Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh theo pháp luật nước ngoài và kinh nghiệm cho việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (854.61 KB, 108 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

LÊ HUỲNH MAI TÂM

BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH
THEO PHÁP LUẬT NƯỚC NGỒI
VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
KHĨA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ

TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 – NĂM 2023


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

LÊ HUỲNH MAI TÂM

BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH THEO PHÁP LUẬT NƯỚC
NGOÀI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. LÊ NHẬT HỒNG

TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 – NĂM 2023


LỜI CAM ĐOAN
Tơi cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Lê Nhật Hồng, đảm bảo tính
trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích, tài liệu tham khảo. Tơi
xin chịu hồn tồn trách nhiệm về lời cam đoan này.


Tác giả

Lê Huỳnh Mai Tâm


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT

1

Từ viết tắt

CPTPP

Từ được viết tắt
Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình
Dương (Comprehensive and Progressive Agreement for
Trans-Pacific Partnership)
Quy định nhãn hiệu thương mại cộng đồng Châu Âu
(Community Trade Mark Regulation)

2

CTMR

3

Dự thảo tờ trình của Bộ Khoa học và Cơng nghệ ngày
Dự thảo tờ

17/11/2020 về việc xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số
trình
điều của Luật Sở hữu trí tuệ được trình Chính phủ
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi bổ sung bởi luật

4

Luật SHTT

số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009, Luật số
02/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 và luật số 7/2022
ngày 16 tháng 6 năm 2022

5

SCT

6

TRAB

Ủy ban Thường trực chịu trách nhiệm nghiên cứu nhãn hiệu,
kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý (Standing Committee
on the Law of Trademarks, Industrial Designs and
Geographical Indications)
Hội đồng xét xử và đánh giá nhãn hiệu (Trademark Review
and Adjudication Board)

7


TRIPS

Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của
quyền SHTT (The Agreement on Trade-Related Aspects of
Intellectual Property Rights)

8

USPTO

Văn phòng sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ (United States
Patent and Trademark Office)

9

WIPO

Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (World Intellectual Property
Organization)


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu ...........................................................................................3
3. Mục đích nghiên cứu ...........................................................................................5
4. Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu ...............................................5
4.1. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................................5
4.2. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................6
5. Bố cục khóa luận .....................................................................................................6

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM
THANH ......................................................................................................................8
1.1. Khái niệm, đặc điểm về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh ..................................8
1.1.1. Khái niệm ...................................................................................................8
1.1.2. Đặc điểm...................................................................................................13
1.2. Sự cần thiết bảo hộ nhãn hiệu âm thanh ....................................................15
1.3. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh .............19
1.3.1. Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu âm thanh ......................................................19
1.3.2. Đăng ký nhãn hiệu âm thanh ....................................................................23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1..........................................................................................27
CHƯƠNG 2. KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VÀ KIẾN NGHỊ
HOÀN THIỆN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH TẠI VIỆT NAM ....28
2.1. Pháp luật một số quốc gia về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh .......................28
2.1.1. Pháp luật Trung Quốc về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh ............................28
2.1.2. Pháp luật Hoa Kỳ về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh ...................................33
2.1.3. Pháp luật Liên minh Châu Âu về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh ................36


2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
...............................................................................................................................39
2.2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
............................................................................................................................39
2.2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hồ sơ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu âm
thanh ...................................................................................................................48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2..........................................................................................50
KẾT LUẬN CHUNG ..............................................................................................51
Danh mục tài liệu tham khảo ....................................................................................54


1


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ghi nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là vấn đề quan trọng luôn được nghiên
cứu và phát triển ở một xã hội văn minh, bởi nó thúc đẩy sự sáng tạo khơng ngừng
của các chủ thể trong xã hội đó1. Nhãn hiệu xuất hiện như một loại tài sản trí tuệ với
mục đích chung nhằm giúp cá nhân, doanh nghiệp thể hiện được sự phân biệt về sản
phẩm của mình với các sản phẩm khác trên thị trường. Các quy định về nhãn hiệu
được xây dựng để bảo vệ loại tài sản trí tuệ này, hỗ trợ các chủ thể trong kinh doanh,
sáng tạo và người tiêu dùng trong lựa chọn hàng hóa trên thị trường. Trong q trình
hội nhập kinh tế thế giới, Việt Nam luôn dành sự quan tâm lớn cho việc xây dựng và
hoàn thiện pháp luật sở hữu trí tuệ từ việc khơng ngừng học hỏi, rút kinh nghiệm để
chủ động trong quan hệ thương mại thế giới, hạn chế rủi ro, thiệt hại cho các chủ thể
khi tham gia2.
Một nhãn hiệu hàng hóa đã được xác lập với sự thừa nhận rõ ràng của khách
hàng có thể là tài sản duy nhất và có giá trị nhất trong số bất kỳ tài sản nào mà một
doanh nghiệp có thể chiếm hữu3. Thị trường ln vận động và phát triển. Sản phẩm
cũng vì thế ln được sáng tạo, đa dạng, mang đến cho người tiêu dùng nhiều lựa
chọn phong phú. Người tiêu dùng không chỉ đơn giản là sử dụng sản phẩm, mà họ
còn bắt đầu có nhu cầu nhận diện các thơng tin, độ tin cậy, thông điệp của sản phẩm
mà họ lựa chọn. Do đó, nhãn hiệu ngày càng khẳng định vai trị của nó đối với hoạt
động kinh tế của xã hội. Khởi nguồn của nhãn hiệu chỉ là các dấu hiệu nhìn thấy
đượcnhư hình vẽ, chữ viết, hình ảnh,... Theo tiến trình phát triển của thời đại 4.0,
doanh nghiệp ứng dụng công nghệ vào nhiều hoạt động, trong đó có việc sáng tạo ra
nhãn hiệu được cấu thành từ những dấu hiệu với cách biểu đạt đa dạng hơn, chẳng
hạn âm thanh, mùi hương, mùi vị, hình ảnh ba chiều,... để tạo cho người tiêu dùng sự
phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể cung ứng khác nhau trên thị trường. Điều

1


Lê Nhật Hồng (2022), Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh theo pháp luật sở hữu trí tuệ, Luận văn Thạc sĩ, Trường

Đại học Luật TP.HCM, tr. 1.
2
Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2018), Giáo trình Pháp luật Sở hữu trí tuệ, Trần Văn Nam và Nguyễn Thị
Hồng Hạnh, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, tr.1.
3
Kamil Idris (2004), “Sở hữu trí tuệ - Một cơng cụ đắc lực để phát triển kinh tế”, Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế
giới, tr. 148.


2

này đặt ra nhu cầu trong bảo hộ các loại dấu hiệu được xem là “mới” này ở các quốc
gia, trong đó có Việt Nam.
Trong xu thế về liên kết hội nhập, tự do hóa đầu tư thương mại vẫn là dịng
chảy chính, ngày 08/3/2018 Việt Nam ký kết Hiệp định Đối tác tồn diện và tiến bộ
xun Thái Bình Dương (CPTPP). CPTPP chính thức có hiệu lực tại Việt Nam từ
ngày 14/01/2019, mở ra những cơ hội và thách thức nhất định cho nền kinh tế. CPTPP
tạo thuận lợi cho Việt Nam trong việc đẩy nhanh cải cách thể chế trong nước để vận
hành nền kinh tế thị trường một cách tồn diện, tạo mơi trường đầu tư - kinh doanh
thơng thống, minh bạch, bởi khi gia nhập CPTPP, Việt Nam phải đưa ra những cam
kết rõ ràng hơn trong việc cải thiện môi trường đầu tư và bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ.4 Theo đó, Điều 18.18 CPTPP quy định không bên nào được từ chối bảo hộ nhãn
hiệu với lý do dấu hiệu cấu thành là âm thanh. Nhằm đáp ứng quy định từ CPTPP,
Việt Nam đã chính thức ghi nhận “nhãn hiệu âm thanh” tại Luật sửa đổi bổ sung một
số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 07/2022/QH15, tạo điều kiện từng bước hồn thiện
pháp luật sở hữu trí tuệ.
Việc sửa đổi bổ sung nhằm công nhận loại nhãn hiệu này chủ yếu dựa trên nền
tảng các quy định trước đó của pháp luật Việt Nam về việc bảo hộ các loại nhãn hiệu

được cảm nhận bằng thị giác. Hiện các quy định chi tiết về điều kiện bảo hộ, thành
phần hồ sơ đăng ký chỉ đang thể hiện ở mức khái quát, chưa có sự cụ thể hóa. Việc
chưa có hướng dẫn, giải thích chi tiết về các điều kiện bảo hộ có khả năng dẫn đến
việc hiểu không thống nhất cho các bên trong quá trình áp dụng cho cả cơ quan thẩm
định, chủ thể có nhu cầu bảo hộ và chính người tiêu dùng. Chính điều này vơ hình
trung tạo nên rào cản cho các chủ thể trong quá trình bảo hộ nhãn hiệu âm thanh. Do
đó rất cần thiết có các quy định cụ thể, hướng dẫn chi tiết để làm rõ từng nội dung về
bảo hộ nhãn hiệu âm thanh nhằm đạt được hiệu quả tối ưu trong việc thực thi.
Tại các quốc gia phát triển, sự ghi nhận cơ sở pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu âm
thanh không phải là quá mới mẻ. Nhãn hiệu âm thanh dần trở thành quy luật tất yếu
của sự phát triển khi mà khoa học, công nghệ, thiết bị truyền dẫn âm thanh trở nên
hữu ích. Quy định về bảo hộ đối tượng này đang ngày càng được nhiều quốc gia ghi
nhận chẳng hạn Hoa Kỳ, Úc, Canada, Trung Quốc, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản...
4

Trần Phương Thảo, Nguyễn Thị Diệu Hiền (2018), “CPTPP - Cơ hội và thách thức cho Việt Nam”, Tạp chí

Con số & Sự kiện, số 5/2018, tr. 8.


3

Bởi việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh tại Việt Nam còn khá mới, việc tham khảo, học
hỏi các quy định và vụ việc thực tiễn từ pháp luật các quốc gia trên là điều vô cùng
cần thiết trong quá trình hồn thiện khung pháp lý có liên quan. Đặc biệt tác giả cho
rằng, pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh của Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu cần
được nghiên cứu chuyên sâu để làm nguồn tham khảo bởi sự vận hành lâu dài của
các quy định này từ những năm đầu thế kỷ XX, đồng thời, pháp luật Trung Quốc
cũng là một đối tượng được phân tích bởi quốc gia này có những nét tương đồng về
tơn giáo, văn hóa, lịch sử và pháp luật.

Từ những nội dung trên, tác giả lựa chọn đề tài “Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
theo pháp luật nước ngoài và kinh nghiệm cho Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt
nghiệp. Khóa luận gồm những nội dung: tổng quan các vấn đề về bảo hộ nhãn hiệu
âm thanh, các quy định bảo hộ nhãn hiệu âm thanh theo pháp luật một số quốc gia và
phương thức giải quyết tranh chấp liên quan đến vấn đề bảo hộ nhãn hiệu âm thanh.
Từ đó rút ra kinh nghiệm, đề xuất kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện các
quy định về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh cho pháp luật Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan về vấn đề bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, có thể kể đến các bài viết,
cơng trình nghiên cứu, tài liệu Việt Nam và nước ngồi tiêu biểu sau:
Nhóm bài viết, cơng trình nghiên cứu, tài liệu Việt Nam
-

-

-

Trường Đại học Luật TP.HCM (2023), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ,
Nguyễn Hồ Bích Hằng, Nguyễn Xn Quang, Nhà xuất bản Hơng Đức:
giáo trình cung cấp các kiến thức về nhãn hiệu nói chung, nền tảng lý luận
cho các vấn đề về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu. Tác giả vận dụng để tham
khảo cho phần nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm bảo hộ nhãn hiệu âm
thanh ở chương 1.
Phùng Trung Tập (2021), Quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ và chuyển giao, Nhà
xuất bản Cơng an nhân dân: sách có nội dung phân tích các vấn đề bảo hộ,
bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung. Tác giả vận dụng để tham khảo, tạo
cơ sở làm rõ khái niệm “bảo hộ” trong chương 1.
Lê Nhật Hồng (2022), Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh theo pháp luật sở hữu
trí tuệ, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP.HCM: Luận văn này
cung cấp các kết quả nghiên cứu chuyên sâu về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh



4

xoay quanh vấn đề về điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu âm thanh, thủ tục
đăng ký bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và các biện pháp bảo vệ nhãn hiệu âm
thanh. Tác giả vận dụng các nội dung của luận văn để tham khảo nghiên

-

cứu chủ yếu cho các nội dung về khái niệm, đặc điểm bảo hộ nhãn hiệu âm
thanh và phân tích pháp luật Việt Nam tại chương 1.
Phùng Thị Yến, Lê Hồng Anh (2021), “Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh khơng
có tính phân biệt cố hữu: Quy định của một số nước và đề xuất cho Việt
Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 05: bài viết có nội dung phân
tích trọng tâm các điều kiện để bảo hộ loại nhãn hiệu âm thanh khơng có
tính phân biệt cố hữu thơng qua đánh giá các vụ việc cụ thể ở pháp luật

-

một số quốc gia khác. Tác giả tham khảo nội dung bài viết này chủ yếu cho
các nội dung tại chương 2 phân tích pháp luật một số quốc gia về quy định
bảo hộ nhãn hiệu âm thanh.
Cao Thị Lê Thương (2022), “Quy định âm thanh được thể hiện dưới dạng
đồ họa - phân tích pháp luật EU và gợi mở cho Việt Nam”, Tạp chí Cơng
thương, số 24 tháng 11 năm 2022: bài viết phân tích các quy định âm thanh
được thể hiện dưới dạng đồ họa trong pháp luật Liên minh Châu Âu và đưa
ra đánh giá về tính tham khảo của các quy định này cho Việt Nam. Tác giả
vận dụng các nội dung của bài viết để nghiên cứu và làm cơ sở cho các nội
dung trong mục 2.1.3 pháp luật Liên minh Châu Âu về bảo hộ nhãn hiệu

âm thanh.

Nhóm bài viết, cơng trình nghiên cứu, tài liệu nước ngoài
-

-

Robert D. O'Brien (1968), “Why have a trademark policy”, The trademark
reporter, Vol 58: bài viết trình bày nội dung về sự cần thiết của quy định
về nhãn hiệu, cũng như đưa ra những khái niệm cơ bản về bảo hộ nhãn hiệu
nói chung. Tác giả nghiên cứu các nội dung của bài tạp chí này để tham
khảo cho các cơ sở lý luận chủ yếu ở chương 1.
Xinyu Zhang (2021), “From Audio Branding to Sound Trademark: A
Comparative Study in the EU and the US”, Scientific Research Publishing:
bài viết trình bày các ý nghĩa quan trọng của việc ghi nhận bảo hộ nhãn
hiệu âm thanh, phân tích quy định pháp luật và các vụ việc thực tiễn về bảo
hộ nhãn hiệu âm thanh ở Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ. Đây là tài liệu có


5

giá trị tham khảo cho tác giả cho các nội dung phân tích quy định pháp luật
nước ngồi tại mục 2.1 của khóa luận.
3. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện khóa luận này, tác giả tập trung nghiên cứu làm rõ các vấn đề sau:
Thứ nhất, phân tích vấn đề khái quát của bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, làm rõ
khái niệm và đặc điểm cũng như sự cần thiết của việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh.
Thứ hai, phân tích các quy định pháp luật của Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu
âm thanh, về điều kiện công nhận bảo hộ, hồ sơ đăng ký bảo hộ để làm rõ và đưa ra
đánh giá về sự phù hợp cũng như những bất cập cịn cần hồn thiện.

Thứ ba, phân tích các quy định pháp luật một số quốc gia khác với nền pháp
luật sở hữu trí tuệ tiên tiến để tham khảo quá trình áp dụng pháp luật về bảo hộ nhãn
hiệu âm thanh. Từ đó thực hiện so sánh, đối chiếu, đánh giá sự phù hợp của các quy
định này trong giai đoạn và bối cảnh hiện tại của Việt Nam.
Dựa vào các nội dung trên, tác giả tổng hợp để đưa ra những kiến nghị mang
tính đề xuất về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, hồ sơ đăng ký nhãn hiệu âm
thanh nhằm tạo giá trị tham khảo để Việt Nam xây dựng hoàn thiện hơn các quy định
về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh.
4. Phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: khóa luận nghiên cứu các vấn đề về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
ở các văn bản pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam và các quốc gia khác cũng như
thực tiễn xét xử có liên quan đến tranh chấp về nhãn hiệu âm thanh.
Về khơng gian: khóa luận nghiên cứu pháp luật Việt Nam và pháp luật một số
quốc gia khác. Pháp luật nước ngồi được lựa chọn dựa trên tiêu chí sự tiên tiến của
pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, các sự tương đồng về văn hóa, chính trị, thị
trường,… với Việt Nam. Điển hình là khung pháp lý của Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên
minh Châu Âu.
Về thời gian: khóa luận nghiên cứu pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện
hành bao gồm Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, 2019, 2022
và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Đối với pháp luật nước ngoài, tác giả nghiên


6

cứu pháp luật, các vụ việc thực tiễn trong giai đoạn ghi nhận bảo hộ nhãn hiệu âm
thanh.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này, tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên
cứu (1) phương pháp hệ thống hóa lý thuyết, (2) phương pháp tổng hợp, (3) phương

pháp phân tích, (4) phương pháp case study, (5) phương pháp so sánh, cụ thể như sau
Trong Chương 1. Những vấn đề chung về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh: tác giả
sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống hóa lý thuyết, phương pháp
phân tích. Tác giả tổng hợp các sơ sở lý luận chung về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh,
và quy định pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh tại Việt Nam. Sử dụng phương
pháp hệ thống hóa lý thuyết giúp tác giả hệ thống các nội dung được tổng hợp theo
trình tự hợp lý để đưa ra cơ sở thuyết phục cho việc phân tích các vấn đề trong chương.
Phương pháp phân tích được dùng để phân tích các cơ sở lý luận về bảo hộ nhãn hiệu
âm thanh. Từ các phân tích chặt chẽ, tác giả đưa ra quan điểm để làm rõ khái niệm,
đặc điểm và sự cần thiết về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh. Đồng thời, tác giả thực hiện
phân tích các khía cạnh của thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu âm
thanh để đưa ra nhận xét chung và quan điểm về việc quy định cần hoàn thiện theo
hướng như thế nào.
Trong Chương 2. Kinh nghiệm pháp luật nước ngoài và kiến nghị hoàn thiện
về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh tại Việt Nam: tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp,
phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống hóa lý thuyết, phương pháp case study,
phương pháp so sánh. Tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp để tổng hợp pháp luật
nước ngoài về quy định bảo hộ nhãn hiệu âm thanh và sắp xếp một cách có hệ thống
các khía cạnh trong vấn đề. Đối với phương pháp case study, tác giả vận dụng để
phân tích, đánh giá các vụ việc thực tiễn về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh ở nước ngồi
để làm cơ sở cho các lập luận có giá trị kiến nghị thực tế cao. Phương pháp phân tích
giúp tác giả đưa ra các đánh giá có tính logic, hợp lý, chặt chẽ hơn. Tác giả sử dụng
phương pháp so sánh để làm rõ bối cảnh quy định bảo hộ nhãn hiệu âm thanh của
pháp luật nước ngoài, cho thấy điểm tiến bộ, phù hợp và rút ra bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam. Sau khi thực hiện phân tích, so sánh, tác giả tiến hành tổng hợp chung
các vấn đề cốt lõi để đưa ra kiến nghị cuối cùng nhằm hoàn thiện quy định về bảo hộ
nhãn hiệu âm thanh cho Việt Nam.
5. Bố cục khóa luận
Ngồi Phần mở đầu thì Phần nội dung của khóa luận gồm hai chương:



7

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM
THANH
CHƯƠNG 2. KINH NGHIỆM PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI VÀ KIẾN NGHỊ
HOÀN THIỆN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH TẠI VIỆT NAM


8

CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU ÂM THANH
1.1. Khái niệm, đặc điểm về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
1.1.1. Khái niệm
Dưới góc độ từ ngữ, “bảo hộ” (protection) theo giải thích từ Từ điển
Cambridge là hành động giữ an toàn cho đối tượng khỏi hư hỏng, mất mát5. Luật Sở
hữu trí tuệ năm 2005, được sửa đổi bổ sung bởi luật số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng
6 năm 2009, Luật số 02/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019 và luật số 7/2022
ngày 16 tháng 6 năm 2022 (sau đây gọi tắt là Luật SHTT) không đưa ra khái niệm cụ
thể để giải thích thuật ngữ “bảo hộ” đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp. Tuy
nhiên, trong các văn kiện quốc tế có sự ghi nhận, giải thích về thuật ngữ này. Cụ thể,
Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)
đưa ra giải thích "bảo hộ" phải bao gồm các vấn đề ảnh hưởng đến khả năng đạt được,
việc đạt được, phạm vi, việc duy trì hiệu lực và việc thực thi các quyền sở hữu trí tuệ,
cũng như các vấn đề ảnh hưởng đến việc sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ được quy
định rõ trong Hiệp định này6. Bàn về ý nghĩa “bảo hộ”, tác giả Lê Thị Kim Chi cho
rằng bảo hộ là việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để tạo cơ sở pháp lý
cho các chủ thể xác lập quyền, thực thi quyền, thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền
trước hành vi xâm phạm, tạo môi trường bình đẳng cho các đối tượng được bảo hộ7.

Bên cạnh thuật ngữ “bảo hộ” thì thuật ngữ “bảo vệ” cũng thường được sử
dụng. Tuy nhiên, nội hàm của hai thuật ngữ này có sự khác biệt nhất định với nhau.
Trong định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, “bảo vệ” được giải thích là giữ cho khơng
hư hỏng, cịn ngun vẹn hoặc không bị bác bỏ8. Tác giả Phùng Trung Tập cho
rằng“bảo vệ” đối với quyền sở hữu trí tuệ rằng “là các biện pháp, cách thức của chủ
sở hữu, của Tịa án, của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc ngăn chặn, hạn

5
6

truy cập ngày 11/5/2023.
Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (chú thích số 3),

truy cập ngày 25/5/2023.
7
Lê Thị Kim Chi (2014), Bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường
Đại học Luật TP.HCM, tr. 23.
8
truy cập ngày
07/5/2023.


9

chế, buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, buộc bồi thường thiệt hại do có hành vi xâm
phạm đến các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, của chủ sở hữu quyền
tác giả, của chủ thể có quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền của tác giả, quyền
của chủ Bằng bảo hộ đối với các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp và quyền
ngăn chặn hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công
nghiệp của chủ sở hữu”9. Hành động bảo vệ chỉ được thực hiện trong giai đoạn có

hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đã có hành vi gây thiệt hại và nhằm ngăn
chặn các hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh.
Qua đó, tác giả nhận thấy, “bảo hộ” có phạm vi rộng hơn “bảo vệ” và bao
gồm “bảo vệ”. Bảo hộ là ban hành quy định, chính sách và các biện pháp pháp lý
chống lại hành vi xâm phạm. Như vậy, hiểu được bảo hộ và bảo vệ giúp xác định
được đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
Dưới góc độ từ ngữ, “nhãn hiệu” (trademark) có nghĩa là tên hoặc biểu tượng
trên sản phẩm, thể hiện sản phẩm được sản xuất bởi công ty nào, đồng thời các công
ty khác không thể sử dụng nó mà khơng được sự cho phép 10. Nhãn hiệu cần được
phân biệt với thương hiệu. Thương hiệu không phải là đối tượng quyền sở hữu cơng
nghiệp mà nó là khái niệm kinh tế chỉ những dấu hiệu có giá trị thương mại11. Nhãn
hiệu chính là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ghi nhận và bảo hộ nó dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ. Văn phịng
sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) đưa ra giải thích rằng nhãn hiệu là bất kỳ
từ, cụm từ, ký hiệu, thiết kế hoặc sự kết hợp của những điều này để xác định hàng
hóa, dịch vụ; điều đó giúp khách hàng nhận ra sản phẩm, dịch vụ trên thị trường và
phân biệt với các đối thủ cạnh tranh12. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) cũng
ghi nhận khái niệm nhãn hiệu là “dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ

Phùng Trung Tập (2021), Quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ và chuyển giao, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr.
440.
9

10
11

truy cập ngày 08/5/2023.
Trường Đại học Luật TP.HCM (2023), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Nguyễn Hồ Bích Hằng, Nguyễn Xuân

Quang, Nhà xuất bản Hơng Đức, tr. 280.

Văn phịng sáng chế và nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO), “What is a trademark?”,
/>
trademark#:~:text=A%20trademark%20can%20be%20any%20word%2C%20phrase%2C%20symbol%2C,th
e%20marketplace%20and%20distinguish%20you%20from%20your%20competitors,
truy
cập
ngày
08/5/2023.


10

của doanh nghiệp này với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp khác” 13. Tác giả
Robert D. O'Brien nhận định về khái niệm nhãn hiệu từ khía cạnh tính năng rằng nhãn
hiệu là biểu tượng mà cơng chúng có thể nhận ra và có sự liên kết với cơng ty14. Như
vậy, nhãn hiệu là dấu hiệu mà cá nhân, tổ chức dùng để phân biệt sản phẩm của mình
với các sản phẩm của cá nhân, tổ chức khác.
Tuy nhiên, các khái niệm trên được giải thích từ khía cạnh tiếp cận khác nhau,
và tồn tại sự khác nhau về phạm vi các dấu hiệu cấu thành nên nhãn hiệu. Theo khái
niệm mà USPTO đưa ra, các dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu được liệt kê cụ thể, chỉ
bao gồm: từ, cụm từ, ký hiệu, thiết kế hoặc sự kết hợp của các yếu tố vừa nêu. Đặc
điểm của các dấu hiệu này là phải nhìn thấy được. Khái niệm theo nhận định của
WIPO thì khơng liệt kê các dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu, mà WIPO hướng đến làm
rõ chức năng của nhãn hiệu là phân biệt được hàng hóa. Phạm vi của dấu hiệu cấu
thành nhãn hiệu theo khái niệm của WIPO được mở rộng hơn. Bên cạnh đó, khái
niệm về nhãn hiệu trong Hiệp định TRIPS cũng theo hướng mở rộng phạm vi dấu
hiệu, theo đó “bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân
biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các
doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hố. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là
các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các màu

sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là
nhãn hiệu hàng hố”. Như vậy, theo quan điểm trên, phạm vi khái niệm nhãn hiệu
bao gồm bất kỳ dấu hiệu nào, khơng có sự giới hạn mà chỉ cần bảo đảm được chức
năng chính của nhãn hiệu là phân biệt hàng hóa hay dịch vụ.
Ở pháp luật một số quốc gia có sự ghi nhận khái niệm nhãn hiệu cũng xác định
cách hiểu cho thuật ngữ “nhãn hiệu” Chẳng hạn theo Điều 8 Luật Nhãn hiệu Cộng
hòa Nhân dân Trung Hoa năm 2019 (Trademark Law of the People's Republic of
China 2019) quy định “bất kỳ dấu hiệu nào, bao gồm từ ngữ, đồ thị, chữ cái, chữ số,
ký hiệu ba chiều, sự kết hợp màu sắc, âm thanh hoặc bất kỳ sự kết hợp nào của chúng,
có khả năng phân biệt hàng hóa của một cá nhân, pháp nhân hoặc tổ chức khác với
hàng hóa của những người khác đều có thể được áp dụng để đăng ký làm nhãn hiệu”.
Theo Quy định số 2017/1001 của Nghị viện Châu Âu và Hội đồng về nhãn hiệu
(Regulation (EU) 2017/1001 of the European parliament and of the Council) thì nhãn
13

truy cập ngày 08/5/2023.

14

Robert D. O'Brien (1968), “Why have a trademark policy”, The trademark reporter, Vol 58, tr. 458.


11

hiệu được giải thích là “có thể bao gồm bất kỳ dấu hiệu nào, cụ thể là các từ, bao
gồm tên riêng, hoặc thiết kế, chữ cái, chữ số, màu sắc, hình dạng của hàng hóa hoặc
bao bì của hàng hóa hoặc âm thanh với điều kiện là các dấu hiệu đó có khả năng:
(a) phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một cam kết với hàng hóa hoặc dịch vụ của
các cam kết khác; (b) được đại diện trên Sổ đăng ký nhãn hiệu của Liên minh Châu
Âu, theo cách cho phép cơ quan có thẩm quyền và cơng chúng để xác định rõ ràng

và chính xác đối tượng của sự bảo hộ dành cho chủ sở hữu của nó”. Hay tại Hoa Kỳ,
USPTO đã đưa ra giải thích nhãn hiệu được cấu thành từ các dấu hiệu từ, cụm từ, ký
hiệu, thiết kế hoặc sự kết hợp của các yếu tố vừa nêu. Quy định về nhãn hiệu ở mỗi
quốc gia có sự khác nhau trong phạm vi các dấu hiệu cấu thành. Nhìn chung, các quy
định đều nhằm mục đích góp phần giúp cơ quan có thẩm quyền dễ dàng xác định và
thẩm định đúng nhãn hiệu trong quá trình bảo hộ. Tùy thuộc vào nhu cầu bảo hộ, bối
cảnh kinh tế, sự phát triển thương mại, q trình hội nhập,... mà pháp luật quốc gia
có sự ghi nhận về các nhãn hiệu được bảo hộ nhằm đáp ứng tối ưu nhất cho nhu cầu
đăng ký nhãn hiệu tại quốc gia mình. Trong bối cảnh sự phát triển của kinh tế tri thức
và công nghệ, sự xuất hiện càng nhiều các đối tượng sở hữu trí tuệ mới cần được bảo
hộ là một điều tất yếu15. Các dấu hiệu mới như âm thanh, mùi hương, hình ảnh ba
chiều,... cần được ghi nhận và có cơ chế pháp lý hoàn chỉnh để được bảo hộ đầy đủ
trong xã hội phát triển hiện nay.
Trên cơ sở lý luận, nhãn hiệu có ba chức năng chính: chức năng phân biệt
nguồn gốc thương mại của sản phẩm/dịch vụ; chức năng bảo đảm chất lượng; chức
năng quảng cáo16. Với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, quy định
về các dấu hiệu của nhãn hiệu cũng dần được mở rộng, miễn là nhãn hiệu đáp ứng
được chức năng cốt lõi mà giai đoạn đó cần hướng đến. Dựa vào các yếu tố khác nhau
mà người ta chia nhãn hiệu thành nhiều loại, Ủy ban Thường trực chịu trách nhiệm
nghiên cứu nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý (SCT) được thành lập
bởi WIPO phân tích các nhãn hiệu phi truyền thống và chia nó thành hai nhóm: nhãn
hiệu trực quan (nhãn hiệu ba chiều (Three-Dimensional Marks), nhãn hiệu màu sắc
(Color Marks),..) và nhãn hiệu không trực quan (nhãn hiệu âm thanh (Sound Marks),
Phùng Thị Yến, Lê Hồng Anh (2021), “Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh khơng có tính phân biệt cố hữu: Quy
định của một số nước và đề xuất cho Việt Nam”, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 05, tr. 56.
15

W.R. Cornish (1996), “Intellectual Property: Patents, Copyright, Trade Marks and Allied Rights”, The
Modern Law Review, Vol. 45 No. 1.
16



12

nhãn hiệu hương vị (Taste marks), nhãn hiệu mùi hương (Olfactory marks)...17 Pháp
luật về Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định khái niệm về nhãn hiệu tại khoản 16 Điều
4 Luật SHTT “là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá
nhân khác nhau”, trước đây, Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019
chưa ghi nhận âm thanh có thể trở thành nhãn hiệu, tuy nhiên, Luật số 07/2022/QH15
chính thức ghi nhận âm thanh có thể là dấu hiệu được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn
hiệu. Dấu hiệu âm thanh này phải được “thể hiện được dưới dạng đồ họa”. Điều này
cho thấy bước tiến mới của pháp luật sở hữu trí tuệ.
“Âm thanh” và “âm nhạc” là hai khái niệm khác nhau. “Âm nhạc” là loại
hình nghệ thuật dùng âm thanh để diễn đạt các cung bậc cảm xúc, tình cảm của con
người, gồm hai thể loại chính là thanh nhạc và khí nhạc 18. “Âm thanh” (The sound)
được hiểu một cách cơ bản là bất kỳ “âm” nào phát ra và được cảm nhận bằng thính
giác của con người, đó là âm nói chung19. Âm thanh được tạo ra bởi sự dao động
những sóng âm. Những sóng âm này lan truyền trong không gian đến tai người làm
cho màng nhĩ cũng dao động cùng với tần số của sóng đó. Từ màng nhĩ những sóng
âm này truyền qua hệ thần kinh của bộ não tạo nên cảm giác về âm thanh20. Âm thanh
có phạm vi rộng hơn âm nhạc và bao gồm cả âm nhạc.
Theo định nghĩa WIPO đưa ra thì nhãn hiệu âm thanh là nơi thể hiện giai điệu
được trình bày bởi các nốt nhạc21. Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Hạnh đưa ra quan điểm
về nhãn hiệu âm thanh là “nhãn hiệu sử dụng các dấu hiệu nhận biết bằng thính giác
để tạo thành dấu hiệu giúp người tiêu dùng nhận biết được nguồn gốc thương mại
của sản phẩm hoặc dịch vụ”22. Cách diễn đạt khác về nhãn hiệu âm thanh theo tác
giả Lê Nhật Hồng, đó là “các dấu âm thanh nghe thấy được, dùng để phân biệt hàng
hoá, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức khác nhau và được cơ quan nhà nước có thẩm
17


Roberto Carapeto (2016), “A Reflection About the Introduction of Non-Traditional Trademarks”, Waseda

Bulletin of. Comparative Law, số 34, tr. 26.
18
Âm nhạc là gì? Tác dụng của âm nhạc trong cuộc sống, />truy cập ngày 10/5/2023.
19

Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, Nhà xuất bản

Văn hố Thơng tin, tr. 63.
20
truy cập ngày 10/5/2023.
21
22

truy cập ngày 10/5/2023.
Nguyễn Thị Hoàng Hạnh (2021), “Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh – Kinh nghiệm quốc tế và những đề xuất cho

Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 09/2021, tr. 37-49.


13

quyền cấp văn bằng bảo hộ”23. Trong bài viết “Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh theo pháp
luật Hoa Kỳ - kinh nghiệm đối với Việt Nam”, tác giả Lê Thị Lụa cho rằng nhãn hiệu
âm thanh là nhãn hiệu được tạo ra từ các dấu hiệu là âm hưởng, nhận biết bằng thính
giác, có thể do tổ hợp các đơn âm hoặc thang âm cấu thành, dùng để phân biệt nguồn
gốc thương mại của sản phẩm hoặc dịch vụ24.
Nhìn chung, quan điểm của các tác giả trên về nhãn hiệu âm thanh đều cho
rằng, nhãn hiệu âm thanh chính là dấu hiệu âm thanh mà thính giác cảm nhận được.

Các nhãn hiệu đều phải đáp ứng được chức năng cơ bản là phân biệt hàng hóa, dịch
vụ. Dựa vào các phân tích trên kết hợp với tính chất của “âm thanh” và “nhãn hiệu”,
tác giả đưa ra quan điểm rằng “nhãn hiệu âm thanh” là một loại nhãn hiệu phi truyền
thống; đáp ứng được chức năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ khác trên thị trường;
được cấu thành bởi dấu hiệu âm thanh mà con người có thể cảm nhận đầy đủ nó bằng
thính giác; và được đăng ký bảo hộ thành công theo quy định của pháp luật quốc gia.
1.1.2. Đặc điểm
Từ khái niệm trên, nhận thấy, nhãn hiệu âm thanh có đầy đủ đặc điểm của một
nhãn hiệu đó là phân biệt hàng hóa, dịch vụ với nhau và đặc trưng riêng biệt chỉ có
nhãn hiệu âm thanh có được là cấu thành từ dấu hiệu âm thanh – loại dấu hiệu không
trực quan. Tác giả khái quát nhãn hiệu âm thanh gồm ba đặc điểm sau:
Thứ nhất, nhãn hiệu âm thanh có đặc điểm chung là giúp phân biệt các hàng
hóa, dịch vụ với nhau. Xuất phát từ đặc tính là một loại nhãn hiệu vì vậy nhãn hiệu
âm thanh trước hết phải thực hiện được chức năng chính của nhãn hiệu là phân biệt
hàng hóa, dịch vụ cùng loại25. Nhãn hiệu âm thanh được cấu thành bởi các dấu hiệu
âm thanh, mà con người sẽ cảm nhận được qua thính giác. Q trình để con người
nghe được âm thanh là quá trình phối hợp phức tạp, chặt chẽ giữa đôi tai và não bộ.
Âm thanh được tạo ra dưới dạng sóng âm hoặc dao động và truyền đến tai, rồi đến
não bộ xử lý giúp con người cảm nhận và phân biệt được các âm thanh. Chính bởi
đặc tính đó của âm thanh nên nhãn hiệu âm thanh được cấu thành bởi các âm thanh
23

Lê Nhật Hồng (2022), tlđd (1), tr. 20.

Lê Thị Lụa, Bảo hộ nhãn hiệu âm thanh theo pháp luật Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam,
/>24

6U_%C3%82M_THANH_THEO_PH%C3%81P_LU%E1%BA%ACT_HOA_K%E1%BB%B2_KINH_NG
HI%E1%BB%86M_CHO_VI%E1%BB%86T_NAM, truy cập ngày 14/5/2023.
25


Trường Đại học Luật TP.HCM, tlđd (11), tr. 284.


14

khác nhau sẽ giúp người tiêu dùng nhận định sự khác biệt và liên tưởng đến hàng hóa
tương ứng của nhãn hiệu âm thanh đó. Từ đó, người tiêu dùng thông qua nhãn hiệu
âm thanh mà phân biệt được các hàng hóa, dịch vụ. Đây là đặc điểm cơ bản nhất của
nhãn hiệu âm thanh.
Đặc điểm chung thứ hai đó là nhãn hiệu âm thanh là tài sản vơ hình. Tài sản
trí tuệ là tài sản vơ hình (intangible property) và do đó con người khơng thể chiếm
hữu về mặt vật lý như những tài sản hữu hình (tangible property) khác26. Nhãn hiệu
âm thanh là tài sản trí tuệ vì vậy nó cũng mang đặc điểm là loại tài sản vơ hình. Con
người sở hữu chiếc điện thoại, xe đạp, quyển sách,... đều là các vật thể hữu hình và
có thể chiếm hữu về mặt vật lý. Tuy nhiên, đối với nhãn hiệu âm thanh, con người
khơng thể có sự chiếm hữu vật lý đó mà chỉ được sở hữu dưới dạng quyền sở hữu trí
tuệ. Như đề cập ở phần trên, SCT phân loại nhãn hiệu âm thanh là nhãn hiệu khơng
trực quan. Bởi ngay chình từ dấu hiệu cấu thành nó đã là âm thanh mang tính vơ hình.
Như vậy, khi được đăng ký thành cơng và bảo hộ dưới hình thức nhãn hiệu âm thanh
thì nó trở thành loại tài sản vơ hình có giá trị.
Thứ ba, đặc trưng riêng chỉ có ở nhãn hiệu âm thanh là được cấu thành bởi dấu
hiệu âm thanh – dấu hiệu cảm nhận được thơng qua thính giác. Điểm khác biệt lớn
nhất giữa nhãn hiệu âm thanh với các nhãn hiệu truyền thống trước đây luật từng ghi
nhận chính là bởi yếu tố cấu thành. Âm thanh trước hết là dấu hiệu khơng thể nhìn
thấy, chạm vào được, trình bày được thơng qua thị giác. Đặc tính của âm thanh là
được thể hiện qua các “âm” có cao độ khác nhau, có sự sinh động và chỉ có thể cảm
nhận thơng qua lắng nghe bằng thính giác. Chính bởi đặc trưng này nên khả năng tiếp
nhận và phân biệt nhãn hiệu âm thanh ở mỗi người cũng có sự khác nhau. Nếu trường
hợp là nhãn hiệu được cấu thành từ hình ảnh thì mọi người tiêu dùng nhìn vào đều có

nhận biết giống nhau về hình ảnh đó bởi nó hiển thị trực quan. Tuy nhiên đối với âm
thanh vì nó khơng trực quan nên mỗi cá nhân sẽ có độ chênh khác nhau trong việc
tiếp nhận nó. Để dấu hiệu âm thanh có thể được cơng nhận là nhãn hiệu âm thanh thì
cần thỏa mãn điều kiện: pháp luật có ghi nhận dấu hiệu âm thanh được đăng ký bảo
hộ nhãn hiệu. Dấu hiệu âm thanh tồn tại nhưng không được ghi nhận là điều kiện hợp
lệ để được cơng nhận bảo hộ nhãn hiệu thì dấu hiệu đó chỉ đơn thuần là âm thanh chứ
không thể được gọi là nhãn hiệu âm thanh. Như đã trình bày, Luật SHTT nước ta
trước đây quy định các dấu hiệu để được bảo hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu chỉ bao
26

Trường Đại học Luật TP.HCM, tlđd (11), tr. 14


15

gồm chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó.
Khi Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 ra đời thì các
dấu hiệu âm thanh mới có khả năng trở thành nhãn hiệu. Như vậy nhãn hiệu âm thanh
có đặc điểm pháp lý, khi mà dấu hiệu cấu thành nên nó phải được quy định là có khả
năng đăng ký nhãn hiệu và đồng thời phải thỏa các điều kiện cụ thể mà pháp luật đặt
ra.
Việc hiểu đúng nội hàm của thuật ngữ “bảo hộ nhãn hiệu âm thanh” giúp các
chủ thể liên quan có trách nhiệm, nâng cao ý thức trong việc bảo hộ nhằm đạt được
mục đích cốt lõi là bảo vệ người tiêu dùng và bảo vệ “chất xám” của chủ sở hữu nhãn
hiệu, thúc đẩy hiệu quả các hoạt động thương mại.
1.2. Sự cần thiết bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
Nghiên cứu về lịch sử hình thành của nhãn hiệu, các nhà nghiên cứu khảo cổ
học đưa ra nhận định nhãn hiệu đã bắt đầu tồn tại từ thời cổ đại, khoảng 5000 năm
trước công nguyên. Trong giai đoạn này, người nguyên thủy dùng những ký hiệu,
hình thù riêng đánh dấu lên các con vật ni của mình27. Điều này nhằm để khẳng

định họ là chủ sở hữu của các tài sản đó. Nhu cầu thể hiện quyền sở hữu của mình
đối với tài sản và đánh dấu tài sản của mình với các tài sản khác đã bắt đầu hình thành
từ giai đoạn này. Việc sử dụng các ký hiệu, hình thù riêng nhằm phân biệt tài sản của
mình với người khác đã đáp ứng được chức năng cơ bản nhất của nhãn hiệu là phân
biệt hàng hóa, dịch vụ cùng loại. Theo thời gian, khoa học công nghệ ngày càng phát
triển, cùng với sự phát triển thương mại đã cho ra đời ngày càng đa dạng các loại hình
nhãn hiệu. Từ đây khái niệm về nhãn hiệu bắt đầu được đề cập khoảng cuối thế kỷ
XVIII. Nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hộ nhãn hiệu tránh khỏi sự xâm phạm, Công ước
về bảo hộ sở hữu công nghiệp đã được thông qua tại hội nghị ngoại giao năm 1883
tại Paris với sự tham gia ban đầu của 11 nước thành viên. Văn kiện chưa đưa ra khái
niệm về nhãn hiệu nhưng có quy định các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu bao gồm:
điều kiện đăng ký và sự độc lập nhãn hiệu, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể, nhãn
hiệu hàng hóa, các biện pháp bảo vệ và chế tài khi có hành vi xâm phạm nhãn hiệu,...
Theo cập nhật từ WIPO tính đến ngày 02/01/2020 đã có tổng cộng 177 nước, vùng
lãnh thổ là thành viên của Công ước trên. Việc gia tăng số lượng thành viên liên tục
đã chứng minh nhu cầu bảo hộ nhãn hiệu nói riêng và bảo hộ quyền sở hữu công

27

Trường Đại học Luật TP.HCM, tlđd (11), tr. 275.


16

nghiệp nói chung ln là nhu cầu cần thiết đối với các quốc gia trong bối cảnh phát
triển toàn cầu.
Pháp luật nhãn hiệu đã phát triển suốt chặng đường dài. Ban đầu, nhãn hiệu
được tạo thành từ những dấu hiệu mang tính “truyền thống” như từ ngữ, biểu
tượng, hoặc sự kết hợp của chúng “để đảm nhận các chức năng giúp người tiêu dùng
phân biệt hàng hoá, dịch vụ từ các nguồn cung ứng khác nhau” 28. Giai đoạn cuối thế

kỷ 20 đến nay, khi khoa học công nghệ phát triển với tốc độ nhanh chóng, nhà sản
xuất đã khơng ngừng cải tiến, sáng tạo ra đa dạng dấu hiệu mới nhằm nâng cao sự
nhận diện hàng hóa, sản phẩm của mình đối với người tiêu dùng. Bên cạnh mục đích
để thu hút người tiêu dùng, việc sử dụng các dấu hiệu mới cũng nhằm để phù hợp với
sự xuất hiện của các sản phẩm công nghệ thông minh, hiện đại như điện thoại di động,
mạng xã hội, trò chơi điện tử,.. Các dấu hiệu mới phải kể đến như hình ảnh ba chiều,
âm thanh, hương vị, mùi hương, màu sắc,... Thuật ngữ “nhãn hiệu phi truyền thống”
bên cạnh “nhãn hiệu truyền thống” (được hình thành từ các dấu hiệu cũ như từ ngữ,
biểu tượng, hình ảnh,..) xuất hiện để mơ tả những dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu được
chính thức ghi nhận muộn hơn so với các dấu hiệu sơ khai. Trong bối cảnh sự phát
triển của kinh tế, tri thức và công nghệ, sự xuất hiện càng nhiều các đối tượng của
quyền sở hữu trí tuệ mới cần được bảo hộ là điều tất yếu29. Chính vì thế, nhu cầu bảo
hộ các nhãn hiệu phi truyền thống là cần thiết đối với các quốc gia nói riêng và quốc
tế nói chung.
Nhãn hiệu âm thanh là một loại nhãn hiệu phi truyền thống. Tuy nhiên không
phải quốc gia nào cũng đều ghi nhận để bảo hộ loại nhãn hiệu này, bởi nó phụ thuộc
bởi rất nhiều yếu tố. Mỗi quốc gia có tiến trình phát triển khác nhau, đến giai đoạn
khoa học cơng nghệ có sự phát triển phù hợp và thực tiễn khi các doanh nghiệp sáng
tạo ra những loại dấu hiệu mới như âm thanh, thực hiện được chức năng phân biệt
của nhãn hiệu thì lúc này, xuất hiện nhu cầu về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh tại quốc
gia đó. Ngồi ra, q trình hội nhập quốc tế cũng đặt ra cho quốc gia các yêu cầu về
sự ghi nhận nhãn hiệu phi truyền thống nói chung và nhãn hiệu âm thanh nói riêng
để đáp ứng được sự phù hợp của các văn kiện quốc tế mà quốc gia đó tham gia, ký
kết. Song song đó, bản thân dấu hiệu âm thanh cũng chứa đựng bản chất của nhãn
hiệu, tạo được sự đa dạng, tính sinh động, dễ ghi nhớ cho người tiêu dùng. Những
28

Lê Nhật Hồng (2022), tlđd (1), tr. 15.

29


Phùng Thị Yến, Lê Hồng Anh (2021), tlđd (15), tr. 56.


17

giai điệu êm ả, bắt tai thường tạo ra hiệu ứng tích cực về mặt nhận thức và hành vi.30
Đặc điểm này giúp các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tạo cho người tiêu dùng
sự thuận lợi trong việc phân biệt và gây ấn tượng với hàng hóa, dịch vụ của mình.
Bên cạnh đó, nhãn hiệu âm thanh cũng là loại nhãn hiệu có tính phù hợp cao dùng để
phân biệt các sản phẩm được ứng dụng công nghệ hiện đại. Ví dụ nhãn hiệu âm thanh
“Di di di di” của sản phẩm ứng dụng trị chuyện QQ. Chính bởi nhiều tác động tích
cực mà âm thanh có thể tác động lên người tiêu dùng trong nhận thức, hành vi tiêu
dùng mà nhãn hiệu âm thanh ngày càng nhận được nhiều sự thu hút bởi những ưu
điểm của nó mang lại giá trị nhất định đối với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, xuất phát
từ phía người tiêu dùng với đa dạng sự lựa chọn, họ mong muốn có được nhiều
phương thức tiếp cận, ghi nhớ sản phẩm hơn so với chỉ nhìn thấy thơng qua thị giác
thơng thường. Sự cần thiết bảo hộ nhãn hiệu âm thanh được xác định thơng qua tổng
hịa các yếu tố nêu trên.
Ở các nước phát triển thì việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh đã xuất hiện từ cuối
thế kỷ XX. Tại Hoa Kỳ, một số nhãn hiệu âm thanh quen thuộc được bảo hộ đầu tiên
phải kể đến là “tiếng gầm sư tử” của Đài MGM (1986), “ba hồi chuông” của Đài
NBC (1971). Năm 1995, Australia cũng đã quy định bảo hộ nhãn hiệu âm thanh tại
Điều 6 Luật Nhãn hiệu Australia. Nhãn hiệu âm thanh cũng dần trở nên được chú
trọng và có cơ chế bảo hộ cụ thể ở các quốc gia khu vực Châu Á. Luật Nhãn hiệu
Nhật Bản đã sửa đổi vào năm 2014 và cho phép đăng ký nhãn hiệu âm thanh. Văn
phòng Sáng chế Nhật Bản bắt đầu tiếp nhận đơn đăng ký nhãn hiệu phi truyền thống
vào năm 2015. Hay như tại Trung Quốc, Luật Nhãn hiệu Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa năm 2014 đã sửa đổi bổ sung chấp nhận đăng ký bảo hộ nhãn hiệu có dấu hiệu
là âm thanh. Nhãn hiệu âm thanh đầu tiên được bảo hộ tại quốc gia này là bài hát bắt

đầu phát sóng chương trình của Đài CRI (2016). Số lượng đơn đăng ký bảo hộ nhãn
hiệu âm thanh tại Trung Quốc đã ln có sự tăng lên qua các năm. Tính đến năm
2018 văn phịng nhãn hiệu Trung Quốc tiếp nhận khoảng 700 đơn đăng ký nhãn hiệu
âm thanh31, đến tháng 1 năm 2021 đã có đến 928 đơn đăng ký nhãn hiệu âm thanh32.
30

truy cập ngày 16//62023.

Chen Mailing, "QQ winner in China's first sound trademark case”, QQ winner in China's first sound
trademark case - Chinadaily.com.cn, truy cập ngày 14/5/2023.
31

32

Gang Hu, Examining the challenges of obtaining a sound trademark in China,
/>

18

Số liệu này chứng minh nhu cầu ghi nhận âm thanh trở thành nhãn hiệu là có và ngày
càng gia tăng. Nhìn chung, có nhiều quốc gia cơng nhận bảo hộ nhãn hiệu âm thanh.
Nhãn hiệu âm thanh không chỉ thực hiện chức năng của nhãn hiệu truyền thống mà
còn là minh chứng cho sự phát triển từng ngày của khoa học cơng nghệ. Việc xây
dựng khung pháp lý hồn thiện về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh góp phần to lớn giúp
các quốc gia bắt kịp xu thế phát triển của thế giới.
Vào ngày 08/3/2018 Việt Nam đã ký kết Hiệp định CPTPP. Việc gia nhập
Điều ước quốc tế này là cột mốc mở ra cho Việt Nam rất nhiều cơ hội to lớn trong
lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội. Việt Nam đã thực hiện sửa đổi các văn bản liên
quan nhằm bảo đảm tương thích với các quy định chung mà CPTPP đặt ra. Tại Điều
18.18 CPTPP quy định rằng không được từ chối bảo hộ nhãn hiệu với lý do dấu hiệu

cấu thành là âm thanh. Nhằm đáp ứng quy định từ CPTPP, Việt Nam đã chính thức
ghi nhận “nhãn hiệu âm thanh” tại Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2022
(Luật số 07/2022/QH15). Các sản phẩm, dịch vụ ở thị trường Việt Nam luôn được
sáng tạo, đổi mới, đặc biệt là sự xuất hiện dày đặc các sản phẩm từ kỹ thuật công
nghệ hiện đại. Song song với sự phát triển của hàng hóa, dịch vụ, thì doanh nghiệp
đồng thời cũng có nhu cầu phát triển, sáng tạo nhãn hiệu để tạo dấu ấn thu hút với
khách hàng hơn. Hiện có những dấu hiệu âm thanh của các hàng hóa, dịch vụ đã rất
quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam. Khi lắng nghe các dấu hiệu đó người tiêu
dùng nghĩ ngay đến hàng hóa, dịch vụ tương ứng. Ví dụ: âm thanh “Shopee” vang
lên khi có thơng báo từ ứng dụng mua sắm Shopee, âm thanh “TH True Milk - thật
sự thiên nhiên” trong các đoạn giới thiệu của sản phẩm TH True Milk. Nhu cầu cần
được bảo hộ nhãn hiệu âm thanh là có và cần thiết trong bối cảnh thị trường luôn vận
động, tiến bộ như hiện nay.
Như vậy, quy định cho phép bảo hộ nhãn hiệu âm thanh trước hết giúp pháp
luật quốc gia đáp ứng được xu thế tất yếu của thế giới, từ đó góp phần để đất nước
thực hiện tốt q trình hội nhập khi mà các điều ước quốc tế đang dần cởi mở hơn
trong việc ghi nhận bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống. Tiếp đến, việc bảo hộ nhãn
hiệu âm thanh giúp đáp ứng kịp thời nhu cầu từ phía doanh nghiệp và cả người tiêu
dùng. Doanh nghiệp gia tăng cơ hội cạnh tranh trên thị trường, có được sự bảo đảm
và động lực để không ngừng sáng tạo, phát triển. Dưới góc độ người tiêu dùng, việc
china#:~:text=According%20to%20statistics%2C%20by%20the%20end%20of%20January,13%2C%2019%
20and%2022.%20Growing%20number%20of%20applications, truy cập ngày 14/5/2023.


19

bảo hộ nhãn hiệu âm thanh sẽ bảo vệ tốt hơn quyền lợi tiêu dùng khi họ lựa chọn,
phân biệt hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Bởi nhu cầu thực tế từ nhiều chủ thể và
những lợi ích thiết thực, sự cần thiết hoàn thiện quy định bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
nói riêng và nhãn hiệu phi truyền thống nói chung là điều khơng thể phủ nhạn. Tuy

nhiên, bên cạnh việc ghi nhận nó thì việc trả lời các câu hỏi bảo hộ như thế nào, điều
kiện bảo hộ ra sao, cơ chế thẩm định cũng như vấn đề bảo vệ chống lại hành vi xâm
phạm là gì cũng cần được hoàn thiện.
1.3. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
1.3.1. Điều kiện bảo hộ nhãn hiệu âm thanh
Là dấu hiệu âm thanh
Luật Sở hữu trí tuệ lần đầu tiên được ban hành tại Việt Nam vào năm 2005, có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2006. Ngay trong văn bản đầu tiên của Luật sở hữu trí
tuệ đã ghi nhận việc bảo hộ nhãn hiệu như một loại đối tượng của quyền sở hữu công
nghiệp. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung vào năm 2009, 2019, Luật Sở hữu trí tuệ
vẫn chỉ ghi nhận các dấu hiệu được xem là nhìn thấy được như hình ảnh, màu sắc, từ
ngữ, chữ cái, hình vẽ, hình ba chiều hoặc sự kết hợp của các yếu tố đó. Các dấu hiệu
thỏa điều kiện được bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu là dấu hiệu có thể nhìn thấy được,
cảm nhận bằng thị giác. Đến năm 2022, Luật Sở hữu trí tuệ được sửa đổi, bổ sung.
Tại văn bản lần này, “dấu hiệu âm thanh” được ghi nhận là dấu hiệu có thể được bảo
hộ dưới danh nghĩa nhãn hiệu theo pháp luật Việt Nam.
Quy định về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh được bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu
trong thực hiện cam kết của CPTPP khi Việt Nam trở thành thành viên. Chính bởi vì
ghi nhận lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam nên các quy
định trong luật hiện hành là “những viên gạch đầu” đặt ra khung pháp lý ở mức ghi
nhận điều kiện khái quát đối với việc bảo hộ nhãn hiệu âm thanh. Phạm vi sửa đổi bổ
sung của luật được xác định trong bảy nhóm chính sách. Trong đó nội dung về bảo
hộ nhãn hiệu âm thanh nhằm để đáp ứng chính sách thứ bảy bảo đảm thi hành đầy đủ
và nghiêm túc các cam kết quốc tế của Việt Nam về bảo hộ sở hữu trí tuệ trong q
trình hội nhập.
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2023, tuy
nhiên các quy định về nhãn hiệu âm thanh có hiệu lực ngày 14/01/2022. Tại mục 2
phụ lục 3 của Nghị quyết số 72/2018/QH14 ghi nhận cam kết lộ trình sửa đổi khoản
1 Điều 72 quy định nhãn hiệu là dấu hiệu nghe thấy được trong khoảng thời gian hai



×