BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGƠ THANH HỒI
VAI TRỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 - NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGƠ THANH HỒI
VAI TRỊ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS. NGUYỄN THỊ HỒI TRÂM
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 - NĂM 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tơi là Ngơ Thanh Hồi, xin cam đoan rằng Khóa luận tốt nghiệp là kết quả
nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ
Nguyễn Thị Hoài Trâm – Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ
Chí Minh. Việc nghiên cứu đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích
dẫn, chú thích tài liệu tham khảo. Những phân tích, so sánh, bình luận và kiến nghị
trong cơng trình là kết quả của q trình tiếp cận, học hỏi, đầu tư nghiên cứu một
cách nghiêm túc của tác giả. Tơi xin chịu hồn tồn trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả Khóa luận
Ngơ Thanh Hoài
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hồn thành tốt khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của
bản thân, tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, ủng hộ từ quý thầy cô và các bạn.
Đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô khoa Luật Dân
sự trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ tác giả trong q trình thực
hiện khóa luận tốt nghiệp. Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Nguyễn
Thị Hoài Trâm – Giảng viên trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù
rất bận rộn với công việc giảng dạy cũng như nghiên cứu khoa học nhưng cơ ln tận
tình hướng dẫn cũng như động viên tác giả trong suốt q trình nghiên cứu để hồn
thành khóa luận.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã ln
bên cạnh giúp đỡ, động viên tác giả trong thời gian vừa qua.
Mặc dù đã rất cố gắng để hồn thành tốt khóa luận nhưng do năng lực và thời
gian có hạn nên khóa luận khơng thể tránh khỏi những sai sót. Tác giả mong nhận
được sự góp ý từ phía thầy cơ và bạn bè.
Trân trọng và biết ơn!
Tác giả Khóa luận
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Nội dung được viết tắt
Bộ luật tố tụng dân sự ngày 15 tháng 6 năm
1
BLTTDS năm 2004
2004 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông
qua ngày 15 tháng 6 năm 2004.
Bộ luật tố tụng dân sự ngày 25 tháng 11 năm
2015 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
2
3
BLTTDS năm 2015
LTCVKSND năm
nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10
thơng qua ngày 25 tháng 11 năm 2015 có hiệu
lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
số 63/2014/QH13 ngày 24 tháng 11 năm 2014
được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
2014
nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thơng
qua ngày 24 tháng 11 năm 2014 có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 6 năm 2015.
4
VKS
Viện kiểm sát
5
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
6
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
7
Thông tư liên tịch số
02/2016/TTLTVKSNDTC-TANDTC
Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLTVKSNDTC-TANDTC ngày 31 tháng 8 năm
2016 quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm
sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi
hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự.
8
TTDS
Tố tụng dân sự
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ .........................................................................6
1.1. Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự .............6
1.2. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong thủ tục sơ thẩm .....................14
1.2.1. Đối với hoạt động trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, thụ lý .................14
1.2.2. Đối với chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chuẩn bị xét đơn yêu cầu giải quyết việc
dân sự ................................................................................................................17
1.2.3. Đối với việc giải quyết vụ việc dân sự tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp sơ
thẩm ...................................................................................................................19
1.3. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong thủ tục phúc thẩm ................24
1.3.1. Đối với hoạt động kháng nghị phúc thẩm ...............................................24
1.3.2. Đối với việc giải quyết vụ việc dân sự tại phiên tòa phúc thẩm, phiên họp
phúc thẩm ..........................................................................................................26
1.4. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
và thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao ..................................................................................................28
1.4.1. Đối với việc giải quyết vụ việc dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm và tái
thẩm ...................................................................................................................28
1.4.2. Đối với thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao....................................................................................34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................ Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ - BẤT CẬP
VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ...........................................................................37
2.1. Thực tiễn áp dụng vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân
sự ...........................................................................................................................37
2.2. Bất cập và kiến nghị nhằm hoàn thiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng dân sự ............................................................................................44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................ Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN ..............................................................................................................67
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
VKSND là một trong các cơ quan thuộc bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, giữ vai trò quan trọng trong việc thực thi và bảo vệ sự ổn định,
trật tự pháp luật. Từ khi thành lập cho đến nay, VKSND ln khẳng định được vai
trị của mình, thực hiện được nhiều nhiệm vụ quan trọng, trong đó có kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong TTDS. LTCVKSND năm 2014 và BLTTDS năm 2015 ra
đời là bước tiến quan trọng khi có nhiều sự thay đổi so với các văn bản pháp luật quy
định về chức năng, phạm vi, thẩm quyền của VKSND trong các giai đoạn trước đây.
Điều này góp phần giúp VKSND bảo đảm được việc thực hiện đúng đắn các quy định
pháp luật trong suốt quá trình tố tụng, tạo điều kiện cho hoạt động giải quyết các vụ
việc dân sự được công bằng, khách quan, kịp thời và đúng pháp luật, qua đó tạo ra
môi trường pháp lý lành mạnh và bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của các bên
tham gia vào quan hệ TTDS.
Tuy nhiên, thực tiễn thi hành pháp luật hiện nay cho thấy những quy định của
pháp luật về vai trò của VKSND trong TTDS còn tồn tại nhiều khoản chưa rõ ràng,
cách hiểu khơng thống nhất, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể... Điều này làm cho
VKSND khơng thể phát huy được hết vai trị là một cơ quan tiến hành tố tụng thực
hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Chẳng hạn, việc phát hiện vi phạm
pháp luật để kháng nghị, kiến nghị mặc dù đã có nhiều chuyển biến tích cực, chất
lượng các kiến nghị, kháng nghị được nâng cao nhưng vẫn còn nhiều vướng mắc, khó
khăn khiến cho hiệu quả của hoạt động này chưa đạt được hiệu quả tối ưu. Hay trong
nhiều vụ việc, mặc dù có sự tham gia của Kiểm sát viên nhưng vẫn khơng đảm bảo
tính vơ tư, khách quan.
Trước thực trạng đó cùng với sự nhận thức được tầm quan trọng, vai trò của
VKSND trong TTDS nên địi hỏi phải có sự thay đổi, hồn thiện. Do đó, tác giả chọn
đề tài “Vai trị của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự” làm đề tài khóa luận
tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Về đề tài “Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự”, đã có
những cơng trình nghiên cứu khoa học trong nước có liên quan như sau:
Phùng Thanh Hà (2014), Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà
Nội. Luận văn trình bày khái quát về một số vấn đề lý luận về nhiệm vụ, quyền hạn
2
của VKSND như khái niệm, đặc điểm nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong TTDS;
nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong TTDS qua từng giai đoạn lịch sử. Đồng thời,
so sánh với quy định của một số quốc gia khác. Thơng qua đó, tác giả tiến hành phân
tích quy định của pháp luật TTDS hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND
trong TTDS. Tại chương 3 tác giả tìm ra những bất cập và đề xuất một số kiến nghị
liên quan đến việc Tịa án gửi thơng báo thụ lý ở trình tự phúc thẩm, tái thẩm, giám
đốc thẩm; việc thực hiện quyền kiến nghị, quyền yêu cầu; hạn chế thẩm quyền và
phạm vi kháng nghị phúc thẩm của VKS; về thời hạn kháng nghị và quy định về
quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Tuy nhiên, cơng trình được nghiên cứu đã
lâu nên khơng cập nhật được những vấn đề được đặt ra trong thực tiễn ngày nay.
Trần Thị Thu Thuận (2014), Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng
dân sự, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Khóa
luận tốt nghiệp trình bày về chức năng, địa vị pháp lý của VKSND trong bộ máy nhà
nước và trong TTDS; khái quát vai trò của VKSND trong TTDS qua từng giai đoạn
phát triển. Đồng thời, so sánh với một số quốc gia khác trên thế giới về vai trị của
VKSND trong TTDS. Thơng qua đó, tác giả phân tích quy định của pháp luật TTDS
hiện hành về vai trò của VKSND trong TTDS. Tại chương 3, tác giả đã chỉ ra những
bất cập trong quá trình thực hiện trên thực tiễn và đề xuất một số kiến nghị nhằm
nâng cao vai trò của VKSND trong TTDS. Tuy nhiên, cơng trình này được nghiên
cứu đã lâu nên khơng cập nhật được một số vấn đề mà thực tiễn ngày nay đặt ra.
Nguyễn Thị Tuyền (2020), Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng
dân sự, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn trình bày
khái qt về vai trị của VKSND trong bộ máy nhà nước và trong TTDS, khái quát
về vai trò của VKSND trong TTDS qua từng thời kỳ. Thơng qua đó, tác giả đã phân
tích quy định pháp luật về vai trò của VKSND trong TTDS và chỉ ra được những hạn
chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện vai trò của VKSND trong TTDS. Tại
chương 3, tác giả đã đề xuất một số kiến nghị liên quan đến việc trả lại đơn khởi kiện;
về quy định tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên; về kiểm sát bản án, quyết định; về
quy định trong căn cứ tạm đình chỉ. Trong luận văn chỉ mới đề cập một số vướng
mắc, bất cập trên thực tế và đưa ra một số đề xuất nhưng chưa cụ thể.
Các bài viết tạp chí như:
Nguyễn Nam Hưng (2016), “Một số điểm mới về chế định Viện kiểm sát nhân
dân trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát, số 03, tr. 24-28. Bài
viết tập trung trình bày về những điểm mới về VKSND trong BLTTDS năm 2015 so
3
với BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 nhưng chưa có sự phân tích
chun sâu.
Nguyễn Vinh Hưng (2017), “Tham gia của Viện kiểm sát nhân dân trong các
phiên tịa sơ thẩm, phúc thẩm dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 07, tr. 24-28; Nguyễn
Nam Hưng (2017), “Một số khó khăn, vướng mắc trong kiểm sát trả lại đơn khởi
kiện”, Tạp chí Kiểm sát, số 21, tr. 5-9; Lê Thị Hồng Hạnh (2018), “Một số giải pháp
nâng cao chất lượng cơng tác kiểm sát quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ việc dân
sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 09. Những bài viết này tập trung phân tích một số khía cạnh
trong việc thực hiện vai trị của VKSND trong TTDS nhưng chưa có sự bao quát.
Với những đề tài và bài viết trên, các tác giả đã có những cách tiếp cận khác
nhau về vai trò của VKSND trong TTDS, chứng minh được sự cần thiết của hoạt
động kiểm sát trong TTDS. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ, chưa
được quan tâm thỏa đáng. Mặc dù vậy, các cơng trình và bài viết trên sẽ là tài liệu
tham khảo giúp khóa luận hồn thiện hơn.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam về vai trò của VKSND
trong TTDS (về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS).
Thứ hai, đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện vai trò của VKSND
trong TTDS.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài “Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự”, tác giả tập
trung nghiên cứu, phân tích những vấn đề mang tính lý luận và các quy định của pháp
luật về vai trò của VKSND trong TTDS, thực tiễn áp dụng pháp luật. Từ đó, đưa ra
một số kiến nghị và một số giải pháp nhằm hoàn thiện cũng như nâng cao hiệu quả
việc thực hiện vai trò của VKSND trong TTDS.
5. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận “Vai trị của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự” tập trung
những vấn đề cơ bản sau:
Về nội dung: Nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam về vai trò của
VKSND trong TTDS; Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về vai trò của VKSND
trong TTDS; Kiến nghị các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện vai trò của
VKSND trong TTDS.
Về không gian: Những vấn đề lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng
đối với vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong TTDS theo quy định của pháp luật
4
Việt Nam, pháp luật một số quốc gia khác. Trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị
đối với Việt Nam.
Về thời gian: Nghiên cứu các quy định của BLTTDS năm 2015 và các văn bản
hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, có so sánh, đối chiếu với các quy định trước đây
như BLTTDS 2004 để đánh giá những điểm tiến bộ cũng như hạn chế đối với vấn đề
nghiên cứu.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả kết hợp sử dụng nhiều phương pháp
nghiên cứu, cụ thể như sau:
Thứ nhất, phương pháp phân tích, bình luận: Phương pháp này được tác giả
sử dụng xuyên suốt trong cả hai chương của Khóa luận. Bằng phương pháp phân tích,
bình luận, tại chương 1 tác giả tập trung phân tích và bình các quy định của pháp luật
về vai trò của VKSND trong TTDS, cũng như các biện pháp nâng cao hiệu quả thực
hiện vai trò của VKSND trong TTDS. Bên cạnh đó, trong chương 2 tác giả tiếp tục
sử dụng phương pháp này để đánh giá những quy định về vấn đề nghiên cứu, cùng
với đó đánh thực tiễn áp dụng pháp luật trên cơ sở bình luận những bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật. Từ đó, chỉ ra những điểm bất cập, còn tồn tại.
Thứ hai, phương pháp so sánh: Phương pháp này cũng được sử dụng toàn bộ
trong cả hai chương của Khóa luận. Tại chương 1, trong q trình phân tích và bình
luận, tác giả cịn so sánh các quy định của BLTTDS năm 2015 với các văn bản trước
đây về vấn đề nghiên cứu. Phương pháp này cũng mang lại giá trị cho việc so sánh
quy định cũng như thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật TTDS trong các giai
đoạn trước đây để so với BLTTDS năm 2015 nhằm nhận diện điểm tiến bộ cũng như
hạn chế của BLTTDS năm 2015 so với các quy định trước đây. Mặt khác, tác giả còn
so sánh quy định của pháp luật TTDS Việt Nam với các quốc gia trên thế giới, cụ thể
là pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, pháp luật Cộng hòa Pháp, pháp luật Cộng
hòa Liên bang Brazil, pháp luật Cộng hòa Uzbekistan, pháp luật Nhật Bản tại mục 2
chương 2. Từ đó, tham khảo kinh nghiệm nhằm đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật
về vai trò của VKSND trong TTDS.
7. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận gồm: Phần mở đầu, nội dung chính, kết luận.
Nội dung chính gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng
dân sự
5
Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về vai trò của Viện kiểm sát
nhân dân trong tố tụng dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện
6
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN
DÂN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Địa vị pháp lý của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự
VKSND là hệ thống cơ quan trong bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. VKSND được hình thành gắn liền với chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Trước khi có tên gọi và mơ hình VKSND
như hiện nay thì nước ta đã từng tồn tại mơ hình Viện cơng tố1. Cho đến Hiến pháp
năm 1959 thì thuật ngữ “VKSND” lần đầu tiên xuất hiện chính thức tại Việt Nam.
Trên thế giới, thuật ngữ “VKSND” tồn tại đối với một số nước đi theo con đường xã
hội chủ nghĩa như Việt Nam, Lào, Trung Quốc,… dùng để chỉ cơ quan giữ chức năng
cơng tố. Cịn tại các quốc gia thuộc hệ thống án lệ (Anh-Mỹ), cơ quan giữ chức năng
công tố được gọi là Viện công tố.
Tùy theo quan điểm của mỗi quốc gia mà cơ quan giữ chức năng cơng tố có
vị trí độc lập trong tổ chức bộ máy nhà nước hay thuộc một cơ quan tư pháp, hành
pháp. Đối với các nước thuộc hệ thống án lệ, cơ quan công tố nằm trong cơ quan tư
pháp (hệ thống Tòa án). Đối với các nước theo con đường chủ nghĩa xã hội, cơ quan
giữ chức năng cơng tố có tư cách độc lập, là một hệ thống cơ quan riêng do cơ quan
quyền lực nhà nước cao nhất thành lập, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước
cơ quan này2. Chẳng hạn như ở Trung Quốc, cơ quan kiểm sát giữ vị trí rất quan trọng
trong tổ chức bộ máy Nhà nước, cơ quan này chỉ chịu trách nhiệm trước cơ quan
quyền lực tối cao của đất nước là Đại hội đại biểu nhân dân. Ở Việt Nam trước đây,
khi bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta là Hiến pháp năm 1946 được thơng qua thì
vẫn chưa quy định việc thành lập cơ quan kiểm sát là một hệ thống cơ quan độc lập
trong tổ chức bộ máy nhà nước. Sắc lệnh số 13 về cách thức tổ chức các Tòa án và
các ngạch Thẩm phán do Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành vào ngày 24 tháng
01 năm 1946 ghi nhận sự ra đời của cơ quan công tố, tiền thân của VKSND. Trong
Sắc lệnh số 13 cũng quy định người giữ chức năng công tố nằm trong cơ cấu tổ chức
của cơ quan tư pháp là Tòa án. Điều này cho thấy Viện cơng tố ở giai đoạn này khơng
có vị trí độc lập trong bộ máy nhà nước mà nằm trong Tịa án. Tiếp đó, theo Sắc lệnh
Vũ Văn Nhiêm (2016), Bình luận khoa học các điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 2013, Nxb. Hồng Đức, tr. 352.
2
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb. Hồng Đức
– Hội Luật gia Việt Nam, tr. 522.
1
7
số 85/SL ngày 22/5/1950, Sắc lệnh số 103 ngày 5/6/1950 đã xác định Viện cơng tố
là cơ quan thuộc Chính phủ. Kể từ khi Hiến pháp năm 1959 ra đời cho đến nay,
VKSND khơng cịn nằm trong hệ thống Tịa án hay Chính phủ như trước đây. Bắt
đầu từ thời điểm này, VKSND đã xác lập vị trí là một cơ quan độc lập trong bộ máy
nhà nước. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định vị trí của VKSND là cơ quan độc
lập trong bộ máy nhà nước nhưng có sự quy định khác hơn so với Hiến pháp trước
đó khi quy định VKSND gồm VKSNDTC và các VKS khác do luật định thay cho
quy định VKSND gồm VKSNDTC và các VKS địa phương. Bên cạnh đó, để bảo
đảm cho việc thực hiện vai trò của VKS một cách tốt nhất, Hiến pháp năm 2013 đã
ghi nhận một số nguyên tắc như VKSND được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc
tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành và nguyên tắc độc lập, không lệ thuộc vào
bất cứ cơ quan nào3. Để làm rõ địa vị pháp lý và sự độc lập của VKSND trong bộ
máy nhà nước, có thể xem xét mối quan hệ giữa VKSND và các cơ quan khác:
Mối quan hệ với Quốc hội: Quốc hội được xác định là cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất giữ chức năng giám sát tối cao đối với các hoạt động của nhà nước.
“Tuy nhiên, do điều kiện khách quan, Quốc hội khơng thể tự mình giám sát được tất
cả các công việc, Quốc hội phải cần đến sự trợ giúp của cơ quan nhà nước khác. Do
vậy, Quốc hội đã thành lập hệ thống VKSND được tổ chức một cách độc lập; thông
qua Hiến pháp, các luật Quốc hội quy định về chức năng, thẩm quyền của cơ quan
này”4. Viện trưởng VKSNDTC chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội.
Trong thời gian Quốc hội khơng họp thì Viện trưởng VKSNDTC chịu trách nhiệm
báo cáo công tác trước Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước, trả lời chất vấn,
kiến nghị của Đại biểu Quốc hội.
Mối quan hệ với Chính phủ: Trước đây, từng có một thời gian Viện cơng tố
(tiền thân của VKSND) là cơ quan của Chính phủ nhưng ngày nay, VKSND và Chính
phủ là hai hệ thống cơ quan độc lập với nhau, VKS không phải chịu sự chỉ đạo về
nghiệp vụ cũng như báo cáo công tác trước cơ quan này. Tuy nhiên, để bảo đảm thực
hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao nhất thì hai cơ quan này phải có sự phối hợp với nhau.
Mối quan hệ với Tòa án nhân dân: Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền
tư pháp, một trong ba nhánh quyền lực nhà nước và là cơ quan do Quốc hội thành
lập. Tuy nhiên, hai cơ quan này có sự độc lập với nhau về tổ chức, nhiệm vụ, chức
3
4
Những nguyên tắc này được quy định tại Điều 108, 109 Hiến pháp năm 2013.
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (2), tr. 523.
8
năng. Nếu như Tòa án nhân dân thực hiện vai trị xét xử thì VKSND lại là cơ quan
kiểm sát q trình xét xử của Tịa án. Chính vì vậy, Tịa án nhân dân và VKSND có
trách nhiệm phối hợp với nhau một cách “nhịp nhàng” để bảo đảm thực thi pháp luật
được nghiêm minh, góp phần hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm được quyền lợi
hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; lợi ích Nhà nước và lợi ích cơng cộng.
Mối quan hệ với cơ quan chính quyền ở địa phương: VKSND là cơ quan do
Quốc hội thành lập nên không thừa hành quyền lực từ cơ quan chính quyền địa
phương. Do đó, VKSND địa phương độc lập với cơ quan chính quyền ở địa phương
về tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính, chức năng, nhiệm vụ. Tuy nhiên, Viện trưởng
VKSND địa phương phải chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu
trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân, trả lời chất vấn, kiến nghị,
yêu cầu của đại biểu Hội đồng nhân dân.
Về chức năng của VKSND, Hiến pháp năm 2013 quy định VKSND có hai
chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Thực hành
quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực
hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự5. Cịn kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt
động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết
định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ
khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong
suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ
việc dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành
án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp
khác theo quy định của pháp luật6. So với các bản Hiến pháp trước là Hiến pháp năm
1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 thì chức năng của VKSND trong
Hiến pháp 2013 đã bị thu hẹp hơn. Trong các bản Hiến pháp trước đó đều ghi nhận
VKSND giữ chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật.
Chẳng hạn, Hiến pháp 1992 quy định chức năng của VKSNDTC là kiểm sát việc tuân
theo pháp luật của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan khác thuộc Chính phủ,
các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang
5
6
Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
Khoản 1 Điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014.
9
nhân dân và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các VKSND địa phương, VKSND quân sự kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong phạm vi trách nhiệm do luật định. Theo như quy
định này, phạm vi thẩm quyền của VKSND là rất rộng. Đến khi Nghị quyết
51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành thì chức năng của VKSND bị thu hẹp lại,
VKSND khơng cịn thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các
lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội mà tập trung thực hiện chức năng kiểm sát trong
hoạt động tư pháp, thực hành quyền công tố. Hiến pháp 2013 cũng kế thừa quy định
này khi quy định chức năng của VKSND là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt
động tư pháp.
Như vậy, theo quy định hiện hành, VKSND là một hệ thống cơ quan độc lập
trong tổ chức bộ máy nhà nước với chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm
sát hoạt động tư pháp để góp phần thúc đẩy các cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát
việc thực hiện quyền lực nhà nước theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa.
Việc thực hiện chức năng của VKSND gắn liền với các quá trình TTDS, tố
tụng hành chính và tố tụng hình sự. Q trình tố tụng trong từng lĩnh vực đều có
những vai trị nhất định trong xã hội. Ngày nay, với sự phát triển và hội nhập quan hệ
pháp luật dân sự giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức diễn ra rất phổ biến. Tuy nhiên,
trong quá trình thực hiện quan hệ pháp luật này đôi khi xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp
gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của chủ thể tham gia nên họ phải sử dụng đến quyền
khởi kiện, quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chính
điều này làm phát sinh quy trình và thủ tục tố tụng để giải quyết vụ việc dân sự. Trong
khoa học pháp lý, trình tự do pháp luật quy định cho việc giải quyết vụ việc dân sự
được gọi là “TTDS”7. Quá trình giải quyết vụ việc dân sự gồm nhiều hoạt động phức
tạp với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau. Trong đó, VKSND là cơ quan có vị
trí và vai trị cực kỳ quan trọng.
Thứ nhất, VKSND là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong TTDS
Hiến pháp 2013 quy định VKSND có hai chức năng là thực hành quyền công
tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, trong TTDS, VKSND chỉ thực hiện
7
Trường Đại học Luật - Đại học Huế (2013), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, Nxb. Đại học Huế, tr. 15.
10
chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật. Điều này xuất phát từ nguyên tắc đặc
thù của TTDS là nguyên tắc tự định đoạt của đương sự. Sự phát sinh của quá trình
TTDS xuất phát từ việc nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và vì lợi ích
của đương sự. Do đó, VKSND tham gia vào TTDS để thực hiện chức năng kiểm sát.
Còn tố tụng hình sự có ngun tắc đặc thù là ngun tắc công tố, tức mọi hoạt động
tố tụng được tiến hành trước hết là vì lợi ích của nhà nước nên chức năng thực hành
quyền công tố được quy định tại Điều 3 LTCVKSND năm 2014 là hoạt động của
VKSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người
phạm tội. Có thể thấy ở Việt Nam, vị trí, vai trị của VKS trong TTDS có phần bị hạn
chế hơn so với tố tụng hình sự. Điều này có sự tương đồng với phần lớn các nước
trên thế giới. Tuy nhiên, vị trí, vai trị của VKS trong TTDS ở Việt Nam có sự khác
biệt nhất định với các nước khác. Ở phần lớn các nước, VKSND (Viện công tố) chỉ
can thiệp khi một bên mất năng lực hành vi hay khi quyền tự định đoạt của các bên
xâm phạm đến lợi ích cơng cộng hay trật tự pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích và trật tự
đó. Nổi bật như các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, Viện công tố hầu như
khơng tham gia vào TTDS, khơng có vai trị trong TTDS8. Còn ở Việt Nam, VKS
tham gia TTDS nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật, kịp thời phát hiện sai phạm
trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự để yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị khắc phục.
Trước khi BLTTDS năm 2004 ra đời, VKS không chỉ kiểm sát việc tn theo
pháp luật mà cịn có quyền khởi tố một số vụ án dân sự. Đến khi BLTTDS năm 2004
ra đời thì VKSND khơng cịn chức năng khởi tố vụ án dân sự với nguyên nhân “do
đã bỏ chức năng kiểm sát chung, VKS sẽ không đủ điều kiện phát hiện vi phạm pháp
luật cũng như thu thập tài liệu, chứng cứ làm căn cứ để khởi tố vụ án dân sự”9.
BLTTDS năm 2015 tiếp tục ghi nhận VKS khơng có chức năng khởi tố vụ án dân sự
“vì khơng phù hợp với ngun tắc tự định đoạt của đương sự”10. Chính vì vậy, VKS
chỉ có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn hiện nay và cụ thể
hóa thành một nguyên tắc tại Điều 21 BLTTDS năm 2015. Theo đó: “VKS kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong TTDS, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng
Nguyễn Đình Phan Anh (2022), Địa vị pháp lý của Kiểm sát viên trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn
Thạc sĩ, Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 28.
9
Dương Thị Kim So (2015), Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự, Khóa luận tốt nghiệp,
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 8.
10
“Quốc hội thơng qua Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân sửa đổi”, truy cập ngày
29/5/2023.
8
11
nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự
kịp thời, đúng pháp luật”. Việc quy định đây là một trong những nguyên tắc cơ bản
của pháp luật TTDS đã cho thấy tầm quan trọng của VKSND trong TTDS. VKSND
là cơ quan duy nhất được thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
TTDS. LTCVKSND năm 2014 đã có khái niệm cụ thể về kiểm sát hoạt động tư pháp
tại khoản 1 Điều 4. Căn cứ theo quy định này, có thể hiểu kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong TTDS là một hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của
các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc giải quyết vụ việc
dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau gọi là vụ việc
dân sự). Kiểm sát tính hợp pháp này tức là giám sát, kiểm tra tính hợp pháp, tính có
căn cứ của hành vi của các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng, đối với các văn bản
được chủ thể tiến hành tố tụng áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Đây
cũng là một hình thức thực hiện quyền lực nhà nước, một trong những hoạt động
nhằm thực hiện chức năng kiểm sát tư pháp của VKSND11. Thực hiện chức năng
kiểm sát trong TTDS giúp cho VKSND kịp thời phát hiện và loại bỏ các hành vi,
quyết định vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng nhằm bảo đảm cho các chủ thể tham gia vào quá trình giải
quyết vụ việc dân sự tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, bảo đảm việc đưa ra
các quyết định, bản án của Tòa án là hợp pháp, có căn cứ, bảo đảm cho việc giải quyết
vụ việc dân sự được khách quan, đúng pháp luật và kịp thời, bảo vệ được quyền, lợi
ích hợp pháp của đương sự, lợi ích nhà nước, lợi ích cơng cộng và góp phần vào việc
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng
Trong BLTTDS năm 2004, VKSND được quy định là một trong những cơ
quan tiến hành tố tụng. Đến BLTTDS năm 2015, điều này tiếp tục được khẳng định.
Tuy nhiên, BLTTDS năm 2015 không định nghĩa như thế nào là cơ quan tiến hành
TTDS. Bộ luật này có quy định cơ quan tiến hành TTDS bao gồm: Tòa án, VKS. Dựa
vào nhiệm vụ, quyền hạn của hai cơ quan này, có thể hiểu một cách cơ bản cơ quan
tiến hành TTDS là những cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được
Nguyễn Thị Tuyền (2020), “Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự”, Luận văn Thạc sĩ,
Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 14.
11
12
pháp luật quy định nhằm thực hiện nhiệm vụ giải quyết, xét xử các vụ việc dân sự;
hoặc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong toàn bộ hoạt động TTDS12.
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND được thực hiện thông qua người tiến hành
tố tụng như Viện trưởng VKSND, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên. Mọi hoạt động
TTDS của VKSND phải tuân theo pháp luật TTDS. Có nghĩa rằng, việc tuân theo
pháp luật TTDS là nghĩa vụ của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng,
người tham gia tố tụng và chủ thể có liên quan khác nói chung cũng như VKSND nói
riêng. Vì hoạt động kiểm sát của VKSND nhằm mục đích bảo đảm hoạt động của
Tòa án, của đương sự và những người tham gia tố tụng phải tuân thủ đúng quy định
của pháp luật nên hoạt động kiểm sát của VKS cũng phải tuân theo quy định pháp
luật. Chẳng hạn, nếu trường hợp Tịa án mắc sai lầm, thực hiện khơng đúng thủ tục
tố tụng, có vi phạm pháp luật khi xét xử,... mà hoạt động kiểm sát của VKS cũng
không được thực hiện theo đúng quy định pháp luật thì sẽ gây ra những hậu quả
nghiêm trọng đối với quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia
vào quan hệ pháp luật TTDS, gây ra sự thiếu niềm tin vào tính nghiêm minh của pháp
luật. Do đó, hoạt động của VKSND phải tuân theo quy định pháp luật TTDS để bảo
đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được diễn ra một cách công bằng, khách quan,
đúng pháp luật, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan.
Bên cạnh việc tiếp tục khẳng định VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng,
BLTTDS 2015 cịn có nhiều sự sửa đổi, bổ sung để củng cố địa vị pháp lý của
VKSND trong TTDS như quy định Kiểm tra viên là người tiến hành tố tụng (Điều
46); bổ sung thêm quy định về thẩm quyền xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của
VKSND khi cho phép Kiểm sát viên được Viện trưởng VKSND phân công thực hiện
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự đó được
u cầu Tịa án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự
theo quy định của Bộ luật này, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định tại khoản 6
Điều 97,.... Có thể thấy dù Tịa án và VKSND đều được quy định là cơ quan tiến hành
tố tụng nhưng nhiệm vụ, quyền hạn và mục đích tham gia của hai cơ quan này là
khơng giống nhau. Nếu như Tịa án là cơ quan xét xử, tham gia vào TTDS để giải
quyết các vụ việc dân sự và là cơ quan tiến hành tố tụng chủ yếu trong suốt quá trình
diễn ra hoạt động TTDS thì VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng nhưng khơng có
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Hồng
Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 54.
12
13
nhiệm vụ, quyền hạn để giải quyết các vụ việc dân sự, không ra bản án, quyết định
mà VKSND chỉ thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong quá trình các chủ
thể này tham gia vào hoạt động TTDS.
Để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật, VKSND trong
TTDS được trao các nhiệm vụ, quyền hạn như: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy
định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng
pháp luật; Tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm
đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp
là tài sản cơng, lợi ích cơng cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người
chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều 4 của BLTTDS; Tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm13; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết vụ
việc dân sự của Tòa án như kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ, hòa giải, xét xử, ra bản
án, quyết định, giải quyết vụ việc dân sự; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc
tham gia tố tụng của những người tham gia tố tụng và những người liên quan trong
quá trình giải quyết vụ việc dân sự; Thu thập hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo đảm
thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và
bảo vệ quan điểm kháng nghị của mình tại phiên tịa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc
thẩm, tái thẩm;...
Như vậy, VKSND tham gia TTDS với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, có
chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật được thi
hành nghiêm chỉnh, thống nhất trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự tại Tịa án.
Thơng qua việc nghiên cứu địa vị pháp lý đã thấy được tầm quan trọng của
VKSND trong TTDS như sau:
Một là, VKSND với vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm cho
pháp luật được thực thi một cách đúng đắn bởi các chủ thể tiến hành tố tụng và chủ
thể tham gia tố tụng trong quá trình TTDS đã góp phần làm cho pháp luật được chấp
hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất. Hơn nữa, trong giai đoạn xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với phương châm thượng tôn pháp luật như hiện
13
Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
14
nay thì việc xây dựng nền tư pháp trong sạch và vững mạnh đang đặt ra một thách
thức lớn. Chính vì vậy thực hiện vai trị của VKS trong TTDS để bảo vệ tính nghiêm
minh của pháp luật cũng là một yếu tố quan trọng giúp vượt qua thách thức và xây
dựng nhà nước pháp quyền.
Hai là, VKS góp phần phát hiện và hạn chế những tiêu cực, sai phạm của Tịa
án trong q trình giải quyết vụ việc dân sự. Bởi lẽ suy cho cùng việc giải quyết vụ
việc dân sự của Tòa án cũng là do con người thực hiện nên khơng thể tránh khỏi
những sai sót kể cả về mặt khách quan và về mặt chủ quan. Do đó, VKS thực hiện
vai trị kiểm sát việc tn theo pháp luật trong TTDS sẽ góp phần nâng cao tinh thần
trách nhiệm của Tịa án trong q trình giải quyết vụ việc dân sự. Đồng thời, thông
qua việc thực hiện kiến nghị, kháng nghị, VKS giúp Tòa án kịp thời khắc phục những
sai phạm. Từ đó, bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn, khách quan
và công bằng; nâng cao hiệu quả, chất lượng của việc giải quyết vụ việc dân sự.
Ba là, việc thực hiện vai trị của VKS trong q trình TTDS góp phần bảo vệ
tối đa lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng và quyền lợi hợp pháp của những người
tham gia TTDS, đặc biệt là trong những vụ việc có sự tham gia của những chủ thể
“yếu thế” của xã hội như người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,
người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và người có khó khăn trong nhận thức, làm
chủ hành vi. Lợi ích Nhà nước và lợi ích công cộng một khi bị xâm phạm sẽ gây ảnh
hưởng đến an ninh, trật tự xã hội và ảnh hưởng đến nhiều chủ thể khác nên việc VKS
thực hiện vai trị của mình đã góp phần trong bảo đảm an ninh, trật tự xã hội. Bên
cạnh đó, việc thực hiện vai trị của VKS trong TTDS góp phần bảo đảm quyền, lợi
ích hợp pháp của những người tham gia TTDS đã tạo uy tín của các cơ quan tư pháp
trong lòng nhân dân và tạo niềm tin vào pháp luật cho nhân dân.
1.2. Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong thủ tục sơ thẩm
1.2.1. Đối với hoạt động trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, thụ lý
Khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, cá nhân, tổ chức, cơ quan có quyền
khởi kiện yêu cầu Tịa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tương tự đó,
trường hợp cá nhân, tổ chức, cơ quan muốn Tịa án cơng nhận hay khơng cơng nhận
một sự kiện pháp lý nào đó có khả năng phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự khác thì có
thể nộp đơn u cầu Tịa án giải quyết. Sau khi nhận đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và
xem xét thấy việc khởi kiện, yêu cầu tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, Tịa
án có nghĩa vụ thụ lý giải quyết. Việc Tòa án thụ lý giải quyết sẽ làm phát sinh những
giai đoạn tiếp theo của TTDS. Cịn trong trường hợp việc khởi kiện, u cầu khơng
15
bảo đảm đúng quy định pháp luật thì Tịa án có thể trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu
và từ đó có thể làm chấm dứt q trình TTDS tại đây, không phát sinh các giai đoạn
tiếp theo. Do ý nghĩa quan trọng như vậy nên việc bảo đảm cho pháp luật được thực
thi một cách đúng đắn trong hoạt động này là rất cần thiết. Vì vậy, hoạt động đầu tiên
của VKS trong TTDS là kiểm sát hoạt động thụ lý vụ việc dân sự hoặc kiểm sát hoạt
động trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
Để bảo đảm hoạt động thụ lý, trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu được tiến hành
một cách đúng pháp luật thì BLTTDS năm 2015 đã trao cho VKSND một số nhiệm
vụ, quyền hạn sau:
*Kiểm sát hoạt động trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu:
Kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu là việc Kiểm sát viên thực
hiện kiểm sát theo một trình tự nhất định dựa trên quy định của pháp luật nhằm phát
hiện vi phạm của Tòa án trong việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và kiến nghị
Tòa án khắc phục vi phạm, thực hiện đúng quy định của pháp luật14.
Khi Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu thì phải có văn bản nêu rõ lý do
trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu gửi cho VKSND cùng cấp15. Đơn khởi kiện, đơn
yêu cầu và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại phải được sao chụp và lưu tại Tòa
án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu. BLTTDS năm 2015
đã có sự bổ sung so với BLTTDS năm 2004 khi quy định Thẩm phán trả lại đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ phải sao chụp và lưu tại Tòa án. Điều này giúp
cho VKSND dễ dàng thực hiện việc kiểm sát hoạt động trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu
cầu hơn so với Bộ luật trước đó. Vì nếu khơng sao chụp, lưu giữ lại đơn khởi kiện,
đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ thì khi VKSND muốn kiểm sát việc trả lại đơn khởi
kiện, đơn u cầu có đúng pháp luật hay khơng thì lại khơng có tài liệu để nghiên
cứu. Từ đó, VKSND rất khó theo dõi được các trường hợp bị trả lại đơn khởi kiện,
đơn yêu cầu. BLTTDS năm 2015 đã khắc phục phần nào hạn chế của BLTTDS năm
2004, tạo điều kiện cho hoạt động kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu
được hiệu quả hơn.
Sau khi nghiên cứu văn bản thông báo trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, nếu
phát hiện vi phạm thì VKSND có thể kiến nghị với Tịa án trong thời hạn 10 ngày, kể
từ ngày nhận được thông báo trả lại đơn khởi kiện. BLTTDS 2015 đã quy định kéo
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội (2019), Giáo trình kiểm sát việc giải quyết vụ việc dân sự và việc khác
theo quy định của pháp luật, Nxb. Tư pháp, tr. 68.
15
Điều 192, Điều 364 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
14
16
dài thời hạn thực hiện quyền kiến nghị việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu. Trước
đây, BLTTDS năm 2004 quy định chỉ trong thời hạn 03 ngày. Việc kéo dài thời hạn
thực hiện việc kiến nghị giúp VKSND có nhiều thời gian để nghiên cứu tài liệu, xem
xét một cách kỹ lưỡng để có thể kịp thời phát hiện vi phạm và kiến nghị với Tòa án
đã trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,
tổ chức, cơ quan. Trường hợp xét thấy Tồ án khơng gửi, chậm gửi văn bản trả lại
đơn khởi kiện, đơn yêu cầu cho VKSND hoặc nội dung, hình thức văn bản khơng
đúng quy định của pháp luật thì VKSND có quyền yêu cầu hoặc kiến nghị với Tòa
án khắc phục vi phạm. Nếu nhận được quyết định trả lời kiến nghị nhưng khơng đồng
ý thì VKSND có quyền kiến nghị lên Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải
quyết.
*Kiểm sát hoạt động thụ lý:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 196 và khoản 1 Điều 365 BLTTDS năm 2015,
trường hợp Tòa án thụ lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu thì trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày thụ lý, Tịa án phải thơng báo bằng văn bản cho VKSND cùng cấp
biết về việc Tòa án đã thụ lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu. Do đó, sau khi nhận được
thơng báo thụ lý thì trước tiên, cán bộ, Kiểm sát viên được phân công phải vào sổ thụ
lý, lập phiếu kiểm sát. Sau đó, Kiểm sát viên phải nghiên cứu văn bản thông báo thụ
lý và đối chiếu với quy định pháp luật kiểm tra hình thức, nội dung và thời hạn ra
thông báo thụ lý. Theo đó, Kiểm sát viên phải chú ý kiểm sát thời hạn ra thông báo
thụ lý; điều kiện khởi kiện, yêu cầu; tư cách pháp lý của người khởi kiện, người yêu
cầu; làm rõ quan hệ phát sinh tranh chấp hoặc yêu cầu để bảo đảm quan hệ này có
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tịa án hay khơng; xem xét Tịa án đã thụ lý vụ việc
dân sự có thẩm quyền giải quyết vụ việc đó theo quy định hay khơng, nếu khơng đúng
thẩm quyền thì Kiểm sát viên báo cáo cho lãnh đạo VKSND để yêu cầu, kiến nghị
Tòa án chuyển hồ sơ vụ việc cho Tòa án khác có thẩm quyền giải quyết.
Như vậy, hoạt động kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hay kiểm
sát hoạt động thụ lý vụ việc dân sự có ý nghĩa rất quan trọng. Nếu ngay từ giai đoạn
này mà công tác kiểm sát được thực hiện tốt thì sẽ giúp VKSND chủ động nắm bắt
được những vấn đề, nội dung cơ bản của vụ việc dân sự; bảo đảm cho quá trình giải
quyết vụ việc dân sự bước đầu được vận hành một cách “trơn tru”. Trường hợp phát
hiện sai phạm ngay từ giai đoạn này sẽ tránh tình trạng đến những giai đoạn sau mới
phát hiện thụ lý sai quy định, giúp hạn chế sự lãng phí tiền bạc, cơng sức, thời gian
của các chủ thể tiến hành tố tụng cũng như chủ thể tham gia tố tụng. Đồng thời, kiểm
17
sát tốt việc trả đơn khởi kiện, yêu cầu và thụ lý cũng góp phần quan trọng trong việc
bảo vệ quyền và lợi ích người nộp đơn khởi kiện, người đơn yêu cầu cũng như các
chủ thể có liên quan khác.
1.2.2. Đối với chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chuẩn bị xét đơn yêu cầu giải quyết
việc dân sự
Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chuẩn bị xét đơn yêu cầu giải quyết việc
dân sự là giai đoạn tiếp theo sau giai đoạn thụ lý. Giai đoạn này diễn ra nhiều hoạt
động để làm rõ các tình tiết trong vụ việc dân sự cũng như ra các quyết định tố tụng
để giải quyết vụ việc dân sự, chuẩn bị cho cơng tác giải quyết vụ việc tại phiên tịa sơ
thẩm, phiên họp sơ thẩm.
*Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Sau khi nhận được hồ sơ vụ án cùng quyết định đưa vụ án ra xét xử từ Tòa án,
Kiểm sát viên được phân công phải tiến hành nghiên cứu hồ sơ trong thời hạn 15
ngày. Khi hết thời hạn này, VKSND phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tịa án16. Trong q
trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên phải xem xét, làm rõ những vấn đề sau:
Một là, làm rõ nội dung vụ án. Kiểm sát viên phải xác định được quan hệ tranh
chấp trong vụ án thuộc loại quan hệ nào; thành phần và tư cách pháp lý của những
người tham gia tố tụng, đặc biệt là đương sự; làm rõ các tình tiết pháp lý có liên quan
đến tranh chấp,...
Hai là, kiểm tra quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ, đánh giá chứng cứ, yêu
cầu thu thập, bổ sung tài liệu, chứng cứ. VKSND thực hiện kiểm sát về trình tự, thủ
tục, nguồn chứng cứ để bảo đảm cho tài liệu, chứng cứ được thu thập một cách khách
quan, hợp pháp, đầy đủ, làm cơ sở cho việc giải quyết vụ việc dân sự. Trong quá trình
Tịa án tiến hành một số biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ thì Kiểm sát viên phải
kiểm sát để bảo đám quá trình này được diễn ra đúng theo quy định về nguyên tắc,
phương thức, điều kiện, địa điểm,... Mặt khác, VKSND cũng có quyền u cầu Tịa
án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ. Hoạt động yêu cầu của VKSND sẽ do Kiểm
sát viên được phân công thực hiện kiểm sát vụ việc dân sự trực tiếp tiến hành mà
không cần thông qua chủ thể trung gian khác. Trước đây, BLTTDS năm 2004 không
quy định rõ đây là quyền của Kiểm sát viên. BLTTDS năm 2015 đã quy định cụ thể
hơn tạo cơ sở pháp lý để Kiểm sát viên được thực hiện quyền của mình, bảo đảm quá
trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn này.
16
Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
18
Ba là, làm rõ các vấn đề về mặt nội dung và tình tiết có, qua đó làm cơ sở để
xem xét việc áp dụng luật nội dung đã phù hợp chưa; quyền và nghĩa vụ của các bên
trong vụ án đã được bảo đảm chưa; có sự xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của
một bên nào hay khơng, sự xâm phạm này liệu có hay khơng xảy ra hậu quả, hậu quả
không nghiêm trọng hay hậu quả nghiêm trọng;... Từ đó, Kiểm sát viên có được
những nhận định cho riêng mình.
Bốn là, kiểm sát đối với các quyết định do Tịa án ban hành như: Quyết định
cơng nhận hòa giải thành; quyết định chuyển vụ án dân sự; quyết định chuyển vụ việc
dân sự; quyết định nhập hoặc tách vụ án dân sự; quyết định tạm đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự; quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; quyết định đình chỉ việc
xét đơn yêu cầu; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định mở phiên họp giải quyết
việc dân sự và một số quyết định khác. Khi kiểm sát các quyết định trên, VKSND
phải đảm bảo thời hạn kiểm sát của từng loại quyết định. Bên cạnh đó, Kiểm sát viên
được phân công phải vào sổ thụ lý đối với từng loại quyết định theo đúng quy định
để thuận lợi cho quá trình theo dõi quá trình TTDS. Kiểm sát viên được phân công
phải nghiên cứu từng quyết định, xem xét quyết định đã được Tòa án ban hành và gửi
đúng thời hạn hay khơng; kiểm tra hình thức, căn cứ, thẩm quyền ban hành và nội
dung quyết định đã chính xác hay chưa. Kiểm sát viên chỉ lập hồ sơ kiểm sát đối với
ba loại quyết định là quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyết
định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự. Quá trình kiểm sát các quyết định, nếu phát hiện vi phạm thì VKSND phải đánh
giá tính chất, mức độ vi phạm thông qua việc đối chiếu vi phạm với các quy định của
BLTTDS và các văn bản hướng dẫn liên quan để xác định đó là vi phạm ít nghiêm
trọng hay vi phạm nghiêm trọng. Trường hợp phát hiện vi phạm ít nghiêm trọng, chưa
đến mức phải kháng nghị thì VKSND sẽ ban hành kiến nghị u cầu Tịa án khắc
phục vi phạm. Trường hợp phát hiện quy định vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm
phạm quyền con người, quyền cơng dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức thì VKSND xem xét kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định pháp luật.
Năm là, kiểm tra q trình cấp, tống đạt, thơng báo văn bản tố tụng như thông
báo thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, cơng khai
chứng cứ và hịa giải; giấy triệu tập lấy lời khai; giấy triệu tập tham gia hòa giải;....
VKSND phải xem xét thời hạn cấp, tống đạt, thông báo; các văn bản tố tụng có được
cấp đến đúng chủ thể hay chưa; hình thức cấp, tống đạt, thơng báo; có lập biên bản