BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
LÊ VÂN LINH
HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 - NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
LÊ VÂN LINH
HOẠT ĐỘNG THU THẬP CHỨNG CỨ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
GVHD: THS. XA KIỀU OANH
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 - NĂM 2023
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, con xin cảm ơn ba, mẹ đã luôn yêu thương và ủng hộ cho con trong
suốt hành trình của cuộc đời.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ThS. Xa Kiều Oanh – Giảng viên khoa
Luật Dân sự, trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã ln tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ em hồn thành Khóa luận này. Được sự hướng dẫn của cô là niềm vinh
dự và may mắn đối với em. Em xin chúc cơ có thật nhiều sức khỏe và đạt nhiều thành
cơng hơn nữa trong sự nghiệp giáo dục.
Ngồi ra, em cũng xin cám ơn quý thầy, cô trường Đại học Luật Thành phố
Hồ Chí Minh, các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã giúp em hồn thành Khóa luận này.
Và cuối cùng xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè đã ln giúp đỡ Linh trong q
trình tìm kiếm tài liệu, thu thập số liệu để thực hiện Khóa luận này.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi là Lê Vân Linh, tôi xin cam đoan những nội dung trong Khóa luận tốt
nghiệp này là kết quả nghiên cứu do tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của
ThS. Xa Kiều Oanh. Mọi thông tin tham khảo được sử dụng trong Khóa luận đều
đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham
khảo.
Tơi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả Khóa luận
Lê Vân Linh
DANH MỤC VIẾT TẮT
Số thứ tự
Chứ viết thường
Chữ viết tắt
1
Bộ luật Tố tụng dân sự
BLTTDS
2
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa
đổi, bổ sung năm 2011
BLTTDS năm 2004
3
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
BLTTDS năm 2015
4
Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa Pháp
năm 1806
BLTTDS Pháp
5
Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga
BLTTDS Liên bang Nga
năm 2003
6
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GCNQSDĐ
7
Tòa án nhân dân
TAND
8
Tòa án nhân dân tối cao
TANDTC
9
Tố tụng dân sự
TTDS
10
Tố tụng hình sự
TTHS
11
Ủy ban nhân dân
UBND
12
Viện kiểm sát
VKS
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP
CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ ...........................................................7
1.1. Khái quát về hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự .............7
1.1.1. Khái niệm về chứng cứ và hoạt động thu thập chứng cứ .....................7
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động thu thập chứng cứ ........................................10
1.1.3. Ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ ...........................................13
1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động thu thập
chứng cứ trong tố tụng dân sự ...........................................................................16
1.2.1. Hoạt động thu thập chứng cứ của đương sự .......................................17
1.2.2. Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án ...........................................24
1.2.3. Hoạt động thu thập chứng cứ của một số chủ thể khác ......................35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................38
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THU
THẬP CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN
THIỆN ......................................................................................................................39
2.1. Về hoạt động thu thập chứng cứ của đương sự ........................................39
2.1.1. Trình tự, thủ tục thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ ............39
2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của đương sự được tiếp cận chứng cứ. ................41
2.1.3. Quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu chứng cứ
..........................................................................................................................44
2.2. Về hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án ............................................48
2.2.1. Trách nhiệm chủ động thu thập chứng cứ của Tòa án khi xét thấy
cần thiết ............................................................................................................48
2.2.2. Về biện pháp định giá tài sản ................................................................53
2.2.3. Về biện pháp lấy lời khai của đương sự ...............................................58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................62
KẾT LUẬN ..............................................................................................................63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG KHÓA
LUẬN
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trải qua quá trình hình thành, tồn tại và phát triển cùng với từng thời kỳ của
đất nước, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đã dần kế thừa những ưu điểm của Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng dân sự số 65/2011/QH12, đồng thời cũng khắc phục được một số quy định pháp
luật còn hạn chế và chưa thực sự phù hợp. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII thơng qua tại kỳ họp
thứ 10 ngày 25/11/2015 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016 được xem như
là “bước chuyển mình” quan trọng của pháp luật tố tụng dân sự nước nhà. Đây là văn
bản có tính pháp lý cao nhất quy định về những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân
sự; trình tự, thủ tục khởi kiện, yêu cầu cũng như giải quyết các vụ việc dân sự và
những vấn đề cơ bản khác nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa
án nhân dân được nhanh chóng, chính xác, cơng minh và đúng pháp luật.
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có những quy định mới, những sửa đổi,
bổ sung quan trọng theo hướng ngày càng tiến bộ nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách
của thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự trong giai đoạn hiện nay, trong đó quy
định về hoạt động thu thập chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân và Tòa án là một
trong những nội dung quan trọng được sửa đổi, bổ sung, góp phần tạo cơ sở pháp lý
cho việc xác định sự thật khách quan của vụ việc. Vụ việc dân sự có được giải quyết
một cách triệt để, tồn diện hay khơng, có cơng bằng và đúng pháp luật hay khơng
hồn toàn phụ thuộc vào chứng cứ và chứng minh. Mọi giai đoạn giải quyết vụ việc
dân sự đều phụ thuộc phần lớn vào chứng cứ. Do đó, hoạt động thu thập chứng cứ là
hoạt động tố tụng quan trọng, ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả giải quyết vụ việc.
Trong q trình tố tụng, về ngun tắc, đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ
động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình
là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, khi xét thấy các tài liệu chứng cứ do các đương
sự thu thập, giao nộp không đủ cơ sở giải quyết hoặc các đương sự không thể tự thu
thập được các chứng cứ cần thiết thì trong một số trường hợp luật định, Tòa án sẽ chủ
động tiến hành một số biện pháp để thu thập chứng cứ. Mặc dù được pháp luật quy
định khá rõ ràng nhưng thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự lại cho thấy việc thu
thập chứng cứ không phải lúc nào cũng thuận lợi, dễ dàng và đầy đủ mà vẫn phát
1
sinh, tồn tại rất nhiều vướng mắc. Có thể kể đến, đó là, việc thu thập chứng cứ của
đương sự còn gặp nhiều trở ngại khách quan do các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan khác nắm giữ chứng cứ nhưng không cung cấp đầy đủ, kịp thời khi đương sự
yêu cầu hoặc do đương sự không thể tự mình xác minh, thu thập được chứng cứ; Tịa
án không tiến hành chủ động thu thập, xác minh chứng cứ để tìm ra sự thật khách
quan trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự mà chỉ căn cứ vào các tài liệu do các
cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp để giải quyết gây nên tình trạng vụ án bị kéo dài
thời gian giải quyết, ảnh hưởng đến các đương sự còn lại cũng như chất lượng giải
quyết vụ việc dân sự… Tác giả cho rằng, hạn chế nêu trên xuất phát từ việc pháp luật
tố tụng dân sự quy định về hoạt động thu thập chứng cứ vẫn còn tồn tại những điểm
bất cập, một số quy định chưa thực sự phù hợp, thiếu tính rõ ràng và hơn hết là vẫn
chưa có một văn bản hướng dẫn hồn chỉnh để chi tiết hóa về hoạt động này. Do vậy,
việc nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc về hoạt động thu thập chứng cứ cả về
phương diện lý luận và thực tiễn là một việc làm cấp thiết.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Hoạt động thu thập
chứng cứ trong tố tụng dân sự theo pháp luật Việt Nam” làm Khóa luận tốt nghiệp
của mình với mong muốn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề cịn vướng mắc, từ đó
kiến nghị, đề xuất những giải pháp cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam nói chung và pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng
dân sự nói riêng, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động thu thập chứng cứ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động thu thập chứng cứ là một trong những hoạt động quan trọng của
pháp luật tố tụng dân sự, chi phối và quyết định đến kết quả giải quyết vụ việc dân
sự. Chính vì lẽ đó, đây ln là mảng đề tài dành được sự quan tâm nghiên cứu của
nhiều tác giả dưới nhiều góc độ và hình thức tiếp cận khác nhau, từ khái quát đến cụ
thể, có thể kể đến một số cơng trình như sau:
Dưới hình thức giáo trình, sách chuyên khảo, Luận văn Thạc sĩ Luật học:
- Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Luật Tố
tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn Thị Hoài Phương (chủ biên), Nxb. Hồng Đức - Hội
Luật gia Việt Nam; Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Tố tụng
dân sự Việt Nam, Nguyễn Cơng Bình (chủ biên), Nxb. Cơng an nhân dân. Các giáo
trình này đã cung cấp những kiến thức cơ bản, mang tính nền tảng về hệ thống pháp
2
luật tố tụng dân sự Việt Nam nói chung nhằm phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu
của sinh viên. Trong đó, hoạt động thu thập chứng cứ được các giáo trình nghiên cứu
trong một phần của một chương riêng nhằm chỉ ra những vấn đề lý luận mang tính
khái qt của hoạt động. Tuy nhiên, vì là cơng trình nghiên cứu về pháp luật tố tụng
dân sự nói chung nên chưa đi sâu phân tích cũng như chưa đưa ra được những điểm
bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật đối với hoạt động này.
- Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Diệp (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015, Nxb. Lao động; Trần Anh Tuấn (2017), Bình luận khoa học
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa Xã hội Việt Nam, Nxb. Tư
pháp. Hai cơng trình này đã có những phân tích, đánh giá, bình luận dựa trên các quy
định của pháp luật hiện hành và thực tiễn xét xử liên quan đến việc áp dụng Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015, trong đó có hoạt động thu thập chứng cứ.
- Nguyễn Thị Hồi Phương (2016), Bình luận khoa học những điểm mới trong
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam. Cơng
trình nghiên cứu này đã phân tích, bình luận, đưa ra cái nhìn tổng quát về các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trên cơ sở so sánh với Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011. Trong đó có bình luận điểm mới liên quan
đến chứng cứ và chứng minh, về hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự.
- Trương Việt Hồng (2015), Hoạt động thu thập chứng cứ của Tịa án sơ thẩm
trong q trình giải quyết vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học
Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Hiểu (2015), Hoạt động thu thập chứng
cứ của Tịa án phúc thẩm trong q trình giải quyết vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Trong hai cơng trình luận
văn này, các tác giả đã nghiên cứu quy định của pháp luật về hoạt động thu thập
chứng cứ do Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm thực hiện trong quá trình giải quyết
vụ án dân sự. Qua đó đã làm rõ các vấn đề về mặt lý luận, lập pháp, thực tiễn và đưa
ra các kiến nghị về trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án, cụ thể như: chưa thống
nhất như thế nào là trường hợp Tòa án thu thập chứng cứ; trách nhiệm thu nhập chứng
cứ của Tòa án chưa rõ ràng; về thời hạn thu thập chứng cứ; về một số biện pháp thu
thập chứng cứ. Tuy nhiên, hai luận văn này chỉ giới hạn chủ thể thu thập chứng cứ là
Tòa án và giới hạn ở mỗi cấp tòa, giai đoạn tố tụng cụ thể nên trong quá trình nghiên
cứu các tác giả chưa đánh giá được hết toàn bộ hoạt động thu thập chứng cứ trong Tố
3
tụng dân sự. Hơn nữa, do các đề tài này đều được nghiên cứu trong bối cảnh Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 đang có hiệu lực thi hành, chưa
tiếp cận được các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, dẫn đến nhiều quy
định về hoạt động thu thập chứng cứ khơng cịn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự
hiện hành.
- Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hoàng Hải An (2017), Thu thập chứng cứ theo
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Trường Đại học Luật Hà Nội; Phan
Đình Hải (2019), Pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt
Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là những cơng trình luận văn được nghiên cứu, phân
tích sau khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành và đáp ứng theo
đúng tinh thần của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về hoạt động thu thập chứng
cứ trong tố tụng dân sự. Các cơng trình này đã tập trung nghiên cứu, phân tích, làm
rõ các vấn đề, các quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng để thấy được những
hạn chế liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tiến hành thu thập chứng cứ
và các biện pháp thu thập chứng cứ; từ đó, đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện
các quy định pháp luật. Ngoài ra, các cơng trình nghiên cứu này cũng có sự đối chiếu,
liên hệ, bình luận với mơ hình tố tụng của một số quốc gia để tham khảo, hoàn thiện
quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động thu thập chứng cứ.
- Nguyễn Thị Thu Sương (2020), Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng
minh trong tố tụng dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành
phố Hồ Chí Minh. Cơng trình tập trung phân tích, nghiên cứu chủ yếu về nguyên tắc
cung cấp chứng cứ và chứng minh. Trong đó, cơng trình dành một phần để đề cập,
làm rõ một số vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc thu
thập chứng cứ và trách nhiệm hỗ trợ của Tòa án trong thu thập chứng cứ.
Dưới hình thức bài báo khoa học, bài viết, tạp chí chuyên ngành luật:
Hà Thái Thơ (2013), “Một số ý kiến về trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa
án trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Nghề Luật, Học viện Tư pháp, số 05; Ngơ Vĩnh
Bạch Dương (2015), “Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng”, Tạp chí Nghiên cứu Lập
pháp, số 07 (287); Phan Thị Thu Hà (2015), “Những khó khăn, vướng mắc khi thực
hiện quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về chứng cứ, chứng minh và một
số đề xuất, kiến nghị”, Tạp chí Tịa án nhân dân Tối cao; Tòa án nhân dân thành phố
4
Đà Nẵng (2015), “Thu thập chứng cứ trong giải quyết vụ việc dân sự - những khó
khăn vướng mắc và giải pháp khắc phục”, Tạp chí Tịa án nhân dân, số 01; Nguyễn
Thị Thu Hà (2018), “Bình luận về nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh
trong Bộ luật Tố tụng dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10 (362); Thái Chí
Bình (2019), “Ủy thác thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu
lập pháp, số 19 (395); Nguyễn Thị Thu Hà (2020), “Thu thập chứng cứ của đương
sự trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Luật học, số 3; Võ Văn Hịa (2020), “Một số bất
cập về chứng cứ, chứng minh trong tố tụng dân sự và hướng hồn thiện”, Tạp chí Tịa
án nhân dân, số 19, 20.
Các cơng trình nêu trên đã được các tác giả phân tích và chỉ ra được những nội
dung cơ bản và những vấn đề bất cập, vướng mắc khi thực hiện quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự 2015 về chứng cứ, chứng minh và hoạt động thu thập chứng cứ, qua
đó đưa ra được những kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện pháp luật liên quan đến các vấn
đề về thu thập chứng cứ như: quyền xác minh, thu thập chứng cứ của cơ quan, tổ
chức, cá nhân; trách nhiệm và một số biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự và
Tòa án.
Như vậy, hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự đã được nhiều tác
giả, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và mỗi tác giả lại chọn cho mình một hướng tiếp
cận riêng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, vẫn cịn rất ít cơng trình nghiên cứu
một cách hệ thống, toàn diện, chuyên sâu các quy định về hoạt động thu thập chứng
cứ trong tố tụng dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 mà phần lớn đều là
các cơng trình được nghiên cứu trước khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 ban hành.
Dù vậy, mỗi cơng trình nghiên cứu đều mang lại những giá trị khoa học nhất định,
tạo điều kiện cho tác giả có sự hình dung rõ ràng hơn về khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa,
quy định của pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự và là
nguồn tài liệu tham khảo hữu ích, hỗ trợ cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện
Khóa luận này.
3. Nội dung nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ và điều kiện thời gian nghiên cứu đề tài Khóa luận, tác giả
tập trung làm rõ các nội dung cụ thể như sau: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hoạt
động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự; quy định của pháp luật tố tụng dân sự
hiện hành về hoạt động thu thập chứng cứ của đương sự, Tòa án và một số chủ thể
5
khác. Trên cơ sở đó, tác giả phân tích thực tiễn áp dụng, quy định của pháp luật nước
ngoài về hoạt động này và đề xuất, gợi mở kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật
về hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài, trong quá trình
nghiên cứu tác giả đã sử dụng một số phương pháp sau để thực hiện đề tài: phương
pháp phân tích, bình luận án, đánh giá, tổng hợp, so sánh. Mỗi phương pháp đều được
vận dụng một cách phù hợp với từng nội dung nghiên cứu của Khóa luận, cụ thể như
sau:
- Phương pháp phân tích được sử dụng xuyên suốt nội dung nghiên cứu Khóa
luận. Chương 1 sử dụng để đi sâu phân tích về những vấn đề mang tính lý luận như
khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và quy định pháp luật của hoạt động thu thập chứng cứ
trong tố tụng dân sự. Còn trong Chương 2 phương pháp này được sử dụng để phân
tích tình hình thực tiễn về hoạt động thu thập chứng cứ, các quan điểm pháp lý từ đó
đánh giá vấn đề dưới góc nhìn khoa học.
- Phương pháp bình luận án được tác giả chủ yếu sử dụng tại Chương 2, để
dẫn chứng và bình luận các vấn đề trong thực tiễn xét xử của Tòa án, từ đó đánh giá
và đưa ra quan điểm cá nhân đối với các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu.
- Phương pháp đánh giá, tổng hợp cũng được sử dụng thường xun trong
Khóa luận. Sau khi đã phân tích các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn, phương pháp
này được sử dụng để tổng kết lại các vấn đề pháp lý, kết quả nghiên cứu của từng
chương cũng như tồn bộ Khóa luận. Đặc biệt, đây là phương pháp chủ đạo được sử
dụng trong quá trình tác giả hoàn thiện kết luận Chương 1, Chương 2 và kết luận
chung.
- Phương pháp so sánh được sử dụng lồng ghép với các phương pháp trên
trong suốt Khóa luận. Cụ thể, phương pháp so sánh được sử dụng khi nghiên cứu quy
định về thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự theo pháp luật Việt Nam cũng như
pháp luật một số quốc gia khác để tìm ra điểm giống, khác và những điểm tiến bộ
trong pháp luật các nước nhằm tham khảo, học hỏi để hoàn thiện quy định của pháp
luật trong nước. Từ đó, tác giả nhận định và củng cố những kiến nghị đề xuất nhằm
hoàn thiện quy định pháp luật của nước nhà.
6
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THU THẬP
CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Khái quát về hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự
1.1.1. Khái niệm về chứng cứ và hoạt động thu thập chứng cứ
Khái niệm về chứng cứ
Theo các nhà nghiên cứu Luật học, xét cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn thì
chứng minh vẫn là biện pháp duy nhất để xác định các sự kiện, tình tiết của vụ việc
dân sự1. Do đó có thể nói, bản chất vụ việc dân sự có được làm sáng tỏ hay khơng sẽ
phụ thuộc phần lớn vào hoạt động chứng minh. Muốn tiến hành quá trình chứng minh
thì việc đầu tiên mà các chủ thể cần phải hướng tới đó là chứng cứ. Mọi hoạt động
trong quá trình chứng minh đều xoay quanh vấn đề chứng cứ, mọi giai đoạn trong
TTDS đều được mở ra, kết thúc và kết quả từ vấn đề chứng cứ2. Bởi khi một quan hệ
pháp luật được hình thành thì quan hệ đó phải được thể hiện dưới những hình thức
khác nhau của vật chất hoặc trong tư duy của con người. Chứng cứ đóng vai trị là
nền tảng cơ bản để giải quyết vụ việc dân sự và cũng là yếu tố cốt lõi, phương tiện để
chứng minh. Thông qua chứng cứ, các sự kiện, hành vi pháp lý thực tế được xác định
và là cơ sở của quan hệ pháp luật. Do vậy, việc nhận thức đúng về vấn đề chứng cứ
là tiền đề, giúp định hướng cho quá trình chứng minh, đặc biệt là hoạt động thu thập
chứng cứ trong TTDS.
Đề cập tới khái niệm chứng cứ trong pháp luật TTDS, hiện nay tồn tại rất nhiều
quan điểm khác nhau, tùy thuộc vào khía cạnh nhận thức, phương pháp tiếp cận, đánh
giá về chứng cứ. Theo từ điển Luật học, chứng cứ được định nghĩa là phương tiện để
xác minh sự thật về vụ án, “Chứng cứ phải chứa đựng những tài liệu thực tế có liên
quan đến vụ án cụ thể; chứng cứ phải được rút ra từ những nguồn do luật định...
những tình tiết có liên quan đến vụ án được ghi trong các tài liệu do cơ quan, tổ chức
Nguyễn Công Bình (chủ nhiệm đề tài) (2012), Một số vấn đề lý luận về chứng minh trong tố tụng dân sự, Đề
tài nghiên cứu khoa học Cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.47.
2
“Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự”, truy cập ngày 01/4/2023.
1
7
hoặc cá nhân cung cấp có thể được coi là chứng cứ”3. Còn trong khoa học Luật Tố
tụng dân sự Việt Nam, chứng cứ được xem là “cái có thật, theo một trình tự do luật
định được Tịa án dùng làm căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự”4. Hệ thống pháp luật
Việt Nam cũng lần đầu tiên ghi nhận khái niệm “chứng cứ” tại Điều 81 BLTTDS
năm 2004 một cách tương đối đầy đủ, rõ ràng; tiếp thu những điểm tiến bộ từ Bộ luật
này, BLTTDS năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng để hoàn thiện khái
niệm này theo hướng xây dựng trên cơ sở tập trung vào khía cạnh giá trị chứng minh
của chứng cứ , quy định cụ thể tại Điều 93: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những
gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho
Tịa án trong q trình tố tụng hoặc do Tịa án thu thập được theo trình tự, thủ tục
do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác minh các tình tiết
khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay phản đối của đương sự là có
căn cứ hợp pháp”. Về cơ bản, quy định này đã phản ánh được hầu hết bản chất của
chứng cứ.
Mặc dù các cách định nghĩa nêu trên về khái niệm “chứng cứ” dưới mỗi góc
nhìn có phần khác nhau, nhưng nhìn chung đều đã bao hàm được những đặc điểm
đặc trưng của chứng cứ, mà cụ thể là: “những gì có thật”, “chứa đựng những tài liệu
thực tế”, “phương tiện để xác minh sự thật”. Muốn có chứng cứ, con người phải thông
qua các hoạt động khác nhau, phải tìm kiếm, thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh giá
chứng cứ theo thủ tục do luật định. Con người khơng thể tự tạo ra chứng cứ theo
hướng có lợi cho mình để tham gia vào hoạt động chứng minh theo ý chí chủ quan
của mình5. Đây cũng là một trong những thuộc tính đầu tiên và quan trọng của chứng
cứ - tính khách quan của chứng cứ. Bên cạnh đó, chứng cứ cần phải đảm bảo tính liên
quan trong vụ việc. Chỉ những thơng tin gắn liền, có liên kết với việc Tòa án giải
quyết vụ việc dân sự mới được sử dụng làm căn cứ giải quyết các yêu cầu của đương
sự, người yêu cầu trong quá trình giải quyết các vụ việc tại Tòa án. Đồng thời, chứng
cứ cịn phải tn thủ tính hợp pháp, tức là rút ra từ nguồn chứng cứ do pháp luật quy
định. Điều này là vô cùng cần thiết nhằm bảo đảm giá trị của chứng cứ.
Từ điển Luật học (1999), Nxb. Từ điển Bách khoa, tr.99.
Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân,
tr.169.
5
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2020), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Hồng
Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.209.
3
4
8
Khái niệm về hoạt động thu thập chứng cứ
Chứng minh là quá trình diễn ra xuyên suốt với những hoạt động khác nhau
của các chủ thể quan hệ TTDS, gồm thu thập, cung cấp, sử dụng chứng cứ nhằm làm
sáng tỏ cơ sở pháp lý cũng như cơ sở thực tế các yêu cầu của các bên trong vụ án6.
Qua đó, có thể khẳng định thu thập chứng cứ là một trong những hoạt động cơ bản,
một giai đoạn của quá trình chứng minh. Mà chứng minh được xem là hoạt động
trọng tâm trong TTDS, chi phối đến toàn bộ q trình tố tụng, do đó hoạt động thu
thập chứng cứ cũng mang ý nghĩa đặc biệt không kém.
Hiện nay, trong BLTTDS năm 2015 chưa có một quy định cụ thể nào về khái
niệm hoạt động “thu thập chứng cứ” mà khái niệm này chỉ được đề cập dưới góc độ
các quan điểm, ý kiến cá nhân của các tác giả trong các cơng trình nghiên cứu khoa
học pháp lý, bài viết tạp chí chuyên ngành luật hay trong các giáo trình, sách chuyên
khảo của các trường đại học về ngành luật. Dưới góc độ ngơn ngữ học, khái niệm
“hoạt động thu thập chứng cứ” được ghép bởi các từ “hoạt động”, “thu thập” và
“chứng cứ”. Theo đó, “hoạt động” có nghĩa là “làm những việc khác nhau với mục
đích nhất định trong đời sống xã hội”7; “thu thập” được hiểu là “góp nhặt và tập hợp
lại”8. Kết hợp với khái niệm “chứng cứ” đã phân tích thì có thể hiểu hoạt động thu
thập chứng cứ là hoạt động phát hiện, nhặt nhạnh, thu gom các tình tiết, sự kiện có
liên quan tới vụ việc dân sự để nghiên cứu đánh giá và giải quyết vụ việc dân sự đó
theo một trình tự, thủ tục luật định. Cịn dưới góc độ nghiên cứu khoa học pháp lý,
theo giáo trình Luật Tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội thì “Thu thập
chứng cứ là việc phát hiện, tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc dân
sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng giải quyết vụ việc dân sự”9. Với khái niệm
này, đã xác định bản chất, mục đích của thu thập chứng cứ nhằm “nghiên cứu”, “đánh
giá và sử dụng” trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án. Tuy nhiên,
khái niệm trên chưa trả lời được câu hỏi chủ thể tiến hành hoạt động thu thập chứng
cứ là ai, thu thập chứng cứ có phải tuân theo trình tự thủ tục nào hay khơng. Ngồi
ra, trong một số cơng trình nghiên cứu khác của một số tác giả, hoạt động thu thập
Ngô Vĩnh Bạch Dương (2015), “Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 7
(282), tr.22.
7
Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr.827.
8
Viện Ngôn ngữ học, tlđd (7), tr.958.
9
Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd (4), tr.153.
6
9
chứng cứ cũng được đề cập. Chẳng hạn, thu thập chứng cứ được định nghĩa là “hành
vi pháp lý thông qua việc phát hiện, thu giữ, bảo quản, tập hợp các chứng cứ tạo cơ
sở cho việc khởi kiện hoặc phản đối yêu cầu của đương sự, và ra phán quyết của Tòa
án theo quy định của pháp luật”10. Hay một quan điểm khác ghi nhận hoạt động thu
thập chứng cứ được hiểu là “một dạng hoạt động tố tụng dân sự của các chủ thể
chứng minh trong việc phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ bằng các
phương pháp, biện pháp theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định”11. Mặc dù
ở quan điểm này vẫn chưa khái qt được tồn bộ khía cạnh về hoạt động thu thập
chứng cứ, chưa thể hiện mục đích tiến hành của hoạt động nhưng đã bổ sung được
đây là hoạt động TTDS của các chủ thể chứng minh, được tiến hành theo trình tự thủ
tục được pháp luật TTDS quy định.
Từ những phân tích bàn về khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ theo quan
điểm của các tác giả nói trên, dù chưa có sự thống nhất nhưng đã góp phần bổ sung,
hồn thiện cho nhau, giúp độc giả có cái nhìn sơ lược về hoạt động này. Tóm lại, có
thể hiểu thu thập chứng cứ là quá trình diễn ra với những hoạt động điển hình như
“phát hiện”, “ghi nhận”, “thu giữ”, “tập hợp”, “bảo quản” chứng cứ, đồng thời chủ
thể nào đưa ra yêu cầu sẽ phải có nghĩa vụ thu thập chứng cứ để chứng minh. Tuy
nhiên, trong những trường hợp mà chủ thể chứng minh khơng có khả năng thu thập
chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì pháp luật cũng cho phép
sự hỗ trợ thu thập chứng cứ từ phía Tịa án trong một số trường hợp luật định.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động thu thập chứng cứ
Từ khái niệm hoạt động thu thập chứng cứ trong TTDS, có thể rút ra một số
đặc điểm đặc trưng của hoạt động này như sau:
Thứ nhất, hoạt động thu thập chứng cứ là hoạt động cơ bản của quá trình chứng
minh, đặt cơ sở, nền tảng cho các hoạt động chứng minh khác. Sở dĩ nói hoạt động
thu thập chứng cứ là hoạt động có tính chất nền tảng cho các hoạt động chứng minh
khác là bởi vì thu thập chứng cứ là hoạt động đầu tiên của chứng minh, bắt đầu quá
trình chứng minh. Rõ ràng, phải có hoạt động thu thập chứng cứ, có đầy đủ chứng cứ
thì mới có thể tiến hành các hoạt động nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ.
Nguyễn Văn Hiểu (2015), Hoạt động thu thập chứng cứ của tịa án phúc thẩm trong q trình giải quyết vụ
án dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.10.
11
Phan Đình Hải (2019), Pháp luật về hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Kinh tế - Luật, tr.12, 13.
10
10
Các hoạt động này có mối liên hệ mật thiết và chặt chẽ với nhau, kết quả của hoạt
động trước là tiền đề để tiến hành các hoạt động tiếp theo và kết quả hoạt động sau
sẽ là cơ sở để kiểm tra, đánh giá tính đúng đắn của hoạt động trước. Như vậy, việc
thu thập chứng cứ đúng và đầy đủ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chứng minh, những
gì thu thập được sẽ trở thành đối tượng của hoạt động tiếp theo trong quá trình chứng
minh. Đây chính là điểm thể hiện tính “nền tảng” đang được đề cập.
Thứ hai, hoạt động thu thập chứng cứ được thực hiện bởi tất cả các chủ thể
tham gia TTDS. Xét về bản chất thì thu thập chứng cứ có thể do nhiều chủ thể tiến
hành nhằm phát hiện, tập hợp chứng cứ cần thiết để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng
giải quyết trong vụ việc dân sự. Tùy thuộc vào vai trị, vị trí tố tụng cũng như nhiệm
vụ, quyền hạn của mỗi chủ thể mà việc thu thập chứng cứ này sẽ có những mục đích
khác nhau. Theo đó, ngồi đương sự được xem là chủ thể trọng tâm trong hoạt động
thu thập chứng cứ, cịn có những người tham gia tố tụng khác (người đại diện, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự) và sự hỗ trợ thu thập từ Tòa án nhằm
đảm bảo cho vụ việc dân sự được giải quyết khách quan, toàn diện. Ngoài ra, trong
trường hợp nhất định thì việc thu thập chứng cứ cịn được trao quyền cho Viện kiểm
sát để thực hiện quyền kháng nghị theo thẩm quyền.
Bàn về chủ thể tham gia thu thập chứng cứ, trong pháp luật TTHS quy định
quyền thu thập chứng cứ chủ yếu thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án,
VKS, Cơ quan điều tra), còn bị can, bị cáo khơng có nghĩa vụ chứng minh mình vơ
tội. Cịn trong TTDS hầu hết các chủ thể (bao gồm cả người tham gia tố tụng, cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng) đều có quyền tham gia vào hoạt động thu
thập chứng cứ. Sở dĩ có sự khác biệt như vậy là bởi: Đối với pháp luật TTHS, quan
hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa một bên là Nhà nước và một bên là người được
suy đốn phạm tội. Do đó, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan
tiến hành tố tụng. Khi các cơ quan Nhà nước khởi tố một vụ án hình sự nghĩa là đang
đưa ra một yêu cầu buộc tội, khi đó họ phải chứng minh việc buộc tội đó là có căn cứ
và hợp pháp - điều này rất phù hợp với nguyên lý “Ai đưa ra yêu cầu, người đó phải
chứng minh”12. Ngược lại với cơ quan tiến hành tố tụng, người bị buộc tội có quyền
trình bày lời khai, ý kiến nhưng khơng buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình
Vũ Hoàng Anh (2019), “Nghĩa vụ chứng minh của đương sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”, Tạp
chí Luật sư Việt Nam, số 4, tr.9.
12
11
hoặc buộc phải nhận mình có tội13. Vì vậy, việc pháp luật TTHS quy định về chủ thể
thu thập chứng cứ như đã nêu trên là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn cũng như đảm
bảo nguyên tắc được xác định sự thật của vụ án trong pháp luật TTHS. Còn trong
pháp luật TTDS, xuất phát từ bản chất của các quan hệ dân sự, chẳng hạn như các
tranh chấp về đất đai, tranh chấp về tài sản, thừa kế,… đều là các quan hệ của các giá
trị “tư”, mối quan hệ giữa bên yêu cầu với bên bị yêu cầu dựa trên sự bình đẳng, tự
do và tự nguyện. Cho nên, để bảo vệ quyền lợi của mình, hầu hết các chủ thể tố tụng
đều có thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ để chứng minh thuyết phục Tịa án
chấp nhận ý kiến của mình. Chính điều này đã cho thấy sự đa dạng của chủ thể thu
thập chứng cứ trong TTDS. Đây cũng chính là điểm khác biệt cơ bản, đặc thù giữa
ngành luật TTDS với ngành luật tố tụng khác.
Thứ ba, hoạt động thu thập chứng cứ trong TTDS rất phong phú, đa dạng. Sự
phong phú, đa dạng này được thể hiện ở nhiều khía cạnh. Đầu tiên, có thể thấy ở mỗi
vụ việc khác nhau thì nội dung thu thập chứng cứ cũng sẽ khác nhau, đòi hỏi các chủ
thể cần thu thập những cứ khác nhau. Chẳng hạn như đối với tranh chấp về quyền sở
hữu tài sản thì nội dung thu thập chứng cứ sẽ liên quan đến tài sản được sở hữu, tình
trạng tài sản, các giấy tờ để chứng minh quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản,…
Bên cạnh đó, sự phong phú, đa dạng của hoạt động thu thập chứng cứ cịn thể hiện ở
việc chứng cứ có thể được rút ra từ nhiều nguồn khác nhau. Do vậy, để thu thập chứng
cứ, mỗi chủ thể cũng phải tiếp cận từ rất nhiều nguồn chứng cứ khác nhau. Theo đó,
BLTTDS năm 2015 cũng đã liệt kê 09 loại nguồn chứng cứ quy định cụ thể tại Điều
94; ngoài ra, các biện pháp thu thập chứng cứ được pháp luật TTDS quy định bằng
nhiều cách khác nhau cũng đã góp phần tạo nên tính đa dạng cho hoạt động thu thập
chứng cứ của các chủ thể (khoản 1, khoản 2 Điều 97 BLTTDS năm 2015).
Thứ tư, hoạt động thu thập chứng cứ phải đảm bảo được tính hợp pháp, hay
nói cách khác là được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Theo đó,
những sự kiện, tình tiết thực tế để trở thành chứng cứ trong vụ việc và có giá trị chứng
minh thì cần được các chủ thể chứng minh thu thập từ các nguồn hợp pháp và theo
đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định. Trong trường hợp chứng cứ được thu
thập trái với quy định của pháp luật thì có thể xem là hành vi vi phạm thủ tục tố tụng
Quyền này không được ghi nhận trực tiếp trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành mà thể hiện gián tiếp
trong một số điều luật, cụ thể tại điểm e khoản 1 Điều 58 và khoản 2 của Điều 59, 60, 61 Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
13
12
và hậu quả là bản án, quyết định của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị, sửa án,
thậm chí là hủy án. Đương nhiên, chứng cứ đó cũng sẽ mất giá trị chứng minh bởi
quá trình thu thập khơng đảm bảo được độ tin cậy, chính xác tuyệt đối. Với cách quy
định chặt chẽ về thủ tục thu thập chứng cứ như trên sẽ đảm bảo tính khách quan, minh
bạch, chính xác trong q trình thu thập và giúp nâng cao giá trị chứng cứ; hơn nữa,
còn hạn chế được những tình trạng khai gian dối về tài sản hoặc giả mạo chứng cứ và
tránh được phản bác của đương sự đối lập về tính hợp pháp của chứng cứ. Đặc điểm
này hoàn toàn phù hợp với một trong những nguyên tắc cơ bản của ngành luật TTDS
Việt Nam, nguyên tắc “Tuân thủ pháp luật trong tố tụng dân sự”, cụ thể như sau:
“Mọi hoạt động tố tụng dân sự của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng, người tham gia tố tụng, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân
theo các quy định của Bộ luật này” (Điều 3 BLTTDS năm 2015).
1.1.3. Ý nghĩa của hoạt động thu thập chứng cứ
Hoạt động thu thập chứng cứ trong TTDS có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả
về mặt lý luận và thực tiễn, khơng chỉ góp phần làm sáng tỏ bản chất của vụ việc dân
sự, làm rõ được sự thật khách quan, mà cịn góp phần bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích
hợp pháp của các đương sự.
Thứ nhất, hoạt động thu thập chứng cứ góp phần làm sáng tỏ bản chất của vụ
việc để bản án, quyết định của Tòa án phù hợp với sự thật khách quan.
Quá trình làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc dân sự là xác định có
hay khơng có, tồn tại hay khơng tồn tại các tình tiết, sự kiện mà các bên nêu ra làm
cơ sở cho yêu cầu của mình trước Tịa án. Chỉ trên cơ sở các tình tiết, sự kiện của vụ
việc dân sự đã được làm rõ, Tịa án mới có thể áp dụng pháp luật phù hợp để giải
quyết vụ việc, chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu của các bên14. Tòa án muốn làm rõ sự
thật khách quan của vụ việc thì trước hết phải thông qua các chứng cứ do các bên thu
thập, đề xuất hoặc do Tòa án tự thu thập trong một số trường hợp nhất định và thực
hiện kiểm tra, đánh giá theo trình tự do luật định. Từ việc thu thập đầy đủ chứng cứ
kết hợp với hoạt động kiểm tra, đánh giá chứng cứ để đảm bảo tính chính xác cao, có
độ tin cậy tuyệt đối sẽ là cơ sở, căn cứ cho việc đưa ra kết luận, quyết định của cơ
quan tiến hành tố tụng đối với từng vấn đề cụ thể của đối tượng chứng minh hoặc
14
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (5), tr.178.
13
tồn bộ vụ việc. Do đó, có thể khẳng định, hoạt động thu thập chứng có nói riêng và
hoạt động chứng minh nói chung có tính chất chi phối đến kết quả giải quyết vụ việc
dân sự, góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ việc.
Thứ hai, hoạt động thu thập chứng cứ có ý nghĩa đối với Tịa án trong q
trình giải quyết kịp thời, nhanh chóng và đúng đắn vụ việc dân sự.
Tịa án được Nhà nước giao quyền lực để giải quyết vụ việc dân sự nhằm giữ
vững trật tự xã hội. Tuy nhiên, vì Tịa án khơng phải là chủ thể của mâu thuẫn trong
tranh chấp, không phải là chủ thể của quyền, lợi ích trong vụ việc nên đương nhiên
Tịa án sẽ khơng thể là chủ thể có khả năng chứng minh tốt nhất. Hoạt động thu thập
chứng cứ của Tòa án chỉ mang tính hỗ trợ cho đương sự và phục vụ cho việc làm rõ
cơ sở, quyết định của Tòa án. Do đó, khơng phải vụ việc dân sự nào cũng có sự can
thiệp hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án mà chỉ trong một số trường hợp luật
định thì Tịa án mới trực tiếp tiến hành xác minh thu thập chứng cứ. Chính quy định
tiến bộ này đã giúp giảm bớt gánh nặng cho Tòa án trong q trình giải quyết vụ việc
vì khơng cịn mang vai trị chính trong việc thu thập chứng cứ thay cho đương sự như
trong quy định tại Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8 năm 1989 về thủ tục giải quyết các
vụ án dân sự do Hội đồng Nhà nước ban hành. BLTTDS năm 2004 đã đánh dấu cột
mốc thay đổi quan trọng trong tư duy của các nhà làm luật khi quy định vai trò chủ
động của đương sự trong thu thập chứng cứ, đồng thời giải phóng bớt trách nhiệm
cho Tịa án khi quy định Tòa án chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong
những trường hợp luật định (khoản 2 Điều 6 và khoản 2 Điều 64 BLTTDS năm 2004).
Và đến BLTTDS năm 2015, một lần nữa quy định này lại tiếp tục được khẳng định
cụ thể hơn tại Điều 6.
Rõ ràng, quá trình giải quyết vụ việc dân sự có nhanh chóng, đúng đắn hay
khơng phụ thuộc phần lớn vào việc thu thập chứng cứ của đương sự. Nếu việc thu
thập chứng cứ của đương sự diễn ra nhanh chóng, đúng với quy trình mà pháp luật
quy định, đồng thời chứng cứ mà đương sự cung cấp cho Tịa án là hợp pháp, đầy đủ
thì Tịa án sẽ giải quyết vụ việc kịp thời, nhanh chóng. Lúc này, Tịa án có thể sẽ
khơng cần phải tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ nếu vụ việc đã có đủ toàn bộ
chứng cứ để giải quyết. Dù vậy, vẫn có những trường hợp đương sự chưa biết chứng
cứ nào là cần thiết cho vấn đề cần chứng minh nên không thể tự thu thập được chứng
cứ hoặc thu thập nhưng không đầy đủ. Nếu đợi chứng cứ do đương sự giao nộp, cung
14
cấp thì vụ việc có thể sẽ bị kéo dài mà khơng có hướng giải quyết, dẫn đến tình trạng
án tồn, án quá hạn, án bị hủy hoặc sửa. Đặc biệt, trong một số vụ án phức tạp, đặc thù
như chia thừa kế liên quan đến tài sản hoặc đối với các vụ án tranh chấp về đất đai
thì tình trạng trì trệ kéo dài càng dễ xảy ra. Vì lí do đó, với tư cách là một cơ quan tư
pháp, mang sứ mệnh “cầm cân nảy mực”, Tòa án có quyền áp dụng các biện pháp thu
thập chứng cứ trong một số trường hợp nhất định và giới hạn luật định. Đồng thời,
kết hợp với chứng cứ được các chủ thể khác cung cấp sẽ giúp Tịa án có được một hệ
thống chứng cứ xác đáng và đầy đủ nhất, từ đó, hiệu quả chứng minh sẽ cao hơn, làm
căn cứ giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng, đúng đắn, khách quan, toàn diện.
Thứ ba, hoạt động thu thập chứng cứ có ý nghĩa đối với đương sự nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đảm bảo tính bình đẳng trước pháp luật.
Trong q trình tố tụng, để có cơ sở chứng minh cho yêu cầu của mình là có
căn cứ hợp pháp thì đương sự phải là chủ thể có trách nhiệm hàng đầu trong việc thu
thập chứng cứ. Bản thân đương sự là người trong cuộc, có quan hệ lợi ích cần được
giải quyết nên họ phải là người biết rõ nhất những thông tin, tài liệu cần thiết liên
quan đến vụ án dân sự đang tranh chấp. Nhắc đến thu thập chứng cứ của đương sự,
người ta sẽ đề cập đến quyền chủ động thu thập chứng cứ của đương sự - một trong
các quyền cơ bản của đương sự. “Quyền chủ động thu thập của chứng cứ của đương
sự có nghĩa là đương sự có thể thu thập chứng cứ ở bất cứ mọi nơi, mọi lúc, phù hợp
với kế hoạch và điều kiện chủ quan của mình, khơng bị ràng buộc, thúc ép hay phải
tuân theo một chỉ đạo hoặc điều khiển của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào.
Đương sự chỉ có một sức ép duy nhất là nếu không chủ động thu thập chứng cứ một
cách đầy đủ, khách quan sẽ không chứng minh được yêu cầu của mình”15. Do đó,
việc chủ động thu thập chứng cứ của đương sự để chứng minh trước Tòa án là đang
tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính đương sự đó.
Bên cạnh việc tự bảo vệ bằng khả năng của mình, đương sự cịn có thể yêu cầu
sự hỗ trợ từ Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích cho họ. Bởi lẽ, một trong những nhiệm
vụ hàng đầu của Tịa án là: bảo vệ cơng lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân,
bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân (khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 và khoản 2 Điều
Trần Anh Tuấn (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.17.
15
15
13 BLTTDS năm 2015). Đặc biệt, trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội của Việt
Nam chưa cho phép quy định việc tham gia tố tụng của luật sư là bắt buộc, nếu quy
định nghĩa vụ chứng minh hoàn tồn thuộc về đương sự có thể dẫn đến tình trạng
đương sự khơng có khả năng chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình16. Ngun tắc “quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp (Điều
4 BLTTDS năm 2015)” trong TTDS chính là cơ sở để đương sự đảm bảo quyền của
mình khi đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng vẫn khơng thể thu thập được
chứng cứ thì có thể yêu cầu Tòa án hỗ trợ. Hơn nữa, chứng cứ mà các bên đương sự
cung cấp thường sẽ có xu hướng thiên lệch về phía mình hơn. Điều này sẽ dễ làm sai
lệch vụ án, dẫn đến có lợi cho đương sự này nhưng lại xâm phạm quyền và lợi ích
chính đáng của đương sự khác. Do đó, việc quy định các biện pháp thu thập chứng
cứ của Tòa án là rất cần thiết để giúp cho vụ việc được giải quyết cơng tâm, chính
xác, đảm bảo tính bình đẳng về quyền và lợi ích hợp pháp giữa các bên đương sự.
Đương nhiên, vì hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án cũng chỉ tiến hành trong
một số trường hợp luật định nên sẽ không làm mất đi quyền chủ động thu thập chứng
cứ của đương sự cũng như quyền “quyết định và tự định đoạt” của họ.
1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động thu thập chứng
cứ trong tố tụng dân sự
Trước khi BLTTDS năm 2004 ra đời, pháp luật TTDS Việt Nam chịu ảnh
hưởng bởi mơ hình tố tụng xét hỏi của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil law)
mà đại diện điển hình là Cộng hịa Pháp, Liên bang Nga, do đó đặt tồn bộ trách
nhiệm trong việc điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ cho Tòa án, đặc biệt là đối
với Thẩm phán. Điều này vơ hình tạo ra “gánh nặng” cho Tịa án khi có q nhiều
công việc phát sinh cần giải quyết. Tuy nhiên, sau khi BLTTDS năm 2004 ra đời và
cho đến nay là sự kế thừa và phát triển được chuyển hoá vào BLTTDS năm 2015,
pháp luật Việt Nam đã có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với bối cảnh và thực
tiễn xã hội. Bằng việc quy định thủ tục hỗn hợp, kết hợp giữa mơ hình tố tụng tranh
tụng và tố tụng xét hỏi, theo đó, chủ thể tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ không
chỉ giới hạn ở cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng mà đã mở rộng
quyền và nghĩa vụ này cho những người tham gia tố tụng. BLTTDS năm 2015 quy
định cụ thể như sau: Về phía người tham gia tố tụng bao gồm đương sự (nguyên đơn,
Phạm Thị Hương (2013), Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.16, 17.
16
16
bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) và những người tham gia tố tụng khác
(người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đại diện) quy định tại
Điều 70, Điều 76, Điều 86. Về phía cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
bao gồm Tòa án (Thẩm phán, Thẩm tra viên) và Viện kiểm sát (Kiểm sát viên) được
quy định tại Điều 48, Điều 50 và Điều 58. Việc ghi nhận cụ thể về quyền và nghĩa vụ
thu thập chứng cứ này của các chủ thể có ý nghĩa quan trọng khi vừa tạo điều kiện
cho việc phát huy tính chủ động của các chủ thể, nâng cao hiệu quả trong hoạt động
xét xử của Tòa án, vừa là một trong những điều kiện tiên quyết giúp đảm bảo đạt
được mục đích đặt ra của TTDS mà cụ thể là: xác định sự thật khách quan của vụ
việc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi hợp pháp của cơng dân.
Trong khn khổ của Khố luận với thời gian và giới hạn số trang cho phép,
tác giả chỉ tập trung phân tích vào hai chủ thể chính, chi phối phần lớn đến hoạt động
thu thập chứng cứ là đương sự và Tịa án. Ngồi ra, tác giả khái quát sơ lược về các
chủ thể khác có liên quan đến hoạt động này như Viện kiểm sát, người bảo vệ quyền
và lợi pháp của đương sự.
1.2.1. Hoạt động thu thập chứng cứ của đương sự
1.2.1.1. Trường hợp đương sự phải tiến hành thu thập chứng cứ
Khi tham gia vào quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự - với tư cách
là chủ thể quan hệ pháp luật nội dung có tranh chấp và chủ thể của quan hệ pháp luật
tố tụng nên đương sự khơng chỉ có các quyền và nghĩa vụ của quan hệ pháp luật nội
dung mà cịn có các quyền và nghĩa vụ tố tụng17. Theo đó, vì đương sự là trung tâm
của hoạt động tố tụng, có nghĩa vụ chứng minh chủ yếu nên được pháp luật trao cho
các quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập các tài liệu, chứng cứ giao nộp cho Tòa án.
Vấn đề này cũng đã được pháp luật ghi nhận trong nguyên tắc “cung cấp chứng cứ
và chứng minh” tại khoản 1 Điều 6 BLTTDS năm 2015, trong nguyên tắc xác định
rõ: “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa
án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”. Bên cạnh đó,
theo khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 91 BLTTDS năm 2015 cũng quy định về những
trường hợp cụ thể mà đương sự phải tiến hành thu thập chứng cứ.
Bùi Thị Huyền (2017), “Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015”, Tạp chí Luật học, số 7, tr.40.
17
17
Trước hết, đương sự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình thì phải chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và cơ sở. Có thể thấy, đương
sự khi tham gia vào các quan hệ pháp luật TTDS đều được đảm bảo bình đẳng về địa
vị pháp lý, về quyền và nghĩa vụ tố tụng. Đồng nghĩa với việc, bất cứ chủ thể nào cho
rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm, chủ thể đó đều có quyền đưa ra yêu cầu
đối với Tòa án. Xuất phát từ nguyên tắc “quyền quyết định và tự định đoạt của đương
sự (Điều 5 BLTTDS năm 2015)” đối với việc khởi kiện của mình, được hiểu là
“Quyền của đương sự trong việc tự quyết định bị quyền, lợi ích của họ và lựa chọn
biện pháp pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích đó”18. Theo đó, đương sự sẽ có
các quyền bao gồm: quyền khởi kiện, quyền đưa ra chứng cứ, bổ sung chứng cứ và
chứng minh; quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu và rút đơn khởi kiện; quyền thương
lượng, hịa giải19.
Trong TTDS, khi người khởi kiện có đơn u cầu Tòa án giải quyết tranh chấp,
thực tế họ đã đưa ra một sự cáo buộc đối với người bị kiện nhưng cũng đồng thời tự
đặt mình vào một nghi vấn về sự lạm quyền đi kiện. Khi đó, người đưa ra yêu cầu
đương nhiên có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu của mình đưa ra là đúng đắn và khơng
có sự lạm quyền nào được thực hiện. Bên cạnh đó, đương sự là chủ thể có lợi ích trực
tiếp từ việc giải quyết vụ việc dân sự. Việc giải quyết vụ việc dân sự tại Tịa án thực
chất chính là việc bảo vệ quyền lợi “tư” của chủ thể. Như vậy, đương sự có u cầu
chính là chủ thể có lợi ích “thiết thân” trong vụ việc. Bằng thủ tục tố tụng và các quy
định của pháp luật, Tòa án sẽ đại diện cho công lý để giúp chủ thể bị xâm phạm được
khôi phục lại các quyền lợi được pháp luật bảo vệ. Chính vì vậy, đương sự vừa có
quyền vừa có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu đưa ra là đúng20. Các quốc gia theo hệ
thống pháp luật dân luật (Civil law) cũng thể hiện sự đồng tình với quan điểm trên.
Điển hình như theo Điều 9 BLTTDS Pháp quy định: “Mỗi bên đương sự có nghĩa vụ
chứng minh theo luật định các tình tiết cần thiết làm căn cứ cho các yêu cầu của
mình”21.
Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd (4), tr.46, 47.
Phạm Hữu Nghị (2000), “Về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự”, Tạp chí
Nhà nước và pháp luật, số 12, tr.39, 40.
20
Vũ Hoàng Anh (2018), “Một số vấn đề pháp lý về nghĩa vụ chứng minh của đương sự theo Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015”, Kỷ yếu hội thảo – những quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Trường
Đại học Luật Hà Nội, tr.83, 84.
21
Nhà pháp luật Việt – Pháp (2008), Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hồ Pháp, Nxb. Chính trị quốc
gia Hà Nội, tr.9.
18
19
18