Tải bản đầy đủ (.pdf) (68 trang)

Ngoại lệ và giới hạn quyền tác giả theo quy định của pháp luật việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.45 MB, 68 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN DƯƠNG CẨM VI

NGOẠI LỆ VÀ GIỚI HẠN QUYỀN TÁC
GIẢ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM

KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ

TP. HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 – NĂM 2023


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN DƯƠNG CẨM VI

NGOẠI LỆ VÀ GIỚI HẠN QUYỀN TÁC GIẢ THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VIỆT NAM

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.S NGUYỄN TRỌNG LUẬN

TP. HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 – NĂM 2023


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin được cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Ngoại lệ và giới hạn
quyền tác giả theo quy định của pháp luật Việt Nam” do chính tác giả thực hiện dưới
sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Trọng Luận, giảng viên Khoa Luật Dân


sự, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. Khóa luận này đảm bảo tính trung
thực và tn thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo. Tác giả xin
hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả thực hiện khóa luận

Nguyễn Dương Cẩm Vi


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT

KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ

1

SHTT

Sở hữu trí tuệ

2

QTG

Quyền tác giả


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu .............................................. 2
3.1. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................................2
3.2. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 3
5. Tình hình nghiên cứu ..................................................................................... 4
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài .......................................... 6
7. Bố cục của đề tài ............................................................................................. 7
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGOẠI LỆ VÀ GIỚI HẠN QUYỀN
TÁC GIẢ................................................................................................................ 8
1.1.

Khái niệm ngoại lệ và giới hạn quyền tác giả .......................................... 8

1.1.1. Khái niệm ngoại lệ quyền tác giả ......................................................................8
1.1.2. Khái niệm giới hạn quyền tác giả ...................................................................10
1.2. Cơ sở lý luận của quy định về các trường hợp ngoại lệ và giới hạn quyền
tác giả ................................................................................................................ 12
1.3. Sự hình thành và phát triển của quy định về ngoại lệ và giới hạn quyền
tác giả ................................................................................................................ 14
1.4. Ý nghĩa của các quy định về ngoại lệ và giới hạn của quyền tác giả ....... 17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................... 19
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ NGOẠI LỆ VÀ GIỚI HẠN QUYỀN TÁC GIẢ ............................. 20
2.1. Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về ngoại lệ quyền tác
giả ...................................................................................................................... 20
2.1.1. Ngoại lệ liên quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học, học tập của cá

nhân .......................................................................................................... 20
2.1.2. Ngoại lệ liên quan đến sử dụng hợp lý tác phẩm để giảng dạy............ 25
2.1.3. Ngoại lệ liên quan đến trích dẫn hợp lý tác phẩm ............................... 27
2.1.4. Ngoại lệ liên quan đến hoạt động của thư viện ................................... 31


2.1.5. Ngoại lệ liên quan đến lợi ích của người khuyết tật ............................ 35
2.1.6. Các trường hợp ngoại lệ khác .............................................................. 37
2.2. Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về giới hạn quyền
tác giả ................................................................................................................ 40
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................... 45
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGOẠI LỆ VÀ
GIỚI HẠN QUYỀN TÁC GIẢ ........................................................................... 46
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về ngoại lệ quyền tác giả ....................... 46
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giới hạn quyền tác giả ...................... 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .................................................................................... 55
PHẦN KẾT LUẬN .............................................................................................. 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 58


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ngày càng tác động mạnh mẽ đến kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới. Đi kèm theo đó, tài sản trí tuệ đã và đang có
đóng góp rất lớn cho nền phát triển của nhân loại. Để đáp ứng và thúc đẩy hoạt động
sáng tạo, chủ động tích cực ứng dụng các thành tựu của tài sản trí tuệ vào đời sống,
địi hỏi Nhà nước cần phải có những quy định chặt chẽ về quyền sở hữu trí tuệ (SHTT)
nói chung, quyền tác giả (QTG) nói riêng. Luật Sở hữu trí tuệ ngày 29 tháng 11 năm
2005 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 (sau đây gọi tắt là
Luật SHTT 2005) là văn bản pháp luật quan trọng điều chỉnh về các quan hệ xã hội
liên quan đến tài sản trí tuệ. Qua 18 năm thực hiện, Luật SHTT đã phát huy hiệu quả

to lớn trong thực tiễn, tạo hành lang pháp lý hữu hiệu trong việc xác lập, bảo hộ QTG
của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành, Luật
SHTT đã cho thấy một số quy định của Luật đang bộc lộ những hạn chế, bất cập. Mặc
dù trải qua những lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2009 và 2019, nhưng những bất
cập đó vẫn chưa được khắc phục triệt để. Đặc biệt, với tốc độ phát triển nhanh như
vũ bão của khoa học công nghệ và tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, việc
tăng cường bảo hộ tài sản SHTT đang ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Do vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật SHTT là đòi hỏi cấp bách trong giai đoạn hiện
nay. Chính vì thế, ngày 16/06/2022, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật số
07/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT. Theo đó, một trong
những điểm mới của Luật sửa đổi lần này là quy định về ngoại lệ và giới hạn của
QTG. Dựa trên nguyên tắc cân bằng lợi ích, giữa chủ SHTT và xã hội luôn cần phải
được dung hoà quyền lợi của hai bên nhằm tạo ra điều kiện để tồn tại và phát triển
cho chính các bên. Các tác phẩm được sáng tạo nên bằng trí tuệ và sự lao động miệt
mài, do vậy quyền sở hữu các thành quả lao động này phải thuộc về các tác giả. Tác
giả có độc quyền tự mình thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền
của mình đối với tác phẩm (ngoại trừ các quyền nhân thân không gắn với tài sản).
Thế nhưng đây không phải là một độc quyền tuyệt đối1. Bởi nếu chỉ hướng tới mục
đích bảo vệ các tác giả, thì có thể dẫn đến sự lạm dụng độc quyền của họ và ảnh
hưởng đến việc tiếp cận tri thức, tiếp cận thành quả khoa học kỹ thuật của cộng đồng.

1

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, NXB Hồng Đức, tr. 121

1


Chính vì thế mà pháp luật phải có những quy định về ngoại lệ và giới hạn của QTG
để bảo vệ và cân bằng lợi ích của cả hai bên. Tuy nhiên việc ban hành quy định này

vẫn còn mới mẻ nên chưa được áp dụng nhiều trong thực tiễn cũng như chưa có đầy
đủ tài liệu nghiên cứu chuyên sâu. Đồng thời các quy định vẫn còn bộc lộ nhiều bất
cập dẫn đến rủi ro trong việc áp dụng và thi hành pháp luật vào đời sống. Không
những làm hạn chế quyền của công dân trong việc tiếp cận với tri thức mà còn làm
cho việc bảo vệ quyền lợi chủ thể quyền SHTT cũng như quyền SHTT gặp nhiều
vướng mắc. Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Ngoại lệ và giới hạn quyền tác giả theo
quy định của pháp luật Việt Nam” để nghiên cứu, và đóng góp, đề xuất những phương
hướng để xây dựng văn bản pháp luật hồn thiện hơn.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích mà khố luận ḿ n hướng đến là từ những định nghĩa cơ bản nhất
làm tiền đề cho việc giải thích khái niệm ngoại lệ và giới hạn QTG, qua đó phân tích
những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về những ngoại lệ và giới hạn.
Đồng thời học tập thơng qua việc phân tích cơ sở lý thuyết và quy định pháp luật
quốc tế; phát hiện, trình bày một số bất cập trong các quy định về ngoại lệ và giới hạn
của QTG. Từ đó đề ra những giải pháp tố i ưu nhấ t để hoàn thiê ̣n hê ̣ thố ng pháp luâ ̣t.
Như vâ ̣y, sẽ góp phần thực hiện tốt nguyên tắc “cân bằng lợi ích”, vừa khuyến khích
và đầu tư cho hoạt động sáng tạo, mặt khác hạn chế sự lạm dụng độc quyền của chủ
sở hữu QTG và tạo điều kiện cho công chúng được tiếp cận và khai thác các tài sản
trí tuệ, góp phần thúc đẩy kinh tế, tạo ra cơ hội phát triển hơn cho Việt Nam trên con
đường hiện đại hóa đất nước.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thứ nhất, đề tài nghiên cứu những ngoại lệ của QTG trong pháp luật Việt
Nam. Đó là những trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép,
không phải trả tiền bản quyền nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất
xứ của tác phẩm.
Thứ hai, đề tài nghiên cứu những giới hạn của QTG trong pháp luật Việt Nam.
Đó là những trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng
phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác
phẩm.


2


Thứ ba, đề tài hướng đến việc đưa ra các so sánh, đối chiếu, mở rộng nghiên
cứu về các quy định của pháp luật các quốc gia trên thế giới về vấn đề ngoại lệ và
giới hạn của QTG. Bởi vì các quốc gia Châu Âu, Châu Mỹ và các châu lục phát triển
trên thế giới là những “nhà tiên phong” trong hoạt động bảo vệ tài sản trí tuệ. Đối với
một nước Việt Nam mà những quy định về SHTT vẫn cịn non trẻ, địi hỏi chúng ta
cần có sự học hỏi, tiếp thu và chọn lọc để cải thiện pháp luật, bảo vệ quyền lợi cho
tác giả, chủ sở hữu QTG và cả cộng đồng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tác giả hướng đến là “Ngoại lệ và giới hạn của QTG”. Đây là một chế
định chứa rất nhiều vấn đề chuyên sâu cần bàn luận. Với đề tài nghiên cứu này, tác
giả hướng tới những phạm vi nghiên cứu như sau:
Về nội dung: Trong phạm vi của khoá luận, tác giả xác định trọng tâm nghiên
cứu là ngoại lệ và giới hạn của QTG theo Luật SHTT.
Về phạm vi lãnh thổ: Khoá luận nghiên cứu dựa trên phân tích các điều ước
quốc tế về QTG như Cơng ước Berne, Hiệp định TRIPS, Hiệp ước WTC..., pháp luật
về QTG tại Việt Nam, tham khảo các bài viết pháp lý nước ngoài và tiếp thu, học hỏi
những quy định pháp luật về Luật Bản quyền của các nước trên thế giới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài hướng đến nghiên cứu các vấn đề theo “hướng dọc” nhằm góp phần đi
sâu làm rõ các vấn đề về ngoại lệ và giới hạn của QTG. Ở chương đầu tiên, tác giả sẽ
tiến hành làm sáng tỏ các vấn đề từ góc độ lý luận, chương tiếp theo, tác giả sẽ phân
tích những mặt pháp lý và liên hệ với thực tiễn, so sánh đối chiếu các mối tương đồng
của pháp luật các quốc gia trên thế giới và ở chương cuối cùng, tác giả sẽ đưa góp ý
xây dựng, từ đó góp phần hồn thiện pháp luật. Chính vì vậy, đề tài đã vận dụng các
phương pháp nghiên cứu khác nhau để phân tích, so sánh, đối chiếu, giải thích và đưa
ra những kết luận nhằm giúp người đọc hiểu rõ những vấn đề mà tác giả muốn hướng

tới, cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp là phương pháp được tác giả sử dụng
xuyên suốt nội dung đề tài nhằm cung cấp đầy đủ, đồng thời chắt lọc các quy định
pháp luật, những thực tiễn đã qua xét xử và các quy định và thực tiễn của pháp luật
nước ngoài về vấn đề ngoại lệ và giới hạn của QTG.
- Phương pháp so sánh pháp luật là phương pháp không thể thiếu khi nghiên
cứu đề tài. Phương pháp này được sử dụng thường xuyên bởi tính xác thực của đề tài

3


muốn hướng đến là cách nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện nhất. Để làm sáng tỏ
đề tài, tác giả luôn đặt vấn đề ở hướng so sánh giữa các quy định pháp luật cũng như
thực tiễn của pháp luật Việt Nam với pháp luật nước ngoài, cùng các phương pháp
khác để đưa ra nhìn nhận đa chiều về vấn đề hướng đến.
Ngồi ra cịn một số phương pháp khác để bổ trợ thêm như phương pháp hệ
thống, phương pháp giải thích pháp luật… Tất cả các phương pháp này được tác giả
sử dụng hỗ trợ xen lẫn, qua lại với nhau, mục đích là để làm sáng tỏ những vấn đề cụ
thể trong mỗi chương và liên kết những chương lại với nhau thành một đề tài trọn
vẹn nhất.
5. Tình hình nghiên cứu
“Ngoại lệ và giới hạn của quyền tác giả” là một trong những vấn đề thuộc
phạm vi tìm hiểu của nhiều tác giả. Liên quan đến nội dung đề tài, tại Việt Nam vẫn
chưa có một cơng trình nghiên cứu chun sâu về ngoại lệ và giới hạn của QTG theo
quy định của pháp luật mới nhất. Tuy nhiên, có nhiều bài viết trên các tạp chí chun
ngành, Hội thảo khoa học có các đánh giá, bàn luận về các vấn đề liên quan đến ngoại
lệ, giới hạn QTG nói riêng hay QTG nói chung. Mỗi cơng trình nghiên cứu, đánh giá
những khía cạnh nhất định xoay quanh điều kiện áp dụng ngoại lệ và giới hạn của
QTG. Tuy nhiên, vẫn chưa có một cơng trình nghiên cứu thật sự tồn diện về nhiều
khía cạnh của vấn đề. Thơng qua q trình nghiên cứu và tìm hiểu, tác giả nhận thấy

một số tài liệu liên quan đến chế định “Ngoại lệ và giới hạn của QTG” như sau:
- Về sách chuyên khảo, giáo trình:
+ Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình luật sở hữu trí tuệ, NXB
Cơng an nhân dân, Hà Nội: Nội dung giáo trình đã tổng hợp một cách khái quát nhất
những vấn đề liên quan đến pháp luật về SHTT. Giáo trình cũng đã cung cấp cho
người đọc những kiến thức lý luận cơ bản về quyền SHTT, pháp luật SHTT Việt Nam
cũng như quy định của các điều ước quốc tế và hiệp định thương mại tự do có nội
dung điều chỉnh về SHTT mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, giáo trình vẫn chưa
đi sâu vào để nghiên cứu và tìm hiểu nhiều khía cạnh của vấn đề ngoại lệ và giới hạn
của QTG.
+ Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình luật sở
hữu trí tuệ, NXB Hồng Đức: Đây là giáo trình chính thống của trường Đại học Luật
TP.HCM, nội dung giáo trình đã tổng hợp một cách khái quát nhất những vấn đề liên
quan đến pháp luật về SHTT. Giáo trình cũng đã trang bị nền tảng lý luận cho việc

4


xây dựng các cơ sở lý thuyết liên quan đến QTG. Tuy nhiên, giáo trình vẫn đi sâu vào
để nghiên cứu và tìm hiểu nhiều khía cạnh của vấn đề ngoại lệ và giới hạn của QTG.
- Về luận văn, luận án:
+ Hồ Bảo (2022), Ngoại lệ của quyền tác giả đối với việc sử dụng tác phẩm
nhằm mục đích học tập, Luận văn thạc sĩ, trường đại học Luật thành phố Hồ Chí
Minh: Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về những vấn đề cơ bản và thực
trạng pháp luật về ngoại lệ của QTG đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích
học tập. Luận văn có các điểm mới, các đóng góp mới về mặt lý luận trong việc xác
định cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam về ngoại lệ và thiên hướng cho phép sử
dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập trong pháp luật về QTG từ trước đến nay.
Đồng thời, Luận văn phân tích các yếu tố trong từng trường hợp ngoại lệ QTG đối
với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập và chỉ ra các bất cập cùng với việc

đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật.
+ Võ Trung Hậu (2020), Pháp luật về bảo hộ quyền tác giả trong môi trường
internet, Luận án, trường đại học Kinh tế - Luật thành phố Hồ Chí Minh: Luận án
nghiên cứu thực trạng pháp luật về việc bảo hộ QTG trong môi trường Internet và
đưa ra các giải pháp pháp lý phù hợp trong bối cảnh Việt Nam đã không ngừng nỗ
lực sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về QTG nhằm đáp ứng những
thách thức của môi trường Internet cũng như để phù hợp với thông lệ quốc tế.
+ Nguyễn Thanh Hải (2022), Nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa
tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả và cơng chúng, Khố luận tốt nghiệp, trường Đại
học Luật thành phố Hồ Chí Minh: Khố luận trình bày những vấn đề chung về nguyên
tắc cân bằng đối trọng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu QTG và công chúng, là nguyên
tắc cơ bản cho việc áp dụng các ngoại lệ và giới hạn của QTG. Thực trạng quy định
pháp luật và đề xuất hoàn thiện pháp luật.
- Về bài báo, tạp chí:
+ Lê Thị Nam Giang (2009), Nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu trí
tuệ và lợi ích của xã hội, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, Số 2(59)/2009: Trong
khuôn khổ bài viết, tác giả đã tập trung vào phân tích các nội dung cơ bản của nguyên
tắc cân bằng lợi ích của chủ SHTT và lợi ích của xã hội và những thách thức đối với
hệ thống SHTT của Việt Nam trong việc thực hiện nguyên tắc.
+ Trần Linh Huân, Nguyễn Mậu Thương, Hoàn thiện quy định của Dự thảo
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT về các trường hợp ngoại lệ không
xâm phạm QTG, giới hạn QTG, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Viện nghiên cứu Lập

5


pháp, Số 21 (445)/2021: Để khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật SHTT hiện
hành, Chính phủ trình Quốc hội Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
SHTT cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong phạm vi bài viết này, các tác giả
phân tích và đưa ra kiến nghị hồn thiện quy định của Dự thảo Luật (lần 3) về các

quy định liên quan đến trường hợp ngoại lệ không xâm phạm QTG, giới hạn QTG.
- Về tài liệu nước ngoài:
+ Copyright Law of the United States 1976, including all amendments enacted
by Congress through October 17, 2022 (Luật Bản Quyền Hoa Kỳ năm 1976, sửa đổi,
bổ sung năm 2022): Luật bản quyền Hoa Kỳ là một trong những đạo luật chính của
đất nước này nhằm bảo hộ đối tượng bản quyền với những chủ thể hợp lệ. Các khái
niệm pháp lý về vấn đề này ở Luật bản quyền của Hoa Kỳ sẽ có những điểm sự khác
biệt cơ bản so với Luật SHTT Việt Nam. Trên cơ sở so sánh pháp luật hai nước sẽ có
những kinh nghiệm, quy định mà Việt Nam cần học hỏi thêm.
+ Copyright Law of the PRC (2021 Version) (Luật Bản quyền Cộng hoà nhân
dân Trung Hoa năm 1991, sửa đổi, bổ sung năm 2021): Luật này được xây dựng theo
quy định của Hiến pháp nhằm bảo vệ QTG của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa
học và các quyền liên quan đến QTG, khuyến khích việc sáng tạo và phổ biến tác
phẩm có lợi cho việc xây dựng một nền văn hóa theo tinh thần xã hội chủ nghĩa và
văn hóa vật chất, đồng thời khuyến khích sự phát triển và hưng thịnh của nền văn hóa
xã hội chủ nghĩa và các nỗ lực khoa học.
+ The Canadian Copyright Act 1921 (Đạo luật bản quyền Canada năm 1921,
sửa đổi bổ sung năm 2012): Mục đích của Đạo luật này là bảo vệ quyền của tác giả
và các quyền liên quan của họ và thúc đẩy việc sử dụng hợp lý các tác phẩm nhằm
góp phần cải thiện và phát triển văn hóa và các ngành liên quan.
- Về văn bản pháp luật: Cơ sở pháp lý cho các nội dung của khoá luận ngoại
lệ và giới hạn của QTG trong Luật SHTT 2009, sửa đổi, bổ sung năm 2022; Nghị
định 17/2023; Nghị định 22/2018... cũng như so sánh đối chiếu với các quy định
tương ứng trong các bộ luật, luật cũ của Việt Nam. Ngoài ra, tác giả cũng tiến hành
nghiên cứu các quy định liên quan đến ngoại lệ và giới hạn của QTG trong các văn
bản pháp luật nước ngoài nhằm học hỏi kinh nghiệm cho pháp luật Việt Nam.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Qua đề tài này, tác giả muốn góp phần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc
quy định các ngoại lệ và giới hạn của QTG để cân bằng mối quan hệ giữa chủ thể


6


QTG và cộng đồng khi họ cùng tham gia vào các hoạt động sáng tạo và tiếp thu tri
thức của xã hội. Trên cơ sở phân tích và làm rõ khái niệm ngoại lệ và giới hạn của
QTG, bài viết góp phần giải quyết một cách thoả đáng những vấn đề mang tính lý
luận. Đồng thời, nghiên cứu đề tài cịn giúp tìm ra những khuyết điểm, những điểm
bất cập cần sửa đổi của pháp luật để phù hợp với đời sống văn hoá xã hội và thực tiễn
khách quan. Ngồi ra, đề tài cịn tìm hiểu nghiên cứu pháp luật của các nước trên thế
giới về nội dung liên quan, từ đó đúc kết những bài học thiết thực để cải thiện các
quy định còn chưa chặt chẽ của pháp luật Việt Nam, đi đến những đề xuất, chỉnh lý
phù hợp để hệ thống pháp luật ngày càng được hồn thiện. Các kết quả nghiên cứu
của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích cho những người nghiên cứu, học tập
về vấn đề bảo hộ QTG nói chung và vấn đề ngoại lệ và giới hạn QTG nói riêng.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phầ n mở đầ u, kế t luâ ̣n, danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo, đề tài gồ m 3
chương:
Chương 1: Khái quát chung về ngoại lệ và giới hạn quyền tác giả
Chương 2: Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về ngoại lệ và
giới hạn quyền tác giả
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về ngoại lệ và giới hạn quyền tác
giả.

7


CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGOẠI LỆ VÀ GIỚI HẠN QUYỀN
1.1.

TÁC GIẢ

Khái niệm ngoại lệ và giới hạn quyền tác giả

1.1.1. Khái niệm ngoại lệ quyền tác giả
Theo Từ điển Tiếng Việt, ngoại lệ (exception) là “cái nằm ngoài cái chung2”.
Xét ở góc độ pháp lý, ngoại lệ được sử dụng để chỉ những trường hợp không áp dụng
quy tắc chung được đặt ra trong quy định khi gặp một hoặc một số điều kiện, hồn
cảnh, tình huống nhất định3. Trong Luật SHTT năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm
2009, 2019 và 2022)4, pháp luật đã quy định các tổ chức, cá nhân khi khai thác, sử
dụng một, một số hoặc toàn bộ các QTG trong thời hạn bảo hộ phải được sự cho phép
của tác giả, chủ sở hữu QTG và trả tiền bản quyền, các quyền lợi vật chất khác (nếu
có) cho chủ sở hữu QTG5. Việc quy định như trên đã tạo ra một sự cơng nhận về
quyền độc quyền của QTG, đó là tác giả, chủ sở hữu của tác phẩm được quyền độc
quyền khai thác lợi ích vật chất từ tác phẩm đó và khơng ai có thể khai thác chúng
khi khơng được tác giả, chủ sở hữu cho phép. Tuy nhiên, việc bảo hộ sự độc quyền
đó một cách quá mức có thể dẫn đến việc lạm dụng nó, khi QTG được bảo hộ một
cách tuyệt đối sẽ gây ra sự mất cân bằng giữa QTG và quyền lợi của cộng đồng. Như
vậy sẽ làm kìm hãm sự phát triển của xã hội. Trên phương diện pháp lý, ngoại lệ của
QTG có thể được hiểu như một nghĩa vụ của tác giả đối với xã hội, quốc gia, tác giả
cần phải tôn trọng những lợi ích cơ bản khác. Vì vậy, để đảm bảo sự cân bằng giữa
các chủ thể trên, bảo đảm hoạt động khai thác giá trị của tác phẩm được cân bằng
trong xã hội, pháp luật cần có những quy định để giới hạn lại quyền độc quyền của
QTG. Chính vì thế mà ngoại lệ của QTG ra đời.
Trước khi Luật SHTT được tiến hành sửa đổi bổ sung vào năm 2022, vẫn chưa
có một khái niệm thống nhất ở cấp độ quốc gia về việc sử dụng thuật ngữ ngoại lệ
hay giới hạn QTG. Một số học giả cho rằng “ngoại lệ” có nghĩa là sử dụng miễn phí
trong khi “giới hạn” bao gồm việc sử dụng miễn phí và cho phép khai thác tác phẩm
theo quy định pháp luật hoặc thu hẹp phạm vi6. Một số tác giả khác trong các bài
nghiên cứu khoa học, cơng trình pháp lý lại cho rằng ngoại lệ và giới hạn đều là từ
Hoàng Phê (chủ biên) (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Hồng Đức, tr. 683
Trần Thị Thu Phương (2014), Bàn về ngoại lệ của quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí

Khoa học pháp lý, số 02(81), tr.60
4
Sau đây gọi tắt là Luật SHTT sửa đổi, bổ sung 2022
5
Khoản 2 Điều 20 Luật SHTT 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 và 2022
6
Võ Trung Hậu (2020), Pháp luật về bảo hộ QTG trong môi trường internet, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học
Kinh tế - Luật thành phố Hồ Chí Minh, tr.46
2
3

8


đồng nghĩa và mang ý nghĩa như nhau. Chính vì vậy, trong q trình nghiên cứu,
chúng ta có thể thấy việc các nhà nghiên cứu sử dụng linh hoạt hai từ giới hạn và
ngoại lệ để cùng hướng tới một vấn đề nào đó. Tuy nhiên, trong Luật SHTT sửa đổi,
bổ sung năm 2022, các nhà làm luật đã thống nhất tách bạch rõ ràng hai thuật ngữ
“ngoại lệ” và “giới hạn” thành hai trường hợp riêng biệt. Những lý luận về giới hạn
QTG sẽ được tác giả làm rõ ở mục sau.
Ngoại lệ của QTG (exceptions to copyright) chỉ những trường hợp đặc thù mà
ở đó, người khác được sử dụng tác phẩm mà không cần phải quan tâm đến ý chí của
tác giả có đồng ý với việc sử dụng đó hay khơng7. Có nghĩa là khơng phải lúc nào
mọi người cũng phải xin phép và trả tiền thù lao, tiền bản quyền khi sử dụng tác
phẩm, mà sẽ có những ngoại lệ được pháp luật của các quốc gia quy định rõ ràng.
Các quy định về ngoại lệ của QTG giúp xác định những trường hợp nào quyền của
chủ sở hữu QTG bị thu hẹp, hạn chế và chủ sở hữu phải chấp nhận điều này. Trong
Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật, có hai trường hợp tại Điều
10 được hiểu là sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền và tại
Điều 11 được hiểu là sử dụng tác phẩm không phải xin phép nhưng phải trả tiền bản

quyền. Công ước cho phép luật pháp Quốc gia thành viên Liên hiệp và những Hiệp
định đặc biệt đã có sẵn hay sẽ ký kết giữa các Quốc gia này có thẩm quyền nội luật
hố quy định pháp luật quốc gia cho phù hợp với thông lệ đúng đắn. Trong Luật
SHTT 2005, trước khi sửa đổi, bổ sung năm 2022, các nhà lập pháp Việt Nam không
quy định thuật ngữ “ngoại lệ của QTG”, mà đưa ra quy định cụ thể với tên gọi “các
trường hợp sử dụng tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù
lao”. Sau lần sửa đổi năm 2022 – lần sửa đổi gần đây nhất, Luật SHTT chính thức
quy định về “các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm QTG” tại Điều 25 và mở rộng
thêm “các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm QTG dành cho người khuyết tật” tại
Điều 25a.
Trước bối cảnh mới với nhiều chuyển biến mạnh mẽ tác động đến mọi mặt của
kinh tế - xã hội trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và tham gia nhiều
Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới của Việt Nam hiện nay, việc sửa đổi, bổ sung
thêm quy định như trên là hoàn toàn hợp lý và thiết thực. Điều này sẽ giúp pháp luật
Việt Nam phù hợp với các hiệp định song phương cũng như đa phương mà nước ta

Hồ Bảo (2022), Ngoại lệ của QTG đối với việc sử dụng tác phẩm nhằm mục đích học tập, Luận văn thạc sĩ,
Trường đại học Luật TPHCM, tr. 7
7

9


tham gia, bảo vệ, dung hồ được lợi ích giữa các nhóm chủ thể và thúc đẩy q trình
sáng tạo.
Theo quy định của Luật SHTT, các quy định về ngoại lệ của QTG không đặt
ra đối với tất cả các tác phẩm mà chỉ đặt ra khi tác phẩm và các cá nhân, tổ chức sử
dụng tác phẩm đó đáp ứng được tất cả các điều kiện sau:
Một là, các trường hợp ngoại lệ chỉ áp dụng cho tác phẩm đã công bố. Theo
khoản 8 Điều 3 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày

26/04/2023 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật SHTT về QTG,
quyền liên quan, tác phẩm đã được công bố là tác phẩm được phát hành với sự đồng
ý của chủ sở hữu QTG, chủ sở hữu quyền liên quan bản sao tác phẩm, cuộc biểu diễn
đã định hình, bản ghi âm, ghi hình dưới bất kỳ hình thức nào với số lượng hợp lý đủ
để công chúng tiếp cận được tùy theo bản chất của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi
âm, ghi hình.
Hai là, việc sử dụng tác phẩm thuộc một trong các trường hợp nêu trên khơng
được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và không gây thiệt hại một
cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu QTG.
Ba là, phải thông tin về tác giả và nguồn gốc xuất xứ tác phẩm.
Bốn là, không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm mỹ thuật, chương
trình máy tính; việc làm tuyển tập, hợp tuyển các tác phẩm.
1.1.2. Khái niệm giới hạn quyền tác giả
Giới hạn có nhiều cách hiểu, theo định nghĩa giới hạn với từ loại danh từ là
“phạm vi, mức độ nhất định, không thể hoặc không được phép vượt qua” hoặc theo
từ loại động từ là “quy định một giới hạn”, chẳng hạn giới hạn vấn đề nghiên cứu8.
Trước đó, các nhà nghiên cứu hay sử dụng thuật ngữ “hạn chế quyền”. Hạn chế là
“giữ lại, ngăn lại trong một giới hạn nhất định, không để cho vượt qua9”. Qua đây
cho thấy, tuy có những điểm khác nhau về sắc thái nghĩa nhưng giữa giới hạn với hạn
chế lại có những nét gần gũi, giao thoa hay lồng ghép vào nhau, trong giới hạn có sự
hạn chế với một phạm vi, mức độ nhất định và khi hạn chế điều gì đó thì bao giờ cũng
chỉ có ý nghĩa trong một giới hạn nhất định, tức là phải vạch ra được ranh giới của
nó10. Chính vì thế, trong q trình tiếp cận, chúng ta có thể thấy việc các tác giả linh
Hồng Phê (chủ biên) (2003), tlđd (2), tr. 405.
Hoàng Phê (chủ biên) (2003), tlđd (2), tr. 420.
10
Trần Thái Dương (2018), Nguyên tắc giới hạn quyền trong các bản Hiến pháp Việt Nam,
/>ml, truy cập ngày 10/03/2023.
8
9


10


hoạt sử dụng qua lại hai từ giới hạn và hạn chế. Tuy nhiên, kể từ Luật SHTT sửa đổi
bổ sung năm 2022, các nhà lập pháp đã chính thức thống nhất sử dụng thuật ngữ “giới
hạn QTG”.
Về nguyên tắc chung, tác giả là chủ thể được độc quyền sử dụng và định đoạt
tác phẩm của mình. Tuy nhiên, sự độc quyền đó khơng mang tính tuyệt đối mà bị giới
hạn trong một số trường hợp nhất định. Giới hạn QTG có thể hiểu là việc hạn chế
một số quyền và lợi ích nhất định của tác giả trong một số trường hợp nhất định. Điều
13 Hiệp định TRIPS đã tiếp thu trực tiếp từ cách quy định về “phép thử ba bước”
trong Điều 9.2 của Công ước Berne. “Phép thử ba bước” có thể hiểu là những điều
kiện để đảm bảo trường hợp giới hạn QTG phù hợp với nguyên tắc cân bằng lợi ích
giữa tác giả, chủ sở hữu QTG và lợi ích của cộng đồng. Theo đó, các tác phẩm có thể
được sử dụng tự do với những giới hạn trong một số trường hợp nhất định do các
quốc gia thành viên quy định theo pháp luật của quốc gia đó. Tuy nhiên trong trường
hợp này QTG vẫn được bảo vệ vì người sử dụng phải ghi rõ nguồn gốc tác phẩm và
tên tác giả, không mâu thuẫn với việc khai thác bình thường một tác phẩm và không
làm tổn hại một cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu.
Trước đó, Luật SHTT 2005 không đề cập đến vấn đề “giới hạn QTG”, mà quy
định Điều 26 với tiêu đề là “các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải
xin phép, phải trả tiền nhuận bút, thù lao”. Đến năm 2022, trải qua kỳ sửa đổi, bổ
sung mới nhất, Luật SHTT mới chính thức ghi nhận thuật ngữ “Giới hạn QTG” tại
Điều 26 với quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin
phép nhưng phải trả tiền bản quyền, phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất
xứ của tác phẩm. Khác với ngoại lệ, giới hạn QTG là những trường hợp sử dụng tác
phẩm không cần xin phép, nhưng phải trả tiền bản quyền. Bởi vì xuất phát từ nhu cầu
tiếp cận tác phẩm của đông đảo quần chúng, việc truyền tải thơng tin qua các kênh
truyền hình, chương trình phát sóng mang tính đại chúng cao nên có thể phục vụ cho

số lượng lớn cộng đồng, vì vậy nếu quy định phải có sự cho phép của tác giả, chủ sở
hữu sẽ gây rào cản cho việc tiếp cận thơng tin của mọi người. Đồng thời, khi phát
sóng những tác phẩm trên, có thể sẽ có sự tài trợ, quảng cáo, và nhà phát sóng, tổ
chức, cá nhân có thể thu được một số tiền lợi nhuận. Chính vì vậy, việc trả tiền nhuận
bút, thù lao cho tác giả, chủ sở hữu là thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ cơng sức sáng
tạo của các chủ thể đó.

11


Tương tự như việc sử dụng các tác phẩm không cần xin phép, khơng cần trả
tiền bản quyền, thì việc sử dụng các tác phẩm không phải xin phép nhưng phải trả
tiền bản quyền cũng phải đáp ứng được tất cả các điều kiện sau:
Một là, các trường hợp giới hạn chỉ áp dụng cho tác phẩm đã công bố. Theo
khoản 8 Điều 3 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày
63/04/2023 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật SHTT về QTG,
quyền liên quan, công bố tác phẩm, cuộc biểu diễn đã định hình, bản ghi âm, ghi hình
là việc phát hành với sự đồng ý của chủ sở hữu QTG, chủ sở hữu quyền liên quan bản
sao tác phẩm, cuộc biểu diễn đã định hình, bản ghi âm, ghi hình dưới bất kỳ hình thức
nào với số lượng hợp lý đủ để công chúng tiếp cận được tùy theo bản chất của tác
phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình.
Hai là, việc sử dụng tác phẩm thuộc một trong các trường hợp nêu trên không
được mâu thuẫn với việc khai thác bình thường tác phẩm và khơng gây thiệt hại một
cách bất hợp lý đến lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu QTG.
Ba là, phải thông tin về tác giả và nguồn gốc xuất xứ tác phẩm.
Bốn là, không áp dụng đối với tác phẩm điện ảnh.
1.2. Cơ sở lý luận của quy định về các trường hợp ngoại lệ và giới hạn quyền
tác giả
Cơ sở lý luận của các quy định hạn chế quyền của chủ sở hữu QTG là trên cơ
sở áp dụng học thuyết về cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu QTG và công chúng – “sự

cân bằng dựa trên sự đánh đổi một lợi ích tương đương”11. Đây là một trong những
nguyên tắc cơ bản của hệ thống SHTT. Về cơ sở lý luận, nguyên tắc cân bằng lợi ích
giữa chủ sở hữu QTG và công chúng xuất phát từ lý thuyết “The fairness theory of
copyright” (lý thuyết về “công bằng QTG”) và lý thuyết The welfare theory of
copyright (lý thuyết về “phúc lợi QTG”)12. Trong khi lý thuyết công bằng QTG đề
cao luật pháp nên cung cấp cho tác giả những gì họ xứng đáng thì lý thuyết phúc lợi
QTG lại chú trọng thúc đẩy lợi ích của xã hội. Chính sự tác động qua lại và bổ sung
lẫn nhau giữa hai lý thuyết này đã góp phần làm hình thành nên nguyên tắc “cân bằng
về lợi ích của tác giả, chủ sở hữu và cộng đồng”.
Nguyên tắc này được thể hiện xun suốt tồn bộ q trình bảo hộ từ xác lập
quyền, duy trì quyền cho đến việc bảo vệ quyền SHTT. Khi chúng ta nhắc đến cụm
Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ, Nxb. Cơng an nhân dân, Hà Nội, tr.19.
Nguyễn Thanh Hãi (2022), Nguyên tắc cân bằng đối trọng về lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
và cơng chúng, Khố luận tốt nghiệp, trường Đại học Luật TPHCM, tr. 29
11
12

12


từ “cân bằng về lợi ích” giữa hai đối tượng nào đó thì chúng ta có thể hiểu các bên sẽ
được hưởng những lợi ích nhất định khi tác động qua lại lẫn nhau và lợi ích đó sẽ
chịu sự kiểm sốt nhất định để chúng ln trong trạng thái cân bằng, không bên nào
sẽ được lấn át quá nhiều và cũng không bên nào sẽ bị lấn át đáng kể. Từ đây, ta có
thể hiểu “cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu QTG và công chúng” là việc mà
tác giả, chủ sở hữu QTG sẽ được hưởng những lợi ích nhất định thơng qua việc thực
hiện các quyền lên một tác phẩm nào đó và lợi ích của hai bên sẽ có sự kiềm chế, tác
động lẫn nhau để hai nhóm đối tượng này ln trong trạng thái cân bằng, ổn định,
khơng bên nào có lợi ích vượt trội hơn bên nào.
Khi xã hội ngày càng phát triển thì giá trị của những tác phẩm ngày càng được

đòi hỏi cao hơn, pháp luật đứng trước bài tốn phải làm như thế nào để vừa bảo vệ
tính vẹn toàn của QTG trước nguy cơ bị xâm phạm bởi tốc độ số hố cùng các tội
phạm cơng nghệ cao, đồng thời phải có giải pháp để giúp cơng chúng được tiếp cận
và khai thác để quảng bá sản phẩm rộng rãi hơn. Rõ ràng có thể thấy, các sản phẩm
được tạo nên từ sự sáng tạo của trí óc, sự đầu tư chất xám và lao động miệt mài thì
phải bỏ ra một khoản chi phí thích đáng để nắm giữ quyền sở hữu. Do vậy, bảo hộ
QTG sẽ đảm bảo được một cộng đồng SHTT an toàn cho các chủ thể của quyền, kích
thích sự sáng tạo, từ đó thúc đẩy nền kinh tế tri thức phát triển. Tuy nhiên, nếu cứ
chăm chăm bảo vệ quyền lợi của tác giả và chủ sở hữu thì vơ tình sẽ tạo ra sự lạm
dụng độc QTG. Việc các tác giả hoặc chủ sở hữu sẽ lợi dụng những quyền lợi được
pháp luật bảo vệ của mình một cách quá mức sẽ dẫn đến việc các chủ thể khác trong
cộng đồng khó tiếp cận được tác phẩm. Giả sử chủ thể độc quyền này tăng giá thành
sản phẩm lên cao, khiến cho người tiêu dùng phải trả một số tiền rất lớn mới có thể
tiếp cận được tác phẩm mà đơi lúc số tiền bỏ ra cịn cao hơn lợi nhuận mà họ thu về
từ việc khai thác tác phẩm đó. Điều này sẽ làm cho người tiêu dùng bị thiệt thịi rất
nhiều, vơ hình dung làm cho q trình trao đổi giao dịch giữa hai nhóm chủ thể trên
gặp nhiều trở ngại khó khăn. Và khi mà cơng chúng khơng có khả năng tiếp cận các
tác phẩm trí tuệ vơ hình dung đã xâm phạm vào những ngun tắc về quyền con người
cơ bản, khi con người không chỉ có quyền sống, quyền tự do, mà họ cịn có quyền
tiếp cận tri thức nhân loại. Lợi ích giữa tác giả và xã hội lúc này sẽ có những mâu
thuẫn nhất định.
Chính vì vậy mà ngun tắc “cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu QTG và công
chúng” ra đời. Bản chất của nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu tác
phẩm và lợi ích xã hội là sự dung hoà quyền lợi giữa các bên nhằm tạo ra điều kiện

13


tồn tại và phát triển cho chính các bên. Mỗi bên sẽ phải hy sinh một phần quyền lợi
của mình để hướng tới lợi ích chung lớn hơn, mà sâu xa hơn chính là tạo ra một xã

hội phát triển bền vững, cơng bằng và bình đẳng. Qua đó, các chủ thể của QTG có
thể sáng tạo nên tác phẩm của mình và cơng chúng cũng có thể tiếp cận, khai thác
chúng một cách dễ dàng hơn, đồng thời các chủ thể QTG cũng có được những quyền
lợi nhất định để bảo vệ sản phẩm của mình và những quyền lợi đó khơng ảnh hưởng
q mức đến quyền được tiếp cận tác phẩm của cộng đồng.
Tóm lại, nguyên tắc trên khơng chỉ nhằm cân bằng quyền và lợi ích của các
chủ thể mà cịn góp phần làm hạn chế hành vi xâm phạm QTG đang diễn ra ngày
càng nhiều hiện nay. Các nội dung của nguyên tắc khi được quy định cụ thể trong
pháp luật quốc gia sẽ được các chủ thể QTG và cộng đồng phải tuân theo, quyền lợi
của các bên được bảo đảm một cách ổn thoả nhất, tránh sự mâu thuẫn và xung đột lẫn
nhau. Từ đó, để các tác giả có thể yên tâm sáng tạo và hưởng lợi ích từ đứa con tinh
thần mà mình tạo ra, đồng thời cơng chúng cũng sẽ có cơ hội tiếp cận, thưởng thức
tác phẩm. Qua đó, xây dựng nên một xã hội công bằng, văn minh và phát triển.
1.3. Sự hình thành và phát triển của quy định về ngoại lệ và giới hạn quyền tác
giả
So với các nước trên thế giới, các quy định đầu tiên của văn bản luật về ngoại
lệ và giới hạn QTG ở nước ta được quy định khá muộn. Nguyên nhân có thể nói đến
do trải qua nhiều cuộc kháng chiến kéo dài liên miên và cần phải có q trình phục
hồi ổn định, xây dựng đất nước. Chính vì thế mà việc tiếp cận đến quyền SHTT nói
chung và QTG nói riêng có phần chậm trễ hơn so với các quốc gia đã phát triển về
ngành luật này từ lâu. Ở Anh, năm 1710, nữ hoàng Anh đã ban hành đạo luật Anne
(statue of Anne) trong đó ghi nhận sự độc quyền sao chép của tác giả. Đạo luật này
được xem là đạo luật đầu tiên trên thế giới về QTG.
Một dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển QTG đó là vào năm 1886
Cơng ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật đã ra đời tại Thụy Sỹ. Sau
nhiều lần sửa đổi, Công ước Berne hiện nay đã đưa ra các quy định đạt mức hài hòa
cao dựa trên nguyên tắc đối xử quốc gia kết hợp với những quy định về mức độ bảo
hộ tối thiểu. Công ước Berne cũng là điều ước quốc tế đa phương đầu tiên ghi nhận
các trường hợp nhất định mà pháp luật quốc gia thành viên có quyền quy định như
sao chép, trích dẫn, in lại, phát sóng lại, … 13. Các trường hợp ngoại lệ QTG trong

13

Lê Thị Nam Giang (2009), Nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ SHTT và lợi ích của xã hội, Tạp chí Khoa
học pháp lý Việt Nam, 2(59), tr. 27.

14


Cơng ước Berne chính là quyền “sử dụng tự do”, thường được gọi là học thuyết “phép
thử ba bước”14. Theo đó, nội dung về “phép thử ba bước” được quy định như sau:
Thứ nhất, việc ban hành một số trường hợp nhất định sử dụng tác phẩm không
phải xin phép QTG sẽ do pháp luật của quốc gia đó quy định chi tiết nhưng chỉ trong
một vài trường hợp đặc biệt;
Thứ hai, việc quy định đó khơng xung đột với việc khai thác bình thường tác
phẩm;
Thứ ba, việc quy định đó khơng được gây thiệt hại một cách bất hợp lý đến lợi
ích hợp pháp của chủ sở hữu QTG.
Ở Việt Nam, việc bảo hộ QTG lần đầu tiên được chính thức ghi nhận tại một
văn bản pháp lý riêng biệt đó là Nghị định 142/HĐBT về QTG ban hành vào ngày
14/11/1986. Sau đó, việc quy định có liên quan đến ngoại lệ và giới hạn của QTG lần
đầu tiên có thể thấy trong Pháp lệnh bảo hộ QTG năm 1994. Trong Điều 16, tuy
không đề cập đến ngoại lệ hay giới hạn của QTG, nhưng quy định cho phép cá nhân,
tổ chức được sử dụng tác phẩm nếu không nhằm mục đích kinh doanh, khơng làm
ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm và khơng xâm hại đến các quyền
lợi khác của tác giả thì khơng phải xin phép tác giả hoặc chủ sở hữu QTG, không phải
trả thù lao cho họ, nhưng phải ghi hoặc nhắc đến tên tác giả và nguồn gốc tác phẩm.
Đến Bộ luật Dân sự 1995 có một phần riêng cho các quy định về quyền SHTT và
chuyển giao công nghệ. Trong đó, ngoại lệ QTG được quy định tại điều 760 với tên
gọi “giới hạn QTG” và điều 761 “các hình thức sử dụng tác phẩm không phải xin
phép, không phải trả thù lao”. Tương tự, Bộ luật dân sự 1995 khơng có điều khoản

quy định cụ thể về việc sử dụng tác phẩm không phải xin phép nhưng phải trả tiền
nhuận bút thù lao. Tuy nhiên từ các quy định về nghĩa vụ của người biểu diễn, nghĩa
vụ của tổ chức sản xuất băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình, nghĩa vụ
của tổ chức phát thanh, truyền hình lần lượt tại các Điều 774, Điều 776 và Điều 778,
ta thấy luật đã có bước đầu quy định về giới hạn của QTG. Cụ thể, việc quy định phải
xin phép và trả nhuận bút cho tác giả hoặc chủ sở hữu tác phẩm, nếu sử dụng tác
phẩm chưa cơng bố, vậy có thể hiểu khi sử dụng tác phẩm đã cơng bố thì khơng phải
xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao. Có thể thấy, dù những quy định trên
vẫn còn nhiều điểm bất cập, nhưng tại thời điểm đó, từ những văn bản quy phạm pháp

14

Phạm Hoàng Phúc (2022), Pháp luật về ngoại lệ QTG qua sao chép, trích dẫn và gợi ý cho Việt Nam,
HCMCOUJS-Kỷ yếu, Trường Đại học Mở TPHCM, 17(2), tr. 61.

15


luật đầu tiên quy định về SHTT, các nhà làm luật đã có định hướng cho những trường
hợp ngoại lệ và giới hạn QTG. Điều đó đã cho chúng ta thấy sự quan tâm của các nhà
làm luật về việc cân bằng lợi ích giữa các chủ thể QTG và lợi ích cộng đồng, tạo cơ
hội cho cơng dân được tiếp cận tri thức một cách tốt nhất.
Vào thời điểm Việt Nam nộp đơn gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), hệ thống bảo hộ quyền SHTT của Việt Nam vận hành chủ yếu trên cơ sở các
văn bản quy phạm dưới luật, gồm Pháp lệnh Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (năm
1989) và Pháp lệnh Bảo hộ QTG (năm 1994). Để đáp ứng các yêu cầu về “tính đầy
đủ” và “tính hiệu quả” của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của
quyền SHTT (Hiệp định TRIPS của WTO) và các điều ước quốc tế song phương và
đa phương khác về SHTT, năm 2005 Việt Nam đã ban hành Luật SHTT, thay đổi
toàn bộ cấu trúc của hệ thống các văn bản pháp luật về SHTT của Việt Nam, chuyển

từ hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đơn hành với nhiều quy định cịn thiếu
tính thống nhất và đồng bộ thành một luật chuyên ngành thống nhất15. Luật SHTT
năm 2005 được Quốc hội Việt Nam khóa XI trong kỳ họp thứ 8 thơng qua ngày 29
tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2006, là luật quy định về
QTG, quyền liên quan đến QTG, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây
trồng và việc bảo hộ các quyền đó. Tại đây, tuy vẫn chưa sử dụng thuật ngữ “ngoại
lệ” hay “giới hạn”, nhưng các nhà lập pháp đã dành ra những quy định riêng thể hiện
qua Điều 25 về “Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép,
không phải trả tiền nhuận bút, thù lao” và Điều 26 về “Các trường hợp sử dụng tác
phẩm đã công bố không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao”. Trải
qua nhiều lần sửa đổi, qua các năm 2009, 2019 và mới đây nhất vào năm 2022 đã
chính thức ghi nhận quy định về ngoại lệ và giới hạn của QTG một các rõ ràng nhất.
Cụ thể, ngoại lệ của QTG được quy định tại Điều 25 “Các trường hợp ngoại lệ không
xâm phạm QTG” và Điều 25a “Các trường hợp ngoại lệ không xâm phạm QTG dành
cho người khuyết tật”; giới hạn của QTG được quy định tại Điều 26 “Giới hạn QTG”.
Như vậy, Luật SHTT Việt Nam đã trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung để phù
hợp với hoàn cảnh đất nước và thế giới hiện nay. Điều đó cho ta thấy dù xuất hiện

Nâng cao hiệu quả của hoạt động SHTT để đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế,
truy cập ngày 10/03/2023.
15

16


sớm hay muộn thì lĩnh vực này vẫn nhận được sự quan tâm rất lớn của Nhà nước đối
với vấn đề SHTT nói chung, ngoại lệ và giới hạn của QTG nói riêng.
1.4. Ý nghĩa của các quy định về ngoại lệ và giới hạn quyền tác giả
Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo hộ quyền SHTT nói chung và bảo vệ QTG
nói riêng là mối quan tâm của các quốc gia trên thế giới. QTG là một trong những nội

dung quan trọng của quyền SHTT. Đối tượng bảo hộ của QTG là các sản phẩm sáng
tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới bất kì phương
tiện hay hình thức nào. Để tạo ra một tác phẩm, tác giả không chỉ tốn tiền bạc, vật
chất mà cịn mất rất nhiều cơng sức, chất xám. Một tác phẩm không thể tự nhiên xuất
hiện và việc sáng tác nó khơng phải chỉ một, hai ngày, mà cần phải có một q trình
lâu dài để hồn thành. Vì vậy, việc tác giả được ghi tên, được nhớ tên, được bảo vệ
sự vẹn toàn và được quyền khai thác tác phẩm của mình là những điều hồn tồn cần
thiết.
Tuy nhiên QTG nói riêng cũng như quyền SHTT nói chung sẽ không được
bảo hộ tuyệt đối mà sẽ bị giới hạn trong một số trường hợp nhất định. Các sản phẩm
sáng tạo là đối tượng của QTG và quyền liên quan được tạo ra nhằm phục vụ cho nhu
cầu văn hố, giải trí, thưởng thức nghệ thuật của xã hội. Một trong những quyền tự
nhiên của con người là được tiếp cận và kế thừa tri thức của nhân loại, hay nói cách
khác là quyền được hưởng những thành quả sáng tạo trong lĩnh vực văn hoá, nghệ
thuật. Tại Điều 27 Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người được Đại hội đồng Liên
Hợp quốc thông qua vào ngày 10/12/1948 đã ghi nhận: “Ai cũng có quyền tự do tham
gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, thưởng ngoạn nghệ thuật, được hưởng các
tiến bộ khoa học và lợi ích của những tiến bộ ấy”. Vì vậy, nếu không cho cộng đồng
cơ hội được tiếp thu khoa học kỹ thuật, vơ hình dung đã đi ngược lại với tuyên ngôn
về nhân quyền của con người cũng như không đạt được mục đích vốn có của việc bảo
hộ QTG chính là thúc đẩy làm giàu cho văn hố nước nhà.
Sự độc quyền của chủ sở hữu QTG có thể dẫn tới hạn chế khả năng tiếp cận
của công chúng đối với các kết quả sáng tạo, kìm hãm giao lưu dân sự liên quan đến
loại tài sản đặc biệt này. Nhằm cân bằng giữa một bên là lợi ích của chủ thể nắm giữ
QTG, quyền liên quan và bên kia là lợi ích cơng cộng, tạo điều kiện cho việc truyền
đạt, phổ biến tác phẩm, đối tượng của quyền liên quan, pháp luật quốc tế cũng như
luật pháp các quốc gia đều có những quy định về các ngoại lệ hay giới hạn đối với
một số hoạt động sử dụng, khai thác cụ thể. Việc quy định các ngoại lệ và giới hạn

17



QTG đem lại ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình bảo vệ và khai thác QTG,
nhằm hướng tới mục đích bảo vệ lợi ích cho cả hai bên để hướng tới xã hội tri thức.
Chúng ta có thể thấy, lợi ích của chủ sở hữu QTG và lợi ích của cộng đồng
ln có sự mâu thuẫn với nhau. Tuy nhiên sự mâu thuẫn này không triệt tiêu nhau
bởi vì các chủ thể trên đều có chung mục đích khai thác những lợi ích từ tác phẩm.
Vì vậy, việc ban hành quy định về ngoại lệ và giới hạn của QTG là thực sự cần thiết
và có ý nghĩa đối với các chủ thể trên.
Đối với tác giả, chủ sở hữu QTG: các sản phẩm do tác giả tạo ra có thể được
tiếp cận và quảng bá đến cơng chúng rộng rãi hơn, đó chính là một trong những mục
đích ban đầu khi tạo ra tác phẩm của bất kỳ tác giả nào. Việc hy sinh một phần lợi
ích đó sẽ được cơng chúng trân trọng và u q, từ đó cơng chúng sẽ sẵn sàng thực
hiện các u cầu mà pháp luật đặt ra. Mà qua đó, tác phẩm của tác giả cũng được
pháp luật bảo hộ.
Đối với cộng đồng: mọi người có cơ hội được tiếp cận, khai thác với những
sản phẩm, đặc biệt là những tác phẩm hay, có ý nghĩa to lớn đối với nhân loại, qua
đó đáp ứng được khả năng và nhu cầu tiếp thu tri thức của loài người. Đặc biệt, đối
với những quốc gia kém phát triển, quy định về ngoại lệ và giới hạn đã giúp cho họ
tiết kiệm được thời gian và tiền bạc cho việc phải xin phép hay trả tiền thù lao cho
tác phẩm, mà người dân ở những quốc gia đó cũng có điều kiện tiếp cận kiến thức
một cách rộng rãi và công bằng như bao người khác.
Đối với xã hội: khi quy định về ngoại lệ và giới hạn của QTG sẽ tạo ra một cơ
chế cân bằng giữa hai chủ thể trên. Qua đó khuyến khích các tác giả tự do sáng tạo,
phát huy khả năng của bản thân để phục vụ nước nhà, đồng thời tạo ra cơ chế hợp lý
cho người sử dụng khai thác tác phẩm. Khi đó quyền lợi của chủ thể QTG được bảo
vệ mà nhu cầu của người sử dụng cũng được đáp ứng. Từ đó, khuyến khích ngành
đầu tư cơng nghiệp QTG, góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước.

18



KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Vấn đề quy định những giới hạn và ngoại lệ của QTG tuy không phải là vấn
đề pháp lý mới mẻ nhưng trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển thì đây là một
vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm hiện nay. Do cuộc cách mạng công nghệ
ngày càng tác động đến nước ta trong thời gian gần đây, mà các văn bản pháp luật
vẫn còn hạn chế, chưa theo kịp với tốc độ phát triển của xã hội. Mặc dù nhiều cơng
trình nghiên cứu khoa học hướng đến mục tiêu khắc phục, đưa ra các giải pháp để
cân bằng quyền lợi giữa các chủ thể của quyền sở hữu tác giả và cộng đồng, nhưng
nhìn chung, vẫn chưa thật sự đi sâu và phân tích kỹ những mặt ngoại lệ và giới hạn
của QTG để đưa ra góc nhìn sâu sắc nhất. Đặc biệt, lĩnh vực SHTT cịn đóng vai trị
quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự trực tiếp đến sự phát triển của kinh tế, xã hội.
Bảo vệ QTG là góp phần bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực văn hoá, đảm bảo
nhu cầu được thưởng thức các tác phẩm văn học nghệ thuật của tất cả mọi người, làm
giàu đời sống tinh thần, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Trong chương này, tác giả
tập trung làm rõ các vấn đề pháp lý, cơ sở lý luận liên quan đến khái niệm và đặc
điểm của ngoại lệ và giới hạn của QTG. Từ đó, rút ra được các ý nghĩa khi cần thiết
phải có các quy định pháp luật, quy định về ngoại lệ và giới hạn QTG, với mục đích
cân bằng mối quan hệ giữa chủ sở hữu QTG và cộng đồng. Và qua đó, cũng sẽ làm
tiền đề cho việc đi vào phân tích các chương sau được sâu sắc, rõ ràng và dễ hiểu
hơn. Tiếp nối các vấn đề về lý luận của giới hạn và ngoại lệ của QTG, tác giả sẽ
nghiên cứu tiếp chương thứ 2 về vấn đề các quy định của pháp luật có liên quan đến
các trường hợp giới hạn và ngoại lệ của QTG.

19


×