BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ THU HÀ
HỢP ĐỒNG TẶNG CHO NHÀ Ở THEO
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ
VIỆT NAM
KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ THU HÀ
HỢP ĐỒNG TẶNG CHO NHÀ Ở THEO QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
GV HƯỚNG DẪN: Th.S LÊ THỊ DIỄM PHƯƠNG
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 NĂM 2023
DANH MỤC VIẾT TẮT
BLDS
HĐTC
: Bộ luật Dân sự
: Hợp đồng tặng cho
HĐTCNƠ
HĐTCBĐS
HĐTCQSDĐ
LNƠ
LĐĐ
QSD
: Hợp đồng tặng cho nhà ở
: Hợp đồng tặng cho bất động sản
: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
: Luật Nhà ở
: Luật Đất đai
: Quyền sử dụng đất
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu ........................................................................................... 1
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ................................................... 4
3.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................... 4
3.2. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 5
4. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................... 5
5. Kết cấu của khóa luận.......................................................................................... 5
NỘI DUNG ............................................................................................................... 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO NHÀ Ở ... 6
1.1. Lịch sử quá trình hình thành và phát triển các quy định pháp luật về
tặng cho tài sản ở Việt Nam ................................................................................. 6
1.1.1. Giai đoạn trước năm 1945........................................................................ 6
1.1.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến nay................................................................ 8
1.2. Những quy định chung về hợp đồng tặng cho tài sản .............................. 10
1.3. Khái niệm và đặc điểm về hợp đồng tặng cho nhà ở ................................ 15
1.3.1. Khái niệm và đặc điểm về nhà ở ............................................................. 15
1.3.2. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tặng cho nhà ở............................ 16
1.4. Thực trạng pháp luật về hợp đồng tặng cho nhà ở .................................. 17
1.4.1. Chủ thể của hợp đồng tặng cho nhà ở .................................................... 17
1.4.2. Đối tượng của hợp đồng tặng cho nhà ở ................................................ 21
1.4.3. Nội dung của hợp đồng tặng cho nhà ở .................................................. 21
1.4.4. Hình thức của hợp đồng tặng cho nhà ở ................................................ 22
1.4.5. Thời điểm phát sinh hiệu lực và thời điểm chuyển quyền sở hữu của hợp
đồng tặng cho nhà ở ......................................................................................... 23
1.4.6. Các nội dung khác liên quan đến tặng cho nhà ở .................................. 25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ....................................................................................... 29
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO NHÀ Ở ........................... 30
2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp
đồng tặng cho nhà ở và kiến nghị hoàn thiện .................................................. 30
2.1.1. Hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở................................................... 30
2.1.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật .............................................................. 32
2.2. Thực tiễn pháp luật áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với
hợp đồng tặng cho nhà ở và kiến nghị hoàn thiện ........................................... 32
2.2.1. Thực tiễn áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 về công nhận hiệu
lực của hợp đồng tặng cho ............................................................................... 32
2.2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật .............................................................. 37
2.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng tặng cho nhà ở có điều kiện và
kiến nghị hồn thiện ........................................................................................... 37
2.3.1. Điều kiện huỷ bỏ hợp đồng tặng cho ...................................................... 37
2.3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật .............................................................. 40
2.4. Thực tiễn tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương và kiến nghị hoàn
thiện ..................................................................................................................... 42
2.4.1. Điều kiện giới hạn quyền sở hữu trong hợp đồng tặng cho nhà tình
nghĩa, nhà tình thương...................................................................................... 42
2.4.2. Kiến nghị hoàn thiện ............................................................................... 45
2.5. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hợp đồng tặng
cho nhà ở ............................................................................................................. 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ....................................................................................... 47
KẾT LUẬN CHUNG ............................................................................................. 48
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hợp đồng dân sự có ý nghĩa vơ cùng quan trọng trong các lĩnh vực đời sống xã
hội. Trong đó, hợp đồng tặng cho tài sản nói chung và hợp đồng tặng cho nhà ở nói
riêng là loại hợp đồng diễn ra phổ biến trên thực tế, chịu sự điều chỉnh chủ yếu của
các văn bản pháp luật như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Đất
đai năm 2013. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để các cơ quan có thẩm quyền
áp dụng trong việc quản lý nhà nước và giải quyết các tranh chấp liên quan đến bất
động sản. Tuy nhiên trên thực tế quy định pháp luật điều chỉnh về vấn đề này còn
nhiều thiếu sót, chưa bắt kịp với tốc độ phát triển của xã hội; từ đó dẫn đến nhiều bất
cập khó khăn trong việc vận dụng và giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng
tặng cho nhà ở, nhất là trong bối cảnh tặng cho nhà ở ngày càng đa dạng phong phú
và phức tạp.
Cho đến thời điểm hiện nay, trong lĩnh vực khoa học pháp lý đã có nhiều cơng
trình nghiên cứu về hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất,
nhưng các nghiên cứu về hợp đồng tặng cho nhà ở còn khá ít. Trong khi đó, thực tiễn
giải quyết tranh chấp cho thấy nhiều nội dung vụ việc liên quan đến tặng cho nhà ở
còn bỏ ngỏ bởi thiếu những quy định cụ thể để áp dụng. Trong phạm vi của khóa luận,
tác giả sẽ có những nghiên cứu chuyên sâu để phân tích rõ hơn cơ sở lý luận, cơ sở
pháp lý, cơ sở thực tiễn về hợp đồng tặng cho nhà ở; chỉ ra những khó khăn vướng
mắc khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng này. Đặc biệt trong giai
đoạn hiện nay, khi Quốc hội đang hoàn thiện Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi), Dự thảo
Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) thì việc
nghiên cứu đề tài này của tác giả góp phần kiến nghị hồn thiện cho pháp luật nhà ở,
đất đai về lĩnh vực này.
Từ những nội dung trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu đề tài: “Hợp đồng
tặng cho nhà ở theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam” là cần thiết và phù hợp
với giai đoạn hiện nay về cả lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Có nhiều cơng trình khoa học của nhiều tác giả được nghiên cứu dưới các hình
thức khác nhau về hợp đồng tặng cho. Nhưng qua tìm hiểu nhận thấy, chủ yếu là các
nghiên cứu về hợp đồng tặng cho tài sản, các cơng trình tập trung nghiên cứu về hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất chiếm một số lượng lớn, và có rất ít các cơng trình
1
nghiên cứu về hợp đồng tặng cho nhà ở. Tuy nhiên xét thấy nhà ở là một loại tài sản,
loại tài sản này gắn liền với đất, nên hợp đồng tặng cho nhà ở cần phải đáp ứng các
đặc điểm pháp lý chung của hợp đồng tặng cho tài sản, và đặt trong mối quan hệ với
tặng cho quyền sử dụng đất. Do đó bên cạnh các cơng trình nghiên cứu về hợp đồng
tặng cho nhà ở, việc tham khảo các cơng trình khoa học về hợp đồng tặng cho tài sản,
tặng cho quyền sử dụng đất làm cơ sở nghiên cứu hợp đồng tặng cho nhà ở là cần
thiết. Có thể nêu ra một số cơng trình nghiên cứu tiêu biểu như sau:
Nguyễn Hải An (2012), Pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất ở Việt Nam,
Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật. Sách tham khảo với các nội dung lý luận chung về
tặng cho quyền sử dụng đất ở, thực trạng và thực tiễn tặng cho quyền sử dụng đất
nhìn nhận qua hoạt động xét xử của tịa án. Qua đó định hướng, kiến nghị các giải
pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về tặng cho quyền sử
dụng đất ở tại Việt Nam. Đây là một cơng trình nghiên cứu chun sâu về tặng cho
quyền sử dụng đất, có giá trị tham khảo trong việc nghiên cứu tặng cho nhà ở - loại
bất động sản gắn liền với đất.
Đỗ Văn Đại (chủ biên) (2013), Giao dịch và giải quyết tranh chấp giao dịch về
quyền sử dụng đất, Nxb Lao động. Tập hợp các bài viết liên quan đến giao dịch và
thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất, trong đó về hợp đồng tặng cho
tài sản có các bài viết sau: Lê Hà Huy Phát, “Thực trạng tặng cho quyền sử dụng đất
tại Việt Nam - Những vấn đề khó khăn, vướng mắc và hướng dẫn hồn thiện”;
Nguyễn Hải An, “Hợp đồng tặng cho quyền sử đất và giải quyết tranh chấp về hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất”. Các tác giả thơng qua phân tích bình luận một số
bản án liên quan đến tặng cho quyền sử dụng đất, tặng cho tài sản gắn liền với đất,
nghiên cứu các vấn đề pháp lý về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, thời điểm có
hiệu lực của hợp đồng, điều kiện tặng cho trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều
kiện, từ đó đó đưa ra kiến nghị hồn thiện những bất cập. Vì đây là cơng trình nghiên
cứu về quyền sử dụng đất, nên các nội dung chủ yếu xoay quanh việc tặng cho có đối
tượng là quyền sử dụng đất, tuy nhiên ở một số nội dung nhất định, tác giả Lê Hà
Huy Phát cũng phân tích một số khía cạnh liên quan đến thời điểm có hiệu lực, thời
điểm chuyển quyền sở hữu của hợp đồng tặng cho nhà ở gắn liền với đất, qua đó giúp
tác giả triển khai sâu hơn một số vấn đề pháp lý liên quan.
Nguyễn Văn Cừ - Trần Thị Huệ (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ
luật Dân sự 2015, Nxb Công an nhân dân. Trong cuốn sách chuyên khảo này, liên
quan đến hợp đồng tặng cho tài sản (từ Điều 457 - Điều 462 BLDS năm 2015), các
2
tác giả đã khái quát nội dung, đưa ra các ví dụ minh hoạ và nêu ra một số quan điểm
liên quan của chính các tác giả và các học giả khác. Đây là nguồn tư liệu tham khảo
làm cơ sở bước đầu giúp tác giả nghiên cứu tổng quát các quy định chung của hợp
đồng tặng cho tài sản.
Lê Thị Giang (2018), “Hoàn thiện pháp luật về thời điểm phát sinh hiệu lực của
hợp đồng tặng cho tài sản”, Tạp chí quản lý nhà nước, số 267. Bài viết tập trung phân
tích các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan
đến thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản. Qua đó tác giả chỉ ra điểm
không thống nhất trong quy định của pháp luật hiện hành và đề xuất giải pháp hoàn
thiện.
Lê Thị Giang (2020), Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp. Tác giả tập trung nghiên cứu và làm rõ
cơ sở lý luận về khái niệm, đặc điểm, các căn cứ phân loại hợp đồng tặng cho tài sản,
thực tiễn xây dựng pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản trên thế giới nói chung và
Việt Nam nói riêng, dẫn chứng các trường hợp tranh chấp trong thực tiễn, qua đó kiến
nghị hồn thiện pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản. Đây là cơng trình nghiên cứu
chuyên sâu về hợp đồng tặng cho tài sản nói chung, làm cơ sở cho tác giả nghiên cứu
các vấn đề pháp lý cụ thể của hợp đồng tặng cho có đối tượng riêng là nhà ở.
Lơ Thị Kiều Linh (2020), Hợp đồng tặng cho nhà ở theo quy định của Bộ Luật
Dân sự năm 2015 và thực tiễn thi hành tại tổ chức hành nghề công chứng, Luận văn
thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn đã nghiên cứu những đặc điểm chung
về hợp đồng tặng cho nhà ở và đánh giá thực trạng, thực tiễn thi hành pháp luật về
hoạt động công chứng loại hợp đồng này, từ đó đưa ra một số giải pháp hồn thiện.
Đây là một trong số ít các cơng trình nghiên cứu về hợp đồng tặng cho nhà ở, tuy
nhiên luận văn chỉ mới nghiên cứu sâu về khía cạnh hoạt động công chứng hợp đồng
tặng cho nhà ở, chưa phân tích tồn diện các vấn đề pháp lý khác liên quan đến lý
luận, nội dung và thực tiễn áp dụng hợp đồng tặng cho nhà ở.
Lê Thị Diễm Phương (2021), “Bàn về tính hợp pháp của điều kiện “khơng được
bán” tài sản tặng cho trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện”, Tạp chí điện tử
tịa án nhân nhân. Trong phạm vi bài viết tác giả phân tích các quy định của pháp
luật hiện hành, thực tiễn xét xử và tham khảo quy định của pháp luật nước ngồi. Từ
đó đưa ra quan điểm về việc cơng nhận tính hợp pháp của điều kiện “khơng được bán”
trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện. Bài viết là nguồn tư liệu tham khảo giúp
tác giả nghiên cứu sâu hơn về loại điều kiện tặng cho này.
3
Lâm Tố Trang (2021), “Hoàn thiện pháp luật về thời điểm tặng cho nhà ở”, Dân
chủ & Pháp luật, số 6 (351). Bài viết phân tích các quy định liên quan đến thời điểm
có hiệu lực của hợp đồng tặng cho nhà ở theo quy định của các văn bản pháp luật có
liên quan. Trên cơ sở đó chỉ ra những điểm chưa thống nhất cần hoàn thiện giữa quy
định của luật chung và luật chuyên ngành.
Đỗ Văn Đại (Chủ biên) (2022), Giao dịch dân sự về bất động sản, Nxb. Hồng
Đức. Nội dung sách nghiên cứu nhiều loại giao dịch bất động sản phổ biến và các vấn
đề liên quan. Trong đó, đối với giao dịch tặng cho nhà ở có bài viết của tác giả Lường
Minh Sơn, “Giao dịch đối với nhà ở là nhà tình nghĩa”, bài viết phân tích về việc giới
hạn quyền sở hữu đối với tặng cho nhà tình nghĩa, các quan điểm xoay quanh và góc
nhìn của tác giả.
Lê Thị Diễm Phương (2022), “Điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều
kiện - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện”, Pháp luật & phát triển, số 11+12.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về điều kiện mà các bên đã thỏa thuận,
điều kiện mang tính chất ngầm định và hậu quả của việc thực hiện không đúng điều
kiện. Bài viết góp phần làm rõ hơn những quy định về điều kiện tặng cho, đưa ra
những khiếm khuyết của chế định này, từ đó giúp hồn thiện các quy định pháp luật
về tặng cho tài sản có điều kiện.
Lê Thị Diễm Phương (2023), “Bất cập trong quy định về tặng cho và di tặng
theo pháp luật dân sự Việt Nam”, Tạp chí Tịa án nhân dân, số 1 (kỳ I). Bài viết phân
tích một số bất cập liên quan đến quy định về tặng cho và di tặng theo pháp luật dân
sự Việt Nam, bình luận bản án để làm rõ những vướng mắc hiện nay giữa quy định
của pháp luật và thực tiễn xét xử, cùng với việc nghiên cứu các quy định liên quan
của pháp luật nước ngồi, qua đó tác giả đưa ra kiến nghị góp phần hồn thiện các
quy định của pháp luật về vấn đề này. Mặc dù với tính chất là tạp chí có dung lượng
trang nhỏ nên mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một vài khía cạnh riêng lẻ của hợp
đồng tặng cho tài sản nhưng bài viết đã cung cấp nguồn tư liệu tham khảo quan trọng
giúp tác giả có cái nhìn tổng qt và tiếp tục hoàn thiện một số vấn đề pháp lý liên
quan đến hợp đồng tặng cho nhà ở.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối với đề tài “Hợp đồng tặng cho nhà ở theo quy định của pháp luật dân sự Việt
Nam”, đối tượng nghiên cứu được xác định như sau:
4
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này bao gồm những vấn đề lý luận, thực trạng
quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua các bản án của Tòa án tại Việt
Nam; nghiên cứu lý luận, pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật ở nước ngoài về
hợp đồng tặng cho nhà ở.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu được xác định như sau:
Về lĩnh vực hợp đồng: tập trung nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành
về hợp đồng tặng cho nhà ở tại Việt Nam. Chủ yếu là các quy định liên quan của Bộ
luật Dân sự năm 2015, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Đất đai năm 2013.
Về mặt thời gian: tập trung nghiên cứu, phân tích những quy định hiện hành, đề
cập đến một số quy định liên quan trong các giai đoạn trước và các văn bản pháp luật
mới sắp được ban hành trong giai đoạn tới.
Về mặt không gian: nghiên cứu các vấn đề lý luận và quy định pháp luật ở Việt
Nam và một số quốc gia khác trên thế giới. Đối với thực tiễn áp dụng pháp luật về
hợp đồng tặng cho nhà ở được tác giả nghiên cứu các vụ việc điển hình khác nhau.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu luận: dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: sử dụng các phương pháp lịch sử, phương pháp
phân tích bình luận, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp thống kê tổng hợp
để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngồi phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục,
nội dung của khóa luận gồm 2 chương, bao gồm:
Chương 1: Khái quát chung về hợp đồng tặng cho nhà ở.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp
đồng tặng cho nhà ở.
5
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO NHÀ Ở
1.1. Lịch sử quá trình hình thành và phát triển các quy định pháp luật về
tặng cho tài sản ở Việt Nam
1.1.1. Giai đoạn trước năm 1945
(1) Thời kỳ phong kiến
Quốc triều Hình luật (Luật hình triều Lê)
Quốc triều hình luật là một bộ luật hình chính thống và quan trọng nhất của triều
đại nhà Lê. Quốc triều hình luật rất chú trọng đến việc xây dựng nền tảng cốt lõi của
khế ước như năng lực chủ thể, đối tượng, thời hiệu và hình thức của khế ước, các vấn
đề liên quan đến quyền sở hữu được quy định chi tiết. Trong đó giá trị tiến bộ của bộ
luật này thể hiện ở sự tôn trọng quyền tự quyết của chủ thể dân sự thông qua các
nguyên tắc đặc trưng như tự nguyện, bình đẳng trung thực, minh bạch”1. Nếu không
tôn trọng nguyên tắc này các giao dịch dân sự sẽ bị vô hiệu và các bên phải chịu các
chế tài kèm theo. Quốc triều hình luật cho chúng ta thấy các khế ước phổ biến là mua
bán, cho vay, cho thuê2. Tuy nhiên giai đoạn này chưa có các quy định cụ thể liên
quan đến tặng cho.
Hồng Việt luật lệ
Hồng Việt luật lệ (hay cịn gọi là Luật Gia Long) gồm 22 quyển 398 điều là
một dấu ấn nổi bật của triều nhà Nguyễn, pháp luật thời kỳ này tiếp tục công nhận và
bảo vệ chế độ sở hữu tư nhân đối với đất đai, “việc tặng cho tài sản trong đó có đất
đai là những giao dịch dân sự được nhà Nguyễn thừa nhận nếu việc tặng cho này
không trái với quy định của pháp luật”3. Có thể thấy thời kỳ này, pháp luật cơng nhận
quyền sở hữu tư nhân, chủ sở hữu có quyền tự do định đoạt tài sản của mình và tặng
cho tài sản là hợp pháp; tuy nhiên nội dung cụ thể về tặng cho tài sản vẫn chưa được
pháp luật trực tiếp quy định.
(2) Thời kỳ Pháp thuộc
Thời kỳ này Việt Nam bị Pháp chia làm 3 vùng gồm Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam
Kỳ, mỗi vùng bị chi phối bởi một Bộ luật Dân sự riêng.
1
Lương Văn Tuấn (2018), Luật hình triều Lê - Những giá trị trong thời đại ngày nay, Nxb Hồng Đức, tr.151.
Lê Thị Sơn (2004), Quốc triều hình luật - Lịch sử hình thành nội dung và giá trị, Nxb Khoa học xã hội,
tr. 303.
3
Nguyễn Hải An (2012), Pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia
Sự thật, tr.93.
2
6
Miền nam áp dụng Bộ Dân luật Nam kỳ giản yếu năm 1883 hoàn toàn là luật
của Pháp soạn. Bộ luật này được sao chép giản lược từ Bộ luật Napoleon, khơng có
quy định về khế ước và nghĩa vụ4, chỉ xoay quanh các vấn đề về hộ tịch, nhân thân,
hơn nhân. Và vì vậy HĐTCTS khơng được chú trọng trong Bộ Dân luật này.
Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 19315 ở miền Bắc và Bộ Dân luật Trung Kỳ năm 19366
(Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) ở miền Trung đều đã chính thức ghi nhận về tặng cho
với tên gọi là “Sinh thời tặng dữ”. Trong đó có thể thấy Bộ Dân luật Trung Kỳ rất
chú trọng đến “Sinh thời tặng dữ” khi dành riêng 44 điều (gồm 5 tiết, từ Điều 951
đến Điều 994) để quy định về vấn đề này. Nhìn chung hai Bộ Dân luật này có cách
thức quy định tương đối giống nhau về những vấn đề sau: Về khái niệm, “sinh thời
tặng dữ là một khế ước do bên tặng chủ hiện thời bỏ của ra, bên thụ tặng nhận lấy”7;
Mục đích tặng dữ là để làm phúc, hoặc đền công, hoặc để thưởng tứ8; Về đối tượng
và hình thức tặng dữ, “tặng dữ tiền bạc hoặc vật động sản thì khơng phải theo thể lệ
gì, tặng chủ chỉ giao của tặng cho người thụ tặng là xong”, “tặng dữ bất động sản phải
được lập thành khế ước trước nơ-te, hoặc có chức dịch thị thực, tại trước mặt người
thụ tặng, mà người này phải thuận nhận”9. Bên cạnh đó cịn có các quy định về việc
người tặng chủ được quyền bãi tặng dữ trong một số trường hợp: vì sinh con, hoặc
bên thụ tặng không thi hành nghĩa vụ hoặc do vô ơn khi phạm một trong các điều sau:
1) phạm đến tính mạng người tặng chủ, 2) ngược đãi hay thống mạ với người tặng
chủ, 3) từ chối cấp lương thực (cấp dưỡng) cho người tặng chủ,...10.
Ngoài ra Bộ Dân luật Trung Kỳ cịn có nhiều quy định tiến bộ hơn so với Bộ
Dân luật Bắc Kỳ khi có thêm một số quy định vẫn giữ nguyên được giá trị cho đến
ngày nay như: “chỉ tặng dữ tài sản mà mình hiện có thơi, nếu tặng dữ tài sản mình sẽ
có, thời sự tặng dữ ấy là vô hiệu” (Điều 952), “trong một việc tặng dữ mà có điều
kiện khơng thi hành được, hay trái với luật hoặc phong hoá thời coi là khơng biên
vào” (Điều 954).
Nhìn chung do hồn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Bộ Dân
luật Trung Kỳ chịu ảnh hưởng từ BLDS Pháp năm 1804 và kế thừa nhiều quy định
4
Các tác giả (2015), Hồng Việt hộ luật: Góc nhìn sử Việt, Nxb Hồng Đức, tr.10
Điều 864-876 Bộ Dân luật Bắc Kỳ.
6
Điều 951-994 Bộ Dân luật Trung Kỳ.
7
Điều 864 Bộ Dân luật Bắc Kỳ; Điều 951 Bộ Dân luật Trung Kỳ.
8
Điều 866 Bộ Dân luật Bắc Kỳ; Điều 952 Bộ Dân luật Trung Kỳ.
9
Điều 866, 867 Bộ Dân luật Bắc Kỳ; Điều 970, 976 Bộ Dân luật Trung Kỳ.
10
Điều 872-874 Bộ Dân luật Bắc Kỳ; Điều 980-984 Bộ Dân luật Trung Kỳ.
5
7
từ Bộ luật này. Tuy nhiên Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Trung Kỳ cũng có những điểm
khác biệt nhất định so với BLDS Pháp năm 1804, chẳng hạn như BLDS Pháp quy
định “việc tặng cho được coi là hoàn tất sau khi có sự đồng ý của hai bên; quyền sở
hữu vật tặng cho được chuyển cho người được tặng mà không cần được chuyển giao
tài sản trên thực tế”11; trong khi Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Bộ Dân luật Trung Kỳ yêu
cầu phải có sự chuyển giao trên thực tế “tặng dữ tiền bạc hoặc vật động sản, tặng chủ
giao của tặng cho người thụ tặng”12.
1.1.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến nay
(1) Giai đoạn pháp luật chưa quy định chi tiết về hợp đồng tặng cho tài sản
Các quy định về tặng cho tài sản đặc biệt là bất động sản chịu ảnh hưởng sâu sắc
của hình thái kinh tế chính trị, đường lối tư tưởng của Đảng và Nhà nước, được biểu
hiện thông qua nội dung của Hiến pháp.
Điều 12 của Hiến pháp năm 1946 quy định quyền tư hữu tài sản của công dân
Việt Nam được bảo đảm và vì vậy, các quyền năng (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt)
của chủ sở hữu đất đai được bảo hộ. Người sở hữu đất đai có quyền bán, tặng, cho và
để lại thừa kế đất đai13. Bên cạnh đó, Sắc lệnh số 85/SL ngày 29 tháng 02 năm 1952
của Chủ tịch nước về việc ban hành thể lệ trước bạ các việc mua bán, cho và đổi nhà
cửa, ruộng đất, đã cho phép tặng cho và đổi nhà cửa. Việc công nhận về các quyền
này tiếp tục được ghi nhận trong Hiến pháp 1959 (Điều 16). Tuy nhiên nội dung và
hình thức của HĐTCNƠ lúc này vẫn chưa được quy định cụ thể.
Hiến pháp năm 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân (Điều 19), giai đoạn
này chỉ công nhận hai thành phần kinh tế là thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở
hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao
động (Điều 18). Dưới tư tưởng chủ đạo đó, Luật Đất đai năm 1987 nghiêm cấm
chuyển quyền sử dụng đất dưới mọi hình thức, vì vậy tặng cho quyền sử dụng đất
được xác lập trong thời điểm từ ngày 01-7-1980 đến trước ngày 15-10-1993 (Luật
Đất đai năm 1993 có hiệu lực) là hợp đồng trái pháp luật và bị coi là vô hiệu. Với nhà
ở, Pháp lệnh số 51-LCT/HĐNN8 ngày 06 tháng 4 năm 1991 của Hội đồng Nhà nước
về nhà ở và Pháp lệnh số 52/LCT/HĐNN8 ngày 7 tháng 5 năm 1991 của Hội đồng
Nhà nước về hợp đồng dân sự, ghi nhận cá nhân có quyền sở hữu nhà ở thông qua
11
Điều 939 BLDS Pháp năm 1804.
Điều 866 Bộ Dân luật Bắc Kỳ; Điều 970 Bộ Dân luật Trung Kỳ.
13
Nguyễn Hải An (2012), Pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự
thật, tr.93.
12
8
tặng cho. Tuy nhiên pháp luật ở thời kỳ này vẫn chưa có quy định riêng về hợp đồng
tặng cho nhà ở, các vấn đề liên quan đến hợp đồng tặng cho nhà ở tuân thủ theo các
quy định chung về hợp đồng.
Từ sau Hiến pháp năm 1992 đến nay, Nhà nước đã cơng nhận nền kinh tế hàng
hố nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, ghi nhận quyền sử dụng đất của tư nhân.
Qua đó Luật Đất đai năm 1993 khẳng định quyền của người sử dụng đất như sau: “Tổ
chức, cá nhân sử dụng đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế,
thế chấp quyền sử dụng đất”; từ đó cho phép người sử dụng đất được thực hiện đầy
đủ các quyền năng của chủ sở hữu, riêng tặng cho quyền sử dụng đất vẫn chưa được
chính thức quy định. Đối với tặng cho nhà ở, ngoài quy định cho phép tặng cho nhà
ở tại Pháp lệnh số 51-LCT/HĐNN8, Pháp lệnh số 52/LCT/HĐNN8, Chính phủ đã
ban hành Nghị định số 60/CP ngày 5 tháng 7 năm 1994 về quyền sở hữu nhà ở và
quyền sử dụng đất ở tại đô thị, cho phép chủ sở hữu nhà ở là cá nhân nước ngoài định
cư ở Việt Nam có quyền tặng cho nhà ở. Đối với các giao dịch tặng cho nhà ở trước
ngày 01 tháng 7 năm 1991 (trước ngày Pháp lệnh số 51-LCT/HĐNN8, Pháp lệnh số
52/LCT/HĐNN8 có hiệu lực), các vấn đề liên quan đến xác lập quyền sở hữu và thời
điểm có hiệu lực của HĐTCNƠ được điều chỉnh bởi Nghị quyết số 58/1998/NQUBTVQH10 ngày 20 tháng 8 năm 1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao
dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1 tháng 7 năm 1991, và Nghị quyết số
1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27 tháng 7 năm 2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 01 tháng 7 năm 1991 có
người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia.
(2) Giai đoạn hợp đồng tặng cho tài sản được chính thức ghi nhận
Từ sau Hiến pháp năm 1992, phạm vi quyền sở hữu của công dân ngày càng
được mở rộng. BLDS năm 1995 đã dành riêng Mục 3 Chương II (từ Điều 461 đến
Điều 466) để quy định về HĐTCTS. Có thể nói đây là lần đầu tiên vấn đề về tặng cho
tài sản được pháp luật chính thức quy định cụ thể từ sau năm 1945.
Sau đó BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 hiện hành vẫn tiếp tục quy định về
HĐTCTS nhưng khơng có nhiều điểm khác biệt so với BLDS năm 1995. Theo đó
BLDS năm 1995, BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đều ghi nhận: “Hợp đồng tặng
cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình
và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được
tặng cho đồng ý nhận”. Ngoài ra các BLDS đều có quy định về HĐTCTS có điều
kiện, về hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Riêng BLDS năm 2015 có
9
thêm quy định các bên được quyền thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
tặng cho động sản14.
Bên cạnh đó, từ Luật Đất đai năm 2003 đến Luật Đất đai năm 2013 hiện hành,
pháp luật đã cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất qua việc tặng cho. Cùng với
đó tặng cho có đối tượng là nhà ở đã được quy định riêng và ngày càng hoàn thiện
trong Luật Nhà ở năm 2005, Luật Nhà ở năm 2014 hiện hành, và sắp tới Luật Nhà ở
năm 2024 sẽ chính thức được thơng qua, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho việc
thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến đến bất động
sản nói chung và nhà ở nói riêng.
1.2. Những quy định chung về hợp đồng tặng cho tài sản
Trước hết dựa vào quy định tại Điều 457 của BLDS năm 2015 về khái niệm của
HĐTCTS: “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng
cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không
yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận”, có thể đưa ra các nhận định sau:
Thứ nhất, HĐTCTS được hình thành dựa trên sự thỏa thuận của các bên trên cơ
sở hợp đồng, và chỉ xác lập khi bên tặng cho đồng ý nhận.
Thứ hai, HĐTCTS là một trong những phương thức chủ sở hữu định đoạt tài sản
của mình, thơng qua việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản sang cho bên được tặng
cho.
Thứ ba, việc tặng cho tài sản thường được xác lập giữa những người có mối quan
hệ thân thiết như cha mẹ tặng tài sản cho con, anh chị em, bạn bè tặng tài sản cho
nhau. Việc tặng cho tài sản giữa những người này vừa mang tính chất trách nhiệm
vừa thể hiện sự u thương, gắn bó, đùm bọc trong gia đình; bên cạnh đó, việc tặng
cho tài sản cịn mang tính chất nhân đạo được thể hiện thơng qua hình thức làm từ
thiện15. Từ đó làm nên tính chất khơng có đền bù – tính chất đặc trưng của HĐTCTS.
HĐTCTS là loại hợp đồng thông dụng ở Việt Nam cũng như trên thế giới, hiện
nay trong các cơng trình khoa học pháp lý, liên quan đến đặc điểm của HĐTCTS còn
tồn tại một số quan điểm chưa thống nhất về các vấn đề sau:
HĐTCTS là hợp đồng đơn vụ hay hợp đồng song vụ
Nhìn chung khi phân loại hợp đồng, căn cứ vào mối liên hệ về quyền và nghĩa
vụ dân sự thì hợp đồng thường được phân thành hai loại là hợp đồng đơn vụ và hợp
14
Khoản 1 Điều 485 BLDS năm 2015.
Nguyễn Văn Cừ - Trần Thị Huệ (đồng chủ biên) (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2015 của nước
CHXHCN Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân, tr.684.
15
10
đồng song vụ, đây cũng là hướng tiếp cận của BLDS năm 2015: “Hợp đồng song vụ
là hợp đồng mà các bên chủ thể đều có nghĩa vụ đối với nhau; Hợp đồng đơn vụ là
hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ”16. HĐTCTS khơng có điều kiện rõ ràng là hợp
đồng đơn vụ. Tuy nhiên việc xác định HĐTCTS có điều kiện là hợp đồng đơn vụ hay
hợp đồng tặng cho cũng có nhiều quan điểm xung quanh vấn đề này.
Quan điểm HĐTCTS là hợp đồng đơn vụ: Theo một tác giả HĐTCTS thơng
thường hay HĐTCTS có điều kiện đều là hợp đồng đơn vụ, bởi vì: “Hợp đồng tặng
cho nhà ở chỉ tồn tại nghĩa vụ của bên tặng cho đối với bên được tặng cho. Việc nhận
tài sản tặng cho không xác định là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc đối với bên được tặng
cho. Ngay cả đối với hợp đồng tặng cho có điều kiện, điều kiện mà các bên thỏa thuận
phải có ý nghĩa đối với việc thực hiện hợp đồng. Còn những điều kiện thực hiện nghĩa
vụ trong hợp đồng tặng cho không có hiệu lực ràng buộc giữa các bên. Do đó, khơng
thể coi là hợp đồng tặng cho có điều kiện là hợp đồng song vụ vì quyền của bên này
khơng tương xứng với nghĩa vụ của bên kia”17.
Quan điểm khác lại nhận định rằng: HĐTCTS thông thường là hợp đồng đơn vụ,
HĐTCTS là hợp đồng song vụ nếu tặng cho kèm điều kiện18. Theo đó HĐTCTS
thơng thường là hợp đồng đơn vụ bởi bên được tặng cho không phải thực hiện bất cứ
nghĩa vụ nào với bên tặng cho, HĐTCTS có điều kiện là loại hợp đồng mà bên được
tặng cho phải thực hiện một hoặc nhiều điều kiện tặng cho vào thời điểm trước hoặc
sau khi nhận tài sản. Tác giả đồng tình với quan điểm này, vì nếu như chỉ xem
HĐTCTS có điều kiện là hợp đồng đơn vụ thì đang bỏ qua nghĩa vụ của người được
tặng cho trong HĐTCTS có điều kiện. Trong HĐTCTS có điều kiện nghĩa vụ thực
hiện điều kiện được đặt ra đối với bên được tặng cho, tương ứng với đó là nghĩa vụ
chuyển giao tài sản của bên tặng cho, một ví dụ điển hình như: cha mẹ tặng cho con
nhà đất với điều kiện sau khi tặng cho con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cha mẹ,
lúc này cha mẹ có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu nhà đất cho con, tương ứng với đó
là nghĩa vụ thực hiện cấp dưỡng của người con đối với cha mẹ; nếu người con không
thực hiện nghĩa vụ như đã thỏa thuận thì phải trả lại tài sản, thậm chí phải bồi thường
nếu làm hư hỏng tài sản.
HĐTCTS là hợp đồng ưng thuận, hợp đồng thực tế hay hợp đồng trọng thức
16
Khoản 1, khoản 2 Điều 402 BLDS năm 2015.
Lô Thị Kiều Linh (2020), Hợp đồng tặng cho nhà ở theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2015 và thực
tiễn thi hành tại tổ chức hành nghề công chứng, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.13.
18
Lê Thị Giang (2020), Hợp đồng tặng cho tài sản - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, tr.4243.
17
11
Đây là một trong những căn cứ phân loại hợp đồng tặng cho. Theo các luật gia
La Mã thì căn cứ vào thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng, hợp đồng được chia
thành hợp đồng thực tế và hợp đồng ưng thuận19. Đây cũng là quan điểm trong Giáo
trình Luật Dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, hợp đồng cũng được
phân thành hai loại hợp đồng ưng thuận và hợp đồng thực tế, theo đó: “Hợp đồng ưng
thuận là hợp đồng mà thời điểm có hiệu lực của nó được xác định tại thời điểm giao
kết, hợp đồng thực tế là hợp đồng mà sau khi thỏa thuận, hiệu lực của nó chỉ phát
sinh tại thời điểm khi các bên đã chuyển giao cho nhau đối tượng của hợp đồng”20.
Trong khoa học pháp lý, nhiều tác giả cũng dựa vào căn cứ này để phân loại hợp đồng.
Tác giả Corinne Renault-Brahinsky đã phân loại hợp đồng thành hai loại: hợp đồng
mang tính chất thoả thuận và hợp đồng khơng mang tính chất thoả thuận, trong đó
hợp đồng khơng mang tính chất thoả thuận gồm hợp đồng phải tuân thủ thủ tục và
hợp đồng thực hiện trên thực tế21. Tác giả Nguyễn Mạnh Bách phân loại hợp đồng
thành hợp đồng thoả thuận ý chí, trọng thể và giao nạp22.
Dù gọi tên khác nhau thì về cơ bản dựa vào thời điểm phát sinh hiệu lực hợp
đồng thường được phân thành ba dạng phổ biến đó là hợp đồng thực tế, hợp đồng
ưng thuận, và hợp đồng trọng thức. Pháp luật các nước quy định không thống nhất về
vấn đề này. Chẳng hạn, theo BLDS Pháp mọi chứng thư tặng cho phải được lập trước
công chứng viên theo hình thức thơng thường của hợp đồng23, và quyền sở hữu tài
sản tặng cho được chuyển cho người được tặng cho mà không cần phải chuyển giao
tài sản trên thực tế24, như vậy ở đây mọi hợp đồng tặng cho đều là hợp đồng trọng
thức mà không phải là hợp đồng thực tế. Theo pháp luật Scotland việc tặng cho có
thể tiến hành bằng lời nói, việc tặng cho đồ nội thất và các tài sản cá nhân khác
(chattels) có thể được thể hiện bằng cử chỉ tượng trưng là lời nói25; tuy nhiên đối với
một số đối tượng ví dụ như đất đai, động sản vơ hình việc chuyển nhượng phải được
thực hiện bằng một số thủ tục (văn bản) và đăng ký để cấu thành và hoàn thành việc
19
Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Luật La Mã, Nxb Cơng an nhân dân, tr.106.
Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 2), Nxb Công an nhân dân,
tr.124.
21
Corinne Renault-Brahinsky (2004), Đại cương pháp luật về pháp luật hợp đồng, Nxb Văn hố thơng tin,
tr.24.
22
Nguyễn Mạnh Bách (1995), Pháp luật về hợp đồng, Nxb Chính trị quốc gia, tr.18-19.
23
Điều 931 BLDS Pháp (sửa đổi năm 2016).
24
Điều 938 BLDS Pháp (sửa đổi năm 2016).
25
“Making sure the gift is made”, Making sure the gift is made | STEP Scotland, truy cập ngày 06/3/2023
20
12
chuyển giao26. Như vậy pháp luật Scotland xác định thời điểm có hiệu lực của tặng
cho tuỳ vào bản chất của tài sản, có thể là hợp đồng ưng thuận hoặc hợp đồng trọng
thức.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành (luật chung – BLDS năm 2015),
tuỳ vào từng đối tượng, HĐTCTS có thể là hợp đồng thực tế hoặc hợp đồng trọng
thức. Đối với nhóm tài sản không phải đăng ký quyền sở hữu, HĐTC là hợp đồng
thực tế vì hợp đồng này có hiệu lực kể từ thời điểm bên nhận tặng cho nhận tài sản.
Còn đối với nhóm tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì thời điểm phát sinh hiệu lực
của HĐTCTS được quy định chặt chẽ, sự kiện giao – nhận phải được thực hiện bằng
thủ tục đăng ký quyền sở hữu, trong trường hợp này HĐTC là hợp đồng trọng thức.
Tác giả cho rằng không nên xem HĐTCTS là hợp đồng ưng thuận, mà tuỳ vào
từng bản chất của đối tượng nên xác định đây là hợp đồng thực tế hoặc hợp đồng
trọng thức, nhằm bảo vệ tốt nhất cho bên tặng cho. Vì tặng cho được coi là một quan
hệ bất bình đẳng, mối quan hệ mà cơng lý địi hỏi phải cân bằng lại vị thế của các bên,
nói cách khác nên “ưu ái” cho bên tặng cho – bên bị giảm sút tài sản mà không nhận
được lợi ích đối ứng. Khi tham gia vào quan hệ này, ít nhất bên tặng cho phải “tham
gia tích cực” bằng hành vi pháp lý để đảm bảo ý chí tặng cho đến cùng, cũng như có
cơ hội suy nghĩ kỹ lưỡng trước khi đặt mình vào tình thế bất lợi. Nếu như bên tặng
cho ban đầu đồng ý nhưng sau đó “thất tín”, lúc này khơng nên xem hợp đồng đã có
hiệu lực mà buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ tặng cho, việc thất tín trong trường hợp
này nên được điều chỉnh bởi quy phạm đạo đức hơn là quy phạm pháp luật. Nói vậy
khơng có nghĩa là để mặc cho bên tặng cho thất tín, dẫn đến việc lợi dụng pháp luật
làm lợi cho bản thân mà gây phương hại cho người khác, đặc biệt là bên được tặng
cho trong HĐTCTS có điều kiện. Vì vậy theo tác giả, trong một số trường hợp cụ thể,
tuy bên tặng cho thất tín nhưng nếu như đáp ứng được một số điều kiện thì vẫn nên
cơng nhận hiệu lực của hợp đồng này, tạo ra cơ chế ràng buộc trách nhiệm với bên
tặng cho, những vấn đề này sẽ tiếp tục được nghiên cứu tại chương 2.
Tính khơng có đền bù
Theo quan điểm của hầu hết các nhà nghiên cứu HĐTCTS là hợp đồng khơng
có đền bù, đây là loại hợp đồng mà khi một bên trao cho bên kia một lợi ích thì khơng
nhân lại bất kỳ một lợi ích nào khác. Quan điểm lập pháp trong nước thể hiện qua
26
MacQueen,
H
&
Hogg,
“Donation
in
Scots
Law”,
/>truy cập ngày 06/3/2023.
13
Điều 457 BLDS năm 2015, nhấn mạnh tính khơng có đền bù của HĐTC một cách
tuyệt đối: Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên mà không yêu cầu
đền bù. Pháp luật Scotland tiếp cận tương tự: Tặng cho rõ ràng là hành vi cho khơng
tạo ra một lợi ích cho bên kia nhưng cho khơng, bên được tặng cho nhận được lợi ích
đó nhưng khơng trao lại lợi ích đối ứng27. BLDS và Thương mại Thái Lan xác định:
“Tặng cho là một hợp đồng mà người tặng chuyển giao tài sản của mình cho người
khác một cách vô cớ”28, tương tự với BLDS Trung Quốc: “Hợp đồng tặng cho là một
hợp đồng mà theo đó người tặng tặng tài sản của mình cho người được tặng cho một
cách vơ cớ”29.
Có thể thấy tính khơng có đền bù là đặc trưng cơ bản nhất của HĐTCTS. Việc
tặng cho có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng chắc chắn khơng phải vì lợi
ích vật chất nhận được từ bên tặng cho. Chính điều này đã dẫn đến tính bất bình đẳng
của hợp đồng tặng cho – một điểm khác biệt cốt lõi so với các loại hợp đồng khác,
như một tác giả đã nhận định “phải thừa nhận rằng đây là loại hợp đồng mà ngun
tắc bình đẳng giữa các bên giao kết ít được tơn trọng nhất”30. Vì vậy khơng dễ dàng
để một HĐTCTS hình thành. Sự tồn tại của hợp đồng này được lý giải dựa trên tình
cảm yêu thương, tương trợ, giúp đỡ. Đây là một loại hợp đồng mà tính chất của nó
đã vượt ngồi quy luật giá trị bởi sự chi phối của yếu tố tình cảm31. Vì vậy khi xác
định loại hợp đồng cần phải xem xét mối quan hệ giữa bên tặng cho và bên được tặng
cho, tránh nhầm lẫn HĐTCTS với các loại hợp đồng khác xuất phát từ sự bình đẳng
và trao đổi ngang giá. Một học giả ở Scotland, Erskine lập luận rằng cần phải xem
xét mối quan hệ giữa bên tặng cho và bên được tặng cho, và nếu các bên là chủ nợ và
con nợ thì khơng được coi là tặng cho mà là tài sản đảm bảo hoặc trả nợ, và nếu tồn
tại mối quan hệ thân thiết giữa các bên (ví dụ như là “tình cảm cha con”), thì giả định
đó có thể bị bỏ qua32.
27
Assis, Jỗo de Sousa (2017), “The law of donation and the market: Scottish, Portuguese and French
perspectives”, truy cập ngày 06/3/2023.
28
Điều 521 BLDS và Thương mại Thái Lan năm 1925 (sửa đổi bổ sung năm 1992).
29
Điều 657 BLDS Trung Quốc năm 2020.
30
Nguyễn Ngọc Điện (1999), Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật Dân sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc
gia, tr.162.
31
Lê Thị Giang (2019), Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.36.
32
MacQueen,
H
&
Hogg,
“Donation
in
Scots
Law”,
/>truy cập ngày 06/3/2023.
14
Có học giả băn khoăn về tính khơng có đền bù trong HĐTCTS có điều kiện vì
BLDS hiện hành khơng quy định cụ thể điều kiện tặng cho nên nếu bên tặng cho yêu
cầu bên được tặng cho thực hiện điều kiện nhằm mang lại lợi ích cho họ về mặt vật
chất thì điều kiện đưa ra có được thừa nhận hay khơng? Có nghiên cứu cho rằng tính
khơng có đền bù của HĐTCTS thể hiện ở chỗ tặng cho tài sản “chỉ làm lợi cho bên
được tặng cho mà khơng mang lại lợi ích vật chất cho bên tặng cho tài sản”33. Tuy
nhiên theo quan điểm của tác giả các bên vẫn có quyền được thỏa thuận điều kiện
tặng cho mang lại lợi ích vật chất, nhưng gián tiếp và không tương xứng, tức là các
bên được quyền thỏa thuận các điều kiện phải dùng vật chất đáp ứng nhưng bên được
tặng cho có tồn quyền quyết định đối với việc chi trả khoản vật chất khi thực hiện
điều kiện, và các khoản đó so với giá trị của tài sản tặng cho là không tương đương
và rất nhỏ, miễn là việc chấp thuận điều kiện đặt ra là để đảm bảo cho hợp đồng có
hiệu lực chứ khơng phải là động cơ để thực hiện việc tặng cho tài sản – động cơ nhận
lại lợi ích ngang giá. Chẳng hạn các HĐTCTS có các điều kiện như chăm sóc, ni
dưỡng, thờ cúng, hương hỏa,…đều được các Tịa án trong và ngồi nước hiện nay
cơng nhận.
1.3. Khái niệm và đặc điểm về hợp đồng tặng cho nhà ở
1.3.1. Khái niệm và đặc điểm về nhà ở
Từ lâu nhà ở đã mối quan tâm hàng đầu của con người, không chỉ đơn thuần
không gian cư trú sinh sống, nhà ở ngày càng giữ một vị trí quan trọng trong cuộc
sống. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, nhà ở là “nhà có chức năng chủ yếu để ở,
là nhà phổ biến nhất trong các khu dân cư đô thị và nông thôn bào gồm rất nhiều thể
loại”34. Về mặt pháp lý, khái niệm về nhà ở mới chỉ xuất hiện gần đây, cụ thể Luật
Nhà ở năm 2005 và Luật Nhà ở năm 2014 quy định: “Nhà ở là công trình xây dựng
với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình cá nhân”35. Hiện
nay pháp luật quy định nhiều loại nhà ở, phục vụ cho các đối tượng khác nhau, chẳng
hạn như: nhà ở riêng lẻ, nhà chung cư xây dựng với mục đích để ở, nhà ở thương mại,
nhà ở xã hội, nhà ở phục vụ tái định cư. Ngoài ra có thể chia thành hai dạng nhà ở có
sẵn và nhà ở hình thành trong tương lai, theo đó nhà ở có sẵn là nhà ở đã hồn thành
việc đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng, nhà ở hình thành trong tương lai là nhà ở
33
Lê Thị Giang (2020), Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn, Nxb Tư pháp, tr.685.
34
Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam (2003), Từ điển bách khoa Việt Nam
(tập 3), Nxb Từ điển bách khoa Hà Nội, tr.218.
35
Điều 1 Luật Nhà ở năm 2005; Khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014.
15
đang trong quá trình đầu tư xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng.
Nhìn chung nhà ở phải có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, phải khẳng định nhà ở là tài sản và có các đặc tính cơ bản của tài sản
như có giá trị kinh tế, có giá trị sử dụng, có thể chuyển chiếm giữ kiểm soát xác lập
quyền làm chủ36; chủ sở hữu nhà ở có đầy đủ các quyền năng, đó là quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng và quyền định đoạt. Bên cạnh đó nhà ở là một loại bất động sản37, dựa
theo tính chất vật lý – pháp lý là khơng di dời, nếu tách rời tài sản này ra khỏi đất thì
sẽ bị hư hỏng, khơng giữ ngun được trạng thái ban đầu. Như vậy nhà ở là tài sản
nói chung và là bất động sản nói riêng.
Thứ hai nhà ở phải phải đáp ứng các điều kiện sau: là công trình xây dựng và
phải gắn liền với đất, tức là về mặt kỹ thuật nó phải được xây dựng một cách cố định,
được đính vào đất và gắn liền với đất38. Theo quy định của Luật Xây dựng, cơng trình
xây dựng là “sản phẩm được xây dựng theo thiết kế, tạo thành bởi sức lao động của
con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào cơng trình, được liên kết định vị với
đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và
phần trên mặt nước”39. Về mặt pháp lý, “nhà ở là cơng trình xây dựng với mục đích
để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”40. Trong phạm vi
nghiên cứu, nhà ở được xây dựng dưới dạng nhằm mục đích để ở, cư trú và sinh hoạt.
Thứ ba, nhà ở là bất động sản, đây là loại tài sản có giá trị lớn và có ý nghĩa quan
trọng trong đời sống mỗi người, cũng như trong việc quản lý nhà nước. Do đó quy
định về hình thức và hiệu lực của các giao dịch liên quan đến bất động sản phải chặt
chẽ và có yêu cầu cao hơn so với các loại giao dịch khác.
1.3.2. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tặng cho nhà ở
Đất đai và nhà ở đều là bất động sản, do tính chất đặc thù hai đối tượng này hiếm
khi tách rời nhau trong các giao dịch dân sự liên quan nhà ở, nhà ở thuộc đối tượng
của HĐTCTS nói chung và HĐTC bất động sản nói riêng. Từ các phân tích trên rút
ra khái niệm và đặc điểm của HĐTCNƠ như sau:
36
Trường Đại học Luật TP. HCM (2019), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu thừa kế, Nxb Hồng
Đức, tr.19-24.
37
Khoản 1 Điều 107 BLDS năm 2015.
38
Trường Đại học Luật TP. HCM, Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Nxb Hồng Đức,
tr.62.
39
Khoản 10 Điều 3 Luật Xây dựng năm 2020.
40
Khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014, khái niệm này được giữ nguyên tại khoản 1 Điều 3 Dự thảo Luật Nhà
ở (sửa đổi) (phiên bản ngày 14/4/2023)
16
Về khái niệm: hợp đồng tặng cho nhà ở là sự thỏa thuận giữa bên tặng cho và
bên được tặng cho, theo đó bên tặng cho chuyển quyền sở hữu nhà ở cho bên được
tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận.
Về đặc điểm: HĐTCNƠ mang đầy đủ các đặc điểm pháp lý của HĐTCTS nói
chung. Theo quan điểm của tác giả, HĐTCNƠ thông thường là hợp đồng đơn vụ, và
là hợp đồng song vụ nếu tặng cho kèm điều kiện; HĐTCNƠ không thể là hợp đồng
ưng thuận; và tính khơng có đền bù là đặc điểm pháp lý cơ bản nhất làm nên bản chất
của hợp đồng này.
1.4. Thực trạng pháp luật về hợp đồng tặng cho nhà ở
Thực trạng pháp luật về hợp đồng tặng cho nhà ở được nghiên cứu thông qua
các vấn đề pháp lý về chủ thể, nội dung, hình thức, thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng, thời điểm chuyển quyền sở hữu, và một số các nội dung liên quan khác đến
hợp đồng tặng cho nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 và Dự thảo Luật
Nhà ở (sửa đổi) (phiên bản ngày 14/4/2023).
1.4.1. Chủ thể của hợp đồng tặng cho nhà ở
Chủ thể của HĐTCNƠ gồm có bên tặng cho và bên nhận tặng cho. Chủ thể tham
gia HĐTCNƠ phải đáp ứng các điều kiện nhất định. Theo Điều 7 của LNƠ năm 2014,
đối tượng được sở hữu nhà tại Việt Nam bao gồm: “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân
trong nước; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy
định tại khoản 1 Điều 159 của Luật này”. So sánh với LNƠ năm 2014, Dự thảo Luật
Nhà ở (sửa đổi) khơng cịn ghi nhận “hộ gia đình” thuộc đối tượng được sở hữu nhà
ở41, sự sửa đổi này là phù hợp vì về bản chất hộ gia đình khơng trực tiếp là chủ thể
trong quan hệ tặng cho nhà ở mà chủ thể trực tiếp tham gia xác lập thực hiện giao
dịch là các thành viên trong hộ gia đình42.
(1) Điều kiện đối với bên tặng cho nhà ở
Bên tặng cho nhà ở phải có điều kiện sau đây:
Thứ nhất, bên tặng cho phải là chủ sở hữu nhà ở hoặc người được chủ sở hữu
cho phép, ủy quyền để thực hiện giao dịch về nhà ở43.
Thứ hai, nếu là cá nhân thì phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện
giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật dân sự44; theo đó người thành niên (từ
41
Điều 10 Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi).
Khoản 1 Điều 101 BLDS năm 2015.
43
Điểm a khoản 1 Điều 119 Luật Nhà ở năm 2014; Điểm a khoản 1 Điều 159 Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi).
44
Điểm b, khoản 1 Điều 119 Luật Nhà ở năm 2014; Điểm b khoản 1 Điều 159 Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi).
42
17
đủ mười tám tuổi trở lên) có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, không thuộc các trường
hợp mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó
khăn trong nhận thức làm chủ hành vi45, mới được phép tự mình xác lập và thực hiện
HĐTCNƠ.
Thứ ba, nếu là tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân, trừ trường hợp tổ chức
tặng cho nhà tình nghĩa, nhà tình thương46. Tổ chức là pháp nhân phải đáp ứng các
điều kiện sau: được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của BLDS năm 2015; có tài sản độc lập
với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh
mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Tuy nhiên không phải mọi trường
hợp pháp nhân đều được quyền tham gia giao dịch tặng cho, chẳng hạn như: giao
dịch tặng cho được thực hiện trong thời gian 06 tháng trước ngày Tòa án quyết định
mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu47; kể từ khi có quyết định giải thể nghiêm cấm
doanh nghiệp tặng cho tài sản48. Các quy định trên nhằm đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của
doanh nghiệp đối với các chủ nợ.
Nhìn chung, về điều kiện của bên tặng cho, Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) vẫn
kế thừa nhiều nội dung của LNƠ năm 2014, riêng yêu cầu về tư cách pháp nhân của
tổ chức khi tham gia giao dịch về nhà ở Dự thảo khơng cịn quy định49.
(2) Điều kiện đối với bên được tặng cho nhà ở
Thứ nhất, nếu là cá nhân thì phải có đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện các
giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật dân sự; khác với bên tặng cho, ở đây
pháp luật chỉ yêu cầu bên được tặng cho có “đủ năng lực hành vi dân sự".
Thứ hai, nếu bên nhận tặng cho là tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân50. Tương
tự như điều kiện của bên tặng cho là tổ chức, Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) khơng
cịn trực tiếp quy định tổ chức phải có tư cách pháp nhân, mà thay vào đó đối tượng
này phải đáp ứng các điều kiện theo quy định về pháp luật về dân sự51. Sự thay đổi
này giúp mở rộng phạm vi điều chỉnh, dự phòng và tránh quy định mâu thuẫn chồng
chéo vấn đề có liên quan.
45
Điều 20 BLDS năm 2015.
Điểm b, khoản 1 Điều 119 Luật Nhà ở năm 2014.
47
Điểm d, khoản 1 Điều 59 Luật Phá sản năm 2014.
48
Điểm đ, khoản 1 Điều 211 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
49
Khoản 1 Điều 159 Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi).
50
Khoản 3 Điều 119 Luật Nhà ở năm 2014.
51
Khoản 3 Điều 159 Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi).
46
18
Thứ ba, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài, tổ chức
nước ngoài, phải thuộc đối tượng được sở hữu nhà tại Việt Nam và phải đáp ứng các
điều kiện được công nhận quyền sở hữu nhà ở. Cụ thể như sau:
Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài:
Phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam52. So với quy định trước đây điều kiện
được sở hữu nhà của chủ thể này được quy định “thơng thống hơn rất nhiều”53, ngồi
ra chủ thể này cũng được sở hữu nhà không hạn chế về số lượng như cá nhân trong
nước. Tuy nhiên về mặt thủ tục người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải chứng
minh mình có các giấy tờ sau đây: Trường hợp mang hộ chiếu Việt Nam thì phải cịn
giá trị và có đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh
Việt Nam vào hộ chiếu; Trường hợp mang hộ chiếu nước ngồi thì phải cịn giá trị
có đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh Việt Nam
vào hộ chiếu và kèm theo giấy tờ chứng minh còn quốc tịch Việt Nam hoặc giấy tờ
xác nhận là người gốc Việt Nam do Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cơ quan quản lý về người Việt Nam
ở nước ngoài cấp hoặc giấy tờ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam54.
Đối với cá nhân nước ngoài, tổ chức nước ngoài:
(i) Đối tượng:
Theo khoản 1 Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014, đối tượng tổ chức, cá nhân nước
ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam bao gồm: a) Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu
tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam theo quy định của Luật này và pháp luật
có liên quan; b) Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, chi nhánh, văn phịng đại
diện của doanh nghiệp nước ngồi, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng
nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam; c) Cá nhân nước ngoài được phép nhập
cảnh vào Việt Nam. Và theo khoản 2 Điều 159, các nhân tổ chức nước ngoài được sở
hữu nhà ở tại Việt Nam thơng qua các hình thức sau đây: a) Đầu tư xây dựng nhà ở
theo dự án tại Việt Nam…; b) Mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở
thương mại…
Có thể thấy quy định về đối tượng được sở hữu và hình thức sở hữu trong quy
định trên còn chung chung và chưa thật sự rõ ràng trong việc xác định đối tượng nào
52
Khoản 1 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014; Điểm b khoản 2 Điều 10 Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi).
Lưu Quốc Thái (2018), Pháp luật kinh doanh bất động sản, Nxb Lao động, tr.110.
54
Khoản 2 Điều 5 Nghị định 99/2015/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2015 của Chính phủ Quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở 2014.
53
19
gắn với hình thức sở hữu nào. Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) đã khắc phục được hạn
chế này, thay vì ghi nhận như trên, khoản 2 Điều 19 Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi)
khoản 2 Điều 159 như sau: Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều
này được sở hữu nhà ở tại Việt Nam, thơng qua các hình thức sau đây: a) Đối tượng
quy định tại điểm a khoản 1 Điều này (gồm Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam)55 được sở hữu nhà ở thông qua việc
thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại Việt Nam; b) Đối tượng quy định tại điểm
b, điểm c khoản 1 Điều này (gồm Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi, chi
nhánh, văn phịng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài và
chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam; Cá nhân nước ngoài
được phép nhập cảnh vào Việt Nam)56 được sở hữu nhà ở thông qua nhận tặng cho
nhà ở thương mại…Ngoài ra về đối tượng được sở hữu nhà, Dự thảo Luật Nhà ở (sửa
đổi) khơng cịn ghi nhận “Tổ chức, cá nhân nước ngồi”, “Doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngồi” như điểm a,b khoản 1 Điều 159 nêu trên, mà thay vào đó là “Tổ chức
kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi”57.
Như vậy đối tượng được nhận tặng cho nhà ở sẽ bao gồm: cá nhân nước ngoài
được phép nhập cảnh vào Việt Nam; và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi (hay
Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi theo Dự thảo Luật Nhà ở), chi nhánh, văn
phịng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam.
(ii) Về điều kiện sở hữu58:
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, chi nhánh, văn phịng đại diện
của doanh nghiệp nước ngồi, quỹ đầu tư nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước
ngoài đang hoạt động tại Việt Nam thì phải có Giấy chứng nhận đầu tư do cơ quan
nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp.
Cá nhân nước ngoài phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam và không thuộc
diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy định của pháp
luật.
55
Điểm a khoản 1 Điều 19 Dự thảo Luật Nhà (sửa đổi).
Điểm b,c khoản 1 Điều 19 Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi).
57
Điểm a,b khoản 1 Điều 19 Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi).
58
Điều 160 Luật Nhà ở năm 2014; Điều 20 Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi).
56
20