BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC
----------
NGUYỄN HẢI ĐĂNG
MSSV: 1953801012033
QUY TRÌNH LẬP HIẾN Ở VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật
Niên khóa: 2019 - 2023
Người hướng dẫn:
Tiến sĩ NGUYỄN MẠNH HÙNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật với đề tài: “Quy trình lập hiến
ở Việt Nam – Thực trạng và kiến nghị” là công trình nghiên cứu do chính tơi thực hiện
dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng. Khóa luận có sử dụng, trích dẫn ý
kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả. Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn
cụ thể và chính xác. Các số liệu, thơng tin được sử dụng trong Khóa luận là hồn toàn
khách quan, trung thực.
Tác giả
Nguyễn Hải Đăng
LỜI CẢM ƠN
Con xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến ba mẹ và gia đình đã ln u thương, bên
cạnh con trong suốt cuộc đời.
Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến Thạc sĩ Trương Thị Minh Thùy, giảng viên
khoa Luật Hành chính – Nhà nước đã giảng dạy môn Luật Hiến pháp – môn học đầu tiên
khi em bước chân vào giảng đường Đại học, là người đã có rất nhiều tâm huyết trong việc
giảng dạy và truyền cảm hứng đến em với môn học này. Từ đó, em quyết định chọn bộ
mơn Luật Hiến pháp, khoa Luật Hành chính – Nhà nước để thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Hơn hết, em xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Mạnh
Hùng, Trưởng khoa Luật Hành chính – Nhà nước đã giảng dạy và hỗ trợ em hết sức tận
tình ở mơn học Hiến pháp nước ngoài, là nền tảng to lớn để cho em có thể nghiên cứu các
vấn đề liên quan đến q trình học nói chung và bộ mơn Luật Hiến pháp nói riêng. Thầy đã
tận tình hướng dẫn, góp phần tạo nên thành công của đề tài. Thầy đã cho em những lời
khuyên quý giá, định hướng, sửa chữa và góp ý thẳng thắn đối với những sai sót của em.
Cuối cùng, em xin cảm ơn quý thầy, cô trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh và đặc biệt là các thầy, cô là Giảng viên Khoa Luật Hành chính – Nhà nước cùng các
bạn bè và cá nhân khác đã giúp đỡ em hồn thành khóa luận này.
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIẾN PHÁP VÀ QUY TRÌNH LẬP HIẾN ..... 7
1.1.
Lý luận chung về Hiến pháp. ............................................................................... 7
1.1.1.
Chủ nghĩa lập hiến, mục đích ra đời và nội dung cơ bản của Hiến pháp. ...... 7
1.1.2.
Đặc trưng của Hiến pháp. ............................................................................. 13
1.2.
Lý luận chung về quy trình lập hiến.................................................................. 17
1.2.1.
Trình tự, thủ tục thơng qua Hiến pháp mới. .................................................. 18
1.2.2.
Trình tự, thủ tục sửa đổi Hiến pháp. .............................................................. 21
1.3.
Quy trình lập hiến ở Việt Nam........................................................................... 32
1.3.1.
Hiến pháp 1946. ............................................................................................. 32
1.3.2.
Các bản Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992. ............................................... 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................................. 42
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUY TRÌNH LẬP HIẾN Ở
VIỆT NAM ......................................................................................................................... 43
2.1.
Quy trình lập hiến ở Việt Nam theo Hiến pháp năm 2013. ............................. 43
2.1.1. Quy trình ban hành Hiến pháp 2013. ................................................................ 43
2.1.2. Những điểm mới về quy trình lập hiến. .............................................................. 47
2.2.
Thực trạng về quy trình lập hiến. ...................................................................... 55
2.2.1.
Thực trạng về quy định của pháp luật. .......................................................... 55
2.2.2.
Thực trạng áp dụng pháp luật. ...................................................................... 59
2.3.
Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quy trình lập hiến. .................................. 63
2.3.1.
Quan điểm. ..................................................................................................... 63
2.3.2.
Giải pháp. ...................................................................................................... 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................................. 76
KẾT LUẬN CHUNG ......................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài.
Hiến pháp là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật
của Việt Nam nói riêng và hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền nói chung.
Các quy định trong Hiến pháp được xem như chuẩn mực, nền tảng để xây dựng
pháp luật thành văn của quốc gia. Do đó, việc ban hành Hiến pháp mới, sửa đổi, bổ
sung Hiến pháp hiện hành cũng là một vấn đề rất quan trọng, được các nhà lập hiến
quan tâm. Khi Hiến pháp được ban hành theo một quy trình khoa học, dân chủ, theo
trình tự, thủ tục logic, chặt chẽ, khoa học sẽ làm tôn lên giá trị của Hiến pháp, làm
cho Hiến pháp gần hơn với nhân dân, đảm bảo tính ổn định của Hiến pháp theo
từng giai đoạn của tiến trình lịch sử.
Từ khi Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ - bản Hiến pháp thành văn đầu
tiên của thế giới hiện đại được hoàn thiện, nhu cầu ban hành Hiến pháp để quản lý
đất nước đặt ra rộng khắp các quốc gia. Lịch sử lập hiến các quốc gia cho thấy, một
bản Hiến pháp tiến bộ là bản Hiến pháp dung hịa được lợi ích của Nhà nước với lợi
ích của nhân dân, Hiến pháp dân chủ là Hiến pháp do nhân dân làm chủ, là Hiến
pháp dân định, quyền lập hiến thuộc về nhân dân. Ngày nay, để có thể đánh giá một
bản Hiến pháp tiến bộ, có chất lượng tốt, các quốc gia có xu hướng điều chỉnh Hiến
pháp sao cho phù hợp với tình hình thực tế của đất nước. Ở Việt Nam, Hiến pháp
hiện đại hướng đến cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở cửa thị trường và hội nhập quốc tế. Điều đó càng
làm cho tính cấp thiết về quy trình lập hiến đặt ra mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, về chính Hiến pháp cũng đặt ra nhu cầu nghiên cứu về quy
trình ban hành, sửa đổi bổ sung chính mình, bởi lập hiến ở nước ta là một trong
những chức năng của Quốc hội1. Hiến pháp năm 2013 không quy định cụ thể quy
trình làm Hiến pháp, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp mà trao quyền cho Quốc hội. Hiện
nay, chưa có văn bản nào quy định, hướng dẫn chi tiết về quy trình lập hiến, đây là
một vấn đề mà Quốc hội các khóa đã bỏ ngỏ cho Quốc hội khóa sau. Tuy chức năng
lập hiến khơng được Quốc hội thực hiện thường xuyên như chức năng lập pháp hay
giám sát tối cao, nhưng mỗi khi Quốc hội thực hiện chức năng lập hiến đều nhận
được sự quan tâm của toàn thể nhân dân và cơ quan nhà nước, khi ban hành, sửa
đổi, bổ sung Hiến pháp đều tác động đến hầu hết các mặt của đời sống quốc gia, từ
Điều 69, Hiến pháp 2013 quy định: “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các
vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”.
1
2
kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội. Việc thay đổi nội dung Hiến pháp có ảnh
hưởng to lớn về mọi mặt, đặt ra yêu cầu quy trình ban hành, sửa đổi, bổ sung Hiến
pháp càng khoa học, càng logic, chặt chẽ và phải phù hợp với trình độ, tình hình
thực tiễn của đất nước.
Hiện nay, Hiến pháp 2013 đã hoàn thành chặng đường 10 năm định hướng
pháp luật của mình, với nhu cầu thay đổi về kinh tế, xã hội và các yếu tố cơ sở hạ
tầng khác của quốc gia trong tương lai, đòi hỏi phải ban hành, sửa đổi, bổ sung Hiến
pháp là tất yếu, chế định quy trình lập hiến khơng bao giờ là lỗi thời, nhu cầu hồn
thiện quy định ln hiện hữu trong tương lai. Vì những lý do trên, tác giả đã chọn
đề tài “Quy trình lập hiến ở Việt Nam – thực trạng và kiến nghị” để làm khóa
luận tốt nghiệp.
2.
Tình hình nghiên cứu.
Hiện nay, đề tài “Quy trình lập hiến ở Việt Nam” có luận văn “Quy trình lập
hiến ở Việt Nam” của tác giả Lê Minh Tùng thực hiện năm 2013. Luận văn phân
tích và làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động lập hiến, khái quát thực tiễn
vận dụng thực hiện quy trình lập hiến, đánh giá thực trạng thực hiện các quy trình,
từ đó rút ra những ưu điểm và hạn chế của quy trình lập hiến, đưa ra những kiến
nghị trước yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Tuy
nhiên, Luận văn của tác giả Lê Minh Tùng được thực hiện từ năm 2013 nên vấn đề
thể hiện nội dung về quy trình lập hiến trong Hiến pháp năm 2013 chưa được đề
cập, bên cạnh đó, Việt Nam với dịng chảy mười năm trơi qua, bối cảnh nước nhà
đã có nhiều sự thay đổi, biến động lớn, nên một số nội dung đã khơng cịn phù hợp
với thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước. Ngoài ra, cũng có một số Luận văn thạc sĩ,
Luận án tiến sĩ có liên quan, các bài nghiên cứu khoa học, bài viết trên các tạp chí
có đề cập đến vấn đề về Quy trình ban hành, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp ở Việt
Nam và thế giới.
a.
Tình hình nghiên cứu trong nước:
Lưu Đức Quang (2014), “Bình luận về quyền lập hiến và quy trình lập
hiến và quy trình lập hiến theo Hiến pháp 2013”, Tạp chí Khoa học pháp lý, đặc san
số 01/2014, tr.76-79. Bài viết giới thiệu quy định về quyền lập hiến và quy trình lập
hiến theo Hiến pháp năm 2013, bình luận về quy trình lập hiến theo pháp luật hiện
hành và đề xuất một số kiến giải pháp lý nhằm hồn thiện quy trình này theo tinh
thần của Hiến pháp năm 2013.
3
-
Trần Ngọc Đường (2019), “Đổi mới quy trình lập pháp hiện hành theo
Hiến pháp năm 2013”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp”, số 13, tr. 29-34, 39. Bài viết
nêu những bất cập của quy trình lập pháp hiện hành, đề xuất mơ hình lập pháp tổng
thể cần được thể chế trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi thời
gian tới.
-
Nguyễn Phương Nam (1945), Việc lập hiến trong một quốc gia độc
lập, NXB Tân Việt. Cơng trình tiếng Pháp do tác giả người Việt Nam soạn thảo,
nghiên cứu Hiến pháp là gì, xem xét những phương pháp thiết lập, sửa đổi và kiểm
soát Hiến pháp.
-
Nguyễn Quang Minh (2002), “Hồn thiện quy trình lập hiến: u cầu
thực tiễn đang đặt ra”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10, tr.37-44. Bài viết phân
tích thực trạng quy trình lập hiến ở Việt Nam, một số vấn đề còn bất cập và những
yêu cầu khách quan của việc hoàn thiện quy trình này.
Viện Chính sách cơng và pháp luật (2013), Sự tham gia của nhân dân
vào quy trình lập hiến - Lý luận, thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội. Phân tích những cơ sở tham gia của nhân dân vào quá trình
thành lập Hiến pháp. Liên hệ thực tiễn các bản Hiến pháp trên thế giới và đối chiếu
với pháp luật Việt Nam về sự tham gia của nhân dân vào quy trình lập hiến.
Một số bài báo, tạp chí khác có thể kể đến như: Nguyễn Quang Minh
(2007), “Một số vấn đề về quy trình lập hiến”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 11,
tr.5-11. Vũ Hồng Anh (2011), “Quy trình lập hiến những vấn đề đặt ra từ thực tiễn
Việt Nam”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 04, tr.2-7. Hồng Văn Tú (2011),
“Quy trình lập hiến ở Việt Nam hiện nay: thực trạng và một số kiến nghị”, Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật, số 07, tr.11-15, 24. Nguyễn Quang Minh (2011), “Quy
trình lập hiến ở Việt Nam: một số hạn chế cơ bản và phương hướng hồn thiện”,
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12, tr.3-7. Nguyễn Quang Minh (2012), “Quy
trình lập hiến trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật, số 03, tr.7-11. Nguyễn Quang Minh (2013), Quy trình lập hiến
trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Tư pháp.
Đa số các đề tài này nghiên cứu quy trình lập hiến trước khi Hiến pháp 2013
ra đời, do đó sự phù hợp với tình hình thực tế hiện nay khơng đảm bảo, mặt khác
quy định của Hiến pháp 2013 cũng đổi mới rất nhiều so với Hiến pháp năm 1992
trở về trước. Do đó cơng trình này của tác giả có điều kiện kế thừa thành quả nghiên
cứu của các tác giả trước đó, đồng thời căn cứ vào Hiến pháp 2013 và tình hình mới
4
của đất nước mà tiếp tục nghiên cứu sao cho phù hợp. Ngồi ra, cơng trình khơng
chỉ đề cập đến một yếu tố về quyền lập hiến hay sự tham gia của nhân dân vào quy
trình lập hiến mà cơng trình nghiên cứu xoay quanh những điểm mới, những bất cập
trong cả quy trình lập hiến được quy định trong Hiến pháp 2013, từ đó đưa ra những
giải pháp đổi mới quy trình trong các giai đoạn lịch sử tiếp theo.
b.
Tình hình nghiên cứu ngồi nước:
Joanne Wallis (2014), Constitution making during state building, NY:
Cambridge University Press. Bài viết xem xét, đánh giá q trình lập hiến, vai trị
của Hiến pháp trong việc xây dựng các quốc gia và quốc gia trong các xã hội hậu
xung đột, đặc biệt nhấn mạnh đến các cơ hội tham gia giữa các cách tiếp cận tự do
và địa phương đối với luật pháp, quản trị và phát triển đất nước. Đây là nguồn tham
khảo quốc tế to lớn cho tác giả trong việc nghiên cứu cơng trình.
3.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Sau khi hồn thành, cơng trình này sẽ góp phần làm sáng tỏ những điểm lý
luận và thực tiễn áp dụng quy trình lập hiến ở Việt Nam. Đồng thời, đưa ra một số
giải pháp đổi mới, góp phần vào việc nghiên cứu, xây dựng, hồn thiện quy trình
lập hiến ở Việt Nam. Kết quả của cơng trình này sẽ là cơng trình khoa học có giá trị
tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy của các cơ sở đào tạo luật.
4.
Mục đích nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của cơng trình là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn áp
dụng chế định về quy trình lập hiến ở Việt Nam, đồng thời liên hệ quan điểm về
Hiến pháp, quy trình lập hiến của các nhà khoa học, các quốc gia trên thế giới với
những thể chế chính trị, hệ tư tưởng khác nhau. Từ đó rút ra được những bất cập
trong thực tiễn áp dụng, kiến nghị gợi mở nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật của
Việt Nam nói chung và chế định về quy trình lập hiến nói riêng.
Để thực hiện mục tiêu trên, khóa luận có các nhiệm vụ như sau:
Một là, nêu và phân tích những cơ sở lý luận và thực trạng về quy trình lập
hiến ở Việt Nam.
Hai là, khái quát thực tiễn vận dụng các quy định của pháp luật về quy trình
lập hiến vào quá trình ban hành, sửa đổi, bổ sung các bản Hiến pháp của Việt Nam
qua các thời kỳ, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định nói trên. Từ đó, rút ra
những ưu điểm và hạn chế của chế định quy trình lập hiến và vận dụng quy trình lập
hiến vào thực tế.
5
Ba là, liên hệ pháp luật và việc áp dụng quy trình lập hiến ở các quốc gia trên
thế giới, từ đó có cái nhìn tổng quan, khách quan hơn về hạn chế của quy trình lập
hiến ở Việt Nam.
Bốn là, đề xuất, gợi mở giải pháp đổi mới, hướng hồn thiện chế định về quy
trình lập hiến trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
5.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề pháp lý cơ bản trong hoạt động
lập hiến, trong đó tập trung nghiên cứu các vấn đề:
Các vấn đề lý luận về Hiến pháp và quy trình lập hiến.
Các quy định của pháp luật Việt Nam về Hiến pháp và quy trình lập hiến.
Thực tiễn lập hiến của Việt Nam qua các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980,
1992, 2013. Trong đó, đặc biệt quan tâm các quy định của Hiến pháp 2013.
Kinh nghiệm lập hiến của các quốc gia trên thế giới và pháp luật điều chỉnh
quy trình lập hiến.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm các bản Hiến pháp trong lịch sử Việt
Nam, các văn bản quy định về quy trình lập hiến trong và ngồi nước, các tư tưởng
về lập hiến được hình thành trong quá trình lãnh đạo đất nước của các nhà lập hiến.
Bên cạnh đó, phạm vi đề tài cịn bao gồm các quan điểm khoa học được công bố
trong các sách báo, bài báo khoa học.
6.
Phương pháp nghiên cứu.
Công trình được thực hiện trên cơ sở lý luận Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng về công tác đổi mới
tổ chức và hoạt động của nhà nước theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Phương pháp nghiên cứu là một cách tiếp cận có hệ thống và khách quan
được sử dụng để điều tra và hiểu các hiện tượng khác nhau trên thế giới. Liên quan
đến một q trình có cấu trúc để hình thành các câu hỏi nghiên cứu, phát triển các
giả thuyết, tiến hành thí nghiệm hoặc thu thập dữ liệu, phân tích kết quả và rút ra
kết luận dựa trên bằng chứng. Bằng cách làm theo phương pháp này, các nhà nghiên
cứu có thể giảm thiểu sự thiên vị, chủ quan và sai sót, giúp đảm bảo kết quả nghiên
cứu là đáng tin cậy và hợp lệ.
6
Phương pháp nghiên cứu khoa học được đặc trưng bởi sự phụ thuộc vào bằng
chứng thực nghiệm, lập luận logic và khả năng nhân rộng. Nó nhấn mạnh tầm quan
trọng của tính khách quan, chính xác và minh bạch trong việc theo đuổi kiến thức.
Thông qua việc tuân thủ nghiêm ngặt phương pháp này, các nhà khoa học có thể tạo
ra những đóng góp đáng kể cho lĩnh vực của họ và xây dựng nền tảng cho các
nghiên cứu sau này. Đề tài sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như
phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương
pháp so sánh luật học,…
-
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Nghiên cứu các luận điểm, các
quy định và thực tiễn của hoạt động lập hiến, phân tích bản chất các khái niệm, các
quy định, các quan điểm liên quan đến hoạt động lập hiến, thực tiễn lập hiến ở Việt
Nam và nước ngoài, từ đó rút ra những kết luận, kiến nghị hồn thiện cơ sở lý luận
và thực tiễn quy trình lập hiến ở Việt Nam, phương pháp này được sử dụng phần
lớn nội dung đề tài, trải dài cả hai chương khóa luận.
Phương pháp hệ thống được sử dụng xuyên suốt toàn bộ cơng trình
nhằm trình bày các vấn đề, các nội dung trong luận án theo một trình tự, một bố cục
hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề, các nội dung để đạt
được mục đích, u cầu xác định cho cơng trình.
Phương pháp luật học so sánh được vận dụng trong việc tham khảo
kinh nghiệm xây dựng, quy định và thực hiện các thủ tục, quy trình lập hiến ở các
nước trên thế giới; rút ra những điểm chung, những khác biệt về quy trình lập hiến
giữa các quốc gia, các hệ thống chính trị - pháp lý trên thế giới; so sánh và rút ra các
bài học kinh nghiệm và kiến nghị cho việc xây dựng, hồn thiện quy trình lập hiến
trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam một cách phù hợp với điều
kiện thực tế của đất nước trong giai đoạn hiện nay cũng như với truyền thống lịch
sử, văn hóa chính trị - pháp lý của dân tộc, phương pháp này tác giả chủ yếu sử
dụng trong phần Lý luận chung về quy trình lập hiến ở Chương 1 và là nền tảng để
tác giả đề xuất những giải pháp trong Chương 2.
7.
Kết cấu đề tài.
Đề tài có kết cấu bao gồm 2 chương, cụ thể:
Chương 1: Lý luận chung về Hiến pháp và quy trình lập hiến
Chương 2: Thực trạng và giải pháp đổi mới quy trình lập hiến ở Việt Nam.
7
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIẾN PHÁP VÀ QUY TRÌNH LẬP HIẾN
1.1.
Lý luận chung về Hiến pháp.
1.1.1. Chủ nghĩa lập hiến, mục đích ra đời và nội dung cơ bản của Hiến
pháp.
Hiến pháp là thuật ngữ quen thuộc đối với những người nghiên cứu chuyên
ngành luật nói riêng và trong xã hội nói chung. Về mặt lịch sử, cụm từ Hiến pháp
xuất hiện và tồn tại từ rất lâu và đặc biệt hơn là tồn tại đến ngày nay. Thuật ngữ
Hiến pháp xuất phát từ cụm từ “Constitutio” là một cụm từ tiếng La tinh với cách
hiểu là xác định hay quy định. Ở Phương Tây cổ đại, nhà nước La Mã đã sử dụng
thuật ngữ “Constitutio” như một danh từ để gọi tên các văn bản quy định của nhà
nước, hiểu đơn giản thì thuật ngữ này trong pháp luật La Mã cổ đại được xem như
một loại nguồn của pháp luật. Trong khi đó, ở Phương Đơng, từ những năm của thế
kỷ VIII TCN, từ “Hiến” trong “Hiến pháp” được dùng trong Kinh Thi – một tập thơ
vô danh của Trung Hoa, với ý nghĩa là “khuôn phép, khn mẫu của vua, chúa”.
Ngồi Kinh Thi thì Kinh Lễ - ghi chép các lễ nghi thời trước (khoảng thế kỷ V
TCN) với ý nghĩa là “pháp lệnh”. Song song với đó, sách Quốc ngữ thời Xuân Thu
vào khoảng thế kỷ VII và thế kỷ VI TCN cũng có đề cập cụm từ “Hiến pháp” trong
câu “thưởng thiện, phạt gian, quốc chí Hiến pháp dã” , tạm dịch “khen thưởng,
trừng phạt sự gian là pháp lệnh của Nhà nước”, cho thấy Quốc ngữ cũng định nghĩa
“Hiến pháp” là pháp lệnh của nhà nước.
Đến khoảng thế kỷ thứ XVIII, XIX, với sự trỗi dậy mạnh mẽ của các cuộc
cách mạng tư sản, các bản Hiến pháp ra đời với ý nghĩa là văn bản có sứ mệnh xác
lập chế độ mới, thay thế chế độ cũ, được xem như một bản khế ước xã hội giữa
nhân dân và Nhà nước. Hiến pháp được hiểu là đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý
cao nhất trong hệ thống pháp luật thành văn, đây được xem là cách hiểu thông dụng,
phổ biến và mới chỉ xuất hiện khoảng 200 năm trở lại. Văn bản có tính chất Hiến
pháp đầu tiên là sản phẩm của Cách mạng tư sản Anh (1640) Hiến pháp Anh, còn
gọi là Hiến pháp bất thành văn là bản “Hình thức cai quản nhà nước Anh, Xcơtlen,
Ailen,…” (năm 1653); sau đó Hiến pháp Mỹ năm 1787 – Hiến pháp đầu tiên được
hiểu theo nghĩa phổ biến là đạo luật cơ bản do Quốc hội ban hành. Tuy nhiên, ngày
nay còn rất nhiều định nghĩa khác nhau về Hiến pháp.
Dưới góc độ xã hội, Hiến pháp có ý nghĩa: “là đạo luật cơ bản của Nhà
nước, quy định chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ
8
chức bộ máy nhà nước”2. Theo đó, Hiến pháp được hiểu là một đạo luật, bên cạnh
các luật về Dân sự, Hình sự, Thương mại, Hành chính,… nội dung quy định về chế
độ chính trị, kinh tế,… các yếu tố thuộc về cơ sở hạ tầng của Nhà nước, trong đó
khẳng định đây là đạo luật cơ bản, là cơ sở cho sự ra đời và phát triển của các luật
khác trong toàn bộ hệ thống pháp luật. Từ điển tiếng Anh Oxford định nghĩa Hiến
pháp là: “một tập hợp các nguyên tắc cơ bản hoặc các tiền lệ được thiết lập mà theo
đó một nhà nước hoặc tổ chức được quản lý". Từ điển Collins cho biết Hiến pháp
bao gồm “các nguyên tắc cơ bản mà một quốc gia được điều hành, đặc biệt khi
được coi là hiện thân của các quyền của chủ thể”3. Nhìn chung, định nghĩa về Hiến
pháp của các từ điển trên thế giới đều hướng Hiến pháp đến vị trí là nguyên tắc cơ
bản của quốc gia, tuy nhiên, theo từ điển tiếng Anh Oxford có đề cập đến nội dung
“tiền lệ” mở rộng thêm hình thức tồn tại và nội dung của Hiến pháp, không chỉ tồn
tại ở dạng nguyên tắc, mà tại nơi nào đó, những thói quen, tập tục chính trị từ xa
xưa hình thành trong suốt tiến trình lịch sử cũng được xem là một phần của Hiến
pháp một quốc gia, nhất là các quốc gia có hình thức Hiến pháp là bất thành văn.
Bên cạnh đó, quan điểm triết học từ học thuyết Marx–Lenin không chỉ dừng lại ở
việc đưa ra khái niệm Hiến pháp, qua đó cịn thể hiện quan điểm về nguồn gốc của
Hiến pháp và bản chất gắn với thực tiễn của Hiến pháp, ảnh hưởng không nhỏ đến
các tư tưởng lập hiến ở Việt Nam trong các giai đoạn sau này4.
Dưới góc độ pháp lý, ở Việt Nam “Hiến pháp” được hiểu một cách chi tiết
hơn:
“Là hình thức văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành, có giá trị
pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quy định các vấn đề cơ bản
nhất của Nhà nước như: hình thức và bản chất của nhà nước, chế độ chính trị, chế
độ kinh tế, văn hóa xã hội; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt
động của cơ quan nhà nước. Trong ngôn ngữ hiện đại: “Hiến pháp” là từ được sử
dụng rộng rãi ở tất cả các nước với nghĩa là luật cơ bản của một nhà nước”5.
Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.437.
“What is a constitution?” (truy
cập ngày 01/4/2023).
4
Theo học thuyết Marx–Lenin, Hiến pháp bao giờ cũng mang tính giai cấp sâu sắc và bao giờ cũng thể hiện
một cách tập trung ý chí của giai cấp thống trị. Trong đó Engels đã có quan điểm: “Hiến pháp là kết quả của
sự đấu tranh giai cấp, do giai cấp chiến thắng thiết lập sau cuộc đấu tranh thắng lợi”. Lenin cũng đề cập:
“Thực chất của Hiến pháp là ở chỗ thể hiện được sự so sánh thực tế các lực lượng trong cuộc đấu tranh giai
cấp […]Hiến pháp chỉ là giả tạo khi Hiến pháp và thực tế không phù hợp với nhau”.
5
Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học , NXB Từ điển Bách khoa, NXB Tư pháp,
tr.330.
2
3
9
Đến đây, Hiến pháp được hiểu một cách chuyên sâu hơn, đó là một dạng
hình thức văn bản quy phạm pháp luật, ở Việt Nam sẽ do chủ thể là Quốc hội ban
hành, là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Về
mặt nội dung, Hiến pháp không đề cập một cách chuyên sâu vào từng lĩnh vực Dân
sự, Hình sự hay Hành chính mà quy định những vấn đề cơ bản của một quốc gia
như hình thức nhà nước, bản chất nhà nước, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội, quyền và nghĩa vụ của công dân, tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước,
định ra khuông phép chung về mặt nội dung cho các văn bản luật và dưới luật quy
định chi tiết. Định nghĩa này có nét giống với định nghĩa về “Hiến pháp” được đề
cập trong Từ điển Tiếng Việt đã nêu, cho thấy đây là cách hiểu thống nhất về Hiến
pháp.
Ở Việt Nam, từ những năm 1945 đã có những sách báo của các tác giả Việt
Nam nghiên cứu về lĩnh vực Hiến pháp và lập hiến, một cơng trình Tiếng Pháp do
tác giả người Việt Nam soạn thảo mang tên: “Việc lập hiến trong một quốc gia” có
định nghĩa: “Hiến pháp là tên gọi chung những điều lệ định rõ sự tổ chức, sự phân
phối, can thiệp vào các trị quyền của quốc gia” 6. Qua đó nhấn mạnh, mục đích của
Hiến pháp chỉ là sự tổ chức sinh hoạt chính trị trong một quốc gia. Quan điểm này
hẹp hơn rất nhiều và chưa thật sự đúng bản chất của một bản Hiến pháp, theo nhiều
quan điểm lý luận thì để được xem là một bản Hiến pháp thì nội dung phải hướng
tới quy định về Nhà nước và quyền con người. Tuy có sự thiếu sót trên, nhưng qua
đó cho thấy, ở Việt Nam từ những năm kháng chiến chống Pháp đã có cái nhìn
chun sâu về hai từ Hiến pháp.
Hai tác giả Phan Đăng Thanh và Trương Thị Hòa cũng có nhiều cơng trình
đồ sộ nghiên cứu về Hiến pháp cả trong và ngồi nước, trong các cơng trình nghiên
cứu của mình, hai tác giả cũng đã có những quan điểm nhất định về Hiến pháp:
“Một cách phổ biến, Hiến pháp là đạo luật cơ bản tối cao của một quốc gia, nội
dung Hiến pháp của các nước khơng hồn tồn giống nhau vì Hiến pháp mỗi nước
đều xuất phát từ lịch sử, chế độ chính trị khác nhau, xuất phát từ cơ sở kinh tế - xã
hội khác nhau”7. Quan điểm của hai tác giả về Hiến pháp rất rõ ràng, xuất phát từ
hình thức và nội dung về Hiến pháp, từ đó rút ra kết luận Hiến pháp là văn kiện
pháp lý tối cao, do cơ quan đặc biệt, là đại diện của nhân dân cả nước thảo luận,
biểu quyết, thơng qua, ban hành theo một trình tự đặc biệt, phản ánh tổ chức chính
Nguyễn Phương Nam (1945), Việc lập hiến trong một quốc gia độc lập, NXB Tân Việt, tr.7, 8.
Phan Đăng Thanh – Trương Thị Hòa (2014), Lược sử Lập hiến các quốc gia Đông Nam Á, NXB Tổng hợp
Thành phố Hồ Chí Minh, tr.12.
6
7
10
trị của quốc gia đó. Thể hiện đầy đủ về nội dung, hình thức và vị trí của Hiến pháp
trong hệ thống pháp luật quốc gia. Các tác giả nước ngồi cũng có nhiều định nghĩa
về Hiến pháp trên nhiều phương diện khác nhau, từ xã hội đến pháp lý8.
Nhật Bản là quốc gia hiếm hoi trên thế giới có quy định trực tiếp về khái
niệm Hiến pháp trong chính Hiến pháp của mình, theo đó: “Hiến pháp là đạo luật
tối cao của quốc gia. Tất cả các đạo luật, sắc lệnh, các cơng bố của Hồng gia
hoặc các hoạt động của chính quyền hoặc một bộ phận chính quyền trái với Hiến
pháp đều khơng có giá trị pháp lý và khơng có giá trị thi hành”9. Thượng viện Hoa
Kỳ cũng cơng bố cơng khai nhận định của mình cho rằng: “Hiến pháp xác định luật
cơ bản của chính phủ liên bang Hoa Kỳ, đặt ra ba nhánh chính của chính phủ liên
bang và phác thảo các khu vực tài phán của họ. Hiến pháp đã trở thành tài liệu
pháp lý mang tính bước ngoặt của thế giới phương Tây, và là Hiến pháp quốc gia
bằng văn bản lâu đời nhất hiện đang có hiệu lực”10.
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: “[…] trước chúng ta
đã bị chế độ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên
chế nên nước ta khơng có Hiến pháp, nhân dân ta khơng được hưởng quyền tự do
dân chủ. Chúng ta phải có một bản Hiến pháp dân chủ […]”11. Qua đó cho thấy,
quan điểm của Bác tuy chưa đề cập đến hình thức, vị trí của Hiến pháp trong hệ
thống pháp luật Việt Nam lúc bấy giờ, những giá trị của quan điểm ở chỗ, Bác đã
khẳng định nội dung của Hiến pháp phải gắng với nền độc lập, tự do của dân tộc và
các quyền tự do dân chủ của nhân dân. Tư tưởng này của Bác ảnh hưởng rất lớn đến
Hai nhà nghiên cứu người Anh là B.Jones và D.Kavanagh đã định nghĩa: “Hiến pháp là một văn bản thể
hiện tinh thần và đường lối chính trị”8. Song song với đó, tác giả M.Beloff và G.Peele cho rằng: “Hiến pháp
là tổng thể các quy định điều chỉnh và phân định sự phân chia quyền lực nhà nước trong hệ thống chính trị”.
Bên cạnh các nhà nghiên cứu người Anh thì M.Hauriou – một nhà nghiên cứu luật học của Pháp đã cho ra
đời định nghĩa có phần tồn diện hơn, tổng hòa nhiều định nghĩa về Hiến pháp: “Hiến pháp là văn bản quy
phạm pháp luật cao nhất, việc thay đổi Hiến pháp phải đòi hỏi thủ tục đặc biệt; nội dung Hiến pháp quy định
tổng thể những quy định về quy chế xã hội, chính trị của nhà nước, bất kể các hình thức văn bản thể hiện và
thủ tục sửa đổi, bổ sung văn bản đó”.
Một khái niệm về Hiến pháp cũng được đưa ra bởi Từ điển “Black Law”: “Hiến pháp là luật tổ chức và cơ
bản của một quốc gia hoặc nhà nước, có thể dưới dạng thành văn hoặc bất thành văn, quy định về đặc điểm
và quan niệm về chính phủ, đặt ra các nguyên tắc cơ bản phải tuân theo, tổ chức chính phủ và điều chỉnh,
phân phối, và giới hạn chức năng của các cơ quan khác nhau của nhà nước, quy định mức độ và cách thức
thực hiện các quyền tối cao”.
9
Điều 98, Hiến pháp năm 1946 của Nhật Bản:
“This Constitution shall be the supreme law of the nation and no law, ordinance, imperial rescript or other
act of government, or part thereof, contrary to the provisions hereof, shall have legal force or validity”.
10
“Constitution” (truy cập ngày 01/4/2023).
11
Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Hồ Chí Minh tồn tập, Tập 4, NXB Chính trị
Quốc gia Sự thật, tr.7.
8
11
lịch sử lập hiến ở Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp năm 1946 nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa.
Trong phạm vi các cơ sở giáo dục, Đại học Luân Đôn – Vương quốc Anh
định nghĩa: “Hiến pháp là cuốn sách quy tắc cho một nhà nước. Nó đặt ra các
nguyên tắc cơ bản mà theo đó có thể quản lý nhà nước. Hiến pháp quy định các thể
chế chính trị của nhà nước, và xác định mối quan hệ giữa các thể chế này (ví dụ,
giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp). Nó đặt ra những giới hạn trong việc thực thi
quyền lực, và đặt ra những quyền và nghĩa vụ của công dân”12. Trường Đại học
Luật Hà Nội cũng đã tổng hợp các định nghĩa trên, cùng với nhiều định nghĩa của
các học giả trên thế giới, đã cho ra đời định nghĩa chung về Hiến pháp: “là hệ thống
các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất quy định những vấn đề cơ bản
nhất về chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội, tổ
chức quyền lực nhà nước, địa vị pháp lý của con người và công dân”13 với quan
điểm tương tự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh cũng đưa ra nhận
định: “Hiến pháp là đạo luật cơ bản của mỗi quốc gia, có hiệu lực pháp lý tối cao,
quy định những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất của: chế độ chính trị, chính
sách phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, các quyền con người, quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước then chốt ở
trung ương và địa phương”14.
Tất cả các định nghĩa trên đều đưa chúng ta đến một kết luận rằng, quan
niệm về định nghĩa Hiến pháp rất đa dạng, đa phần xuất phát từ hình thức, nội dung
của Hiến pháp. Tuy nhiên, điểm chung của các định nghĩa là kết luận được vị trí của
Hiến pháp trong hệ thống pháp luật quốc gia, khái quát được nội dung Hiến pháp từ
căn bản đến chi tiết. Tác giả dựa trên nhiều nguồn tài liệu đến từ các học giả, cơ sở
đào tạo Luật uy tín trong và ngồi nước, tổng hợp nên định nghĩa về Hiến pháp: “là
tổng hợp các quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật của quốc gia, xác định những quy định về chủ quyền quốc
gia, chế độ chính trị; xác định những nguyên tắc chung về quyền và nghĩa vụ của tổ
chức, cá nhân, về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… làm nền tảng hình thành các
đạo luật khác”. Theo tác giả, đây là khái niệm bao quát nhất, xét trên phương diện
“What is a constitution?” (truy cập
ngày 01/4/2023).
13
Tơ Văn Hịa (2019), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Tư pháp, tr.47.
14
Nguyễn Mạnh Hùng (2019), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt
Nam, tr.44.
12
12
hình thức và nội dung, qua đó khẳng định tính cơ bản của Hiến pháp đối với các đạo
luật thông thường khác.
Hiến pháp là một bản khế ước xã hội giữa nhân dân và nhà nước, thể hiện sự
giao phó quyền lực nhà nước cho các cơ quan nhà nước. Do vậy, Hiến pháp ra đời
nhằm ba mục đích chủ yếu:
Thứ nhất, Hiến pháp ra đời để đảm bảo sự ổn định chính trị xã hội và chủ
quyền quốc gia thể hiện bản chất dân chủ và tiến bộ của nhà nước và chế độ, qua đó
thể hiện bộ mặt của quốc gia, khi nhìn vào Hiến pháp của một quốc gia thì cả những
vấn đề từ chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội sẽ hiện lên trước mắt người
nghiên cứu.
Thứ hai, Hiến pháp ra đời để kiềm chế quyền lực tạo khuôn khổ cho hoạt
động của các cơ quan từ cấp cao nhất tới cấp thấp nhất của bộ máy nhà nước, là
công cụ trong tay người dân kiểm soát ngược lại quyền lực của nhà nước, khẳng
định quyền lực nhà nước là thuộc về nhân dân.
Thứ ba, Hiến pháp ra đời để bảo vệ các quyền cơ bản của công dân của con
người trước sự xâm phạm từ phía cơ quan nhà nước và xã hội. Đây là những quyền
con người, quyền dân tộc cơ bản vốn có, Hiến pháp chỉ có trách nhiệm ghi nhận và
bảo vệ các quyền này, đồng thời khẳng định các quyền tự do không phải do Nhà
nước ban phát mà do chính tự nhiên đã ban cho con người những quyền này.
Hiến pháp là đạo luật gốc do Quốc hội ban hành có giá trị pháp lý cao nhất
trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quy định những vấn đề cơ bản nhất về chủ
quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách kinh tế, xã hội; quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân; tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Xuất phát từ
mục đích ra đời nói trên và chủ yếu xoay quanh mục tiêu bảo vệ nhân quyền, quyền
tự nhiên của con người trước những nguy cơ tùy tiện, lạm quyền, sai quyền và tha
hố của nhà cầm quyền thì mỗi một quốc gia dân tộc phải tồn tại một bản Hiến pháp
và trong bản Hiến pháp đó phải ghi nhận 02 nội dung cơ bản:
Một là, phải ghi nhận nhân quyền, quyền tự nhiên như một rào cản, một ranh
giới cấm để nhà cầm quyền trong quá trình điều hành quản lý khơng thể xâm phạm
vào ranh giới cấm đó;
Hai là, ghi nhận về sự phân chia quyền lực và phân chia quyền lực nhằm
mục đích cuối cùng là kiểm sốt quyền lực, cân bằng theo đúng tinh thần dùng
quyền lực kiểm soát quyền lực. Phân quyền suy cho cùng cũng chỉ để bảo vệ nhân
quyền.
13
Ngồi những nội dung cơ bản thì một bản Hiến pháp cịn có thể thể hiện
nhiều nội dung hơn nữa như về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội,…
nhưng chung quy, bắt buộc phải ghi nhận hai nội dung cơ bản trên, nếu không ghi
nhận thì sẽ khơng đáp ứng điều kiện để trở thành một bản Hiến pháp đúng nghĩa.
1.1.2. Đặc trưng của Hiến pháp.
Là văn bản ghi nhận các quyền và tự do cơ bản của con người, của công
dân. Các văn bản quy phạm pháp luật thông thường trong hệ thống pháp luật Việt
Nam như luật, nghị định, thơng tư có nội dung chủ yếu quy định về một hoặc một
vài vấn đề quản lý xã hội, quản lý đất nước. Một đơn vị văn bản luật quy định
những nội dung điều chỉnh các quan hệ xã hội có cùng tính chất, nội dung thuộc
một lĩnh vực đời sống xã hội nhất định, các nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết
quy định của văn bản Luật, cho thấy các văn bản pháp luật là sản phẩm của hoạt
động lập pháp mang lại chỉ quy định một hoặc một số vấn đề được Hiến pháp giao
phó, chủ yếu là các vấn đề về quản lý đất nước và chính sách pháp luật quốc gia.
Trong khi đó, Hiến pháp có phạm vi điều chỉnh rất rộng, liên quan đến tất cả các
lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hố, xã hội của quốc gia, song chỉ tập trung vào các
mối quan hệ cơ bản và chỉ đề cập đến các nguyên tắc định hướng, nền tảng, không
đi sâu vào chi tiết. Hiến pháp được xem là bản khế ước xã hội, qua đó nhân dân trao
quyền làm chủ đất nước của mình cho Nhà nước và đồng thời cũng ghi nhận các
quyền tự do cơ bản của mình vào trong bản khế ước này, nói cách khác, việc ghi
nhận các quyền tự do vào trong Hiến pháp nhằm đảm bảo nhân quyền, đảm bảo
nhân dân không bị các cơ quan Nhà nước dùng quyền lực được trao cho mình mà
xâm phạm, ngược lại nhân dân đồng thời phải có trách nhiệm tơn trọng, bảo vệ và
đảm bảo cho nhân dân thực hiện nhân quyền. Khác với văn bản pháp luật thông
thường ở chỗ, Hiến pháp ghi nhận tất cả các mặt của đời sống xã hội, tập trung chủ
yếu vào việc khái quát, định hướng điều chỉnh các quan hệ xã hội. Điều đặc biệt là
Hiến pháp ghi nhận các quyền tự do dân chủ và dân tộc cơ bản của con người, của
cơng dân xuất phát từ quyền tự nhiên vốn có mà không dựa trên bất cứ quy định
nào, trong khi các văn bản pháp luật còn lại chỉ quy định một hoặc một số nội dung
thông qua những quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong đời sống xã hội theo sự ấn định của Hiến pháp mà khơng ghi nhận trong đó
quyền con người và quyền dân tộc cơ bản.
Là văn bản ấn định quyền lực nhà nước. Bên cạnh việc ghi nhận nhân quyền,
Hiến pháp còn là văn bản ấn định quyền lực nhà nước thông qua việc quy định về tổ
chức và hoạt động của từng cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, trải
14
dài cả ba nhánh quyền lực. Việc quy định này tạo cho các cơ quan nhà nước khuôn
khổ hiến định trong tổ chức và hoạt động, tránh sự tùy tiện, lạm quyền, góp phần
quan trọng vào việc bảo đảm nhân quyền. Chính 02 đặc trưng đầu tiên này là nguồn
gốc câu nói: “Cơng dân được làm những gì pháp luật khơng cấm, cịn cơ quan cơng
quyền chỉ được làm những gì pháp luật cho phép”. Nội dung của các văn bản pháp
luật thông thường chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc một lĩnh vực nhất định
của đời sống xã hội, đối với các Luật tổ chức các cơ quan nhà nước cũng chỉ nhằm
quy định cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan nhà nước. Chẳng hạn
như Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 quy định những vấn đề xoay quanh Quốc hội
và Đại biểu Quốc hội căn cứ theo Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Chính phủ
2015 quy định về cơ cấu tổ chức, vai trò, hoạt động và các vấn đề khác liên quan
đến hoạt động của Chính phủ căn cứ theo Hiến pháp năm 2013,… Cho thấy, các
văn bản liên quan đến nội dung tổ chức quyền lực nhà nước được ban hành đều dựa
trên sự ghi nhận của Hiến pháp, các đạo luật khác không được quyền ghi nhận mà
chỉ có thể cụ thể hóa sự ghi nhận của Hiến pháp trong công tác áp dụng pháp luật
trên thực tế.
Là luật cơ bản trong hệ thống pháp luật. Các văn bản pháp luật thông thường
từ bộ luật, luật đến các văn bản dưới luật khi ban hành đều dựa trên nguyên tắc bất
biến: “Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp”15, “Nghiêm cấm
việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với văn bản quy
phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên” 16. Có thể thấy, Hiến pháp được
xem là chuẩn mực quy phạm pháp luật, khi nhắc đến Hiến pháp là nhắc đến các
cụm từ “Luật cơ bản”, “Luật mẹ”, “Đạo luật gốc”,… Hiến pháp là văn bản duy
nhất quy định việc tổ chức quyền lực nhà nước, là hình thức pháp lý thể hiện một
cách tập trung hệ tư tưởng của giai cấp lãnh đạo, ở từng giai đoạn phát triển. Hiến
pháp còn là phương diện pháp lý thể hiện tư tưởng của Đảng Cộng sản dưới hình
thức những quy phạm pháp lý. Ngồi ra trong khi các đạo luật khác chỉ điều chỉnh
các quan hệ xã hội thuộc một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội, ví dụ như:
Luật hơn nhân gia đình chỉ điều chỉnh các quan hệ hơn nhân, gia đình, Luật Đất đai
chỉ điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực đất đai,… thì Hiến pháp có đối tượng điều
chỉnh rộng, bao quát toàn bộ các lĩnh vực của xã hội. Đối tượng điều chỉnh của
Hiến pháp là những quan hệ xã hội chủ đạo nhất, chính yếu nhất, nền tảng nhất liên
quan đến lợi ích cơ bản của mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội, chế độ chính
15
16
Điều 119 Hiến pháp 2013.
Khoản 1 Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
15
trị, chế độ kinh tế, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đường lối phát triển
khoa học – kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, đường lối quốc phịng toàn dân, bảo vệ tổ
quốc xã hội chủ nghĩa, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước. Chính những nội dung này
của Hiến pháp đã tạo nên tính chất của một đạo luật cơ bản. Hiến pháp chỉ quy định
những vấn đề có tính ngun tắc, cơ bản nhất, quan trọng nhất, khái quát nhất các
lĩnh vực trong đời sống xã hội. Việc quy định chi tiết không được đề cập trong Hiến
pháp mà đó là nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn
bản pháp luật thông thường trên cơ sở của Hiến pháp, nhằm triển khai và thi hành
nội dung của Hiến pháp trên thực tế.
Là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất. Xét về mặt pháp lý, Hiến pháp là
luật có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Ở Việt Nam,
tính tối cao thể hiện trong cả hệ thống pháp luật và cả đời sống xã hội được chứng
minh qua nhiều yếu tố: (i) các quy định của Hiến pháp là nguồn, là nền tảng cho tất
cả các ngành luật khác thuộc hệ thống pháp Việt Nam. Các quy định của Hiến pháp
mang tính tun ngơn, cương lĩnh, điều chỉnh chung. Dựa trên nền tảng đó, các luật,
pháp lệnh, nghị định và các văn bản dưới luật khác cụ thể hóa, chi tiết hóa để điều
chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể; (ii) các văn bản pháp luật khác không được mâu
thuẫn, trái ngược với Hiến pháp mà phải hoàn toàn phù hợp với tinh thần, nội dung
của Hiến pháp, được ban hành trên cơ sở Hiến pháp và thực hiện nhằm mục đích thi
hành Hiến pháp. Mọi văn bản pháp luật có nội dung trái với Hiến pháp phải bị bãi
bỏ, hủy bỏ17; (iii) các điều ước quốc tế mà nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam tham gia không được mâu thuẫn, đối lập với quy định của Hiến pháp. Khi
có sự mâu thuẫn thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền khơng tham gia ký kết, khơng
phê chuẩn hoặc bảo lưu với từng phần riêng biệt18; (iv) tất cả các cơ quan nhà nước
phải thực hiện chức năng của mình theo quy định của Hiến pháp, sử dụng đầy đủ
các quyền hạn, làm tròn các nghĩa vụ mà Hiến pháp đã quy định. Mọi hành vi vượt
ra ngoài thẩm quyền mà Hiến pháp đã quy định đều là vi hiến19; (v) tất cả các công
dân của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hưởng các quyền con
người, quyền công dân mà Hiến pháp thừa nhận và có nghĩa vụ nghiêm chỉnh thực
hiện Hiến pháp20; (vi) cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải ban hành các văn bản
pháp luật mà Hiến pháp đã quy định để cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, thi
hành Hiến pháp. Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ,
Điều 119 Hiến pháp 2013.
Khoản 1 Điều 3 Luật Điều ước quốc tế năm 2016.
19
Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 2013.
20
Điều 46 Hiến pháp 2013.
17
18
16
Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan nhà nước khác của Nhà nước
và toàn thể nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp; (vii) do vị trí vai trị đặc biệt
của Hiến pháp, việc xây dựng, thông qua, ban hành, sửa đổi, thay đổi Hiến pháp
phải tuân theo một trình tự đặc biệt. Chủ trương xây dựng Hiến pháp thường được
biểu thị bằng một nghị quyết của Quốc hội; việc xây dựng Hiến pháp thường được
tiến hành bằng một cơ quan do Quốc hội lập ra; Dự thảo Hiến pháp được lấy ý kiến
rộng rãi của nhiều tầng lớp nhân dân; việc thông qua Hiến pháp thường được tiến
hành tại một kỳ họp đặc biệt của Quốc hội và chỉ được thông qua khi có một tỷ lệ
phiếu đồng ý cao đặc biệt; việc sửa đổi Hiến pháp chỉ được thực hiện theo một trình
tự đặc biệt quy định tại Hiến pháp; quá trình xây dựng, sửa đổi Hiến pháp được
quan tâm và chỉ đạo bởi Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên thế giới, tính tối cao của
Hiến pháp được thể hiện trực tiếp vào Hiến pháp của quốc gia, ở Liên bang Nga:
“Hiến pháp Liên bang Nga có hiệu lực pháp lý cao nhất, được áp dụng trực tiếp
trên toàn thể lãnh thổ Liên bang Nga. Các đạo luật và những văn bản pháp luật
khác được áp dụng ở Liên bang Nga không được mâu thuẫn với Hiến pháp Liên
bang”21. Hiến pháp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng đề cập: “Bản Hiến pháp
này […] quy định chế độ và nhiệm vụ căn bản của nhà nước, là luật cơ bản của nhà
nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất”22. Song song với đó, Hoa Kỳ nhận định: “Hiến
pháp này, các đạo luật của Hoa Kỳ được ban hành theo Hiến pháp này, mọi điều
ước đã hoặc sẽ được ký kết dưới thẩm quyền của Hoa Kỳ sẽ là luật tối cao của quốc
gia. Quan tòa ở các bang đều phải tuân theo những luật này; bất cứ một điều gì
trong Hiến pháp hoặc luật của các bang mà trái ngược với Hiến pháp Liên bang
đều khơng có giá trị”23,… Các bản Hiến pháp đều thể hiện tính tối cao của mình
qua hai nội dung chủ yếu: Một là, các văn bản pháp luật khác do các cơ quan nhà
nước ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, không được trái với Hiến pháp, mọi sự
vi hiến đều khơng có giá trị áp dụng trong đời sống xã hội; Hai là, các hành vi của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân từ trung ương đến địa phương đều phải phù hợp với
Hiến pháp, mọi hành vi vi hiến phải được xử lý nghiêm minh theo đúng quy định.
Khoản 1 Điều 15 Hiến pháp Liên bang Nga:
“The Constitution of the Russian Federation shall have the supreme juridical force, direct action and shall
be used on the whole territory of the Russian Federation. Laws and other legal acts adopted in the Russian
Federation shall not contradict the Constitution of the Russian Federation”.
22
Lời nói đầu Hiến pháp Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
23
Điều 6 Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ:
“This Constitution, and the Laws of the United States which shall be made in Pursuance thereof; and all
Treaties made, or which shall be made, under the Authority of the United States, shall be the supreme Law of
the Land; and the Judges in every State shall be bound thereby, any Thing in the Constitution or Laws of any
State to the Contrary notwithstanding”.
21
17
Bên cạnh đó, tính tối cao của Hiến pháp cịn thể hiện ở chỗ các quốc gia thường quy
định một cơ chế giám sát đặc biệt để bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp, có thể kể
đến như Tịa án Hiến pháp, Hội đồng bảo hiến, chức năng của Tịa án tối cao,…
Với những đặc trưng chỉ có ở Hiến pháp, địi hỏi quy trình, cách thức ban
hành, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp cũng phải được quy định riêng biệt, khắt khe hơn,
khoa học hơn, logic hơn quy trình ban hành các văn bản pháp luật thơng thường,
làm cho quá trình lập hiến trở thành nhiệm vụ quan trọng và nổi bật trên nhiệm vụ
lập pháp.
1.2.
Lý luận chung về quy trình lập hiến.
Hiện nay khơng có văn bản pháp luật nào định nghĩa cụ thể về quy trình lập
hiến. Quy trình lập hiến được cấu thành bởi 02 thành tố là “quy trình” và “lập hiến”.
Quy trình được hiểu là trình tự phải tuân theo để tiến hành một cơng việc nào đó,
tương tự trên thực tế sẽ có quy trình kỹ thuật sản xuất là những trình tự, thủ tục để
sản xuất ra sản phẩm mà người sản xuất phải tuân theo 24. Lập hiến là một cụm từ
chuyên ngành trong lĩnh vực pháp luật nhưng cũng chưa có định nghĩa cụ thể trong
bất kỳ văn bản pháp luật nào, theo từ điển Tiếng Việt: “Lập hiến là định ra Hiến
pháp”25 thường được sử dụng với cụm từ “Quốc hội lập hiến” với ý nghĩa là quốc
hội lập ra, xây dựng ra Hiến pháp. Từ điển Luật học của Bộ Tư pháp cũng có định
nghĩa tương tự: “Lập hiến là định ra Hiến pháp, quyền lập hiến là quyền làm Hiến
pháp (biểu quyết tán thành để thông qua theo trình tự lập hiến) và sửa đổi, bổ sung
Hiến pháp hoặc làm Hiến pháp mới”26. Tuy nhiên, những định nghĩa trong 02 cơng
trình từ điển trên chỉ mới đề cập đến lập hiến là gì, cịn câu trả lời cho các câu hỏi
lập hiến có những nội dung nào, định ra Hiến pháp như thế nào, là hoạt động của
chủ thể nào,… thì chưa được đề cập.
Nhà nước pháp quyền là nhà nước tôn trọng và đề cao Hiến pháp trong tổ
chức và hoạt động của đời sống nhà nước, đời sống xã hội, đảm bảo quyền con
người, quyền công dân và an ninh quốc gia. Với những tính chất và đặc trưng quan
trọng của Hiến pháp, địi hỏi chất lượng của Hiến pháp phải hoàn hảo cả về mặt nội
dung và hình thức thể hiện, tồn tại được lâu dài để đảm bảo sự phát triển của đất
nước một cách ổn định. Để có một bản Hiến pháp mang những giá trị như thế đặt ra
yêu cầu về quy trình lập hiến phải dân chủ, chặt chẽ tránh sự lạm quyền, xâm phạm
đến các quyền tự do vốn có của con người. Một bản Hiến pháp được xây dựng theo
Viện ngôn ngữ học, tlđd (1), tr.813.
Viện ngôn ngữ học, tlđd (1), tr.555.
26
Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, tlđd (6), tr.459.
24
25
18
một quy trình dân chủ, khoa học, hồn hảo thì sẽ đảm bảo bản chất của Hiến pháp là
bản khế ước của nhân dân. Với những đặc điểm, tính chất đúc kết từ những đặc
trưng, vị trí, vai trị và thực tiễn của Hiến pháp, đồng thời tham khảo giá trị nhiều
cơng trình nghiên cứu khác, tác giả nhận thấy, nội dung của việc lập hiến gồm chủ
thể của quyền lập hiến và quy trình lập hiến.
Về chủ thể của quyền lập hiến: như đã phân tích, một trong những điểm khác
biệt đầu tiên và quan trọng nhất giữa Hiến pháp với thường luật là vị trí của Hiến
pháp trong hệ thống pháp luật quốc gia, trong đó khẳng định vị trí tối cao của Hiến
pháp. Nếu thường luật được quan niệm là ý chí của nhà nước, là cơng cụ trong tay
của giai cấp thống trị để quản lý Nhà nước, quản lý nhân dân, quản lý xã hội, chủ
thể của quyền lập pháp phải thuộc về Nhà nước hoặc cá nhân, tổ chức nhà nước
được trao quyền. Trong khi đó, Hiến pháp được quan niệm là ý chí của nhân dân,
công cụ trong tay nhân dân nắm quyền kiểm soát ngược lại đối với Nhà nước, thực
hiện quyền giám sát tối cao của nhân dân, chính vì thế, quyền lập hiến phải thuộc về
nhân dân.
Về quy trình lập hiến: Nội dung của quy trình lập hiến bao gồm nhiều vấn đề
rất phức tạp, trong phạm vi đề tài, tác giả chỉ tập trung phân tích nội dung của 02
vấn đề chính là thủ tục thơng qua Hiến pháp và thủ tục sửa đổi bổ sung Hiến pháp.
Việc phân định quy trình lập hiến thành hai nội dung để nghiên cứu nhằm đảm bảo
sự kế thừa Hiến pháp năm 1946 và kinh nghiệm lập hiến của một số quốc gia trên
thế giới, quan trọng hơn là đảm bảo tính chặt chẽ về mặt nội dung của Hiến pháp và
các thuật ngữ pháp lý khác nhau ví dụ như Hiến pháp và Hiến pháp sửa đổi, ban
hành Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp,… đảm bảo hài hòa, ổn định và sự linh hoạt
của nội dung hiến định.
1.2.1. Trình tự, thủ tục thông qua Hiến pháp mới.
Xuất phát từ quan niệm Hiến pháp và thường luật phải khác nhau, vì bản
Hiến pháp được xem như một bản khế ước xã hội, một bản hợp đồng mà theo đó
nhân dân trao quyền cho Nhà nước. Để quan điểm quyền lập hiến là của nhân dân
được thực thi trên thực tế, các quốc gia trên thế giới chỉ ra rằng, có 02 cách để thông
qua Hiến pháp:
Thứ nhất, trưng cầu dân ý về Hiến pháp, cơ quan nhà nước chỉ kết thúc
nhiệm vụ của mình ở việc soạn thảo bản Dự thảo Hiến pháp, sau đó cơng bố Dự
thảo Hiến pháp rộng rãi cho nhân dân để tổ chức trưng cầu dân ý, người dân bỏ
phiếu thể hiện ý kiến của mình về bản Dự thảo Hiến pháp, nội dung nào đã phù hợp
19
và nội dung nào chưa phù hợp, có thể kiến nghị sửa đổi. Khi nào tỷ lệ đồng ý thông
qua Dự thảo Hiến pháp của nhân dân vượt quá nửa số người bỏ phiếu trong một
cuộc trưng cầu dân ý hợp pháp, thì Hiến pháp mới được thừa nhận. Việc người dân
bỏ phiếu tán thành việc thông qua Dự thảo Hiến pháp được so sánh như hành động
đặt bút ký vào bản khế ước xã hội, trao một phần quyền lực của mình cho Nhà
nước, để Nhà nước dựa trên quyền lực đó mà thực hiện chức năng quản lý xã hội.
Bản Hiến pháp đầu tiên được thành lập bằng con đường trưng cầu dân ý là
Hiến pháp năm 1958 của Cộng hòa Pháp với vai trò của Charles de Gaulle 27. Ở
nước Pháp, Jean-Jacques Rousseau28 có rất nhiều quan điểm về khế ước xã hội
nhưng chỉ dừng lại về mặt lý thuyết, thực tế khi giai cấp tư sản Pháp hồn thành
nhiệm vụ cách mạng của mình nhưng lại không trao quyền về nhân dân mà trao
quyền cho nghị viện với quyền lập pháp tối cao. Đến năm 1958, nhờ vào công lao
to lớn của Charles de Gaulle mà Cộng hòa Pháp đã tước bỏ quyền lập hiến của Nghị
viện, lấy quyền lập hiến từ tay Nghị viện trong hơn nửa thế kỷ trả về cho nhân dân,
hiện thực hóa áp dụng thành cơng triệt để tư tưởng của Rousseau và Montesquieu29
ngay trên đất Pháp. Tuy nhiên, trưng cầu dân ý không phải quốc gia nào cũng áp
dụng được, muốn áp dụng cách thức này thành công phải cần rất nhiều điều kiện cơ
sở hạ tầng xã hội như trình độ dân trí cao, hiểu được Hiến pháp là gì, phải có tiềm
lực quốc gia, kinh tế, giao thơng thuận lợi,…
Thứ hai, nhân dân bầu ra một Quốc hội lập hiến, theo đó Quốc hội này sẽ
thay mặt nhân dân làm ra Hiến pháp. Sau khi hồn thành cơng cuộc lập hiến, Quốc
hội lập hiến sẽ giải tán, vì quyền lập hiến thuộc về nhân dân, mục tiêu bầu ra Quốc
hội lập hiến là để nhân dân trao quyền lập hiến và chỉ duy nhất quyền lập hiến, hoàn
thành nhiệm vụ lập hiến thì Quốc hội này khơng cịn bất cứ quyền gì cho nên tất
yếu phải giải tán. Trên cơ sở Hiến pháp vừa được thông qua, sẽ tiến hành một cuộc
tổng tuyển cử khác để nhân dân bầu ra Quốc hội lập pháp, trao quyền lập pháp cho
Quốc hội lập pháp. Nói cách khác, Quốc hội lập pháp chỉ có quyền định ra thường
luật mà khơng có quyền can thiệp vào quá trình lập hiến.
Từ thực tiễn lập hiến thế giới, T.Y.Khabarova và V.E.Trikin – hai nhà Hiến
pháp học người Nga đã khái quát quy trình soạn thảo Hiến pháp đương đại gồm 05
bước hoàn chỉnh, cụ thể:
Tổng thống thứ 18 và là Tổng thống đầu tiên trong nền Cộng hòa thứ 5 của Pháp.
Một nhà Triết học Pháp với tác phẩm nổi tiếng “Khế ước xã hội”.
29
Một nhà Triết học Pháp nổi tiếng với lý thuyết tam quyền phân lập.
27
28
20
Bước 1: Trường hợp thứ nhất, Quốc hội lập pháp sẽ thành lập Ủy ban dự
thảo Hiến pháp. Trường hợp thứ hai, Quốc hội lập hiến và những tổ chức trực thuộc
sẽ được thành lập thông qua bầu cử hoặc bổ nhiệm;
Bước 2: Ủy ban dự thảo Hiến pháp hoặc Quốc hội lập hiến soạn Dự thảo
Hiến pháp và văn bản giải thích về nội dung dự thảo (nếu cần thiết);
Bước 3: Tổ chức thảo luận toàn dân về Dự thảo Hiến pháp và tổng hợp ý
kiến đóng góp cho Dự thảo Hiến pháp. Việc tổng hợp ý kiến được giao cho Ủy ban
dự thảo Hiến pháp hoặc các tổ chức thuộc Quốc hội;
Bước 4: Quốc hội lập pháp hoặc Quốc hội lập hiến chỉnh lý Dự thảo và thông
qua bản Dự thảo Hiến pháp chính thức;
Bước 5: Trưng cầu dân ý nhằm phúc quyết Hiến pháp30.
Tuy nhiên, không phải quốc gia nào khi ban hành một bản Hiến pháp cũng
tiến hành tuần tự 05 bước, đây chỉ là các bước thường thấy, thông dụng khi ban
hành Hiến pháp. Thực tiễn lập hiến Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tuy không thực hiện
theo quy trình thủ tục phổ biến nhưng Hiến pháp Mỹ vẫn được xem là bản Hiến
pháp có tính mẫu mực vượt khơng gian và thời gian31.
Trong khi đó, Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 được thành lập một cách
trình tự và khoa học, thể hiện rõ nhất quy trình lập hiến gồm 05 bước mà
T.Y.Khabarova và V.E.Trikin đã nhận định, sự tiến bộ của mình đã làm cho bản
Hiến pháp năm 1993 của Nga đã đi cùng Liên bang Nga từ những ngày đầu lập
quốc và có hiệu lực cho đến ngày nay32. Điều này chứng minh, quy trình lập hiến do
T.Y.Khabarova và V.E.Trikin (2007), Lý thuyết về Hiến pháp hiện đại, NXB Norma, Matxcova, tr.92 – 95.
Đối với Quy trình lập hiến của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Hoa Kỳ giành độc lập vào 04/7/1776 từ năm
1776 đến 1787 nước Mỹ rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng với sự rời rạc của 13 tiểu bang, có hệ thống pháp
luật riêng, đồng tiền riêng, ngôn ngữ riêng, văn hóa riêng,… Trước tình hình đó, nguy cơ thực dân Anh quay
lại xâm lược, nhu cầu sống còn cần 13 bang hợp lại thành nhà nước liên bang. Trên tinh thần này, 13 bang
độc lập có chủ quyền bầu ra 55 đại biểu đại diện cho 13 bang, 55 đại biểu tập hợp tại bang Philadelphia để
tiến hành hội nghị. Hội nghị thành lập ban soạn thảo Hiến pháp, thống nhất chọn J. MadiSon là trưởng ban
soạn thảo. Sau hơn 1 tháng soạn thảo thì ban soạn thảo cho ra 1 Dự thảo đầu tiên, sau khi biên tập còn 7 điều.
Ngày 17/9/1787 – ngày cuối cùng của hội nghị lập hiến có 39 trên tổng số 42 người tham dự nhất trí ký tên
vào Dự thảo Hiến pháp, ủng hộ đồng ý với Dự thảo. Theo quy định thì Dự thảo Hiến pháp đem về cho 13
tiểu bang phê chuẩn, phải được ít nhất ba phần tư (09 trong tổng số 13 tiểu bang) phê chuẩn thì mới có hiệu
lực. Sau những góp ý, thống nhất từ các tiểu bang Hiến pháp Mỹ mới được phê chuẩn và chính thức có hiệu
lực vào năm 1789.
Theo đó, trước khi có Hiến pháp, Mỹ khơng có Nghị viện, khơng quy định có sự đồng thuận của tồn dân, sự
thơng qua của Hiến pháp là dựa trên sự phê chuẩn của các ban trực thuộc nhà nước liên bang.
32
Ngày 12/6/1990, Đại hội dân biểu lần thứ nhất Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô – viết Liên bang Nga đề xuất
và quyết định về việc cần thông qua bản Hiến pháp mới, song song với đó là việc thành lập Ủy ban Hiến
pháp với nhiệm vụ soạn thảo bản Dự thảo Hiến pháp mới. Tháng 3/1992, bản Dự thảo Hiến pháp chính thức
được cơng bố và lấy ý kiến cơng chúng. Đến tháng 6/1993, theo Sắc lệnh của Tổng thống Liên bang Nga
Boris Yeltsin, Hội nghị lập hiến đã được triệu tập nhằm hoàn chỉnh Dự thảo Hiến pháp. Đến tháng 11/1993,
30
31
21
T.Y.Khabarova và V.E.Trikin đưa ra không phải là mẫu mực của sự đúng sai, mà
đây chỉ là đúc kết từ thực tiễn lập hiến một số quốc gia, mang giá trị tham khảo cho
các quốc gia hồn thiện quy trình lập hiến của quốc gia mình dựa trên sự phù hợp
về những điều kiện, hồn cảnh quốc gia.
1.2.2. Trình tự, thủ tục sửa đổi Hiến pháp.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan niệm rằng, thủ tục sửa đổi Hiến
pháp càng khó khăn, phức tạp, càng tốt, bởi vì có như thế thì nhà cầm quyền mới
khơng lợi dụng việc sửa Hiến pháp để tham vọng và củng cố quyền lực cho bản
thân, đồng thời thể hiện tầm quan trọng của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật
quốc gia. Từ thực tiễn các quốc gia trong quy trình sửa đổi Hiến pháp có thể kể đến
các mơ hình sửa đổi phổ biến như sau:
Mơ hình thứ nhất, việc sửa Hiến pháp này được trao cho cơ quan lập pháp
(bao gồm Quốc hội hay Nghị viện) vừa sửa đổi, bổ sung Hiến pháp vừa sửa đổi, bổ
sung các đạo luật khác, tuy nhiên, quy trình này được đánh giá là dễ thực hiện mà
đồng thời cũng tạo nên sự hời hợt, thiếu sự chỉn chu trong công tác sửa đổi Hiến
pháp. Những quốc gia áp dụng mơ hình này hầu như đều có quy định là nếu muốn
sửa đổi, bổ sung thường luật thì phải được quá nửa Nghị sĩ đồng ý cịn sửa đổi, bổ
sung Hiến pháp thì yêu cầu sự đồng thuận đó với tỉ lệ cao hơn từ hai phần ba đến ba
phần tư Nghị sĩ đồng ý, tạo nên sự khác biệt giữa quy trình sửa đổi Hiến pháp và
sửa đổi luật, nhìn chung mặc dù có sự khác biệt nhưng những thay đổi này không
đáng kể. Tuy được đánh giá là hời hợt, thiếu sự chỉn chu nhưng vẫn có những quốc
gia tiến bộ vẫn chọn cách này để tiến hành sửa đổi Hiến pháp như Đức, Ấn Độ. Mặc
dù điều kiện về mặt trình tự sửa đổi có nét tương đồng với Việt Nam và Trung Quốc
nhưng nhìn chung vẫn được đánh giá là khó khăn hơn bởi các lý do: (i) phải được ít
nhất hai phần ba hạ viện và hai phần ba thượng viện đồng ý vì các quốc gia này tổ
chức cơ quan lập pháp theo mơ hình lưỡng viện cịn đối với Việt Nam là theo mơ
hình đơn viện, do đó, tính phức tạp có thể nói là tăng gấp đôi; (ii) các quốc gia tiến
bộ này đa số là đa đảng, nhiều đảng phái tham gia và không có đảng nào chiếm
được ưu thế quá nửa trong Nghị viện, điều đó làm cho q trình tập trung dồn phiếu
cơng tác tu chính Dự thảo Hiến pháp đã được Hội đồng lập hiến hoàn tất với sự tham gia của các đại biểu từ
các cơ quan chính quyền, đại diện các tổ chức chính trị - xã hội, các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực
tiễn. Theo điều khoản về việc toàn dân biểu quyết đối với Dự thảo Hiến pháp Liên bang Nga được phê chuẩn
bởi Sắc lệnh của Tổng thống Nga, ngày 12/12/1993, cuộc trưng cầu dân ý nhằm thông qua Hiến pháp đã
được tổ chức. Kết quả là 54,8% số cử tri có tên trong danh sách tham gia cuộc trưng cầu và 58,4% số cử tri
tham gia bỏ phiếu đã ủng hộ bản Dự thảo Hiến pháp. Hiến pháp Liên bang Nga chính thức có hiệu lực vào
ngày 25/12/1993.