BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN VĂN LÃM
KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
KHĨA LUẬN CHUN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người thực hiện: NGUYỄN VĂN LÃM
KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
Giảng viên hướng dẫn: ThS. NGUYỄN TRẦN BẢO UYÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 NĂM 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tơi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của tôi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Trần Bảo Uyên, đảm bảo
tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo.
Tơi hồn tồn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả
Nguyễn Văn Lãm
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
TỪ VIẾT ĐẦY ĐỦ
TỪ VIẾT TẮT
1
Bộ luật Tố tụng dân sự
BLTTDS
2
Bộ luật Dân sự (Luật số 91/2015/QH13)
ngày 24/11/2015
BLDS năm 2015
Bộ luật Tố tụng dân sự (Luật số
3
24/2004/QH11) ngày 16/6/2004; được
sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
dân sự (Luật số 65/2011/QH12) ngày
29/3/2011
BLTTDS năm 2004
Bộ luật Tố tụng dân sự (Luật số
4
5
6
7
8
92/2015/QH13) ngày 25/11/2015; được
sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2020
Bộ luật Lao động (Luật số
45/2019/QH14) ngày 20/11/2019
Luật Hơn nhân và gia đình (Luật số
52/2014/QH13) ngày 19/6/2014
Luật Đất đai (Luật số 45/2013/QH13)
ngày 29/11/2013
Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao ngày 05/5/2017 hướng dẫn một
số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều
192 Bộ luật Tố tụng dân sự số
BLTTDS năm 2015
BLLĐ năm 2019
Luật Hơn nhân và gia đình
năm 2014
Luật Đất đai năm 2013
Nghị quyết số 04/2017/NQHĐTP
92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện,
quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án
9
Vụ án dân sự
VADS
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
.....................................................................................................................................6
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự .........................6
1.1.1. Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự .............................................................6
1.1.2. Đặc điểm khởi kiện vụ án dân sự ..............................................................8
1.1.3. Ý nghĩa khởi kiện vụ án dân sự ...............................................................11
1.2. Cơ sở khoa học xây dựng pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự ..............13
1.2.1. Dựa vào nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể 13
1.2.2. Dựa vào nguyên tắc Nhà nước ghi nhận và đảm bảo thực hiện các quyền
con người về dân sự ..........................................................................................13
1.2.3. Dựa vào nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự ....14
1.2.4. Dựa vào nguyên tắc tuân thủ pháp luật ..................................................15
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của việc khởi kiện vụ án dân sự ....16
1.3.1. Tính thống nhất, phù hợp của các quy định pháp luật ...........................16
1.3.2. Trình độ hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật của chủ thể ..................16
1.3.3. Hoạt động hỗ trợ của luật sư, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khi khởi
kiện vụ án dân sự...............................................................................................17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................19
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ .........................................................................20
2.1. Điều kiện khởi kiện vụ án dân sự ...............................................................20
2.1.1. Điều kiện về chủ thể khởi kiện ................................................................20
2.1.2. Điều kiện về việc khởi kiện phải đúng thẩm quyền theo loại việc dân sự
của Tòa án .........................................................................................................26
2.1.3. Điều kiện về sự việc chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định của
Tịa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền đã có hiệu lực pháp luật .........................................................................28
2.1.4. Điều kiện tiền tố tụng ..............................................................................29
2.2. Phạm vi khởi kiện vụ án dân sự ..................................................................31
2.3. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện.............................................................32
2.4. Thủ tục gửi đơn khởi kiện đến Tòa án .......................................................34
2.5. Trả lại đơn khởi kiện và khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện
...............................................................................................................................36
2.5.1. Trả lại đơn khởi kiện ...............................................................................36
2.5.2. Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn
khởi kiện ............................................................................................................38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................39
CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ ...................................40
3.1. Về chủ thể khởi kiện là tổ chức khơng có tư cách pháp nhân .................40
3.2. Về ủy quyền trong khởi kiện vụ án dân sự ................................................45
3.3. Về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án .................................48
3.4. Về sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tịa án đã có
hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã
có hiệu lực pháp luật ...........................................................................................51
3.5. Về thủ tục giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện .55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ........................................................................................59
KẾT LUẬN ..............................................................................................................60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ dân sự cũng được mở
rộng với tính chất đa dạng và phức tạp hơn. Từ đó, đặt ra các quy định về việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội. Một trong những phương
thức hiệu quả để các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình là thơng qua con đường khởi kiện.
Tại Việt Nam, khởi kiện vụ án dân sự được xem là hành vi tố tụng đầu tiên để
khởi động quá trình tố tụng tại Tòa án và đã được quy định trong các văn bản pháp
luật từ khá sớm. Trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được ban hành, vấn đề
khởi kiện vụ án dân sự được quy định trong ba pháp lệnh về thủ tục tố tụng, bao gồm:
Pháp lệnh của Hội đồng nhà nước số 27/LCT-HĐNN8 ngày 07/12/1989 về thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày
16/3/1994 về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội số 48/CTN ngày 01/01/1996 về thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động.
Kế thừa ba Pháp lệnh trên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 là văn bản quy định đầy
đủ, khắc phục được những hạn chế và thiếu sót của hoạt động tố tụng trong các giai
đoạn trước đó, đặc biệt là trong hoạt động khởi kiện vụ án dân sự. Sau một thời gian
thi hành cho thấy Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 còn tồn tại nhiều bất cập. Để khắc
phục tình trạng này, ngày 29/03/2011 Quốc hội khố XII đã thơng qua Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 nhằm giải quyết những
vấn đề phát sinh từ thực tiễn thi hành.
Đến năm 2015, để nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ việc dân sự, phục vụ
công cuộc xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế, ngày 25/11/2015 Quốc hội đã
thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày
25/11/2015 về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn giải
quyết các vụ án dân sự tại Tòa án vẫn còn gặp những vướng mắc, bất cập trong việc
xác định các vấn đề như chủ thể khởi kiện là tổ chức khơng có tư cách pháp nhân,
việc ủy quyền trong khởi kiện vụ án dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của
Tòa án, thủ tục giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện… Vấn đề
này cũng dẫn tới các Tịa án có nhiều ý kiến khác nhau trong việc giải thích và áp
dụng pháp luật, không đảm bảo được quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2
Từ những lý do trên, tác giả chọn thực hiện Khóa luận: “Khởi kiện vụ án dân sự”
nhằm phân tích, luận giải các quy định của pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự. Bên
cạnh đó, việc nghiên cứu các bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế là cơ sở để
tác giả đưa ra một số bất cập, vướng mắc và gợi mở, kiến nghị hoàn thiện pháp luật
về khởi kiện vụ án dân sự nhằm đảm bảo việc khởi kiện được thực hiện hiệu quả.
2. Tình hình nghiên cứu
Qua tìm hiểu một số vấn đề về khởi kiện vụ án dân sự, tác giả nhận thấy có
một số cơng trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Khóa luận, cụ thể như sau:
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng
dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam. Giáo trình cung
cấp những kiến thức cơ bản về pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, trong đó có phân
tích các quy định về khởi kiện vụ án dân sự. Tuy nhiên, giáo trình chỉ dừng lại ở phân
tích tổng quan các quy định của pháp luật mà chưa đi sâu nghiên cứu những bất cập,
vướng mắc của thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự.
Lưu Tiến Dũng, Đặng Thanh Hoa (2022), Lý giải một số vấn đề của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015 từ thực tiễn xét xử, Nhà xuất bản Tư pháp. Đây là tài liệu
phân tích những quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành từ thực
tiễn xét xử, đưa ra những lý giải về những vấn đề còn vướng mắc trong Bộ luật Tố
tụng dân sự, trong đó có những vấn đề liên quan đến điều kiện khởi kiện vụ án dân
sự. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu nhiều vấn đề của Bộ luật Tố tụng dân sự với
phạm vi rộng nên các vấn đề về khởi kiện vụ án dân sự vẫn chưa được khai thác
chuyên sâu.
Nguyễn Thị Hương (2019), Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự - Những vấn đề
lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận án
nghiên cứu những vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và cơ sở quy định
của pháp luật về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự. Thông qua thực tiễn áp dụng pháp
luật và các bản án, quyết định của Tòa án, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm hồn
thiện pháp luật. Luận án cịn đưa ra các giải pháp pháp lý để giải quyết những vướng
mắc tồn tại trên thực tế, từ đó nhằm hồn thiện pháp luật tố tụng dân sự tại Việt Nam.
Trần Cao Quỳnh Hương (2021), Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà
3
Nội. Luận văn tập trung phân tích, làm rõ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 về vấn đề khởi kiện vụ án dân sự. Bên cạnh đó, Luận văn cịn đưa ra một
số giải pháp tham khảo và hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm
quyền khởi kiện. Luận văn đánh giá các quy định chung về khởi kiện vụ án dân sự
nhưng chưa tập trung vào nghiên cứu chuyên sâu các điều kiện khởi kiện vụ án dân
sự, khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi
kiện.
Bên cạnh những tài liệu nêu trên, tác giả còn tiếp cận nguồn tài liệu là các bài
báo, tạp chí liên quan đến Khóa luận như: Trần Anh Tuấn (2015), “Thủ tục Tố tụng
dân sự của một số nước châu Âu và so sánh với thủ tục tố tụng dân sự Việt Nam”,
Tạp chí Luật học, số 11/2015; Trần Ngọc Tuấn (2022), “Vấn đề nộp đơn khởi kiện,
tài liệu, chứng cứ liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình bằng hình thức trực
tuyến”, Tạp chí Luật học, số 5/2022; Nguyễn Ngọc Hà (2020), “Cơ chế giải quyết
tranh chấp trực tuyến trong Liên minh châu Âu và khuyến nghị đối với Việt Nam”,
Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 03 (133)/2020; Lê Thu Hà (2015), “Tăng
cường khả năng tiếp cận công lý cho người dân từ việc mở rộng thẩm quyền giải
quyết vụ việc dân sự của Tòa án trong Bộ luật Tố tụng dân sự”, Tạp chí Tịa án, số
4/2015. Những cơng trình nghiên cứu này là các bài viết được đăng tải trên các tạp
chí nên chỉ có sự chun sâu về các vấn đề mà bài viết đó đề cập. Do đó, các bài viết
này khơng đề cập được hết tất cả những vấn đề liên quan đến khởi kiện vụ án dân sự
như điều kiện khởi kiện, phạm vi, hình thức, thủ tục khởi kiện, trả lại đơn khởi kiện…
và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự.
Các cơng trình nghiên cứu trên đã đề cập đến khởi kiện vụ án dân sự ở nhiều
góc độ khác nhau. Trên cơ sở kế thừa các cơng trình nghiên cứu trước đó, các tác giả
đã đánh giá và tổng hợp một cách có hệ thống, làm sáng tỏ được các vấn đề liên quan
đến khởi kiện vụ án dân sự. Tuy nhiên, trong phạm vi Khóa luận tốt nghiệp, tác giả
mong muốn thực hiện Khóa luận một cách chuyên sâu về vấn đề khởi kiện vụ án dân
sự, từ đó đưa ra những gợi mở và kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt
Nam về khởi kiện vụ án dân sự.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Khóa luận: “Khởi kiện vụ án dân sự” là:
4
Thứ nhất, quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam và các văn bản pháp
luật có liên quan về hoạt động khởi kiện vụ án dân sự.
Thứ hai, quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự một số quốc gia như Đức, Pháp,
Liên bang Nga… về khởi kiện vụ án dân sự.
Thứ ba, thực tiễn áp dụng pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự thơng qua các
bản án, quyết định của Tịa án.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Với quy mơ là Khóa luận tốt nghiệp, tác giả nghiên cứu đề tài: “Khởi kiện vụ
án dân sự” trong phạm vi như sau:
Thứ nhất, một số vấn đề cơ bản về khởi kiện vụ án dân sự, bao gồm: khái
niệm, đặc điểm, ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự, cơ sở khoa học xây dựng quy
định pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của
việc khởi kiện vụ án dân sự.
Thứ hai, quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về phạm
vi khởi kiện, đơn khởi kiện, hình thức, thủ tục khởi kiện và các điều kiện khởi kiện
vụ án dân sự.
Thứ ba, quy định về khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật của một số quốc
gia trên thế giới như Đức, Pháp, Liên bang Nga…
Thứ tư, thực tiễn áp dụng pháp luật và một số gợi mở, kiến nghị hoàn thiện
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về khởi kiện vụ án dân sự.
4. Phương pháp nghiên cứu
Tại Chương 1, tác giả sử dụng phương pháp phân tích để xây dựng luận điểm
cho đề tài và làm rõ các vấn đề mang tính lý luận liên quan đến khởi kiện vụ án dân
sự. Phương pháp lịch sử được sử dụng để tìm hiểu lịch sử hình thành của việc khởi
kiện vụ án dân sự. Phương pháp tổng hợp nhằm mục đích tổng hợp những kết quả
đạt được trong quá trình nghiên cứu những vấn đề cơ bản về khởi kiện vụ án dân sự.
Tại Chương 2, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để phân tích
các quy định của pháp luật Việt Nam về khởi kiện vụ án dân sự. Phương pháp so sánh
được sử dụng để so sánh và đối chiếu các quy định của pháp luật Việt Nam với các
5
quy định của pháp luật một số quốc gia/khu vực trên thế giới, so sánh giữa Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2004 với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về các vấn đề liên
quan đến khởi kiện vụ án dân sự.
Tại Chương 3, tác giả sử dụng phương pháp phân tích bản án, vụ việc để phân
tích một số bản án, quyết định của Tòa án, từ đó tác giả đưa ra các đánh giá về hiệu
quả của việc áp dụng pháp luật trên thực tế, tạo ra cái nhìn tồn diện về đề tài của
Khóa luận. Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để phân tích các bất cập
về khởi kiện vụ án dân sự, từ đó đưa ra kiến nghị hồn thiện pháp luật.
5. Kết cấu của Khóa luận
Bên cạnh phần mở đầu, kết luận chung, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, Khóa luận được trình bày với kết cấu gồm 03 Chương như sau:
Chương 1. Một số vấn đề cơ bản về khởi kiện vụ án dân sự
Chương 2. Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về khởi kiện vụ
án dân sự
Chương 3. Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về khởi
kiện vụ án dân sự
6
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của khởi kiện vụ án dân sự
1.1.1. Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự
Trong sự phát triển của xã hội, khi Nhà nước và pháp luật ra đời thì việc bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân được ghi nhận bằng pháp luật của Nhà
nước và được đảm bảo thực hiện thông qua các thiết chế do Nhà nước xác lập1. Điều
14 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
các quyền con người, quyền cơng dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội
được cơng nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Công dân
được phép xử sự phù hợp với các quy định của pháp luật hoặc được yêu cầu người
khác không thực hiện hoặc thực hiện một số hành vi nhất định nhằm thỏa mãn lợi ích
của mình. Quyền này được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng
chế do Nhà nước xác lập2. Trong các biện pháp đó, có biện pháp cho phép chủ thể
trong quan hệ pháp luật dân sự khởi kiện VADS theo trình tự tố tụng dân sự3. Theo
phương thức này, khi có tranh chấp xảy ra, các bên được quyền khởi kiện VADS ra
Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, trước
khi nghiên cứu về khái niệm khởi kiện VADS, cần phải nghiên cứu về quyền khởi
kiện VADS.
Quyền khởi kiện VADS trên thế giới được quy định trong pháp luật từ khá
sớm và ngày càng được hoàn thiện trong hệ thống pháp luật quốc tế và quốc gia. Thời
kì La Mã cổ đại đã xuất hiện quy định đầu tiên về quyền khởi kiện của công dân La
Mã, theo đó khi có tranh chấp về thỏa thuận giữa các bên thì người có quyền lợi bị
xâm phạm có quyền đưa vụ kiện ra nơi công cộng để yêu cầu Thẩm phán bảo vệ
quyền lợi của mình (Mục 4 Bảng I Luật 12 Bảng của La Mã cổ đại).
Ở Liên bang Nga, quyền khởi kiện được quy định tại khoản 1 Điều 3 BLTTDS
Liên bang Nga, theo đó cơng dân, tổ chức có liên quan theo trình tự, thủ tục do pháp
Nguyễn Thị Hương (2011), Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Luận
văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 07.
2
Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam (Tái bản lần thứ 19), Nhà
xuất bản Công an Nhân dân, tr. 239.
3
Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), tlđd (2), tr. 241.
1
7
luật quy định có quyền khởi kiện u cầu Tịa án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp
pháp của mình bị xâm phạm hoặc có tranh chấp. Bên cạnh đó, trong những trường
hợp do luật liên bang quy định, một người có thể nhân danh mình khởi kiện vụ án
dân sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của người khác, tập
hợp người khơng xác định hoặc lợi ích của Liên bang Nga, chủ thể Liên bang Nga,
các tổ chức tự quản địa phương (khoản 2 Điều 4 BLTTDS Liên bang Nga). Ở Cộng
hòa Pháp, pháp luật đặt ra giới hạn với quyền khởi kiện, chỉ có các bên đương sự mới
có quyền khởi kiện, trừ các trường hợp khác do luật định4. Quy định này hạn chế các
chủ thể không liên quan lợi dụng quyền khởi kiện nhằm mục đích gây bất lợi đến các
chủ thể khác trong xã hội. Như vậy, pháp luật của một số quốc gia đều ghi nhận quyền
khởi kiện là quyền tố tụng và việc thực hiện quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình khi có xảy ra tranh chấp hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác, lợi ích cơng cộng, lợi ích Nhà nước.
Hiện nay, Việt Nam chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm về quyền
khởi kiện VADS. Tuy nhiên, quyền khởi kiện này được ghi nhận là một nguyên tắc
cơ bản tại khoản 1 Điều 4 BLTTDS năm 2015: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ
luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại
Tịa án có thẩm quyền để u cầu Tịa án bảo vệ cơng lý, bảo vệ quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình
hoặc của người khác”. Vì vậy, có thể khẳng định quyền khởi kiện là một quyền tố
tụng trong pháp luật, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi quyền hạn của mình tự
quyết định việc u cầu Tịa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình, lợi ích của người khác, lợi ích cơng cộng hay lợi ích của Nhà nước khi cho rằng
quyền và lợi ích hợp pháp đó bị xâm phạm hay có tranh chấp. Việc thực hiện quyền
khởi kiện trên thực tế được gọi là khởi kiện VADS.
Trong khoa học pháp lý, nếu xét việc khởi kiện VADS dưới góc độ là một
hoạt động tố tụng thì khởi kiện VADS có thể được hiểu theo nghĩa rộng và theo nghĩa
hẹp, cụ thể:
Một là, theo nghĩa hẹp, khởi kiện VADS là việc nguyên đơn thực hiện yêu cầu
Tòa án bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp hoặc vi phạm và việc thực hiện quyền này
Điều 1 BLTTDS Cộng hòa Pháp: “Chỉ các bên đương sự mới có quyền khởi kiện trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác. Các bên đương sự được tự do chấm dứt tố tụng trước khi hết hạn tố tụng theo quyết định
của Tòa án hoặc theo quy định của pháp luật”.
4
8
sẽ làm phát sinh VADS tại Tòa án. Thực chất, đây là việc chủ thể có quyền lợi bị xâm
phạm hoặc chủ thể khác trong phạm vi, quyền hạn của mình thực hiện quyền khởi
kiện để bảo vệ quyền lợi của mình, của người khác, lợi ích Nhà nước và lợi ích cơng
cộng thơng qua việc nộp đơn u cầu Tịa án có thẩm quyền giải quyết VADS5.
Hai là, theo nghĩa rộng, khởi kiện VADS ngoài việc nguyên đơn yêu cầu giải
quyết tranh chấp còn bao gồm cả việc bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập6, bởi yêu cầu phản tố chính là việc bị
đơn kiện ngược lại nguyên đơn trong cùng một vụ việc, yêu cầu độc lập chính là việc
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kiện ngược lại nguyên đơn hoặc bị đơn để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu Khóa luận, tác giả nghiên cứu khởi kiện
VADS theo nghĩa hẹp. Từ những phân tích trên, có thể khái qt về khái niệm khởi
kiện VADS như sau: “Khởi kiện vụ án dân sự là hoạt động tố tụng của cơ quan, tổ
chức, cá nhân có quyền, tự mình hoặc thơng qua người đại diện hợp pháp của mình
đưa vấn đề tranh chấp ra Tịa án có thẩm quyền giải quyết theo trình tự, thủ tục pháp
luật quy định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác,
lợi ích cơng cộng hoặc lợi ích của Nhà nước”.
1.1.2. Đặc điểm khởi kiện vụ án dân sự
Thứ nhất, khởi kiện VADS là cơ sở phát sinh thủ tục sơ thẩm giải quyết
VADS tại Tòa án.
Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm
hay có tranh chấp thì có thể tự mình, hoặc thông qua người đại diện hợp pháp nộp
đơn khởi kiện đến Tịa án có thẩm quyền để u cầu Tịa án giải quyết. Việc nộp đơn
khởi kiện đến Tòa án là bước đầu tiên để khởi động quá trình tố tụng, là tiền đề cho
các hoạt động tố tụng tiếp theo của Tịa án trong q trình giải quyết VADS. Nếu
khơng có hoạt động nộp đơn khởi kiện sẽ khơng có hoạt động giải quyết VADS tại
Tịa án. Vì vậy, khởi kiện VADS là cơ sở phát sinh thủ tục sơ thẩm giải quyết VADS
tại Tòa án.
Nguyễn Thị Hương (2019), Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận
án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 31.
6
Trần Cao Quỳnh Hương (2021), Khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 10.
5
9
Thứ hai, khởi kiện VADS là việc các đương sự tự do định đoạt bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình.
Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là nguyên tắc đặc thù của pháp
luật tố tụng dân sự. Theo đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân khi có quyền và lợi ích bị xâm
phạm hay có tranh chấp thì có quyền thực hiện hoặc khơng thực hiện việc yêu cầu
Tòa án giải quyết tranh chấp phát sinh. Vấn đề này xuất phát từ bản chất của các quan
hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được
hình thành dựa trên sự tự nguyện, tự do thỏa thuận khi các chủ thể xác lập quan hệ
dân sự7. Vì vậy, khởi kiện VADS trước hết là việc các đương sự tự do định đoạt bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, pháp luật vẫn đặt ra những giới
hạn nhất định đối với quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự như việc thay
đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa sơ thẩm không được vượt quá phạm vi
yêu cầu khởi kiện ban đầu… Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích cho các đương sự
khác và đảm bảo cho quá trình tố tụng diễn ra theo trình tự luật định, tránh mất quá
nhiều thời gian đối với một VADS.
Thứ ba, khởi kiện VADS là hoạt động do các chủ thể có quyền hoặc được
pháp luật trao quyền theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình, của người khác, lợi ích cơng cộng và lợi ích của Nhà nước.
Trong quan hệ dân sự, khi bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp thì các chủ
thể sẽ lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp. Khởi kiện có thể được
hiểu là “một phương cách luật định cho phép mỗi người cầu viện đến công lý để xin
xác nhận hay che chở quyền lợi của mình”8. Khởi kiện là cơ chế đảm bảo được Nhà
nước xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa luật nội dung và luật tố tụng. Bên cạnh đó,
khởi kiện VADS nhằm hướng đến bảo vệ lợi ích tư là chủ yếu. Nếu cá nhân có quyền,
lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc có tranh chấp khơng thực hiện quyền khởi kiện,
sẽ khơng có các giai đoạn tiếp theo của quá trình giải quyết tranh chấp theo thủ tục
tố tụng dân sự. Vì vậy, ý thức được việc quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong
quan hệ dân sự cần được tôn trọng và bảo vệ cũng là động lực để cá nhân khởi kiện
VADS tại Tòa án.
7
8
Trần Cao Quỳnh Hương (2021), tlđd (6), tr. 13.
Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật Dân sự - Tố tụng Việt Nam, Nhà xuất bản của Bộ Tư pháp, tr. 29.
10
Về ngun tắc, việc bảo vệ lợi ích cơng cộng, lợi ích Nhà nước là nhiệm vụ
của pháp luật tố tụng hình sự và tố tụng hành chính. Tuy nhiên, đối với một số trường
hợp vì lợi ích của người khác, lợi ích cơng cộng và lợi ích Nhà nước thì một số chủ
thể đặc biệt được pháp luật trao quyền cũng có quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng
dân sự. Mặc dù không trực tiếp xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình nhưng
vì để bảo vệ lợi ích cơng cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền lợi của người lao động,
người tiêu dùng… các chủ thể này cũng được quyền nộp đơn khởi kiện tại Tòa án.
Thứ tư, đối tượng của khởi kiện VADS là những là những sự việc chưa
được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật hay
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật.
Khởi kiện VADS giúp các chủ thể bị xâm phạm về quyền và lợi ích hợp pháp
được pháp luật bảo vệ thông qua hoạt động xét xử của Tòa án. Tuy nhiên, để đảm bảo
tính ổn định của bản án, quyết định thì chỉ những sự việc chưa được giải quyết bằng
bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tịa án hay quyết định đã có hiệu lực của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền mới được Tòa án xem xét giải quyết, trừ trường hợp
được nộp đơn khởi kiện lại theo khoản 3 Điều 192 và điểm c khoản 1 Điều 217
BLTTDS năm 2015. Có quan điểm cho rằng khơng phải ngẫu nhiên mà BLTTDS có
quy định khơng cho phép ngun đơn khởi kiện lại vụ án có cùng các bên đương sự,
có cùng quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp9. Quy định này xuất phát từ nguyên
tắc tư pháp có tên gọi theo tiếng La tinh là “Res judicata” – tạm dịch là “vấn đề đã
được giải quyết” hay bằng một cách đầy đủ là “res judicata pro veritate accipitur”
với ý nghĩa là “vấn đề đã được xét xử được coi như sự thật”10. Bằng một cách dễ
hiểu hơn, “Res judicata” là một khái niệm chỉ một vấn đề đã được quyết định xứng
đáng bằng một phán quyết tư pháp và không thể bị đưa ra kiện tụng một lần nữa giữa
cùng các bên11. Nguyên tắc này đã được cụ thể hóa tại điểm b khoản 1 Điều 168
BLTTDS năm 2004 và được kế thừa tại điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm
2015, theo đó nếu sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật hay quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu
lực pháp luật thì nếu có u cầu khởi kiện lại VADS đó, Tịa án sẽ trả lại đơn khởi
Nguyễn Đồng Vũ (2022), Quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 11.
10
Yuval Shany (2004), The Competing Jurisdictions of International Courts and Tribunals, Oxford University
Press, Great Clarendon Street, tr. 22.
11
truy cập ngày 03/5/2023.
9
11
kiện. Quy định này của BLTTDS là cần thiết để hạn chế đương sự lạm dụng quyền
khởi kiện để khởi kiện lại VADS đã được giải quyết, tránh trường hợp cùng một quan
hệ tranh chấp, cùng đương sự nhưng do phán quyết trước đương sự không đồng ý, để
tránh lãng phí thời gian và tạo tính ổn định của bản án, quyết định của Tòa án.
1.1.3. Ý nghĩa khởi kiện vụ án dân sự
Thứ nhất, về phương diện chính trị, kinh tế, xã hội.
Một là, khởi kiện VADS là phương thức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các chủ thể trong quan hệ dân sự trên cơ sở quyền tự định đoạt, góp phần xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Muốn xây dựng nhà nước pháp quyền thì các hoạt động của đời sống xã hội cần có
quy định của pháp luật điều chỉnh một cách công bằng12. Quy định về khởi kiện
VADS là một trong những hoạt động để xây dựng nhà nước pháp quyền. Nhà nước
trao cho các chủ thể quyền khởi kiện VADS ra Tịa án có thẩm quyền để u cầu Tịa
án bảo vệ quyền và lợi ích của mình, Tịa án với vai trị là nơi mà mọi người, mọi
cơng dân tin tưởng để tìm đến lẽ phải, tìm đến sự thật13 sẽ bảo vệ và khơi phục quyền
và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, đáp ứng được nguyện vọng và củng cố lòng tin của
nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, cũng như là chế độ, đường lối chính sách
của Đảng và Nhà nước.
Hai là, khởi kiện VADS yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là
việc thực hiện quyền dân chủ trong tố tụng dân sự. Trong công cuộc xây dựng và đổi
mới đất nước, phát huy dân chủ luôn là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước hướng đến.
Khởi kiện VADS là cơ chế do Nhà nước đưa ra cho các chủ thể tự do định đoạt, thực
hiện quyền tố tụng của mình. Vì thế, đương sự có tồn quyền khởi động VADS thông
qua hành vi khởi kiện, đồng thời trong q trình giải quyết VADS, đương sự có tồn
quyền thay đổi yêu cầu khởi kiện của mình hoặc thỏa thuận với các đương sự khác
về việc giải quyết VADS một cách tự nguyện mà không vi phạm điều cấm của luật,
không trái đạo đức xã hội.
Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2004), Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà
nước pháp quyền, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 92 - 93.
13
Đào Trí Úc, Vũ Cơng Giao (2014), Bình luận khoa học Hiến pháp nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam năm 2013, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, tr. 501.
12
12
Ba là, khởi kiện VADS góp phần nâng cao ý thức tơn trọng pháp luật, giáo
dục, phịng ngừa và ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của
người khác. Thông qua cơ chế khởi kiện VADS, người dân nhận thức rõ hơn về việc
tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như tôn trọng quyền của các chủ
thể khác. Bên cạnh đó, khi tham gia vào quan hệ dân sự, các bên phải ý thức được
quyền, nghĩa vụ của mình đối với bên cịn lại. Vì thế, nếu một bên cố ý phá vỡ các
giao kết trước đó, họ biết trước được hành vi của mình sẽ phải chịu những chế tài từ
bản án, quyết định của Tòa án, họ phải tự điều chỉnh hành vi và cách xử sự của mình
cho phù hợp với sự thỏa thuận từ đầu giữa các bên.
Bốn là, khởi kiện VADS góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực tham gia vào các điều ước quốc tế, vì vậy hệ
thống pháp luật tố tụng dân sự ổn định và công bằng cung cấp cho các doanh nghiệp
và cá nhân một cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Bên cạnh đó, các quy định
về khởi kiện VADS rõ ràng minh bạch với những cơ chế thuận lợi tạo điều kiện để
các nhà đầu tư, cá nhân tổ chức kinh doanh có thể nhanh chóng tìm đến cơng lý khi
quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm hoặc xảy ra tranh chấp.
Thứ hai, về phương diện pháp lý.
Một là, khởi kiện VADS là căn cứ pháp lý để đương sự có đầy đủ phương
tiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trên thực tế, có nhiều phương thức
khác nhau để giải quyết tranh chấp giữa các bên như thương lượng, hòa giải, tự bảo
vệ, trọng tài. Tuy nhiên, nếu tranh chấp không thể giải quyết bằng những phương
thức trên, khởi kiện VADS ra Tòa án là phương thức hiệu quả nhất. Tịa án là cơng
cụ hữu hiệu nhất trong toàn bộ phương thức khác nhau mà xã hội và Nhà nước dùng
để giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn lợi ích14. Sở dĩ như vậy, bởi Tịa án là cơ
quan tư pháp, được Nhà nước trao cho quyền bảo vệ công lý, bảo vệ quyền công dân
và bản án, quyết định của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật sẽ có tính chất bắt buộc đối
với tất cả các bên liên quan, nếu các bên không tuân thủ phán quyết của Tòa sẽ phải
chịu sự cưỡng chế bằng quyền lực Nhà nước15.
Đào Trí Úc (2007), Mơ hình tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
Nhà xuất bản Tư pháp, tr. 390.
15
Hồng Thị Kim Quế (2018), “Vai trị, trách nhiệm của Nhà nước trong xã hội công nghệ thông tin, cơng
nghệ số, cách mạng cơng nghệ 4.0”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 03-04, tr. 14.
14
13
Hai là, khởi kiện VADS là phương thức kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ dân sự. Khởi kiện VADS là hoạt động đầu
tiên để mở ra quá trình tố tụng, bên cạnh đó khởi kiện cũng là phương thức để các
chủ thể ngay tức khắc tự bảo vệ các quyền dân sự của mình. Để ngăn chặn kịp thời
hậu quả của hành vi vi phạm, người khởi kiện còn có quyền u cầu Tịa án áp dụng
ngay biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện. Từ đó, các
cơ quan tố tụng sẽ có hành động can thiệp kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các chủ thể, ngăn chặn và chấm dứt hành vi trái pháp luật và sớm khơi phục
lại mối quan hệ thiện chí giữa các bên trong đời sống dân sự.
1.2. Cơ sở khoa học xây dựng pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự
1.2.1. Dựa vào nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
Quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi chủ thể là vấn đề nhân quyền luôn được
các quốc gia trên thế giới quan tâm và được ghi nhận trong pháp luật mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, việc pháp luật cơng nhận quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể chỉ là
điều kiện cần, điều quan trọng và cơ bản nhất là cần phải thiết lập cơ chế thực hiện
và bảo vệ chúng trong trường hợp bị xâm phạm. Trong các phương thức để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong trường hợp có tranh chấp hoặc bị
xâm phạm thì phương thức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ là phương thức hữu hiệu
nhất. Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan
xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, khi
công dân thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp để bảo vệ
quyền lợi cho họ thì Tịa án là cơ quan phải có trách nhiệm với việc khởi kiện đó. Bên
cạnh đó, trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Tịa án gắn liền với việc
xây dựng các quy định về khởi kiện VADS phải hưởng tới việc tạo điều kiện thuận
lợi nhất cho người dân thực hiện quyền khởi kiện của mình trên thực tế16. Vì vậy,
nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ thể là một trong những cơ sở khoa
học nền tảng của việc xây dựng các quy định pháp luật về khởi kiện VADS17.
1.2.2. Dựa vào nguyên tắc Nhà nước ghi nhận và đảm bảo thực hiện các quyền
con người về dân sự
Nguyễn Thị Hương (2019), tlđd (5), tr. 58.
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất
bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 33.
16
17
14
Quyền con người là quyền cơ bản nhất của con người, theo quan điểm được
đông đảo cộng đồng quốc tế thừa nhận thì quyền con người mang các thuộc tính cơ
bản là: tính phổ biến, tính khơng thể chuyển nhượng, tính khơng thể phân chia, tính
liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau18. Vì thế, trong Tun ngơn quốc tế về nhân quyền năm
1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1996 đều đề cao và
khẳng định quyền con người. Trong đó, quyền khởi kiện chính thức được ghi nhận là
quyền con người tại Điều 8 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948.
Trên thế giới hiện nay tồn tại hai mơ hình tố tụng cơ bản là mơ hình tố tụng
dân sự của châu Âu lục địa và mơ hình tố tụng dân sự của các nước thơng luật. Mặc
dù có những điểm tương đồng và khác biệt nhưng hai mơ hình này đều được thiết kế
dựa trên những giá trị phổ biến của tố tụng dân sự được ghi nhận trong các văn kiện
quốc tế về quyền con người đó là tính độc lập và trung lập của người có thẩm quyền
xét xử, tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự, quyền được xét xử kịp thời,
công bằng công khai, đảm bảo quyền kháng cáo của đương sự19… Các nguyên tắc
này chính là nền tảng cho việc xây dựng pháp luật tố tụng dân sự của mỗi quốc gia
dù theo mơ hình tố tụng nào. Trên cơ sở đó, pháp luật tố tụng dân sự về khởi kiện
VADS cần có sự thiết lập về quyền được đối xử một cách như nhau, công bằng giữa
mọi công dân trước pháp luật, mọi cơng dân dù thuộc các dân tộc, tín ngưỡng tôn
giáo, địa vị xã hội khác nhau trong một quốc gia đều không bị phân biệt đối xử trong
việc hưởng quyền, nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp
luật20. Vì thế, các quy định của pháp luật về khởi kiện VADS trước hết phải được xây
dựng trên cơ sở Nhà nước ghi nhận và đảm bảo thực hiện quyền con người về dân sự.
1.2.3. Dựa vào nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự
Xuất phát từ đặc điểm của khởi kiện VADS là việc các đương sự tự do định
đoạt bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cơ quan tiến hành tố tụng chỉ thực
hiện nhiệm vụ làm sáng tỏ VADS chứ không thay mặt đương sự quyết định những
lợi ích của họ. Do đó, ngun tắc quyền quyết định và tự định đoạt là một trong những
nguyên tắc đặc thù của pháp luật tố tụng dân sự.
Hoàng Lan Anh (2021), Bảo đảm quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 12.
19
Colin B. Picker & Guy I. Seidman (eds) (2016), The Dynamism of Civil Procedure - Global Trends and
Developments, Springer International Publishing Switzerland, tr. 128.
20
Trần Cao Quỳnh Hương (2021), tlđd (6), tr. 43.
18
15
Bên cạnh đó, việc xây dựng quy định về khởi kiện VADS dựa trên nguyên tắc
quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự còn được hiểu là pháp luật phải quy
định Tịa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tự quyết của họ.
Vì vậy, Tòa án phải thụ lý vụ án để giải quyết nếu khơng có căn cứ trả lại đơn khởi
kiện và Tịa án khơng được từ chối giải quyết vụ án vì lý do khơng có điều luật để áp
dụng.
Tuy nhiên, nếu như ở các nước theo truyền thống pháp luật thông luật và
truyền thống pháp luật châu Âu lục địa phạm vi nguyên tắc quyền quyết định và tự
định đoạt của đương sự gần như mang ý nghĩa tuyệt đối, các bên có quyền tự do hồn
tồn trong việc định đoạt các quyền dân sự cũng như các quyền và phương tiện tố
tụng nhằm bảo vệ các quyền đó với sự can thiệp rất hạn chế của Nhà nước, thì ở Việt
Nam, quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự phải được thực hiện với vai trị
tích cực và kiểm sốt từ phía Nhà nước mà cụ thể là các cơ quan Tòa án và Viện kiểm
sát21. Vì thế, bên cạnh quyền quyết định việc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết
VADS và quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình trong quá trình giải quyết vụ
án, BLTTDS năm 2015 cịn có các quy định về thẩm quyền kháng nghị giám đốc
thẩm, tái thẩm cũng như trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc tham gia phiên tòa
xét xử và phát biểu quan điểm về vụ án. Từ những phân tích trên, có thể thấy nguyên
tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là một trong những cơ sở khoa
học vững chắc cho việc xây dựng quy định pháp luật về khởi kiện VADS.
1.2.4. Dựa vào nguyên tắc tuân thủ pháp luật
Tuân thủ pháp luật là yêu cầu bắt buộc đối với mọi hoạt động trong bộ máy
nhà nước trong đó có hoạt động tố tụng nói chung và tố tụng dân sự nói riêng, nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo cách thức, trình
tự pháp luật quy định22. Nguyên tắc tuân thủ pháp luật yêu cầu mọi hoạt động tố tụng
dân sự của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan phải tuân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; mọi hành vi
vi phạm pháp luật tố tụng dân sự đều phải được xử lý và việc xử lý các hành vi vi
phạm pháp luật cũng phải theo đúng quy định pháp luật23. Bên cạnh đó, nguyên tắc
Nguyễn Ngọc Khánh (2005), “Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật Tố
tụng dân sự Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2005, tr. 64.
22
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), tlđd (17), tr. 26.
23
Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), tlđd (2), tr. 38.
21
16
tuân thủ pháp luật trong việc xây dựng quy định pháp luật về khởi kiện VADS tạo
điều kiện cho hoạt động quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nước hiệu quả hơn và
không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Hoạt động tố tụng dân sự nhằm
mục đích bảo vệ cơng bằng, bình đẳng trong xã hội nên tuân thủ pháp luật trong tố
tụng dân sự nói chung và khởi kiện VADS nói riêng là một nhu cầu tất yếu khách
quan của quá trình tố tụng giải quyết các VADS24.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của việc khởi kiện vụ án dân sự
1.3.1. Tính thống nhất, phù hợp của các quy định pháp luật
Hệ thống pháp luật của Việt Nam bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật
do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền từ trung ương đến địa phương ban hành gồm
nhiều văn bản có giá trị pháp lý khác nhau với phạm vi điều chỉnh rộng lớn, toàn diện
về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, để pháp luật được mọi cơ quan, tổ chức,
cá nhân thực hiện, tuân thủ nghiêm chỉnh và thống nhất trên phạm vi cả nước thì trước
hết hệ thống pháp luật phải bảo đảm được tính thống nhất trong chính nội tại của nó25.
Tính thống nhất của các quy phạm pháp luật là yêu cầu khách quan để đảm bảo tính
nhất qn, hợp lý và cơng bằng của pháp luật, góp phần nâng cao uy tín và hiệu lực
của pháp luật.
Sự thống nhất và phù hợp của các quy định pháp luật có ý nghĩa quan trọng
đối với tính hiệu quả của khởi kiện VADS. Pháp luật về khởi kiện VADS đáp ứng
tính khả thi, phù hợp sẽ làm cho các quy định này khơng chỉ có ý nghĩa trên văn bản
mà sẽ phát huy hiệu lực, hiệu quả trên thực tế, đảm bảo quyền khởi kiện của các chủ
thể được thực hiện. Tuy nhiên, nếu pháp luật về khởi kiện VADS không minh bạch,
mâu thuẫn và thiếu cơ sở khoa học thì các chủ thể khơng có đầy đủ phương tiện pháp
lý để bảo vệ quyền lợi của mình trước Tịa án, Tịa án cũng khó khăn trong việc xem
xét thụ lý, giải quyết vụ án để chủ thể có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm
thuận lợi trong việc tiếp cận cơng lý.
1.3.2. Trình độ hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật của chủ thể
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), tlđd (17), tr. 27.
Phí Thị Thanh Tuyền (2018), “Đảm bảo tính thống nhất giữa các quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp
luật Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cơng thương, số 03/2018, tr. 10.
24
25
17
Trình độ hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật của chủ thể ảnh hưởng đến hiệu
quả của việc khởi kiện VADS bởi vì nó quyết định khả năng của chủ thể trong việc
bảo vệ quyền và lợi ích của mình, tham gia vào quá trình giải quyết vụ án, chấp nhận
và thực hiện bản án, quyết định của Tịa án26. Vì thế, khi bị thiệt hại khơng phải chủ
thể nào cũng ý thức được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, hoặc nếu
ý thức được thì cũng khơng phải chủ thể nào cũng nhận thức được quyền khởi kiện
của mình.
Khi thực hiện việc khởi kiện, chủ thể khởi kiện phải xác định rõ được quan hệ
pháp luật tranh chấp, ai là người đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình,
khởi kiện đến cơ quan nào, ai là người có quyền khởi kiện, trình tự, thủ tục khởi kiện.
Nếu nhận thức được các vấn đề trên thì việc khởi kiện VADS sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Ngược lại, nếu xác định không đúng quan hệ tranh chấp, cơ quan có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp… thì sẽ gây khó khăn cho chính chủ thể khởi kiện trong việc thực
hiện quyền của mình, từ đó gây mất thời gian và ảnh hưởng đến các chủ thể khác,
đồng thời không bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Về phương diện
pháp lý, việc xây dựng các quy định về khởi kiện VADS nhằm cung cấp cơ sở pháp
lý cho các chủ thể trong xã hội thực hiện quyền khởi kiện của mình, song nếu nhận
thức và hiểu biết pháp luật của họ về khởi kiện VADS chưa đầy đủ sẽ dẫn đến các
quy định của pháp luật chỉ mang tính lý thuyết mà chưa có hiệu quả thật sự trên thực
tế. Về phía Tịa án, sự thiếu hiểu biết về pháp luật tố tụng dân sự nói chung và khởi
kiện VADS nói riêng cản trở Tịa án giải quyết vụ án theo đúng trình tự mà pháp luật
quy định, gây mất thời gian và tốn kém chi phí tố tụng. Chẳng hạn, do trình độ hiểu
biết pháp luật cịn hạn chế nên người khởi kiện xác định sai quan hệ tranh chấp, xác
định không đúng thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án, khởi kiện khi chưa đủ điều
kiện dẫn đến Tòa án phải yêu cầu thay đổi, bổ sung đơn khởi kiện hoặc trả lại đơn
khởi kiện. Từ những phân tích trên, có thể khẳng định trình độ hiểu biết và ý thức
tuân thủ pháp luật của chủ thể là một trong những cơ sở khoa học cho việc xây dựng
quy định pháp luật về khởi kiện VADS.
1.3.3. Hoạt động hỗ trợ của luật sư, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khi khởi
kiện vụ án dân sự
International Labour Organization (2015), “Dutch Ambassador: Laws are just part of the story, compliance
is
key”,
truy cập ngày 13/3/2023.
26
18
Khi khởi kiện VADS tại Tòa án, các chủ thể đều mong muốn quyền và lợi ích
hợp pháp của mình được bảo vệ. Tuy nhiên, vì những lý do khác nhau trên thực tế,
không phải bao giờ các chủ thể cũng có đủ kiến thức pháp luật, kinh nghiệm tố tụng
để tự thực hiện được đầy đủ và có hiệu quả nhất các quyền, nghĩa vụ theo pháp luật.
Vì vậy, các chủ thể khi khởi kiện cần có sự giúp đỡ, hỗ trợ pháp lý của luật sư hoặc
tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý. Với vai trò là người hỗ trợ, có nền tảng kiến thức
pháp lý vững chắc, các luật sư, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý giúp các chủ thể
khắc phục được nhận thức không đầy đủ về pháp luật và những xử sự “lúng túng” khi
thực hiện quyền khởi kiện.
Ngoài ra, sự hỗ trợ pháp lý của luật sư, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý còn
tạo sự cân bằng trong việc tham gia tố tụng giữa các bên tranh chấp. Bên cạnh đó,
nhằm mục đích giúp đỡ người khởi kiện khắc phục được những thiếu sót, luật sư tại
thời điểm chưa có tư cách tố tụng vẫn có thể trao đổi và thu thập thông tin từ người
khởi kiện để phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý như: điều kiện khởi kiện,
phạm vi khởi kiện, yêu cầu khởi kiện… để bảo đảm việc khởi kiện diễn ra hiệu quả.
Sự hỗ trợ của luật sư, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý còn tác động làm cho cán bộ
Tòa án, Thẩm phán và các cơ quan tố tụng thận trọng, khách quan hơn trong việc giải
quyết vụ án. Vì thế, hoạt động hỗ trợ của luật sư, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý
là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của việc khởi kiện VADS.
Bên cạnh các yếu tố trên thì cịn có yếu tố khác như năng lực, tinh thần trách
nhiệm và phẩm chất đạo đức của Thẩm phán, cán bộ Tòa án cũng ảnh hưởng đến hiệu
quả của việc khởi kiện VADS. Khởi kiện VADS bao gồm nhiều hoạt động khác nhau
như gửi đơn khởi kiện, xử lý đơn khởi kiện, khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu
nại, kiến nghị về việc trả lại đơn… Vì thế, nếu Thẩm phán có đủ kiến thức pháp luật,
kỹ năng, kinh nghiệm sẽ đảm bảo hiệu quả thực hiện pháp luật về khởi kiện VADS,
đơn khởi kiện sẽ được xem xét theo đúng quy định pháp luật. Ngược lại, sẽ có những
sai sót như trả lại đơn khởi kiện khơng đúng quy định pháp luật khiến các chủ thể
không thể thực hiện được quyền của mình.
19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tại Chương 1, trên cơ sở phân tích về quyền khởi kiện vụ án dân sự, Khóa
luận đã khái quát về khái niệm khởi kiện vụ án dân sự. Khởi kiện vụ án dân sự là hoạt
động tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền, tự mình hoặc thơng qua người
đại diện hợp pháp của mình đưa vấn đề tranh chấp ra Tịa án có thẩm quyền giải quyết
theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình hoặc của người khác, lợi ích cơng cộng hoặc lợi ích của Nhà nước.
Dựa vào khái niệm, Chương 1 Khóa luận đã phân tích được đặc điểm, ý nghĩa
của khởi kiện vụ án dân sự. Đồng thời, Chương 1 cũng chỉ ra được cơ sở khoa học
xây dựng pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự bao gồm: dựa trên nguyên tắc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể; dựa trên nguyên tắc Nhà nước ghi nhận
và đảm bảo thực hiện các quyền con người về dân sự; dựa trên nguyên tắc quyền
quyết định và tự định đoạt của đương sự; và dựa trên nguyên tắc tuân thủ pháp luật.
Bên cạnh đó, các yếu tố ảnh hưởng đến khởi kiện vụ án dân sự như: tính thống nhất,
phù hợp của các quy định pháp luật; trình độ hiểu biết và ý thức tuân thủ pháp luật
của chủ thể; và hoạt động hỗ trợ của luật sư, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khi
khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án cũng được phân tích tại Chương 1.
Những vấn đề cơ bản về khởi kiện vụ án dân sự tại Chương 1 là tiền đề để tác
giả tiến hành nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về khởi
kiện vụ án dân sự ở Chương 2 của Khóa luận.