Tải bản đầy đủ (.pdf) (80 trang)

Xét xử trực tuyến các vụ án hình sự theo pháp luật việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 80 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÌNH SỰ

LÊ TRÍ PHÚ

XÉT XỬ TRỰC TUYẾN CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2023


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÌNH SỰ

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

XÉT XỬ TRỰC TUYẾN CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn :

ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng

Người thực hiện

:


Lê Trí Phú

MSSV

:

185.340102.0204

Lớp

:

96 - QTL43B1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2023


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan khóa luận tốt nghiệp “Xét xử trực tuyến các vụ án hình sự
theo pháp luật Việt Nam” là cơng trình nghiên cứu khoa học do chính tác giả thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của cơ ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng. Trong q
trình nghiên cứu, tác giả đã có sự tham khảo, vận dụng và kế thừa quan điểm khoa
học của các học giả đã có nghiên cứu liên quan đến đề tài trước đó. Đồng thời các
thơng tin tham khảo đều được thể hiện một cách trung thực và có trích dẫn nguồn
đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 6 năm 2023
Tác giả

Lê Trí Phú



LỜI CẢM ƠN
Tác giả trân trọng cảm ơn quý Thầy, Cơ khoa Luật Hình sự Trường Đại học
Luật TP. HCM đã tạo cơ hội cho tác giả nghiên cứu đề tài này để hoàn thành việc
tốt nghiệp. Tác giả chân thành cảm ơn cơ ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng vì những hỗ
trợ, hướng dẫn, góp ý và nhận xét rất tận tình của cơ trong thời gian tác giả thực
hiện đề tài.
Tác giả chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc nghiên cứu khoa học nên khơng
tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định. Chính vì vậy, tác giả rất mong
nhận được những ý kiến, đóng góp của quý Thầy, Cô để tác giả rút kinh nghiệm cho
bản thân.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 6 năm 2023
Tác giả

Lê Trí Phú


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1 .................................................................................................................7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÉT XỬ TRỰC TUYẾN VỤ ÁN
HÌNH SỰ ..................................................................................................................... 7
1.1. Khái niệm chung về xét xử trực tuyến vụ án hình sự ..................................... 7
1.1.1. Các khái niệm liên quan ............................................................................7
1.1.2. Khái niệm xét xử trực tuyến vụ án hình sự .............................................10
1.2. Đặc điểm xét xử trực tuyến vụ án hình sự ..................................................... 12
1.2.1. Hoạt động xét xử mang tính đặc trưng của Tịa án ................................ 12
1.2.2. Bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự ..............13
1.2.3. Địa điểm tổ chức và phương thức kết nối mới ....................................... 14
1.2.4. Đảm bảo an ninh trật tự và mang lại hiệu quả kinh tế ............................15

1.3. Sự cần thiết của xét xử trực tuyến vụ án hình sự .......................................... 16
1.4. Các yếu tố chi phối hoạt động xét xử trực tuyến vụ án hình sự .................. 18
1.4.1. Yếu tố trung gian truyền dẫn .................................................................. 18
1.4.2. Yếu tố bảo mật thông tin .........................................................................19
1.4.3. Yếu tố con người .....................................................................................20
1.5. Pháp luật một số quốc gia về xét xử trực tuyến .............................................22
1.5.1. Mơ hình xét xử trực tuyến tại Trung Quốc .............................................22
1.5.2. Mơ hình xét xử trực tuyến tại Hàn Quốc, Singapore ............................. 25
1.5.3. Mơ hình xét xử trực tuyến của một số quốc gia khác ............................ 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .........................................................................................32
CHƯƠNG 2 ...............................................................................................................33
THỰC TRẠNG VỀ XÉT XỬ TRỰC TUYẾN VỤ ÁN HÌNH SỰ TRONG
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM ................................................. 33
2.1. Nguyên tắc xét xử trực tuyến vụ án hình sự .................................................. 33
2.2. Điều kiện mở phiên tòa trực tuyến ..................................................................36
2.2.1. Vụ án được xét xử trực tuyến ..................................................................36


2.2.2. Các yêu cầu đối với các điểm cầu, yêu cầu về kỹ thuật, công nghệ ...... 40
2.3. Trách nhiệm của cơ quan liên quan trong việc tổ chức phiên tòa trực tuyến42
2.3.1. Tòa án ...................................................................................................... 42
2.3.2. Viện kiểm sát ...........................................................................................44
2.3.3. Cơ sở giam giữ ........................................................................................ 44
2.3.4. Trung tâm trợ giúp pháp lý ..................................................................... 45
2.4. Phiên tòa trực tuyến ..........................................................................................46
2.4.1. Thành phần tham gia phiên tòa, các yêu cầu liên quan khi tham gia
phiên tòa ..................................................................................................................... 46
2.4.1.1. Thành phần tham gia phiên tòa ........................................................... 46
2.4.1.2. Yêu cầu liên quan khi tham gia phiên tòa ........................................... 47
2.4.2. Phối hợp chuẩn bị phiên tịa trực tuyến .................................................. 47

2.4.3. Trình tự, thủ tục tố tụng tại phiên tòa trực tuyến ....................................48
2.5. Xử lý một số tình huống xảy ra tại phiên tịa .................................................51
2.6. Thực tiễn xét xử, những lợi ích và thách thức khi xét xử trực tuyến vụ án
hình sự ....................................................................................................................... 53
2.6.1. Những lợi ích khi xét xử trực tuyến ........................................................53
2.6.2. Những thách thức khi xét xử trực tuyến ................................................. 56
2.7. Một số gợi mở góp phần hồn thiện pháp luật xét xử trực tuyến vụ án hình
sự ................................................................................................................................ 59
2.7.1. Hồn thiện pháp luật tố tụng hình sự ......................................................59
2.7.1.1. Về mặt hình thức .................................................................................. 59
2.7.1.2. Về mặt nội dung ....................................................................................60
2.7.2. Nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ vào hoạt động xét xử trực tuyến
của cán bộ tư pháp ......................................................................................................63
2.7.3. Hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ xét xử trực tuyến ............................. 64
2.7.4. Tăng cường giáo dục nhận thức pháp luật của Nhân dân ...................... 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .........................................................................................67
KẾT LUẬN CHUNG ............................................................................................... 68


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Hiến pháp

Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam

BLHS

Bộ luật Hình sự

BLTTHS


Bộ luật Tố tụng hình sự

TTHS

Tố tụng hình sự

VAHS

Vụ án hình sự

THTT

Tiến hành tố tụng

TGTT

Tham gia tố tụng

TTLT

Thông tư liên tịch

HĐXX

Hội đồng xét xử

VKS

Viện kiểm sát


TAND

Tòa án nhân dân


1

LỜI MỞ ĐẦU
(1) Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Công nghệ thông tin ngày càng phát triển, những thành tựu khoa học tiến bộ
được áp dụng vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ các lĩnh vực dân sự trong cuộc
sống, sự ra đời của robot, Internet, xe tự lái, cơng nghệ in 3D, điện tốn đám mây và
công nghệ nano… cho đến lĩnh vực quân sự, lĩnh vực hành chính cơng ở nhiều
nước. Trong bối cảnh này, công tác liên quan đến tư pháp xét xử cũng có nhiều sự
chuyển biến, nhiều bước tiến vượt bậc so với trước. Nhiều quốc gia trên thế giới
(Trung Quốc, Hoa Kỳ, Anh, Úc, Hàn Quốc, Singapore…) đã và đang áp dụng hình
thức xét xử trực tuyến (virtual hearing hay remote trial) thay thế cho cách xét xử
truyền thống. Xu hướng tồn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng cũng đặt ra yêu
cầu ngày càng cao bảo vệ quyền con người, quyền cơng dân của Tịa án.
Đảng ta từng khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng nên Tòa án điện tử
trong Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ
trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, gần
đây nhất là Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban chấp hành TW
Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra 09 nhiệm vụ, giải pháp cải cách tư pháp
trong đó có việc “Xây dựng nền tư pháp vì Nhân dân, bảo vệ quyền uy tư pháp, xây
dựng Tòa án điện tử, tăng cường hợp tác quốc tế…”. Qua đó, cho thấy Đảng ta rất
quan tâm đến việc xây dựng Tịa án điện tử ở Việt Nam. Ngồi ra, chúng ta đã có
những điều kiện hạ tầng kĩ thuật nhất định như đường truyền Internet tương đối ổn

định, các trang thiết bị điện tử hiện đại đang phát triển trong lĩnh vực cơng và
tư…điều này cho thấy chúng ta hồn tồn có khả năng xây dựng Tịa án điện tử hiện
đại trong tương lai. Trên trường quốc tế, Việt Nam đã tham gia Hội nghị Chánh án
các nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Hội đồng Chánh án khu vực
ASEAN và đã cam kết đến năm 2025 phải hồn thành việc xây dựng Tịa án điện tử
theo Nghị quyết của Hội đồng, điều này như yếu tố thúc đẩy chúng ta hiện đại hóa
hệ thống Tịa án nhanh chóng hơn.
Trong lúc dịch bệnh covid diễn ra phức tạp, tình hình cách ly xã hội người với
người, nhà với nhà, tinh thần “ai ở đâu thì ở đấy” làm gián đoạn các hoạt động của
xã hội, trong đó có hoạt động xét xử của Tòa án. Vấn đề người bị buộc tội phải


2

được Tịa án xét xử kịp thời, nhanh chóng trong thời hạn luật định1 không được
đảm bảo, điều này sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia
tố tụng, đặc biệt là bị cáo. Trong bối cảnh này, phương thức xét xử trực tuyến ra đời
như bước đột phá trong cải cách tư pháp ở Việt Nam, nó giúp hạn chế tập trung
đơng người tại một phòng xử án, đảm bảo việc xét xử các vụ án kịp thời, nhanh
chóng và đúng pháp luật. Qua đó góp phần đảm bảo an tồn phịng, chống dịch
bệnh covid 19. Cần nhìn nhận khách quan rằng, trong tình hình hiện nay, mặc dù
dịch bệnh tương đối đã được kiểm sốt, nhưng với xu hướng tồn cầu hóa, khả năng
xuất hiện dịch bệnh lây nhiễm mới là điều có thể xảy ra. Ngoài ra, để đáp ứng các
nhu cầu hiện đại hóa hệ thống Tịa án và xây dựng tòa án điện tử ở Việt Nam, vấn
đề xét xử trực tuyến cần được nghiên cứu một cách sâu sắc và tồn diện.
Pháp luật hiện hành đã có những quy định tạo khuôn khổ pháp lý cho việc xét
xử trực tuyến, tuy nhiên, vẫn có những hạn chế nhất định. Cho nên, tác giả đã chọn
đề tài “Xét xử trực tuyến các vụ án hình sự theo pháp luật Việt Nam” để nghiên cứu
với mục tiêu đưa ra một số gợi mở nhằm hồn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam.

(2) Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Sau quá trình tìm kiếm, thu thập và tổng hợp, tác giả nhận thấy có nhiều cơng
trình khoa học có liên quan đến hoạt động xét xử trực tuyến vụ án hình sự, cụ thể
như sau:
1. Trường Đại học Luật TP. HCM (2020), Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự
Việt Nam, Võ Thị Kim Oanh, Nxb. Hồng Đức. Giáo trình này cung cấp kiến thức
nền tảng về các nguyên tắc trong tố tụng hình sự nói chung và xét xử vụ án hình sự
nói riêng. Ngồi ra, giáo trình này trình bày cụ thể trình tự thủ tục tố tụng xét xử sơ
thẩm và phúc thẩm vụ án hình sự làm nền tảng lý luận quan trọng cho đề tài của tác
giả.
2. Trương Thế Khoa, “Xét xử trực tuyến các vụ án hình sự theo pháp luật Việt
Nam”, Khóa luận tốt nghiệp năm 2022, Trường Đại học Luật TP. HCM. Khóa luận
tốt nghiệp trình bày cơ bản các khía cạnh của xét xử trực tuyến, phiên tịa trực tuyến,
phân tích thực tiễn, đánh giá một số thuận lợi, khó khăn của xét xử trực tuyến và
đưa ra một số giải pháp hồn thiện pháp luật. Tuy nhiên, khóa luận này được thực
1

Khoản 2 Điều 31 Hiến pháp năm 2013


3

hiện khi Nghị quyết số 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 về tổ chức phiên tịa trực
tuyến, Thơng tư liên tịch số 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP
ngày 15/12/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tổ chức phiên tòa trực
tuyến mới triển khai trong thực tế vài tháng, chưa có sự tổng kết, rút kinh nghiệm
thực tiễn của Tòa án nhân dân tối cao nên có những hạn chế nhất định.
3. Nguyễn Kim Ngân, Trần Phạm Tường Vân, Trần Huyền Trang, “Xét xử
trực tuyến các vụ án hình sự: Nghiên cứu so sánh và kinh nghiệm cho Việt Nam”,
Cơng trình dự thi nghiên cứu khoa học sinh viên cấp trường lần thứ XXVI, năm học

2021- 2022, Trường Đại học Luật TP. HCM. Cơng trình này trình bày một cách cơ
bản tương đối cụ thể các khía cạnh của xét xử trực tuyến, có sự so sánh pháp luật
giữa Việt Nam và Trung Quốc.
4. Đào Trí Úc, Nguyễn Thu Trang (2014), Vai trò của hoạt động xét xử của
tịa án trong q trình phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp số 18(274), tháng 9/2014. Cơng trình chỉ rõ đặc điểm của hoạt động xét xử
là hoạt động quyền lực, là q trình áp dụng pháp luật sáng tạo, vai trị của thực tiễn
xét xử trong việc sử dụng cường độ áp dụng quy định của pháp luật, vai trò của hoạt
động xét xử khi sử dụng các quy định có tính chất đánh giá của pháp luật, khi sử
dụng khả năng áp dụng tùy nghi các quy định của pháp luật. Từ đây đề ra phương
hướng tăng cường vai trò của thực tiễn xét xử, phát triển án lệ trong chiến lược đổi
mới hệ thống pháp luật và cải cách tư pháp. Tác giả có thể vận dụng trong quá trình
phân tích đặc điểm của xét xử trực tuyến.
5. Võ Minh Kỳ, Nguyễn Phương Anh (2021), “Xu hướng xét xử trực tuyến ở
Hoa Kỳ, Singapore, Trung Quốc và gợi mở cho Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu
Lập pháp, số 19 (443), tháng 10/2021. Cơng trình này giới thiệu về kinh nghiệm xét
xử trực tuyến của Hoa Kỳ, Singapore, Trung Quốc, những thách thức đối mặt khi
xét xử trực tuyến: Khả năng xung đột nguyên tắc cơ bản trong tố tụng, khả năng tác
động tiêu cực đến tính hiệu quả của việc xét xử, mức độ đáp ứng của cơ sở hạ tầng
công nghệ thông tin và truyền thông. Từ đây đưa ra các gợi mở cho Việt Nam từ
kinh nghiệm xét xử trực tuyến ở Hoa Kỳ, Singapore và Trung Quốc. Tác giả có thể
vận dụng kinh nghiệm xét xử này vào phần gợi mở hoàn thiện pháp luật trong đề
tài.
6. Bùi Tiến Đạt, Nguyễn Bích Thảo, Trần Thị Trinh (2021), “Tịa án trực
tuyến và quyền xét xử cơng bằng: kinh nghiệm quốc tế và triển vọng ở Việt Nam”,


4

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 20 (444), tháng 10/2021. Cơng trình này giới

thiệu về tư pháp trực tuyến và Tòa án trực tuyến trên thế giới, những lợi ích và sự
tác động của Tòa án trực tuyến (quyền được xét xử trong một khoảng thời gian hợp
lý, quyền được xét xử công bằng và công khai, quyền giám sát tư pháp của công
chúng) đến quyền xét xử công bằng. Ngồi ra cơng trình đưa ra chính sách và triển
vọng của Tòa án trực tuyến ở Việt Nam.
7. Nguyễn Hữu Thế Trạch (2022), “Xét xử trực tuyến tại một số quốc gia và
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 01
(149)/2022. Cơng trình này nêu lên tính cấp thiết trong việc xây dựng và hoàn thiện
quy định của pháp luật về xét xử trực tuyến; cơ sở pháp lý, ý nghĩa của việc xây
dựng và hoàn thiện quy định của pháp luật về xét xử trực tuyến; kinh nghiệm xét xử
của Úc, Hoa Kỳ, Singapore. Từ đây cơng trình đưa ra các gợi mở về xét xử trực
tuyến ở Việt Nam.
8. Dương Quỳnh Hoa (2022), “Một số vấn đề về xây dựng Tịa án điện tử”,
Tạp chí Kiểm sát, số 7/2022. Cơng trình này xoay quanh ưu điểm và hạn chế của
việc xây dựng tòa án điện tử, từ đây đề ra một số hướng triển khai xây dựng Tòa án
điện tử ở Việt Nam. Tác giả có thể vận dụng trong phân tích lợi ích và thách thức
của việc xét xử trực tuyến.
9. Phạm Thị Tuyết Mai, Nguyễn Thị Thu Hằng (2022), “Một số hạn chế,
vướng mắc khi tổ chức phiên tịa hình sự trực tuyến và đề xuất, kiến nghị”, Tạp chí
Tịa án nhân dân, tháng 9/2022. Cơng trình này nêu lên các quy định về phiên tịa
hình sự trực tuyến, một số hạn chế, vướng mắc khi tổ chức phiên tịa hình sự trực
tuyến (về thơng báo hỗn phiên tịa hình sự trực tuyến, về việc tham gia tại các điểm
cầu, về xem xét, xử lý đối với vật chứng, tài liệu tại phiên tòa). Từ đây đưa ra các đề
xuất và kiến nghị liên quan.
10.

Mai Đắc Biên, Nguyễn Thị Lan Anh, Mai Thu Hằng (2022), “Xét xử

trực tuyến đối với các vụ án hình sự - Quy định của pháp luật Việt Nam và kinh
nghiệm của một số nước”, Tạp chí Kiểm sát, số 12/2022. Cơng trình này giới thiệu

về các quy định chung, quy định về phạm vi tổ chức phiên tịa trực tuyến, về trình
tự thủ tục tại phiên tòa xét xử trực tuyến; xét xử trực tuyến ở Singapore, Hoa Kỳ,
Trung Quốc. Từ đây rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc tiếp tục phát triển
mơ hình xét xử trực tuyến.
Nhận xét chung


5

Tác giả nhận thấy, đa số các cơng trình chỉ trình bày các quy định pháp luật về
xét xử trực tuyến nói chung, phân tích một khía cạnh nhất định trong hoạt động xét
xử trực tuyến mà chưa nghiên cứu một cách toàn diện, cụ thể từ mặt lý luận đến
thực tiễn để đưa ra những đề xuất, kiến nghị phù hợp cho hoạt động xét xử trực
tuyến vụ án hình sự. Tuy nhiên, điểm chung của các cơng trình là đều khẳng định sự
cần thiết của hình thức xét xử trực tuyến trong thời đại hiện nay đồng thời cung cấp
những đề xuất, kiến nghị nhằm mục đích xây dựng khung pháp lý vững chắc cho
hoạt động xét xử trực tuyến nói chung và xét xử trực tuyến vụ án hình sự nói riêng.
Đây đều là những tài liệu hữu ích cho tác giả tham khảo.
(3) Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Thông qua việc nghiên cứu đề tài “Xét xử trực tuyến các vụ án hình sự theo
pháp luật Việt Nam”, tác giả hướng tới các mục đích quan trọng sau:
Thứ nhất, đưa ra hệ thống những vấn đề mang tính lý luận về xét xử trực tuyến
vụ án hình sự;
Thứ hai, làm rõ và đánh giá hiệu quả điều chỉnh của các quy định pháp luật
Việt Nam hiện hành về xét xử trực tuyến vụ án hình sự;
Thứ ba, đánh giá thực tiễn về xét xử trực tuyến vụ án hình sự, các yếu tố chi
phối xét xử trực tuyến;
Thứ tư, đưa ra các gợi mở nhằm hoàn thiện pháp luật trên cơ sở lý luận, pháp
luật và thực tiễn nghiên cứu đã có trong đề tài.
(4) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu
Khoá luận tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý cơ bản liên quan đến xét
xử trực tuyến vụ án hình sự (đặc biệt các yếu tố chi phối việc xét xử trực tuyến),
thực tiễn xét xử trực tuyến tại Việt Nam và kinh nghiệm của một số nước có nền tố
tụng trực tuyến phát triển.
Phạm vi nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu những vấn đề lý luận về xét xử trực tuyến trong pháp luật
Việt Nam được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số
33/2021/QH15 về tổ chức phiên tịa trực tuyến, Thơng tư liên tịch số
05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành tổ chức phiên tòa trực tuyến ngày 15/12/2021; đồng thời phân tích một


6

số vụ án được xét xử trực tuyến trong thực tiễn. Bên cạnh đó, tác giả tham khảo
kinh nghiệm lập pháp của một số nước có nền tố tụng trực tuyến phát triển, từ đó
đưa ra các gợi mở nhằm hồn thiện pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam liên
quan xét xử trực tuyến vụ án hình sự.
(5) Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được các mục tiêu và vấn đề nghiên cứu đặt ra, khóa luận sử
dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây:
Thứ nhất, phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp. Đây là hai
phương pháp chủ đạo được sử dụng xuyên suốt trong đề tài. Thông qua hai phương
pháp này, tác giả chỉ ra sự cần thiết của việc xét xử trực tuyến, các yếu tố chi phối
hoạt động xét xử trực tuyến, trình tự, thủ tục tổ chức phiên tòa xét xử trực tuyến và
việc xử lý tình huống phát sinh tại phiên tịa trực tuyến.
Thứ hai, phương pháp so sánh, được sử dụng để so sánh và đối chiếu các quy
định của pháp luật Việt Nam với các quy định của pháp luật của một số quốc
gia/khu vực trên thế giới về định nghĩa xét xử trực tuyến vụ án hình sự, các trường

hợp được xét xử trực tuyến, việc bố trí phiên tịa trực tuyến... Qua đó, tác giả đánh
giá những vấn đề tương đồng và có sự tham khảo, học hỏi những quy định tiến bộ
nhằm gợi mở và đưa ra một số góp ý hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
Thứ ba, phương pháp phân tích vụ việc được sử dụng để phân tích, đánh giá
và bình luận một số vụ việc điển hình liên quan đến xét xử trực tuyến vụ án hình sự
ở Việt Nam, tạo nên một cái nhìn tồn diện trong nghiên cứu pháp luật về xét xử
trực tuyến này.
(6) Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Khóa luận góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận liên quan xét xử trực tuyến
vụ án hình sự. Từ đây, đưa ra các gợi mở nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam liên quan đến xét xử trực tuyến này. Ngoài ra, tác giả hi vọng rằng kết
quả nghiên cứu của khóa luận này là nguồn tư liệu có giá trị tham khảo, phục vụ
học tập và nghiên cứu của các bạn sinh viên quan tâm đến đề tài mới này.
(7) Kết cấu của luận văn
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về xét xử trực tuyến vụ án hình sự.
Chương 2: Thực trạng về xét xử trực tuyến vụ án hình sự trong pháp luật tố
tụng hình sự Việt Nam.


7

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XÉT XỬ TRỰC TUYẾN VỤ ÁN
HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm chung về xét xử trực tuyến vụ án hình sự
1.1.1. Các khái niệm liên quan
Để hiểu rõ hơn về khái niệm “xét xử trực tuyến vụ án hình sự” theo pháp luật
Tố tụng hình sự Việt Nam, cần phân biệt và làm rõ khái niệm cấu thành: “xét xử”,
“trực tuyến” và “vụ án hình sự”.
(i) Vụ án hình sự

Vụ án hình sự (VAHS) là vụ việc vi phạm có dấu hiệu tội phạm được quy định
trong Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 và được cơ quan có thẩm quyền ra quyết
định khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ
tục đã được quy định ở Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015. Khác với vụ
án dân sự, hành chính, trong VAHS, quan hệ pháp luật bị xâm phạm là các quan hệ
liên quan đến chủ quyền quốc gia, an ninh đất nước, quyền con người, quyền công
dân… được pháp luật hình sự bảo vệ. Thơng thường, hoạt động giải quyết VAHS
được bắt đầu khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố và kết thúc khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tịa án.
(ii) Xét xử
Dưới góc độ từ ngữ, thuật ngữ “xét xử” được hiểu theo nghĩa chung nhất là
“Xem xét và xử các vụ án”2. Cụ thể hơn, “xét xử” được định nghĩa “là hoạt động do
Tòa án tiến hành theo pháp luật tố tụng, trong đó Tịa án, sau khi nghiên cứu một
cách khách quan, tồn diện và đầy đủ các tình tiết của vụ án, tiến hành giải quyết và
xử lý vụ án bằng việc ra bản án và các quyết định cần thiết có liên quan”3. Ở cách
định nghĩa khác, xét xử là “hoạt động tố tụng của Tòa án được tổ chức và tiến hành
tại phiên tòa trên cơ sở những nguyên tắc và theo một trình tự do pháp luật quy định
nhằm xem xét và giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động”4
Hoạt động tố tụng hình sự (TTHS) được đặc trưng bởi các chức năng cơ bản;
2

Hoàng Phê và tập thể tác giả (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 1148.

3

Nguyễn Duy Lãm (1996), Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 418.

Bộ Công an (2005), Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà
Nội, tr.1327.
4



8

mỗi chức năng có vị trí, vai trị và ý nghĩa khác nhau, được thực hiện bởi nhiều chủ
thể khác nhau một cách độc lập. Tuy nhiên, giữa các chức năng này luôn tồn tại mối
quan hệ biện chứng và việc thực hiện các chức năng đều tác động đến mục đích
chung của TTHS. Các chức năng cơ bản của hoạt động TTHS này bao gồm chức
năng công tố (buộc tội) của Viện kiểm sát (VKS), chức năng bào chữa (gỡ tội) của
bị cáo/ người bào chữa và chức năng xét xử của Tịa án5. Trong số đó, xét xử được
đánh giá là chức năng trung tâm của hoạt động TTHS. Vai trị và vị trí trung tâm
của hoạt động xét xử được giải thích trước hết bởi tính pháp lý của nó trong tồn bộ
các phương thức khác nhau mà xã hội và nhà nước dùng để giải quyết các tranh
chấp và mâu thuẫn lợi ích6. Đây được xem là giai đoạn trung tâm của cả quá trình tố
tụng, thể hiện rõ bản chất tư pháp của nhà nước, bởi lẽ “một người được coi là
khơng có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết
tội của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật”7. Ngay tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (Hiến pháp năm 2013), nhà
làm luật nước ta khẳng định vị trí quan trọng của Tịa án, “Tịa án nhân dân
(TAND) là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện
quyền tư pháp”. Thơng qua chức năng xét xử, Tịa án áp dụng các biện pháp cần
thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính có căn cứ pháp
luật của tất cả các quyết định mà Cơ quan điều tra và VKS đã ban hành trước khi
chuyển VAHS sang Tịa án. Qua đó, Tịa án góp phần bảo vệ pháp chế, bảo vệ lợi
ích của nhà nước, tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ trật tự
pháp luật, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm.8 Xét xử VAHS bao gồm 02 cấp xét xử là cấp xét xử sơ
thẩm VAHS và cấp xét xử phúc thẩm VAHS.9 Xét xử sơ thẩm VAHS là xét xử vụ
án đó ở cấp đầu tiên, bản án và quyết định của Tịa án chưa có hiệu lực pháp luật
ngay, bản án và quyết định có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

Võ Thị Kim Oanh (2011), Xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc
gia TP.HCM, Tr.5.
5

Đào Trí Úc, Nguyễn Thu Trang (2014), Vai trò của hoạt động xét xử của tịa án trong q trình
phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 18(274), tháng 9/2014,
Tr.8.
6

7

Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013, Điều 13 BLTTHS năm 2015.

8

Khoản 3 Điều 102 Hiến pháp năm 2013, Điều 2 BLTTHS năm 2015.

9

Khoản 6 Điều 103 Hiến pháp năm 2013, Điều 27 BLTTHS năm 2015.


9

trong thời hạn luật định. Quá trình xem xét đã xác định hành vi này hay hành vi
khác có là tội phạm và có bị trừng trị hay khơng, cần phải áp dụng hình phạt nào đối
với chủ thể thực hiện hành vi đó chính là q trình xét xử sơ thẩm VAHS…10 Tại
phiên tòa, tòa án xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ buộc tội và gỡ tội, các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và kết quả tranh tụng giữa các
bên. Nếu bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo hoặc kháng nghị trong thời hạn

Luật định thì VAHS phải được xét xử lại theo cấp phúc thẩm. Bản án, quyết định
của Tịa án có hiệu lực pháp luật là phán quyết có tính “chung thẩm” thể hiện kết
quả của hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử, có hiệu lực pháp lý bắt buộc, tác
động lớn đến quyền và lợi ích của các chủ thể tham gia tố tụng (TGTT), đặc biệt là
bị cáo của vụ án.
(iii) Trực tuyến
Trực tiếp là sự tiếp xúc thẳng mà không cần người hay vật làm trung gian.
Trực tiếp có thể dùng cho những hành vi, hoạt động hay thậm chí là những mối
quan hệ nhất định trong đời sống. Theo Từ điển Tiếng Việt, trực tiếp là: “nghĩa
thơng dụng nhất đó là sự tiếp xúc thẳng mà không cần người hay vật làm trung
gian”11
Trực tuyến là một thuật ngữ được phổ biến với tên gọi khác là “online”. Theo
định nghĩa Cambridge Dictionary, trực tuyến (online) được dùng để chỉ hoạt động
được điều khiển trực tiếp bởi một máy tính trung tâm để thơng tin nhận được luôn
được cập nhật.12 Từ điển Oxford Advanced Learner's Dictionary có định nghĩa
tương tự, trực tuyến để chỉ một hoạt động hoặc dịch vụ được thực hiện bằng cách sử
dụng internet hoặc mạng máy tính khác; hoặc chỉ người được kết nối với internet,
có khả năng kết nối internet.13
Từ đó, ta có thể rút ra kết luận rằng, nếu “trực tiếp” là việc chúng ta tiếp xúc
Trường Đại học Luật TP. HCM (2020), Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, Võ Thị Kim
Oanh, Nxb. Hồng Đức, tr.499, 500.
10

“Trực
tiếp
(direct)

gì,
gián
tiếp

[ (truy cập 15/3/2023).
11

(indirect)



gì?”,

Từ
điển
Cambridge
[ />20/3/2023).

Dictionary,
(truy cập

Từ
điển
Oxford
Advanced
Learner's
[ />20/3/2023).

Dictionary
(truy
cập

12


13


10

thẳng mà không cần người hay vật làm trung gian thì “trực tuyến” phải thơng qua
trung gian là các thiết bị kết nối, các thiết bị này phải đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp
của các thiết bị trung tâm cùng với sự kiểm soát trực tiếp của hệ thống liên quan và
phải có khả năng kết nối với nhau thông qua mạng Internet.
1.1.2. Khái niệm xét xử trực tuyến vụ án hình sự
Xét xử trực tuyến là một phương thức xét xử rất mới trong pháp luật tố tụng
Việt Nam nói chung và pháp luật TTHS nói riêng. Tuy nhiên nhiều quốc gia trên
thế giới có nền khoa học - công nghệ phát triển và nền tư pháp tiến bộ như Hoa Kỳ,
Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Đức, Italia….từ rất sớm đã
tăng cường việc xét xử trực tuyến trong các lĩnh vực thương mại, dân sự, hôn nhân
và trong một số VAHS (dẫn chứng cụ thể trong “mục 1.5 Pháp luật một số quốc gia
về xét xử trực tuyến”). Từ cung cấp dịch vụ hành chính tư pháp trực tuyến; tống đạt
điện tử; cung cấp, tiếp nhận chứng cứ điện tử, trực tuyến…đến xét xử trực tuyến
đều được thực hiện một cách thường xuyên và dần thay thế hoạt động tố tụng truyền
thống.14 Qua đó, có thể thấy rằng xét xử trực tuyến là mang tính cấp thiết và đang
là xu thế tồn cầu hóa trên thế giới.
Trong khu vực châu Á- Thái Bình Dương, Australia có hướng dẫn
“E-Courtroom là phịng xử án trực tuyến được các thẩm phán và thư ký sử dụng để
hỗ trợ quản lý và xét xử một số vấn đề trước Tòa án Liên bang Úc”15. Hay ở Hàn
Quốc (một nước có nền tố tụng trực tuyến phát triển từ lâu) ban hành Quy tắc xử lý
nghiệp vụ xét xử trực tuyến số 1753 của Hàn Quốc, có hiệu lực từ ngày 22/7/2020
có quy định “Xét xử trực tuyến là việc tiến hành xét xử mà một phần hoặc toàn bộ
các bên liên quan trong vụ án không trực tiếp đến phòng xét xử mà tham gia phiên
tòa tại địa điểm từ xa được trang bị thiết bị truyền dẫn đồng thời tín hiệu hình ảnh
và âm thanh cùng lúc”.16 Cách tiếp cận của Hàn Quốc giúp chúng ta nhận thức một

cách khái quát, phiên tòa trực tuyến khác phiên tòa trực tiếp ở địa điểm tổ chức và
phương thức kết nối các thiết bị truyền dẫn này.
TAND tối cao (2021), Tờ trình Dự thảo Nghị quyết số 185/TTr-TANDTC ngày 16/10/2021 về
tổ chức phiên tịa trực tuyến (Bản tóm tắt).
14

Federal court of australia, “Electronic courtroom (e-courtroom)” (2020) hướng dẫn chức năng
của phòng xét xử trực tuyến bao gồm giao thức thực hiện đưa ra các quy tắc sử dụng phiên tòa trực
tuyến, [ (truy cập 20/4/2023).
15

TAND tối cao (2021), Hồ sơ Dự thảo Nghị quyết về tổ chức phiên tòa trực tuyến (Phụ lục 03:
Tài liệu tham khảo về Tòa án điện tử của Hàn Quốc).
16


11

Theo khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 33/2021/QH15 về tổ chức phiên tòa trực
tuyến của Quốc hội ban hành ngày 12/11/2021 (Nghị quyết số 33/2021/QH15) có
quy định: “Phiên tịa trực tuyến là phiên tòa được tổ chức tại phòng xử án, có sử
dụng các thiết bị điện tử kết nối với nhau thông qua môi trường mạng, cho phép bị
cáo, bị hại, đương sự, người TGTT khác tham gia phiên tịa tại địa điểm ngồi
phịng xử án do Tịa án quyết định nhưng vẫn bảo đảm trực tiếp theo dõi đầy đủ
hình ảnh, âm thanh và tham gia các trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tịa bằng lời
nói, hành vi tố tụng liên tục, cơng khai, vào cùng một thời điểm.” Có thể thấy, so
với Hàn Quốc, định nghĩa về phiên tòa trực tuyến của Việt Nam cũng có sự tương
đồng về địa điểm tổ chức phiên tịa (có nhiều địa điểm tổ chức ngồi tịa án) và sự
kết nối các địa điểm này bằng trang bị thiết bị truyền dẫn; nhưng chi tiết hơn ở
điểm, Việt Nam có nhấn mạnh việc tổ chức phiên tịa trực tuyến nhưng người

TGTT vẫn đảm bảo “theo dõi đầy đủ hình ảnh, âm thanh và tham gia các trình tự,
thủ tục tố tụng của phiên tịa bằng lời nói, hành vi tố tụng liên tục, công khai, vào
cùng một thời điểm”. Cách tiếp cận phiên tòa trực tuyến của Quốc hội nước ta cho
thấy Việt Nam có sự học tập kinh nghiệm của Hàn Quốc và vận dụng sáng tạo hơn.
Cụ thể phiên tòa trực tuyến vẫn phải tuân thủ các trình tự, thủ tục tố tụng TTHS,
phải đảm bảo nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, nguyên tắc xác định sự thật của vụ
án, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm…, bên cạnh đó cũng chỉ rõ,
phiên tịa trực tuyến khác với phiên tòa trực tiếp ở những điểm sau đây:
(i) Về địa điểm tổ chức
Đối với phiên tòa trực tiếp chỉ tổ chức ở một địa điểm duy nhất là phòng xử
án, hoặc đối với các vụ án được xét xử lưu động, tổ chức ở sân vận động, điểm
trường lớn. Trong khi đó, đối với phiên tịa trực tuyến ngồi tổ chức tại phịng xử
án, cịn tổ chức ở các điểm cầu kết nối.
(ii) Về phương thức kết nối
Phiên tòa trực tiếp tổ chức ở một địa điểm, nên người tiến hành tố tụng
(THTT) và người TGTT tiếp xúc trực tiếp với nhau, việc tranh luận các vấn đề của
vụ án, việc đưa ra các tình tiết buộc tội, gỡ tội, việc đánh giá tính khách quan của tài
liệu, chứng cứ diễn ra trực tiếp tại phiên tịa mà khơng thơng qua bất cứ trung gian
nào. Trong khi đó, phiên tịa trực tuyến vì tổ chức ở nhiều điểm cầu, các bên tham
gia phiên tịa phải thơng qua trung gian là các thiết bị kết nối trực tuyến với nhau


12

thông qua môi trường mạng Internet.
Tuy nhiên, trong cách tiếp cận của Quốc hội nước ta vẫn cịn có điểm hạn chế.
Một là, khái niệm này chưa nêu rõ chủ thể có trách nhiệm tổ chức phiên tịa là cơ
quan nào, là Tòa án, là Viện kiểm sát, là Cơ quan điều tra hay cơ quan nào khác?
Tác giả nhận thấy hoạt động xét xử là trọng tâm của hoạt động giải quyết VAHS, có

ý nghĩa lớn đối với bảo vệ và thực thi công lý cho nên cần nhấn mạnh Tịa án là cơ
quan có trách nhiệm tổ chức xét xử trực tuyến, bằng việc bổ sung đoạn “hoạt động
xét xử của Tịa án” vào định nghĩa. Khi đó ta có thể định nghĩa mới như sau “Xét
xử trực tuyến vụ án hình sự là hoạt động xét xử của Tòa án, được tổ chức tại phòng
xử án…”. Hai là, trong định nghĩa phiên tịa trực tuyến này có đoạn “…vẫn bảo
đảm trực tiếp theo dõi…”, việc dùng từ “trực tiếp” ở đây là chưa phù hợp với khái
niệm “Trực tiếp là sự tiếp xúc thẳng mà không cần người hay vật làm trung gian”,
tác giả nhận thấy để tránh tạo ra sự nhầm lẫn, cần loại bỏ từ “trực tiếp” này.
Từ những phân tích và luận giải về khái niệm “xét xử”, “trực tuyến”, “vụ án
hình sự” và khái niệm “phiên tòa trực tuyến” của Hàn Quốc, Việt Nam, có thể định
nghĩa một cách khái quát về Xét xử trực tuyến vụ án hình sự như sau: “Xét xử trực
tuyến vụ án hình sự là hoạt động xét xử của Tòa án, được tổ chức tại phòng xử án,
có sử dụng các thiết bị điện tử kết nối với nhau thông qua môi trường mạng, cho
phép bị cáo, bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tịa tại
địa điểm ngồi phịng xử án do Tòa án quyết định nhưng vẫn bảo đảm việc theo dõi
đầy đủ hình ảnh, âm thanh và tham gia các trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tịa
bằng lời nói, hành vi tố tụng liên tục, cơng khai, vào cùng một thời điểm”.
1.2. Đặc điểm xét xử trực tuyến vụ án hình sự
Qua quá trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy xét xử trực tuyến vụ án hình sự có 4
đặc điểm quan trọng, có thể xét đến như sau.
1.2.1. Hoạt động xét xử mang tính đặc trưng của Tòa án
Bản chất xét xử là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước nhằm xem xét,
đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi pháp luật
hay quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích
khác nhau trong các tranh chấp hay mâu thuẫn đó.17 Qua đó, có thể thấy rằng yếu tố
“nhân danh quyền lực nhà nước” trong hoạt động xét xử có nghĩa rằng đây khơng
17

Đào Trí Úc, Nguyễn Thu Trang (2014), tlđd (6), Tr.8.



13

phải là hoạt động của bất kì cá nhân, tổ chức xã hội nào. Cụ thể ngay tại khoản 1
Điều 102 Hiến pháp 2013 đã chỉ rõ, “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Tòa án bảo vệ lẽ
phải, bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Mỗi giai đoạn khác nhau trong quá trình giải quyết VAHS sẽ do mỗi cơ quan
có thẩm quyền khác nhau thực hiện chủ yếu: ở giai đoạn khởi tố, điều tra, vai trò
của cơ quan điều tra là chủ yếu, trong giai đoạn có chức năng thực hiện các nhiệm
vụ cụ thể nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để chứng minh việc
thực hiện tội phạm và người phạm tội, xác định rõ những nguyên nhân và điều kiện
phạm tội, đồng thời kiến nghị các cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các
biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm…; ở giai đoạn truy tố, VKS áp dụng
các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của
toàn bộ các hành vi tố tụng mà cơ quan điều tra có thẩm quyền đã áp dụng; để triệt
tiêu những sai sót trong hai giai đoạn tố tụng hình sự trước đó; ở giai đoạn xét xử,
giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng nhất, trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và
dân chủ của các bên, Tịa án với tính chất là cơ quan tài phán kiểm tra lại và đánh
giá một cách toàn diện, khách quan và đầy đủ các chứng cứ, các tình tiết của
VAHS, từ đó ra phán quyết về việc bị cáo có thực hiện tội phạm hay khơng, có chịu
trách nhiệm hình sự hay khơng, nhằm đạt mục đích trong tồn bộ các giai đoạn tố
tụng hình sự là tun một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật một cách cơng
minh và đúng pháp luật, có căn cứ và đảm bảo sức thuyết phục tránh bỏ lọt tội
phạm và kết án oan người vơ tội. Ngồi ra, thơng qua việc thực hiện chức năng xét
xử của mình, “tịa án có nhiệm vụ giáo dục mọi người ý thức tôn trọng pháp luật và
các nguyên tắc của cuộc sống trong xã hội.”18
1.2.2. Bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự
Về bản chất, xét xử trực tuyến chỉ là biểu hiện cụ thể của việc xét xử trực tiếp
với sự hỗ trợ của công nghệ thơng tin, u cầu của phiên tịa phải bảo đảm đúng

pháp luật.19 Do đó, việc xét xử trực tuyến hay trực tiếp VAHS đều phải tuân thủ
18

Lê Tiến Châu (2009), Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Trẻ, tr.325.

Phát biểu kết luận của chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tại phiên họp thứ 13 Ban chỉ đạo Cải
cách tư pháp TW. Lê Sơn, “Xét xử trực tuyến là xu hướng tất yếu nhưng phải bảo đảm đúng pháp
luật”,
[ />at-102299214.htm] (truy cập 10/4/2023).
19


14

các nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTHS. Nguyên tắc của TTHS được hiểu là
những phương châm, kim chỉ nam định hướng quan trọng phải tuân theo trong toàn
bộ hay một số giai đoạn của hoạt động TTHS. Pháp luật TTHS Việt Nam quy định
cụ thể 27 nguyên tắc cơ bản từ Điều 7 đến Điều 33 BLTTHS năm 2015, trong phạm
vi xét xử trực tuyến, tác giả nhấn mạnh nguyên tắc từ Điều 22 đến Điều 28
BLTTHS năm 2015 (được trình bày cụ thể ở mục 2.1), trong đó đặc biệt nguyên tắc
Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của bị hại, đương sự20 và nguyên tắc Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm21.
Quyền bào chữa của người bị buộc tội, là quyền con người, quyền công dân cơ bản
được các quốc gia văn minh thừa nhận. Khi xét xử trực tuyến để đối đáp lại lời luận
tội của Kiểm sát viên, pháp luật TTHS đã có các quy định liên quan đến việc xuất
trình chứng cứ có lợi tại các điểm cầu, việc tiếp xúc giữa bị cáo và người bào chữa,
để bị cáo, người bào chữa cho bị cáo thực hiện quyền bào chữa này. Bên cạnh đó,
kết quả của tranh tụng là căn cứ quan trọng Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét đánh
giá khách quan, toàn diện vụ án, từ đây HĐXX ra phán quyết cuối cùng. Mặc dù
việc tranh luận diễn ra theo phương thức trực tuyến (có thể bị ảnh hưởng gián đoạn

bởi đường truyền và các tác động ngoại cảnh khác), nhưng pháp luật đã có những
quy định cụ thể nhằm đảm bảo nguyên tắc Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm.
1.2.3. Địa điểm tổ chức và phương thức kết nối mới
Phiên tòa xét xử trực tuyến được tổ chức tại nhiều điểm cầu bao gồm điểm cầu
chính là điểm cầu trung tâm (phòng xử án là nơi HĐXX, Kiểm sát viên, Thư ký
phiên tòa tiến hành các thủ tục tố tụng) và các điểm cầu thành phần nơi người
TGTT tham gia (trụ sở Tòa án khác, nhà tạm giữ của công an huyện, cơ sở giam giữ
của công an tỉnh hoặc có thể là nơi đương sự, trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước
lựa chọn được Tòa án chấp nhận…). Đây là điểm hoàn toàn mới so với phương thức
xét xử truyền thống chỉ tổ chức ở một địa điểm duy nhất là phòng xử án, hoặc đối
với các vụ án lớn được dư luận quan tâm thì được xét xử lưu động, tổ chức ở sân
vận động, điểm trường lớn.
Xét xử trực tuyến VAHS sẽ sử dụng không gian mạng để liên kết giữa các bên
tham gia phiên tịa dù khơng cùng đồng thời có mặt trực tiếp tại trụ sở Tịa án.
Trong đó, những người tham gia phiên tòa sử dụng các thiết bị số như: máy tính để
20

Điều 16 BLTTHS năm 2015.

21

Điều 26 BLTTHS năm 2015.


15

bàn có webcam, laptop, smartphone, máy tính bảng,… thơng qua mạng Internet truy
cập vào nền tảng kết nối như Zoom, Google Meet, Microsoft Teams…để truyền
hình ảnh và âm thanh, tham gia phiên tòa từ các địa điểm khác do Tòa án quy định.
Đây là điểm khác biệt rõ ràng nhất của xét xử trực tuyến so với phương thức xét xử

truyền thống thay vì chỉ tổ chức ở một địa điểm, người THTT và người TGTT tiếp
xúc trực tiếp với nhau, việc tranh luận các vấn đề của vụ án, việc đưa ra các tình tiết
buộc tội, gỡ tội, việc đánh giá tính khách quan của tài liệu, chứng cứ diễn ra trực
tiếp tại phiên tịa mà khơng thơng qua bất cứ trung gian nào.
1.2.4. Đảm bảo an ninh trật tự và mang lại hiệu quả kinh tế
Vấn đề đảm bảo an ninh trật tự
Để các phiên tòa xét xử VAHS diễn ra thành cơng và để HĐXX có thể ra phán
quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, việc đảm bảo an ninh trật tự trước
phiên tòa và khi phiên tòa diễn ra là vấn đề quan trọng được nhà làm luật nước ta
đặc biệt quan tâm. Đối với phiên tòa trực tiếp, việc đảm bảo an ninh trật tự thể hiện
thơng qua việc bố trí lực lượng cảnh vệ áp giải bị cáo di chuyển từ trại giam đến
Tịa án (và ngược lại), bố trí lực lượng cảnh vệ bảo vệ phiên tòa, đến việc kiểm tra
an ninh người TGTT trước khi cho họ vào phòng xử án. Tuy nhiên, việc áp giải bị
cáo từ trại giam đến phiên tịa có thể gặp một số tình huống bất ngờ như bị cáo lợi
dụng sơ hở bỏ trốn, đồng bọn bị cáo “cướp người”…hay tại phiên tịa có thể có một
số đối tượng q khích gây nguy hại cho người THTT, người làm chứng, bị hại,
thậm chí là người thân bị hại quá khích, kích động, gây mất trật tự…Khi đó, ta có
thể nhận thấy tính ưu việt của việc xét xử trực tuyến là bị cáo TGTT tại trại giam rất
an ninh so với việc có mặt tại phiên tịa truyền thống, tránh được các tình huống bất
ngờ có thể xảy ra khi áp giải và tại phiên tịa, người làm chứng, bị hại có thể an tâm
hơn khi TGTT. Ngồi ra việc xét xử trực tuyến góp phần đảm bảo an tồn tính
mạng cho người THTT, người TGTT khác không bị hành hung, trù dập, trả thù.
Mang hiệu quả kinh tế
Mặc dù, trong ngắn hạn việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị
phục vụ xét xử trực tuyến sẽ rất lớn với ngân sách nhà nước. Tuy nhiên về lâu dài,
khi đã trang bị đầy đủ trang thiết bị, việc xét xử trực tuyến sẽ tiết kiệm một lượng
lớn ngân sách nhà nước. Các thủ tục tố tụng trực tuyến, từ việc thu thập dữ liệu điện
tử, số hóa các tài liệu đến việc ghi âm, ghi hình lại phiên tịa đã diễn ra và lưu trữ tại
điểm cầu trung tâm làm tài liệu nghiên cứu, rút kinh nghiệm…điều này góp phần



16

hạn chế tài liệu giấy hàng trăm, hàng nghìn trang. Việc ghi âm, ghi hình phiên tịa là
một trong những căn cứ quan trọng công khai, minh bạch xét xử, từ đây, góp phần
tiết kiệm chi phí bảo quản, lưu trữ các tài liệu này, giảm thiểu một lượng lớn cho
ngân sách. Bên cạnh đó, Tịa án giảm bớt được chi phí, thời gian đi lại, ăn ở, tổ chức
phiên tòa lưu động khi xét xử ở các địa phương; đặc biệt việc xét xử trực tuyến rất
phù hợp với các TAND cấp cao tại Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.22 Người
TGTT tham gia phiên tòa di chuyển thuận tiện hơn, hạn chế việc vắng mặt, đến
phiên xử trễ.
1.3. Sự cần thiết của xét xử trực tuyến vụ án hình sự
Xét xử trực tuyến VAHS là xu thế phát triển chung của các quốc gia tiến bộ
trên thế giới. Sự cần thiết của phương thức xét xử mới này có thể xét đến dưới các
khía cạnh sau.
Một là, trên thế giới hiện nay, nhiều nước có nền khoa học công nghệ phát
triển (như Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đức, Ý, Hoa Kì…) đã chú
trọng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động tư pháp. Từ cung cấp
dịch vụ hành chính tư pháp trực tuyến; tống đạt điện tử; cung cấp, tiếp nhận chứng
cứ điện tử, trực tuyến… đến xét xử trực tuyến đều được các quốc gia này thực hiện
một cách thường xuyên và dần thay thế hoạt động tố tụng truyền thống. Kinh
nghiệm của các quốc gia đã xét xử trực tuyến cho thấy có hai cơ chế xây dựng hạ
tầng pháp lý cho hoạt động này: một là, xây dựng đạo luật riêng về tố tụng điện tử;
hai là, giao cho TAND tối cao quy định, hướng dẫn thực hiện.
Hai là, hiện nay đa số Tòa án các nước trong khu vực ASEAN đã thực hiện
việc xây dựng Tòa án điện tử (chỉ còn Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar
chưa thực hiện) và tổ chức xét xử trực tuyến. Vừa qua, Việt Nam tham gia Hội đồng
1 Chánh án các nước khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, Hội đồng Chánh án khu
vực ASEAN và đã cam kết đến năm 2025 phải hồn thành việc xây dựng Tịa án
điện tử theo Nghị quyết của Hội đồng. Do đó, Việt Nam cũng phải từng bước thực

hiện cam kết này để phục vụ tốt nhất nhu cầu của Nhân dân, phù hợp với xu hướng

Mai Xuân Thành, “Xét xử trực tuyến trong công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta”,
[ />-trong-cong-cuoc-cai-cach-tu-phap-o-nuoc-ta%C2%A0%C2%A0%C2%A07136.html] (truy cập
22/3/2023).
22


17

phát triển chung và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.23
Ba là, Hiến pháp năm 2013 có quy định về xét xử phải đảm bảo tính nhanh
chóng, kịp thời, theo đó “Người bị buộc tội phải được Tịa án xét xử kịp thời trong
thời hạn luật định, công bằng, cơng khai.”24. Vì trong lúc dịch bệnh diễn ra làm gián
đoạn hoạt động xét xử, do vậy để xét xử được nhanh chóng và kịp thời, cần có
phương thức xét xử mới đó là phương thức xét xử trực tuyến. Ngay tại BLTTHS
năm 2015 đã có một số quy định về tố tụng trực tuyến (các Điều 87, Điều 99, Điều
107 và Điều 311 về nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử, hỏi người làm chứng qua
mạng máy tính, mạng viễn thông). Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (các chương
VII, X và XII) và Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (các chương VI, VII và IX) đã
cho phép thu thập chứng cứ là dữ liệu điện tử, thực hiện các thủ tục tố tụng như cấp,
tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử, khởi kiện đến Tịa án
qua cổng thơng tin điện tử). Các đạo luật này cũng cho phép tổ chức phiên tịa ngồi
trụ sở Tịa án nhưng phải bảo đảm tính trang nghiêm. Thực tiễn thời gian qua, một
số Tịa án khi tổ chức phiên tịa hình sự xét xử các vụ án xâm hại tình dục, vụ án
tham nhũng và một số vụ án khác có nhiều người TGTT đã cho Luật sư, bị hại,
người làm chứng... tham gia phiên tòa tại phòng cách ly hoặc phòng khác với sự hỗ
trợ của các thiết bị điện tử. Các quy định trên tạo cơ sở cho việc tổ chức phiên tòa
trực tuyến.
Bốn là, trong bối cảnh những năm 2020 - 2022, tình hình dịch bệnh truyền

nhiễm covid 19 diễn ra phức tạp trong nước và trên thế giới, việc cách ly xã hội và
giãn cách phòng chống dịch bệnh kéo dài dẫn đến mọi hoạt động bị ngưng lại. Điều
này tác động khơng nhỏ đến hoạt TTHS nói chung, đặc biệt là giai đoạn xét xử ở
nước ta, khi pháp luật TTHS chưa có cơ chế pháp lý nào để xét xử trực tuyến. Mọi
phiên tòa buộc phải diễn ra tại phòng xử án, người THTT, người TGTT phải di
chuyển đến Tòa án, điều này gây nguy cơ lây lan dịch bệnh là rất cao. Bên cạnh đó,
trong năm 2023 và thời gian tới, dịch bệnh Covid được kiểm soát nhưng nguy cơ
tiềm ẩn các dịch bệnh nguy hiểm, có tính lây nhiễm cao là điều có thể xảy ra. Điều
này đặt ra vấn đề cần phải có chế định pháp luật rõ ràng cụ thể liên quan đến hoạt
Nguyễn Quốc Khánh, Huỳnh Trung Hậu (2022), “Phiên tòa trực tuyến và sự thích ứng trong
điều kiện tình hình thực tiễn hiện nay”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Xét xử trực tuyến vụ án hình sự
những vấn đề lý luận và kinh nghiệm của các nước, do Trường Đại học Cảnh sát nhân dân tổ chức
2022, Tr.20.
23

24

Khoản 2 Điều 31 Hiến pháp năm 2013.


18

động xét xử trực tuyến.
Nhận thấy các nhu cầu bức thiết trên, Quốc hội nước ta thông qua Nghị quyết
33/2021/QH15 về tổ chức phiên tịa trực tuyến, cụ thể hóa Nghị quyết này, TAND
tối cao, VKS nhân dân tối cao, Bộ Cơng an, Bộ Quốc phịng, Bộ Tư pháp đã ban
hành Thông tư liên tịch số 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP
(TTLT số 05/2021) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tổ chức phiên tòa trực
tuyến. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng đánh dấu sự ra đời của phiên tòa trực tuyến
để xét xử các VAHS, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính… Có thể thấy,

việc ra đời của Nghị quyết số 33/2021/QH15 và TTLT số 05/2021 đáp ứng được
đòi hỏi của thực tiễn và phù hợp với xu thế chung của thế giới
1.4. Các yếu tố chi phối hoạt động xét xử trực tuyến vụ án hình sự
Xét xử trực tuyến VAHS là phương thức xét xử rất mới ở Việt Nam, trong quá
trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy có nhiều yếu tố tác động đến hoạt động xét xử trực
tuyến, có thể khái quát thành 3 yếu tố chính sau: yếu tố trung gian truyền dẫn, yếu
tố bảo mật thông tin và yếu tố con người.
1.4.1. Yếu tố trung gian truyền dẫn
Khác với phiên tòa trực tiếp, mọi hoạt động đều diễn ra tại một địa điểm,
phiên tòa trực tuyến được tổ chức ở nhiều điểm cầu khác nhau nên cần phải có là
các thiết bị trung gian kết nối (máy tính có webcam, laptop, Ipad, smartphone,…)
và đường truyền Internet để truyền và xuất dữ liệu.
Liên quan đến thiết bị trung gian kết nối
Hiện nay các TAND chưa được đầu tư, lắp đặt trang thiết bị phục vụ xét xử
trực tuyến đồng bộ. Các thiết bị đang sử dụng phục vụ cho xét xử trực tuyến chủ
yếu tận dụng các trang thiết bị họp trực tuyến để phục vụ xét xử nên chất lượng
hình ảnh, âm thanh và phần hiển thị hình ảnh chưa đạt yêu cầu theo quy định. Một
số Tòa án thuê thiết bị để phục vụ xét xử rất tốn kém, trong khi đó kinh phí cho nội
dung này khơng được bố trí nguồn.25 Tất cả các tòa án đã xét xử trực tuyến thì tận
dụng các cơ sở hiện có, thậm chí có tòa án mang cả ti vi của nhà lên để xét xử.26
Vy Anh, “Đầu tư nguồn lực , trang thiết bị cho công tác xét xử trực tuyến”,
[ (truy cập 05/4/2023).
25

Anh Văn, “Ơng Nguyễn Hịa Bình: Có thẩm phán mang cả tivi nhà lên tòa để xét xử trực
tuyến”,
26



×