TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÌNH SỰ
LÊ THỊ THÚY HOA
HỘI THẨM
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành: Luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2023
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT HÌNH SỰ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
HỘI THẨM
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Sinh viên thực hiện: Lê Thị Thúy Hoa
Khóa: 43
MSSV: 1853401020085
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Vũ Thị Quyên
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam Khóa luận tốt nghiệp “Hội thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam”
là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong đề tài là trung
thực, nếu đã từng được cơng bố trong các cơng trình khác thì đều được trích dẫn
nguồn cụ thể. Tơi xin chịu trách nhiệm hồn tồn về tính xác thực này.
Tác giả đề tài
Lê Thị Thúy Hoa
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. BLTTHS
2. HĐXX
Bộ luật Tố tụng hình sự
Hội đồng xét xử
3. HT
4. HTND
Hội thẩm
Hội thẩm nhân dân
5. TAND
Tòa án nhân dân
6. TP
Thẩm phán
7. TTHS
8. VAHS
Tố tụng hình sự
Vụ án hình sự
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HỘI THẨM TRONG TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM .................................................................................. 6
1.1. Khái niệm Hội thẩm trong tố tụng hình sự .................................................... 6
1.2. Địa vị pháp lý của Hội thẩm trong tố tụng hình sự ...................................... 9
1.3.
Ý nghĩa của Hội thẩm trong tố tụng hình sự ............................................... 12
1.4.
Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển quy định Hội thẩm trong tố tụng
hình sự Việt Nam ................................................................................................... 16
1.4.1. Giai đoạn trước năm 1945 .................................................................... 16
1.4.2. Giai đoạn từ năm 1946 – 1959 ............................................................. 17
1.4.3. Giai đoạn từ năm 1959 – 1986 ............................................................. 18
1.4.4. Giai đoạn từ năm 1986 – nay ............................................................... 19
1.5. Một số mơ hình Hội thẩm trong tố tụng hình sự ......................................... 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1.......................................................................................... 24
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT
NAM VỀ HỘI THẨM ............................................................................................ 25
2.1. Nguyên tắc hoạt động của Hội thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam ........ 25
2.1.1. Nguyên tắc Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia ................. 25
2.1.2. Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật......... ............................................................................................................. 32
2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm trong tố tụng hình sự.......................... 37
2.2.1. Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa ................................... 37
2.2.2. Tiến hành xét xử vụ án .......................................................................... 40
2.2.3. Tiến hành hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm
quyền của Hội đồng xét xử ................................................................................. 43
2.2.4. Những nhiệm vụ, quyền khác của Hội thẩm ......................................... 44
2.3. Điều kiện tham gia của Hội thẩm ................................................................ 46
2.3.1. Tiêu chuẩn trở thành Hội thẩm............................................................. 46
2.3.2. Thủ tục bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm ..................................... 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2.......................................................................................... 52
CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN THAM GIA CỦA HỘI THẨM TRONG HOẠT
ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ - MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ ... 53
3.1. Thực tiễn tham gia của Hội thẩm trong hoạt động xét xử vụ án hình sự .... 53
3.1.1.
Những thành tựu đạt được .................................................................... 53
3.1.2. Những hạn chế ...................................................................................... 56
3.2. Một số hạn chế của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về Hội thẩm........ 62
3.2.1. Một số hạn chế về Hội thẩm trong Bộ luật Tố tụng hình sự ................. 62
3.2.2. Một số hạn chế khác ............................................................................. 64
3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội thẩm trong tố tụng
hình sự .................................................................................................................... 66
3.3.1.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật trong Bộ luật Tố tụng hình sự ........... 66
3.3.2. Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả sự tham gia của Hội thẩm . 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3.......................................................................................... 71
KẾT LUẬN CHUNG .............................................................................................. 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động
lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xây dựng nền dân chủ, bảo đảm quyền
làm chủ thực sự thuộc về nhân dân là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài
của cách mạng Việt Nam. Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban
hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng
cường thực hiện dân chủ trực tiếp.
Đánh giá tổng kết 15 năm thực hiện nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005
của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược cải cách tư pháp năm 2020 như sau: về hoạt
động thực tiễn, một số nhiệm vụ, giải pháp cải cách tư pháp đề ra đến nay vẫn được
cho là đúng đắn nhưng chưa được thực hiện hoặc có thực hiện nhưng chưa thực sự
hiệu quả; nhất là trong cải cách tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp. Do đó, Đại hội
Đảng tồn quốc lần thứ XIII đặt ra nhiệm vụ: “Xây dựng nền tư pháp Việt Nam
chun nghiệp, hiện đại, cơng bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc,
phục vụ nhân dân”; đồng thời khẳng định: “Hoạt động tư pháp phải có trọng trách
bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ
chức, cá nhân”. Đây vừa là yêu cầu cấp bách, vừa là mục tiêu, nhiệm vụ lâu dài của
cải cách tư pháp, là nội dung “cốt lõi” của Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm
2045.
Xét dưới góc độ lý luận, pháp luật Việt Nam đã quy định sự tham gia của Hội
thẩm vào hoạt động xét xử của Tịa án nói chung và xét xử án hình sự nói riêng thể
hiện sự tiến bộ, dân chủ trong hoạt động tư pháp. Đó là người dân đã tham gia vào
hoạt động xét xử của Tòa án. Với sự tham gia này, một mặt: người dân có điều kiện
kiểm tra, giám sát hoạt động xét xử của Tòa án; mặt khác, người dân trực tiếp tiến
hành hoạt động xét xử với tất cả những hiểu biết từ cuộc sống của người dân, đưa
“hơi thở” cuộc sống vào hoạt động của Tòa án. Đây là xu hướng phát triển chung của
nền tư pháp hiện đại. Vấn đề còn lại là làm thế nào để Hội thẩm tham gia vào hoạt
động xét xử có hiệu quả nhất, đáp ứng yêu cầu cuộc sống và tuân thủ luật định.
Tuy nhiên, khi áp dụng những quy định pháp luật về HTND trong thực tiễn đã
bộc lộ những hạn chế dẫn đến HTND chưa phát huy tối đa vai trị của mình, chưa
khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong hoạt động xét xử, cũng như chưa
2
có trách nhiệm cao đối với cơng tác xét xử. Điều này đã phần nào làm giảm đi hiệu
quả hoạt động của Hội thẩm và hiệu quả xét xử của ngành Tịa án. Chính vì vậy, sự
tham gia của Hội thẩm trong hoạt động xét xử luôn được các nhà nghiên cứu quan
tâm trong thời gian qua. Vì vậy, việc nghiên cứu về Hội thẩm một cách có hệ thống
ở cấp độ đề tài khóa luận là cần thiết và mang tính thời sự. Đây là lý do tác giả lựa
chọn đề tài “Hội thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam” làm đề tài khóa luận.
2.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quá trình khảo sát cho thấy, trong thời gian vừa qua ở nước ta đã có nhiều tài
liệu, bài viết liên quan đến chế định Hội thẩm theo pháp luật nói chung, tuy nhiên,
những đề tài về Hội thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam cịn khá ít, một số đề tài
được tham khảo gồm:
Trần Thị Thu Hằng (2019), Địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam hiện nay,
Luận án Tiến sĩ luật học.
Đề tài nghiên cứu rất sâu chế định Hội thẩm, làm rõ những vấn đề lý luận về sự
tham gia của Hội thẩm, hệ thống và bổ sung, làm sâu sắc khái niệm, ý nghĩa,
vai trò, địa vị pháp lý tổng hợp, phân tích có hệ thống các quy định pháp luật
của Hội thẩm trên các lĩnh vực hình sự, dân sự và hành chính. Đây là đề tài có
-
-
phạm vi nghiên cứu rất rộng, nhưng chưa thực sự đi sâu vào những vấn đề liên
quan đến Hội thẩm trong tố tụng hình sự.
Phạm Võ Thảo Liên (2022), Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc
sĩ, Đại học Luật TP.HCM. Đề tài chỉ tập trung phân tích, đánh giá các vấn đề từ
lý luận đến quy định pháp luật và thực tiễn liên quan đến Nguyên tắc Thẩm
phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật mà chưa sâu sát đến
các vấn đề liên quan đến Hội thẩm.
Hoàng Hồng Phương (2011), Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, Luận văn thạc sĩ luật học, ngành Lý luận,
lịch sử nhà nước và pháp luật. Đề tài đã trình bày các quan điểm lý luận, những
vấn đề mang tính thực tế của Việt Nam trong lịnh sử cũng như hiện tại về vấn
đề “Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, quan
điểm chỉ đạo của Đảng hiện nay và việc áp dụng nguyên tắc trên trong thời gian
tới tại Việt Nam, những khó khăn và thuận lợi tác động tới việc áp dụng nguyên
tắc này tại Việt Nam, từ đó đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần vào q trình
nghiên cứu cũng như trên thực tế áp dụng.
3
-
Trần Thị Kim Cúc (2015), Địa vị pháp lý của Hội thẩm trong Tố tụng hình sự,
Luận văn Thạc sĩ. Luận này này nghiên cứu một các có hệ thống và đầy đủ về
quyền hạn và trách nhiệm của Hội thẩm trong tố tụng hình sự sau khi Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 được ban hành; nghiên cứu việc áp dụng các quy
định trong thực tiễn và tìm ra những bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật
và thực tiễn.
-
Phạm Thùy Linh (2019), Hội thẩm nhân dân trong Luật tố tụng hình sự Việt
Nam, Luận văn Thạc sĩ. Luận văn đã cung cấp một bức tranh tổng quan về Hội
thẩm trong tố tụng hình sự với những nội dung như sau: tổng hợp các quy định
của pháp luật Việt Nam hiện hành về vai trò của Hội thẩm nhân dân trong xét
xử vụ án hình sự; nghiên cứu và đánh giá thực tiễn về vai trò tham gia xét xử
các vụ án hình sự của Hội thẩm nhân dân; chỉ ra những tồn tại, hạn chế cũng
như những nguyên nhân cơ bản của những tồn tại, hạn chế đó; trên cơ sở kết
quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất các định hướng và giải
pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao vai trò của Hội thẩm nhân dân.
Tuy nhiên, những giải pháp đề tài trình bày chưa tập trung giải quyết những hạn
chế theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự, nhiều giải pháp liên quan đến quy
định ở các văn bản quy phạm pháp luật khác.
Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến chế định Hội thẩm nhưng
chỉ có một số ít những đề tài trình bày một cách hệ thống về sự tham gia của Hội
thẩm trong tố tụng hình sự. Chẳng hạn như những đề tài nghiên cứu về các nguyên
tắc tham gia xét xử của Hội thẩm chỉ khai thác về một nội dung trong tổng quan
những vấn đề về tố tụng hình sự nói chung. Ngồi ra, nhiều giải pháp được các nhà
nghiên cứu, học giả đưa ra vẫn chưa hoàn toàn được áp dụng trên thực tế và giải quyết
những bất cập. Do đó, việc tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu để tìm ra giải pháp tốt nhất
cho chế định là điều cần thiết để đáp ứng những mục tiêu cải cách tư pháp trong giai
đoạn hiện nay.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu một cách có hệ thống về nội dung quy định pháp luật và
góc nhìn thực tiễn về hiệu quả sự tham gia của Hội thẩm trong tố tụng hình sự. Đánh
giá ưu, nhược điểm, những hạn chế cịn tồn tại từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao
hiệu quả sự tham gia của Hội thẩm.
3.
a.
b.
Nhiệm vụ nghiên cứu
4
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nên trên, đề tài giải quyết những nhiệm vụ
sau:
Nghiên cứu lý luận chung về chế định Hội thẩm trong tố tụng hình sự và các
văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Trong đó, làm rõ khái niệm, địa vị
pháp lý cũng như lịch sử hình thành và hồn thiện quy định về sự tham gia của
Hội thẩm ở Việt Nam và các mơ hình Hội thẩm trên thế giới;
-
Phân tích làm rõ sự tham gia của Hội thẩm trong pháp luật quốc gia. Cụ thể
phân tích về các nguyên tắc, điều kiện và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội thẩm;
4.
Tìm hiểu thực trạng tham gia của Hội thẩm, đánh giá những thành tựu và hạn
chế trong quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn;
Đề ra kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả sự tham gia của Hội thẩm
trong quá trình tố tụng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật Việt Nam về chế
định Hội thẩm, đồng thời tham khảo quy định của pháp luật một số quốc gia về vấn
đề có liên quan; và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về sự tham gia của Hội
a.
thẩm. Đồng thời, những vướng mắc trong việc áp dụng các quy định pháp luật liên
quan đến chế định Hội thẩm cũng được tác giả phát hiện và đề xuất kiến nghị.
b.
Phạm vi nghiên cứu
Về văn bản pháp luật, đề tài khóa luận chủ yếu viết trên cơ sở phân tích, đánh
giá các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, bao gồm Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015, và một số văn bản pháp luật có liên quan. Bên cạnh đó, để làm rõ về nguồn gốc
hình thành chế định Hội thẩm, đề tài có đề cập đến một số sắc lệnh của Việt Nam từ
năm 1945.
5.
Phương pháp nghiên cứu
Thứ nhất, phương pháp nghiên cứu lý thuyết luật học: Đề tài sử dụng phương
pháp này trong việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về Hội thẩm trong tố tụng hình
sự tại Chương I cũng như nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam về Hội thẩm trong Chương II.
Thứ hai, phương pháp so sánh: Tác giả vận dụng phương pháp so sánh khi đề
cập đến sự giống và khác nhau về các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
và năm 2015. Bằng phương pháp này, những thay đổi, bổ sung trong quy định của
5
Bộ luật mới được chỉ ra và đưa ra nhận xét. Ngồi ra, phương pháp này cịn được sử
dụng trong quá trình tìm hiểu về chế định Hội thẩm ở một số quốc gia trên thế giới.
Thứ ba, phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình: Tác giả sử dụng phương
pháp này để tìm hiểu sự tham gia của Hội thẩm trong những vụ án hình sự cụ thể, qua
đó khái quát và đánh giá về sự tham gia của Hội thẩm trên thực tiễn, từ đó, nắm bắt
được vấn đề những ưu điểm, nhược điểm để đưa ra giải pháp phù hợp.
6.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu mang tính hệ thống lý luận và pháp lý về chế
định Hội thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, kết quả nghiên cứu của khóa luận có
thể đóng góp cho khoa học pháp lý trong việc tổng hợp, làm sáng tỏ hơn các vấn đề
lý luận và pháp lý liên quan đến sự tham gia của Hội thẩm.
Ý nghĩa về mặt lập pháp: Khóa luận có thể được tham khảo cho hoạt động lập
pháp trong việc hồn thiện khơng chỉ quy định về Hội thẩm trong Tố tụng hình sự
Việt Nam mà cịn những quy định liên quan đến sự tham gia của Hội thẩm cũng cần
được thay đổi.
Ý nghĩa thực tiễn: Nội dung và kết quả nghiên cứu của khóa luận nhằm góp
phần hồn thiện pháp luật và tăng cường hiệu quả sự tham gia của Hội thẩm trong xét
xử vụ án hình sự.
Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài khóa luận
gồm ba chương:
7.
Chương 1: Những vấn đề lí luận về Hội thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về Hội thẩm
Chương 3: Thực tiễn về sự tham gia của Hội thẩm trong hoạt động xét xử vụ án
hình sự - một số bất cập và kiến nghị
6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HỘI THẨM TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm Hội thẩm trong tố tụng hình sự
Phát huy dân chủ, mở rộng sự tham gia của người dân trong công cuộc quản lý
Nhà nước nhằm giữ vững bản chất là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì
Nhân dân là nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước ta đã và đang nỗ lực triển khai, thực thi
thơng qua các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật. Trong các văn bản hiện hành
đều quy định về khả năng để mọi công dân tham gia vào hoạt động tư pháp và giám
sát hoạt động của các cơ quan tư pháp. Theo đó, Nhân dân thực hiện quyền làm chủ
trong hoạt động tư pháp được thể hiện bằng việc tham gia hoạt động xét xử của Hội
thẩm (sau đây viết tắt là HT). Đây là chế định mang “sứ mệnh” đại diện Nhân dân
tham gia xét xử nói riêng cũng như bảo đảm tính dân chủ của nền tư pháp nói chung.
Xét về mặt ngữ nghĩa, tham khảo tại từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh có giải
thích nghĩa riêng rẽ của hai từ “Hội” và “Thẩm”. Từ “Hội” có nghĩa là “Họp nhau –
Cơ quan có nhiều người họp để làm việc – gặp – ý tứ và sự lý hợp nhau – bản lĩnh và
sự tình hợp nhau1”. Cịn từ “Thẩm” được hiểu là “Biết rõ tình hình – khảo xét kỹ năng
– Xử đoán”. Theo thời gian, thuật ngữ “Hội thẩm” đã trở nên quen thuộc khi nhắc
đến tính dân chủ trong hoạt động tư pháp và được nhắc đến trong nhiều văn bản do
cơ quan quyền lực nhà nước ban hành.
Trong thời gian đầu, thuật ngữ dùng để chỉ người (những người) đại diện cho
quần chúng nhân dân tham gia xét xử hoặc tham gia tố tụng là “Phụ thẩm”, sau đó,
thuật ngữ “Hội thẩm nhân dân” (sau đây viết tắt là HTND) đã ra đời nhằm thay thế
“Phụ thẩm nhân dân”2. Tuy nhiên, nhiều văn bản về sau không sử dụng thuật ngữ
“HTND” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “HT”, vậy giữa những thuật ngữ này có điểm gì
khác nhau?
Trong lịch sử ngành tư pháp Việt Nam từ 1945 đến nay, thuật ngữ thường được
dùng để chỉ người (những người) đại diện cho quần chúng nhân dân tham gia xét xử
hoặc tham gia tố tụng là “phụ thẩm”, “Hội thẩm”. Tùy theo hoàn cảnh, cách thức tổ
chức, hoạt động và do các văn bản nêu ra, v.v như: “Phụ thẩm nhân dân”, “Hội thẩm
nhân dân”, “Hội thẩm Tòa án nhân dân”, “Hội thẩm nhân dân Tòa án nhân dân”, “Hội
1
2
Đào Duy Anh (2001), Từ điển Hán Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.148.
Điều 1 Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
7
thẩm quân nhân”, v.v3. Về khoa học pháp lý, cụm từ “Hội thẩm nhân dân” được thể
hiện từ thuật ngữ “Hội thẩm”.
Cụ thể, “Hội thẩm là người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để
làm nhiệm vụ xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của toà án” 4. Sau đó thuật ngữ
này tiếp tục được sử dụng trong Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân
năm 2002, nhưng so với quy định trước đây, HT được nêu cụ thể, rõ ràng, đầy đủ
hơn. Theo đó, Hội thẩm bao gồm “Hội thẩm nhân dân”5 và “Hội thẩm quân nhân”6.
Có thể hiểu, HT là tên gọi chung cho “người đại diện nhân dân” tham gia xét
xử trong cả Tòa án nhân dân (sau đây viết tắt là TAND) và Tòa án quân sự. Việc chủ
thể này tham gia vào hoạt động tố tụng ở hai cơ quan Tịa án khác nhau đã hình thành
khái niệm “HTND” – người tham gia trong TAND và “Hội thẩm quân nhân” sẽ ứng
với Tòa án quân sự7. Về bản chất, Tòa án quân sự là những cơ quan xét xử của Nhà
nước, thuộc hệ thống Tòa án được tổ chức trong Quân đội8. Xuất phát từ việc tổ chức
hệ thống Tòa án nhằm xử lý các vấn đến liên quan đến “việc nhân” và “việc qn”,
do đó đã hình thành nên khái niệm khác nhau này.
Về mặt nội hàm của hai thuật ngữ có sự khác nhau nhất định, “Hội thẩm” có nội
hàm rộng hơn so với “Hội thẩm nhân dân” nhưng trong phạm vi nghiên cứu của đề
tài, tác giả chỉ tập trung làm rõ những vấn đề liên quan đến hoạt động xét xử nói riêng
và hoạt động tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là TTHS) của TAND nói chung và
khơng đề cập đến các hoạt động tố tụng trong Tòa án quân sự, do đó, việc sử dụng
thuật ngữ HT chỉ nhằm mục đích trình bày ngắn gọn hơn thuật ngữ HTND. Ngồi ra,
trong một số trường hợp, khái niệm của thuật ngữ HTND cũng có ý nghĩa tương tự
như HT. Cụ thể, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngơn ngữ học thì HTND được
Liêu Chí Trung, “Hội thẩm nhân dân theo quy định hiện nay ở Việt Nam”, truy cập ngày 27/05/2023.
4
Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh số 16-L/CTN ngày 14/5/1993 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Thẩm phán và
Hội thẩm Tòa án nhân dân.
5
Điểm a Khoản 2 Điều 2 Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH11 ngày 04/10/2002 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội về Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 3 Điều 1 Pháp lệnh số
14/2011/UBTVQH12 ngày 19/02/2011 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số Điều của
Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm của Tòa án nhân dân.
6
Điểm b Khoản 2 Điều 2 Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH11 được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số
14/2011/UBTVQH12.
7
Khoản 2 Điều 2 Pháp lệnh 02/2002/PL-UBTVQH11, được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số
14/2011/UBTVQH12.
8
Điều 1 Pháp lệnh số 04/2002/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tổ chức Tòa án quân sự.
3
8
hiểu là: “đại biểu Nhân dân cùng ngồi xử án với các Thẩm phán”9 hay HTND là
“người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những
vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án”10. Như vậy, việc hiểu khái niệm HT cần đặt
trong cách thức tổ chức Tòa án ở nước ta. Suy cho cùng, HT hay HTND đều là những
người đại diện Nhân dân, có sự thấu suốt tình – lý và cùng Thẩm phán (sau đây viết
tắt là TP) tham gia vào việc giải quyết vụ án.
Sự tham gia của HT hay cách hiểu đầy đủ là HTND trong hoạt động tố tụng góp
phần đảm bảo tính tồn diện, đầy đủ và khách quan của các bản án, quyết định của
TAND. Điều này được thể hiện thông qua sự kết hợp giữa kiến thức chuyên môn, kỹ
năng của TP với sự từng trải, kinh nghiệm sống của HT. Hơn hết, với tiếng nói và hơi
thở cuộc sống của HT sẽ tạo ra những yếu tố loại trừ những hạn chế của TP như “định
kiến” buộc tội, sự “lặp lại” trong các tình tiết, vụ việc và trong tư duy của “nhà phán
xử”. Ngoài ra, HT tham gia xét xử sẽ mang đến phiên tịa bầu khơng khí “đời thường”
từ cách đánh giá đến cách tiếp nhận các sự kiện và tình tiết của vụ án. Họ mang đến
phiên tòa những ý niệm, quan điểm đạo đức chung của xã hội, những sự nhận xét,
đánh giá chung của các tầng lớp Nhân dân về hành vi phạm tội với những ý niệm
công bằng, nghiêm minh, thiện, ác, v.v.11 Và mục đích cuối cùng, đều hướng đến các
phán quyết đưa ra “có lý” và “có tình” và đạt đến mức “thấu tình”, “đạt lý”.
Mặt khác, HT được xem là người làm công tác “chính trị” khi tham gia tố tụng.
Bởi lẽ, thực tế cuộc sống luôn vận động và thay đổi, pháp luật không phải lúc nào
cũng theo kịp cuộc sống. HT sống và làm việc trong các cộng đồng văn hóa khác
nhau, thấm sâu màu sắc thực tiễn cuộc sống, qua đó, tiếp xúc và thấu hiểu tâm tư,
nguyện vọng của quần chúng, nắm bắt được dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy,
HT đóng vai trị là “cầu nối”, là người đưa pháp luật gần với thực tiễn hơn, là người
làm cho các bản án, quyết định của TAND mang tính “chính trị” và “gần gũi” hơn.
Tóm lại, Hội thẩm trong tố tụng hình sự có thể được hiểu là người do cơ quan
quyền lực nhà nước bầu ra, đại diện Nhân dân tham gia xét xử vụ án hình sự nhằm
thực hiện quyền dân chủ của công dân; giúp các bản án, quyết định của Tịa án nhân
dân cơng bằng, khách quan và phù hợp với nguyện vọng của Nhân dân.
Viện ngôn ngữ học (2000), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, tr.461.
Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa và NXB Tư pháp,
tr.387.
11
Nguyễn Tất Viễn (Thành viên đề tài) (1999), Đổi mới chế định Hội thẩm trong cải cách tư pháp ở Việt Nam
hiện nay, Đề tài cấp bộ, Bộ Tư pháp, tr.75.
9
10
9
1.2. Địa vị pháp lý của Hội thẩm trong tố tụng hình sự
Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối
quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật. Địa
vị pháp lý của chủ thể pháp luật bao gồm tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của
chủ thể đó, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt
động của mình12. Địa vị pháp lý của HTND tham gia TTHS có những đặc điểm riêng
so với HTND tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hành chính. Bởi lẽ những quyết định
của HTND đưa ra liên quan trực tiếp đến những quyền cơ bản về chính trị, kinh tế,
quyền tự do của cơng dân, thậm chí liên quan trực tiếp đến quyền được sống13. Như
vậy, địa vị pháp lý của HTND trong TTHS được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, HTND là người tiến hành tố tụng, là thành viên của Hội đồng xét xử
(sau đây viết tắt là HĐXX).
Với vị trí, vai trị là cơ quan thực thi quyền lực tư pháp trong bộ máy nhà nước,
Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử và quyết định các vấn đề về bồi thường,
áp dụng biện pháp ngăn chặn, về án phí,… Nhưng Tịa án chỉ là một cơ quan được
tạo ra để thực hiện hoạt động xét xử, một cơ quan không thể tự hoạt động mà ln
cần có một hoặc một số chủ thể nào đó vận hành thông qua sự trao quyền của Nhà
nước. Chủ thể này khơng ai khác chính là những người tiến hành tố tụng, trong đó có
HĐXX bao gồm TP và HTND. Họ sẽ dựa trên sự trao quyền nhân danh Nhà nước để
thực hiện hoạt động xét xử14. Như vậy, HĐXX chính là cơ quan thay mặt Nhà nước
đưa ra phán quyết công khai, công bằng, khách quan và đảm bảo “đúng người, đúng
tội” hay chính HT là người trực tiếp nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết.
Bên cạnh đó, xét xử là một hoạt động đặc thù của Nhà nước nhằm bảo vệ pháp
chế xã hội chủ nghĩa, có ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cá
nhân, tổ chức và xã hội. Do đó, cơng tác xét xử ln địi hỏi sự thận trọng cùng với
năng lực chuyên môn của từng cá nhân. Vì thế, nhằm đảm bảo hoạt động xét xử
khơng mang tính “cá nhân”, chủ quan thì việc thành lập một HĐXX là điều hết sức
cần thiết. HĐXX đối với vụ án hình sự (sau đây viết tắt là VAHS) được thành lập,
hoạt động theo quy định của pháp luật TTHS. HĐXX gồm ba đến năm thành viên có
Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, tlđd (10), tr.54.
Trần Thị Kim Cúc (2015), Địa vị pháp lý của Hội thẩm trong tố tụng hình sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.28.
14
Đinh Thị Kiều Dung (2015), Hội thẩm nhân dân trong Tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học,
Trường Đại luật TP.HCM, tr5-6.
12
13
10
trình độ pháp luật, hiểu biết xã hội, được Nhà nước trao quyền lực để thực thi pháp
luật, tùy thuộc vào tính chất của từng vụ án khác nhau mà số lượng, cơ cấu thành viên
trong HĐXX có thể thay đổi.
Theo quy định của pháp luật TTHS, xét xử sơ thẩm VAHS là giai đoạn “then
chốt” trong quá trình giải quyết vụ án nhằm làm sáng tỏa các yếu tố về khách thể, chủ
thể, mặt khách quan, mặt chủ quan, trên cơ sở đó, HĐXX đưa ra các phán quyết phù
hợp. Thông qua bản án, quyết định – gọi chung là phán quyết của HĐXX sẽ xử phạt
một cách thích đáng chủ thể thực hiện hành vi phạm tội, bảo vệ các quan hệ đã bị
xâm phạm, bảo vệ quyền, lợi ích của các chủ thể có liên quan hoặc tuyên bố vô tội
cho những hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Nhưng hơn hết là bảo đảm trật
tự kỷ cương theo thể chế Nhà nước mà Hiến pháp và pháp luật quy định. Với tính
chất quan trọng trên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, HTND
phải vơ tư, khơng thiên vị để cùng TP giải quyết vụ án một cách đúng đắn, bảo vệ tốt
nhất quyền lợi của Nhà nước, các cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Thứ hai, HTND là người có quyền đưa ra các ý kiến biểu quyết để phán quyết
về VAHS.
HT không tham gia vào tất cả các quan hệ tố tụng mà chỉ tham gia vào quan hệ
tố tụng phát sinh do hoạt động xét xử của TAND. HT thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của mình đã được Hiến pháp và pháp luật quy định từ khi được phân công tham
gia xét xử vụ án. Pháp luật tố tụng quy định HT độc lập với TP khi tham gia xét xử
hay thẩm quyền pháp lý của các thành viên trong HĐXX ngang nhau, ý kiến của mọi
thành viên trong HĐXX đều được tơn trọng và có tính quyết định như nhau. HT
ngang quyền với TP khi tiến hành đặt câu hỏi tại phiên tòa về những vấn đề liên quan
đến vụ án nhằm xác định các tình tiết, sự thật khách quan của vụ án. Ngồi ra, trong
quá trình nghị án, HT thảo luận và độc lập khi đưa ra các phán quyết của mình.
Trong khi xét xử tại phiên tòa, với tư cách là thành viên của HĐXX, người đại
diện của Nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử nên HTND được quyền tiến hành
các hoạt động tố tụng, được quyền ghi nhận, xem xét, đánh giá các tình tiết, chứng
cứ mà do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cung cấp. Đồng thời, được quyền biểu
quyết mọi vấn đề thuộc quyền của HĐXX. Do đó, địi hỏi mỗi thành viên của HĐXX
phải có sự nhìn nhận, đánh giá tất cả các vấn đề của vụ án một cách toàn diện, khách
quan. Mặc dù, HT thông thường sẽ “lép vế” về năng lực chuyên môn so với TP, song,
với những kinh nghiệm từ thực tiễn, sự am hiểu đời sống một cách sâu sắc sẽ có sự
11
tác động, hỗ trợ lẫn nhau trong công tác xét xử để cùng đưa ra phán quyết vừa hợp
tình, hợp lý và đúng người, đúng tội.
Thứ ba, mối quan hệ giữa HTND trong hoạt động xét xử, được bao gồm các
mối quan hệ sau:
Một, mối quan hệ với những người tiến hành tố tụng. Đây là mối quan hệ phát
sinh khi thực hiện nhiệm vụ xét xử và được quy định trong pháp luật TTHS. Nổi bật
trong số đó, chính là quan hệ với TP chủ tọa phiên tòa. Tham gia trực tiếp cùng với
TP vào hoạt động xét xử, HT có mối quan hệ cơng tác với TP, nhưng TP là công
chức, viên chức Nhà nước đại diện cho công quyền, được đào tạo bài bản, chuyên
nghiệp và thực hiện chức năng xét xử như một “nghề”. Trái lại, HT tuy vẫn có thể
được xem là “một nghề” nhưng là một “nghề không chuyên nghiệp”. Mối quan hệ
giữa TP và HT vừa mang tính chất hỗ trợ nhau nhưng vẫn phải độc lập, không lệ
thuộc vào quan điểm của nhau từ việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, đánh giá các tài liệu
chứng cứ đến việc đưa ra phán quyết.
Hai, mối quan hệ với những người tham gia tố tụng. Đây là mối quan hệ với
bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, người làm
chứng, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại,…
Khi tham gia xét xử các VAHS, HT cần xác định rõ hành vi của bị cáo có đủ các yếu
tố cấu thành tội phạm hay không, xem xét các bản kết luận điều tra, cáo trạng đề nghị
khởi tố và truy tố đối với bị cáo có đúng tội danh hay không….; tạo điều kiện để
người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại trình bày
các quan điểm bảo vệ. Qua đó hướng đến việc tìm ra sự thật của vụ án, đảm bảo tính
cơng khai, cơng bằng, khách quan.
Ba, mối quan hệ với các phương tiện thơng tin đại chúng. HT đóng vai trò là
“tuyên truyền viên” nhằm truyền tải các kiến thức pháp luật đến cộng đồng một cách
dễ hiểu, giúp nâng cao trình độ dân trí, trình độ hiểu biết pháp luật của công dân. Đảm
công tác tuyên truyền đạt hiệu quả, HT cần sự phối hợp với các cơ quan thơng tin đại
chúng như báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình,… Tuy nhiên, HT có sự độc lập,
khách quan, không bị ảnh hưởng bởi những thông tin không chính thống, những thơng
tin mang tính lơi kéo dư luận xã hội.
Tóm lại, HTND là chủ thể đóng vai trị quan trọng trong thành phần tham gia
xét xử nói riêng và trong tổ chức TAND nói chung. Do đó, để đảm bảo quyền làm
chủ của Nhân dân trong việc quản lý nhà nước, địa vị pháp lý của HT đã được khẳng
định một cách rõ ràng, cụ thể trong hệ thống pháp luật nước ta.
12
1.3. Ý nghĩa của Hội thẩm trong tố tụng hình sự
HTND là “biểu hiện cụ thể việc nhân dân tham gia quản lý Nhà nước một cách
rộng rãi bằng công tác xét xử; biểu hiện sự kiểm soát của nhân dân đối với cơng tác
xét xử của Tịa án, đồng thời tăng cường mối liên hệ giữa Tòa án với nhân dân”15.
Những lời này được thể hiện một cách rõ ràng trong cuốn Luật lệ về Tư pháp vào
năm 1961. Cho đến hiện tại, trải qua hơn nửa thiên niên kỷ hình thành và phát triển,
tác giả cho rằng, ý nghĩa của vai trị của HT vẫn là khơng thể xóa nhịa:
Thứ nhất, sự tham gia của HT vào hoạt động xét xử càng củng cố thêm mối
quan hệ giữa TAND và Nhân dân, nâng cao tính “dân chủ” trong hoạt động tư pháp.
Xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”16 đã được Hiến pháp, pháp luật và
các văn kiện của Đảng khẳng định, nên việc tham gia của quần chúng nhân dân vào
cơng việc quản lý nhà nước nói chung cũng như cơng tác xét xử của TAND nói riêng
là nhu cầu khách quan nhằm đảm bảo quyền dân chủ của người dân trong xã hội, tiến
tới xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
“Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy làm chủ về mọi mặt của Nhân
dân”17. Để đảm bảo tính cơng khai, minh bạch, dân chủ thì các cơ quan tiến hành tố
tụng phải tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội và công dân tham gia tố tụng. Việc
tham gia vào quá trình tố tụng của các tổ chức và cá nhân là động lực to lớn tạo điều
kiện cho TAND xét xử được nghiêm minh, đúng người, đúng pháp luật cũng có nghĩa
là đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Sự tham gia của HT là một trong những biểu hiện rõ nét nhất của việc thực hiện
phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Đồng thời, đây cũng là một
hình thức để “thu hút Nhân dân tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi
vào công việc quản lý nhà nước và xã hội”18. Ở khía cạnh nhân quyền và dân chủ, sự
có mặt của HTND là một đảm bảo để các quyền cơ bản, trong đó có quyền làm chủ
của công dân được tôn trọng. Bởi các quyền cơ bản của mỗi công dân chỉ được bảo
đảm khi họ (đại diện của họ) được tham gia vào các hoạt động của Nhà nước nói
Trích dẫn lại: Nguyễn Văn Kha, Một số vấn đề về đổi mới tổ chức, hoạt động của Hội thẩm nhân dân,
truy
cập ngày 16/5/2023.
16
Điều 2 Hiến pháp năm 2013.
17
Điều 3 Hiến pháp năm 2013.
18
Dương Ngọc Mưu (2003), “Vai trò của hội thẩm nhân dân trong hoạt động tố tụng – thực trạng và hướng
đổi mới”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 3, tr.58.
15
13
chung, hoạt động xét xử VAHS nói riêng, qua đó “đưa tiếng nói từ phía xã hội vào
trong q trình xét xử của Tòa án”.
Thứ hai, HT tham gia xét xử tại TAND còn là một kênh giám sát quá trình thực
thi quyền lực Nhà nước, cụ thể ở đây là quyền tư pháp, quyền giám sát pháp luật
trong hoạt động xét xử, nhằm đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không
oan sai cho người vô tội cũng như không bỏ lọt tội phạm.
HTND tham gia trực tiếp hoạt động xét xử nhằm thực thi quyền lực tư pháp của
Nhân dân, để Nhân dân tham gia một cách có hiệu quả vào cơng tác quản lý nhà nước
nói chung và hoạt động của TAND nói riêng. Việc tham gia xét xử, giúp Nhân dân
kiểm tra hoạt động áp dụng pháp luật và đưa pháp luật vào thực tiễn của cuộc sống.
Qua đó, kéo gần khoảng cách giữa TAND và Nhân dân hay nói một cách khái qt
hơn, chính là sự kéo gần khoảng cách giữa pháp luật và đời sống. Thơng qua vai trị
HT trong phiên tịa, người dân hiểu và thông cảm với công tác xét xử của tịa án; đồng
thời là kênh thơng tin giúp TAND nắm bắt được những vướng mắc, suy nghĩ, tình
cảm của Nhân dân. Qua đó, để pháp luật được sống trong Nhân dân và pháp luật ngày
càng mang tính Nhân dân.
Thứ ba, sự tham gia của HT góp phần quan trọng vào việc bảo vệ công lý, công
bằng và bảo vệ quyền con người.
Bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người là nhiệm vụ hàng đầu của Tòa án và
được hiến định trong các bản Hiến pháp và pháp luật quốc gia. Với vị trí là cơ quan
trung tâm trong hệ thống tư pháp, là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng xét xử,
Tòa án phải là nơi mà mọi con người, mọi cơng dân tìm đến lẽ phải, tìm đến sự thật.
Khi quyền, lợi ích của mình bị xâm phạm hoặc bị tranh chấp, người dân tìm đến Tịa
án như là tìm đến cơng lý19. Cơng lý và cơng bằng là hai khái niệm có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau và có sự đồng nhất với nhau. Cơng lý ở giữa để cân bằng lợi ích
của các bên liên quan, chỉ cần nghiêng nhiều về một bên sẽ dẫn đến bất cơng, thiếu
sót và làm tổn hại xã hội. Cơng lý cịn là bình đẳng, có khoảng cách như nhau giữa
lợi ích và sự mất mát hay thua thiệt trong các quan hệ xã hội. Ngoài ra, công lý và
quyền con người là hai phạm trù tuy không đồng nhất nhưng liên quan mật thiết đến
nhau, nếu khơng có cơng lý thì khơng thể đảm bảo được quyền con người.
Trần Văn Độ, “Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu sửa đổi Luật tổ chức tòa án nhân dân”, Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp, số 20 (276) T10/2014, tr.10.
19
14
Do đó, địi hỏi xử lý các vụ việc bằng thủ tục tố tụng công bằng, hợp pháp nhằm
bảo vệ lợi ích của xã hội và bảo vệ quyền con người, quyền công dân một cách nghiêm
minh; không chấp nhận các hiện tượng oan, sai trong điều tra, truy tố và xét xử; đòi
hỏi sự đồng thuận cao của xã hội đối với cơ chế tố tụng, cơ quan tư pháp và các bản
án, quyết định của cơ quan tư pháp. Các giá trị cao cả như lẽ phải, đạo lý, đạo đức,
sự vị tha… và các giá trị tiến bộ xã hội khác phải luôn là điểm tựa, là các chuẩn mực
để soi chiếu vào các bản án, quyết định của HĐXX20.
Khi tham gia xét xử, HT thể hiện ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, đem tới
cách nhìn nhận của người dân về lẽ phải, lẽ công bằng, đúng, sai. Qua đó, đảm bảo
cho mọi cơng dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan. Một
bản án, quyết định của TA đã tuyên phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân,
được Nhân dân đồng tình, ủng hộ chính là Tịa án đã thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ
công lý, công bằng và bảo vệ quyền con người trong xã hội.
Thứ tư, sự tham gia của HT góp phần nâng cao chất lượng của các phiên tịa,
nâng cao uy tín của của Tòa án.
Một phán quyết của HĐXX căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa,
trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát,
của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng và những người có quyền, lợi ích hợp pháp
để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật và có sức thuyết phục. Có thể nói chất
lượng, hiệu quả hoạt động tư pháp, đặc biệt là hoạt động xét xử phụ thuộc vào chất
lượng xét xử của HĐXX. Do đó, sự tham gia tích cực và có hiệu quả của HT đã tơn
vinh thêm vị trí, vai trị và uy tín của TAND. Uy tín của TAND khơng chỉ do các TP
tạo nên mà cịn có sự đóng góp lớn lao của HT.
Ngồi ra, chính là yếu tố HT – người mang đến phiên tòa những kinh nghiệm
của cuộc sống, những nghi ngờ, những quan tâm đối với số phận của con người, đến
quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Với vốn hiểu biết thực tế, kinh nghiệm cuộc sống
và sự hiểu biết về phong tục, tập quán địa phương, HTND sẽ bổ sung cho TP những
kiến thức xã hội cần thiết trong quá trình xét xử để có được một phán quyết đúng
pháp luật, được xã hội đồng tình. Đóng góp nhiều ý kiến xác đáng, hợp lý và góp
phần đảm bảo các phán quyết của HĐXX được chính xác, khách quan, phù hợp với
lợi ích, nguyện vọng của quần chúng nhân dân.
Trần Thị Thu Hằng (2019), Địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ luật học, Học
viện Khoa học xã hội, tr.37.
20
15
Như vậy, với sự kết hợp giữa sự tinh thông, kiến thức chuyên môn của TP với
các kiến thức sinh động từ thực tiễn của HT sẽ giúp bản án, quyết định đưa ra “mang
hơi thở của cuộc sống”, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Thứ năm, sự tham gia của HTND trong TTHS nhằm mục đích nâng cao ý thức
giáo dục pháp luật và phát huy được tác dụng giáo dục thông qua hoạt động xét xử.
Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong hoạt động xét xử
được hiểu là việc những người tiến hành tố tụng, trong đó có HTND, bằng hoạt động
của mình sẽ giúp cho những người tham gia tố tụng và những người quan tâm, theo
dõi hoạt động xét xử hiểu rõ ràng, đầy đủ những quy định của pháp luật được áp dụng
để giải quyết vụ án. Qua đó, giúp họ nhận thức được trách nhiệm pháp lý của từng
chủ thể trong vụ án, giúp hình thành ở họ những nhận thức về sự công bằng, nghiêm
minh của pháp luật, củng cố lịng tin và thái độ tơn trọng pháp luật21.
Thơng qua hoạt động xét xử, “TA góp phần giáo dục công dân trung thành với
Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống
xã hội chủ nghĩa, ý thức đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, các vi phạm pháp
luật khác22”. Như vậy, với vị trí là thành viên của HĐXX, HTND sẽ là người tạo điều
kiện giúp TA làm tốt công tác tuyên truyền về kết quả xét xử, nhận biết là hành vi sai
trái của mình theo quy định pháp luật và định hướng cho người dân những cách xử
sự đúng đắn. Ngồi ra, HT cịn đóng góp nhất định trong việc phổ biến pháp luật,
nâng cao ý thức chấp hành pháp luật tại địa bàn HT sinh sống và làm việc, góp phần
xây dựng một nhà nước dân chủ, cơng bằng, văn minh.
Thêm vào đó, hoạt động xét xử có đại diện Nhân dân tham gia làm tăng tính
thuyết phục của các phán quyết đối với xã hội, phán quyết của TAND không phải là
sự áp đặt của Nhà nước mà là sự nhìn nhận của xã hội, của người dân đối với các các
hành vi phạm tội, sự nhìn nhận của người dân về cơng lý, cơng bằng và lẽ phải. Qua
đó, làm tăng hiệu quả giáo dục, cải tạo đối với người bị kết án, đem tới sự tâm phục,
khẩu phục cho các đối tượng bị phán xử.
Về phía người dân, thơng qua phiên tịa cũng như những kiến thức tuyên truyền
từ HTND, người dân biết và hiểu được các quy định của pháp luật, quy tắc của cuộc
sống, ý thức về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm mình thực hiện, từ đó, có ý thức
Phạm Thùy Linh (2019), Hội thẩm nhân dân trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ,
Trường Đại học Luật TP.HCM, tr.15.
22
Khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức TAND năm 2014.
21
16
chấp hành pháp luật, tôn trọng quy tắc và đạo đức xã hội, nâng cao ý thức đấu tranh
phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác.
Như vậy, việc tham gia của HT trong quá trình xét xử là một nhu cầu tất yếu
của nền tư pháp dân chủ và sự tồn tại của chế định HT là biểu tượng của nền dân chủ,
thể hiện quyền lực Nhân dân, là yếu tố đảm bảo tính hiệu quả, thực thi của các phán
quyết của TAND. Qua đó, hướng tới việc đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp con người một cách tốt nhất cũng như nâng cao tinh thần thượng
tôn pháp luật trong mỗi người dân.
1.4. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển quy định Hội thẩm trong tố tụng
hình sự Việt Nam
1.4.1. Giai đoạn trước năm 1945
Trong tác phẩm “Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương” (1921 - 1926),
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến một vấn đề cốt lõi trong hoạt động của bộ máy
Tư pháp: đại diện của Nhân dân tham gia xét xử. Khi lên án bộ máy tư pháp của bọn
thực dân phong kiến, người đã chỉ rõ là ở Đơng Dương có hai thứ cơng lý, một thứ
cho người Pháp và một thứ cho người bản xứ. Người Pháp thì xét xử ở Pháp. Người
Việt Nam thì khơng có Hội đồng Bồi thẩm, cũng khơng có luật sư người Việt.
Như vậy, vấn đề một hệ thống Tư pháp phải có đại diện Nhân dân tham gia đã
hình thành từ rất sớm trong tư tưởng Hồ Chí Minh về một nền Tư pháp dân chủ.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi phong trào đấu tranh của quần
chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng ngày càng rầm rộ, đã có những bản án của Tòa án
cách mạng được tuyên nhằm trừng trị những tên phản động, gian ác như ở Mỹ Tho,
mặc dù chính truyền cách mạng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỹ chỉ tồn tại có 49 ngày
những Hội đồng Tòa án cách mạng đã được lập để xét xử bọn phản động. Tịa án xử
lưu động, cơng khai. Đại diện quần chúng lên phát biểu vạch rõ tội ác của bọn phản
động rồi đề nghị mức hình phạt. Tại các phiên tịa đó, quyền quyết định của đại diện
Nhân dân được tôn trọng23.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành cơng, chính quyền dân chủ Nhân dân ra
đời. Bộ máy tư pháp mới được thiết lập. Chế định HT được ghi nhận và trở thành một
chế định quan trọng trong hoạt động của Tòa án. Cụ thể là Sắc lệnh 33C/SL ngày
13/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về tổ chức
Tòa án quân sự đã quy định về xét xử có Phụ thẩm tham gia và Sắc lệnh 13/SL ngày
23
Hồ Chí Minh (1985), Nhà nước và Pháp luật, NXB Pháp lý - Hà Nội, tr.188.
17
24/1/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về tổ chức
các Tòa án và các ngạch Thẩm phán là văn bản pháp luật đầu tiên quy định tương đối
đầy đủ về địa vị pháp lý của HT24.
Như vậy, trong những năm tháng đầu tiên của chính quyền cách mạng cịn non
trẻ, chế định HT đã được hình thành. Mặc dù tên gọi ban đầu là Phụ thẩm nhân dân
nhưng tư tưởng về một nền tư pháp có sự tham gia của Nhân dân – nền tư pháp dân
chủ đã bắt đầu được “đặt nền móng”.
1.4.2. Giai đoạn từ năm 1946 – 1959
Đến ngày 19/11/1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta được ban hành cũng
đã chính thức ghi nhận: “Trong khi xét xử việc hình phải có phụ thẩm để tham gia ý
kiến nếu là việc tiểu hình, hoặc cùng quyết định với Thẩm phán nếu là đại hình”25.
Đến những năm 50, tình hình đất nước nói chung và nền tư pháp nói riêng đã
có những bước tiến nhảy vọt đáp ứng nền tư pháp Nhân dân. Một loạt những văn bản
pháp luật được nhà nước ban hành để cải cách tư pháp và hoạt động tố tụng, đáp ứng
đầy đủ hơn nữa yêu cầu của cách mạng, đòi hỏi của Nhân dân.
Trong những năm từ 1945 đến năm 1950, theo quy định, Phụ thẩm nhân dân có
nghĩa vụ tham gia phiên tịa khi được lựa chọn và nếu vắng mặt có thể bị phạt tiền.
Phụ thẩm cũng có nghĩa vụ giữ bí mật nội dung nghị án và có thể bị phạt tù nếu vi
phạm. Trong thời kỳ này, tiêu chuẩn làm Phụ thẩm nhân dân khá cao, nhưng vai trò
và thẩm quyền của Phụ thẩm có phần hạn chế hơn so với các TP chuyên nghiệp.
Đến Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng ra đời đã tạo nên những thay đổi
về chất trong cơng tác Tư pháp chính. Cụ thể là sự vận dụng lý luận Mác - Lênin vào
thực tiễn cách mạng Việt Nam. Theo đó, quy định HTND chính thức ra đời, thay thế
quy định Phụ thẩm nhân dân tại Sắc lệnh số 13 trước đây.
Theo Điều 3 Sắc lệnh 85/SL quy định: “Để xử việc hình và việc hộ, Tòa án nhân
dân huyện và Tòa án nhân dân tỉnh gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân;
Toà phúc thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân”. HTND đại diện cho
Nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra, chẳng những họ không phụ thuộc vào thành
phần chun mơn, mà trái lại họ có quyền bằng nhau với thành phần chun mơn, có
quyền xem hồ sơ và biểu quyết và có quyền ngang với TP. Với mục tiêu của cuộc cải
24
25
Uông Chu Lưu (2010), “Chủ tịch Hồ Chí Minh với cơng tác tư pháp”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tr 4-5.
Điều 65 Hiến pháp năm 1946.
18
cách tư pháp là làm dân chủ hóa bộ máy tư pháp, Sắc lệnh này đã quy định khi xét
xử thì thành phần HTND phải chiếm đa số trong HĐXX.
Sau đó là một loạt các văn bản ra đời nhằm hoàn thiện quy định về HTND bao
gồm: Sắc lệnh 151/SL ngày 17/08/1950 của Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa về thể lệ chỉ định các HTND và định thành phần TAND liên khu trong trường
hợp đặc biệt.
Có thể thấy, việc đổi tên Phụ thẩm thành HT đã xác định rõ ràng hơn địa vị pháp
lý của HT theo hướng: sự tham gia vào HĐXX theo tính chất “tập thể”, quyền và
nghĩa vụ cũng khác với trước đây; số lượng HTND trong HĐXX được tăng hơn so
với trước, quyền hạn và nghĩa vụ được mở rộng hơn.
1.4.3. Giai đoạn từ năm 1959 – 1986
Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp
năm 1959 được ban hành. Trong bản Hiến pháp này đã ghi nhận nguyên tắc HTND
tham gia xét xử tại Điều 59 như sau: “Việc xét xử ở các Tòa án nhân dân có Hội thẩm
nhân dân tham gia theo quy định của pháp luật. Khi xét xử, Hội thẩm nhân dân ngang
quyền với Thẩm phán”.
Theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 thì khi xét xử sơ thẩm, TAND
gồm có một TP và hai HTND. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 đã ghi nhận
nguyên tắc xét xử có HTND tham gia (Điều 99), nguyên tắc Tịa án xét xử độc lập
(Điều 100) đã chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp 1959; quyền hạn của HTND
được nâng lên ngang quyền với TP trong hoạt động xét xử (Điều 11). Trường hợp xử
những vụ án nhỏ, giản đơn và khơng quan trọng thì TAND có thể xử khơng có HTND.
Khi xét xử phúc thẩm, trong trường hợp đặc biệt liên quan đến dân tộc, tôn giáo phải
có HTND tham gia (Điều 112).
Sau khi miền Nam giải phóng, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng
hòa miền Nam Việt Nam đã ra Sắc luật số 01/SL/1976 quy định về tổ chức của
TAND, trong đó khẳng định nguyên tắc tham gia xét xử của HTND.
Đến khi Nhà nước ta ban hành Hiến pháp 1980, Hiến pháp của thời kỳ quá độ
cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, nguyên tắc HTND tham gia xét xử được tiếp tục ghi
nhận trong đạo luật cơ bản này. Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ của HTND được thể
hiện rõ hơn. HTND phải chịu trách nhiệm về những quyết định của mình. Hiến pháp
năm 1980 ghi rõ: Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” chứ không ghi chung
là: “Tòa án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” như Hiến pháp 1959. Việc thay đổi
này nhằm khắc phục tình trạng khơng chủ thể nào chịu trách nhiệm. Bởi lẽ, Tòa án
19
chỉ là một tổ chức được thành lập để thực hiện hoạt động tư pháp nhưng để tổ chức
này hoạt động thì cần có những con người cụ thể thực hiện việc vận hành bộ máy
này, nên không thể quy trách nhiệm cho một tổ chức. Việc xác định rõ chủ thể nào
trực tiếp thực hiện hoạt động xét xử sẽ giúp xác định rõ quyền hạn cũng như nghĩa
vụ, trách nhiệm của chủ thể đó. Qua đó, góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm
trong quá trình thực hiện hoạt động xét xử của chủ thể đó.
1.4.4. Giai đoạn từ năm 1986 – nay
Từ năm 1986, công cuộc đổi mới đất nước theo tinh thần Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI bắt đầu. Để phù hợp với tinh thần đổi mới, Hiến pháp năm 1992 đã
được ban hành để thay thế Hiến pháp 1980. Sau đó, Luật tổ chức Tòa án nhân dân
1992 và Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 1993 được ban
hành tiếp tục ghi nhận các nguyên tắc hoạt động của HT như: Tòa án xét xử tập thể
và quyết định theo đa số; khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán; khi xét
xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Theo quy định của pháp luật, từ năm 2002 trở về trước thì HTND vẫn được hình
thành theo hình thức bầu và cử. Việc cử được quy định đối với HTND ở tòa tối cao,
còn việc bầu sẽ được quy định đối với HT ở TAND địa phương. Nhưng hiện nay thì
HTND được thực hiện theo chế độ bầu và khơng cịn HT ở TAND tối cao. Thẩm
quyền xét xử của HTND được mở rộng tối đa, không chỉ dừng lại ở việc tham gia xét
xử trong lĩnh vực hình sự, dân sự mà HTND còn tham gia xét xử nhiều vụ án trong
lĩnh vực hành chính, thương mại, lao động. Ngồi nhiệm vụ trên, HTND cịn có nhiệm
vụ tun truyền giáo dục pháp luật trong quần chúng nhân dân. Đặc biệt là sự ra đời
của Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS) năm 1988 – BLTTHS đầu
tiên và tiếp theo vào năm 2003 và năm 2015 đã tiếp tục kế thừa và xây dựng các
nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của HTND trong việc xét xử VAHS.
Như vậy, HT là một chế định pháp lý mang tính chất truyền thống, được khẳng
định ngay từ những ngày đầu của chính quyền dân chủ nhân dân và tiếp tục tồn tại
cho đến ngày nay. Sự tồn tại đó khẳng định vị trí của đội ngũ HT trong hoạt động xét
xử của Tòa án. Sự hiện diện của họ, kết quả hoạt động của họ luôn khẳng định sự
quan trọng trong việc đưa tiếng nói của quần chúng nhân dân vào hoạt động xét xử.
1.5. Một số mô hình Hội thẩm trong tố tụng hình sự
Với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau ở mỗi quốc dẫn đến việc lựa
chọn chế định chính trị khác nhau nhưng đại đa số đều thể hiện tính dân chủ trong
hoạt động quản lý Nhà nước nói chung và trong cơng tác xét xử của Tịa án nói riêng.