo về mặt hình thức cho các hoạt động chuyển giao
quyền giữa chủ sở hữu với các cá nhân, tổ chức khác.
1.1.2. Khái quát chung về quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh
Theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm điện ảnh được định nghĩa là “ Nghệ thuật
phản ánh hiện thực bằng những hình ảnh hoạt động liên tục, được thu vào phim rồi
chiếu lên màn ảnh.”13 Khái niệm tác phẩm theo Từ điển Tiếng Việt là “Cơng trình
do nhà văn hóa, nghệ thuật hoặc khoa học sáng tạo ra”14. Như vậy tác phẩm điện
ảnh theo định nghĩa trong Từ điển có thể được hiểu là công trình, tác phẩm do nhà
nghệ thuật sáng tạo ra phản ánh hiện thực bằng những hình ảnh hoạt động liên tục,
được thu vào phim rồi chiếu lên màn ảnh.
Dưới góc độ là thuật ngữ pháp lý, thuật ngữ “tác phẩm điện ảnh” được hiểu
như sau:
Theo pháp luật Hoa Kỳ, tác phẩm điện ảnh được sử dụng bởi thuật ngữ
“motion picture”. Tác phẩm điện ảnh theo pháp luật Hoa Kỳ được định nghĩ là “các
tác phẩm nghe nhìn bao gồm một loạt các hình ảnh liên quan, khi được chiếu một
cách liên tục, chúng gây ấn tượng về sự chuyển động cùng với các âm thanh nếu
có”15. Theo Luật Bản quyền của Vương quốc Anh, tác phẩm điện ảnh được sử dụng
12
Khoản 2 Điều 5 Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật
13
Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Chủ Biên Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng, tr. 318
14
Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Chủ Biên Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng, tr. 883
Mục 5 Điều 101 Luật Bản quyền Hoa Kỳ
15
13
bằng thuật ngữ “films”, theo đó khái niệm về “films” được định nghĩa “là bản ghi
trên bất kỳ phương tiện nào mà từ đó hình ảnh chuyển động có thể được tạo ra” 16.
Như vậy, dù cho các quốc gia có sử dụng thuật ngữ “motion picture” hay “films”
cho tác phẩm điện ảnh thì đều mang chung một khái niệm là các tác phẩm bao gồm
các hình ảnh chuyển động.
Khái niệm về tác phẩm điện ảnh đã được ghi nhận trong hệ thống VBQPPL ở
Việt Nam. Tác phẩm điện ảnh và tác phẩm được tạo ra theo phương pháp tương tự
(gọi chung là tác phẩm điện ảnh) là đối tượng được bảo hộ quyền tác giả theo Luật
SHTT 2005 và đây cũng là văn bản pháp lý đầu tiên ghi nhận tác phẩm điện ảnh là
loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Tuy nhiên, trong luật lại không định
nghĩa tác phẩm điện ảnh mà phải đến khi Nghị định 100/2006/NĐ-CP ra đời mới có
một định nghĩa rõ ràng. Theo đó, tác phẩm điện ảnh được định nghĩa “là những tác
phẩm được hợp thành bằng hàng loạt hình ảnh liên tiếp tạo nên hiệu ứng chuyển
động kèm theo hoặc không kèm theo âm thanh, được thể hiện trên một chất liệu
nhất định và có thể phân phối, truyền đạt tới công chúng bằng các thiết bị kỹ thuật,
công nghệ, bao gồm loại hình phim truyện, phim tài liệu, phim khoa học, phim hoạt
hình và các loại hình tương tự khác.”17 Hay theo khoản 6 Điều 6 Nghị định
17/2023/NĐ-CP thì tác phẩm điện ảnh “là tác phẩm có nội dung, được biểu hiện
bằng hình ảnh động liên tiếp hoặc hình ảnh do các thiết bị kỹ thuật, cơng nghệ tạo
ra; có hoặc khơng có âm thanh và các hiệu ứng khác theo ngun tắc của ngơn ngữ
điện ảnh. Hình ảnh tĩnh được lấy ra từ một tác phẩm điện ảnh là một phần của tác
phẩm điện ảnh đó.” Bên cạnh đó, Luật Điện ảnh 2022 ra đời cũng đưa ra khái niệm
về tác phẩm điện ảnh như sau: “Điện ảnh là ngành nghệ thuật tổng hợp, áp dụng
công nghệ nghe nhìn và các thủ pháp sáng tác để sản xuất phim.” Tóm lại, có thể
hiểu rằng tác phẩm điện ảnh là tác phẩm được tạo bởi hàng loạt hình ảnh liên tiếp
tạo nên hiệu ứng chuyển động kèm theo hoặc không kèm theo âm thanh, được thể
hiện trên một chất liệu nhất định và có thể được phân phối, truyền đạt tới công
chúng bằng các thiết bị kỹ thuật, công nghệ.
Dựa vào tiêu chí thể loại phim, pháp luật Việt Nam phân loại tác phẩm điện
ảnh thành các loại hình như sau: phim truyện, phim tài liệu, phim khoa học, phim
hoạt hình và các loại hình tương tự khác (phim nhựa, phim video, phim truyền hình,
16
5B Chapter 1 Copyright, Designs and Patents Act 1988
Điều 14 Nghị định 100/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Dân
sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan
17
14
phim kỹ thuật số)18. Với tính chất là một loại hình nghệ thuật đặc biệt, tác phẩm
điện ảnh có những đặc điểm riêng biệt sau:
Một là, tác phẩm điện ảnh là kết quả của hoạt động tư duy sáng tạo do nhiều
cá nhân hợp thành. Điện ảnh là một môn nghệ thuật tổng hợp được tạo ra do một
tập thể tác giả đồng sáng tạo (đạo diễn, biên kịch, quay phim, dựng phim, âm
thanh…). Do vậy, giá trị lao động sáng tạo của họ được Nhà nước bảo hộ và các cá
nhân, tổ chức khác muốn sử dụng tác phẩm điện ảnh sẽ phải tuân thủ các quy định
về sự đồng ý, cho phép của cả tập thể tác giả nói trên và trả thù lao, nhuận bút để
bảo đảm sự tôn trọng quyền tác giả và tạo cảm hứng cho các tác giả tiếp tục sáng
tạo nghệ thuật.
Hai là, tác phẩm điện ảnh có thể là tác phẩm phái sinh, là sự sáng tạo dựa trên
các tác phẩm gốc hiện có. Quyền làm tác phẩm phái sinh là một độc quyền của tác
giả, chủ sở hữu quyền tác giả nên các tác phẩm chuyển thể, được cải biên vẫn được
bảo hộ nhưng phải chú trọng vấn đề bản quyền của tác phẩm đang được sử dụng.
Ba là, tác phẩm điện ảnh có tính tổng hợp, sáng tạo các loại hình nghệ thuật
với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau. Do đó, các tác phẩm này có thể được
khai thác chung trên phương diện khai thác tác phẩm điện ảnh hoặc khai thác độc
lập từng hoạt động sáng tạo nếu có thể tách riêng.
Bốn là, tính sáng tạo của tác phẩm điện ảnh được thể hiện trong cách sắp xếp,
bố trí, trình bày, cách thức thể hiện các tình tiết trong từng phân đoạn và cách thức
truyền đạt.
Tại khoản 2 Điều 4 Luật SHTT 2005 ghi nhận “Quyền tác giả là quyền của tổ
chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.” và đồng thời
theo khoản 7 Điều 4 Luật SHTT 2005 thì “Tác phẩm là sản phẩm sáng tạo trong
lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình
thức nào.” Khái niệm về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh có thể
được hiểu là những chế định pháp lý do cơ quan có thẩm quyền ban hành nhằm bảo
hộ quyền, lợi ích của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm điện ảnh đối với toàn bộ hoặc
một phần tác phẩm điện ảnh. Nội dung bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện
ảnh cũng như đối với các đối tượng quyền tác giả khác, cũng bao gồm quyền tài sản
và quyền nhân thân.
Điểm a khoản 1 Điều 2 Thông tư 28/2014/TT-BVHTTDL quy định về quản lý hoạt động mua bán hàng
hóa quốc tế thuộc diện quản lý chuyên ngành văn hóa của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
18
15
Bảo hộ quyền tác giả sẽ tự động phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm được định
hình dưới dạng một vật chất nhất định. Theo quy định tại Luật SHTT 2005 Việt
Nam thì đối với các quyền nhân thân sẽ được bảo hộ vô thời hạn (trừ quyền công bớ
tác phẩm)19. Đới với các qùn cịn lại thì thời hạn bảo hộ là 75 năm kể từ khi tác
phẩm được công bố lần đầu tiên; đối với tác phẩm điện ảnh chưa được công bố
trong thời hạn 25 năm, kể từ khi tác phẩm được định hình thì thời hạn bảo hộ là 100
năm. Trong thời hạn bảo hộ, chủ thể quyền được xem như có toàn quyền thực hiện
quyền và chống lại các hành vi xâm phạm20. Khi hết thời hạn bảo hộ, tác phẩm điện
ảnh sẽ thuộc về công chúng; công chúng có quyền sử dụng tác phẩm nhưng vẫn
phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả21.
Việc bảo hộ tác phẩm điện ảnh mang lại cho các chủ thể những ý nghĩa nhất
định. Đối với tác giả, việc bảo hộ tác phẩm điện ảnh tạo điều kiện cho tác giả phát
huy được tài năng trong việc sáng tạo ra những tác phẩm điện ảnh có giá trị về nội
dung và nghệ thuật cao phục vụ cho sự nghiệp giáo dục và phát triển khoa học,
công nghệ của đất nước trong thời kỳ đổi mới. Đối với chủ sở hữu, trong thời hạn
bảo hộ nhất định thì chủ sở hữu sẽ có độc quyền khai thác lợi ích kinh tế; có quyền
sử dụng và định đoạt tác phẩm. Đối với nhà nước, bảo hộ quyền tác giả là công cụ
hữu hiệu nhất nhằm khuyến khích, làm giàu và phở biến di sản văn hố q́c gia và
văn hoá của dân tộc. Các quy định về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện
ảnh cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh và là những điều kiện để một
quốc gia gia nhập các tổ chức quốc tế. Đối với cộng đồng, việc quy định thời hạn
bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh là một quy định có lợi cho tác giả
nhưng đồng thời lại trở thành rào cản ngăn cản một bộ phận công chúng nhất là
những người không có điều kiện kinh tế tiếp cận tác phẩm. Cho nên, việc quy định
một thời hạn bảo hộ hợp lý có ý nghĩa trong việc cân bằng lợi ích của tác giả và
cộng đồng bởi hết thời hạn bảo hộ thì tác phẩm sẽ thuộc về cộng đồng (trừ các
quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn).
Khoản 3 Điều 19; khoản 2 Điều 27 Luật SHTT 2005
Điểm a khoản 2 Điều 27 Luật SHTT 2005
21
Khoản 1 Điều 43 Luật SHTT 2005
19
20
16