Tải bản đầy đủ (.pdf) (76 trang)

Hoạt động chất vấn của đại biểu quốc hội – thực trạng và kiến nghị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1 MB, 76 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH
-----------***------------

TRẦN THỊ BẢO CHÂN
MSSV: 1953801011021

HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI – THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Niên khóa: 2019 – 2023

Người hướng dẫn: Th.S Nguyễn Mai Anh

TP.HCM – Năm 2023


TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH
-----------***------------

TRẦN THỊ BẢO CHÂN
MSSV: 1953801011021

HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI – THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Niên khóa: 2019 – 2023


Người hướng dẫn: Th.S Nguyễn Mai Anh

TP.HCM – Năm 2023


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật với đề tài “Hoạt động
chất vấn của đại biểu Quốc hội – Thực trạng và kiến nghị” là cơng trình nghiên
cứu do chính tơi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Mai Anh. Khóa
luận có sử dụng, trích dẫn ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả, các thông
tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể và chính xác. Các số liệu, thơng tin được sử
dụng trong Khóa luận là khách quan, trung thực.
Tác giả

Trần Thị Bảo Chân


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

Nghĩa đầy đủ của từ viết tắt

ĐBQH

Đại biểu Quốc hội

UBTVQH

Ủy ban thường vụ Quốc hội


USITC

Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ

USTR

Đại diện Thương mại Hoa Kỳ


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN ... 4
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động chất vấn ............................... 5
1.1.1. Khái niệm hoạt động chất vấn................................................................... 5
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động chất vấn ............................................................. 7
1.1.3. Ý nghĩa của hoạt động chất vấn .............................................................. 10
1.2. Quy trình, thủ tục và hệ quả của hoạt động chất vấn .............................. 12
1.2.1. Quy trình chất vấn ................................................................................... 12
1.2.2. Hệ quả của hoạt động chất vấn ............................................................... 14
1.3. Hoạt động chất vấn ở một số quốc gia trên thế giới.................................. 15
1.3.1. Hoạt động chất vấn tại Nghị viện Anh .................................................... 16
1.3.2. Hoạt động chất vấn tại Nghị viện Hoa Kỳ .............................................. 20
1.3.3. Hoạt động chất vấn tại Nghị viện Đức .................................................... 27
1.3.4. Nhận xét về hoạt động chất vấn tại Nghị viện một số quốc gia trên thế
giới .................................................................................................................... 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................ 31
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VIỆT
NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ........................................................................... 32
2.1. Pháp luật về hoạt động chất vấn của Đại biểu Quốc hội Việt Nam......... 32

2.1.1. Quy định của Hiến pháp về hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội . 32
2.1.2. Quy định của pháp luật về hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội ... 37
2.2. Thực trạng hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội Việt Nam ........... 42
2.2.1. Một số kết quả đạt được trong hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội .
........................................................................................................................... 42
2.2.2. Những hạn chế trong việc thực hiện hoạt động chất vấn của đại biểu
Quốc hội ............................................................................................................ 47


2.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn của đại
biểu Quốc hội Việt Nam ...................................................................................... 51
2.3.1. Kiến nghị về hoàn thiện quy định pháp luật ........................................... 52
2.3.2. Kiến nghị về cơ chế thực thi ................................................................... 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................ 61
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, do Nhân dân làm
chủ thông qua cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội. Quyền lực Nhà nước là
thống nhất, có sự phân cơng, phối hợp, kiểm sốt giữa các cơ quan nhà nước trong
việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp1. Theo Hiến pháp năm 2013,
Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn
đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.
Giám sát tối cao của Quốc hội là chức năng có ý nghĩa quan trọng, thể hiện vai trò
của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
của các cơ quan nhà nước, đảm bảo tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân

dân. Giám sát thông qua hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội (ĐBQH) là hình
thức giám sát quan trọng, hiệu quả nhất của Quốc hội và thể hiện rõ nét tính dân chủ
trong hoạt động của Quốc hội.
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đã
sửa đổi, bổ sung các quy định về trình tự, thủ tục về hoạt động chất vấn của ĐBQH.
Với những sửa đổi, bổ sung của Luật này, hoạt động chất vấn của ĐBQH bước đầu
đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, hoạt động chất vấn chỉ mới đáp
ứng ở mức cơ bản so với yêu cầu đã đặt ra. Trên thực tế, hoạt động này vẫn còn tồn
tại nhiều mặt hạn chế. Do vậy, vấn đề nghiên cứu về hoạt động chất vấn của ĐBQH
là một yêu cầu khách quan và thực sự cần thiết nhằm hoàn thiện công tác giám sát
của Quốc hội về mặt lý luận và thực tiễn.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Hoạt động chất vấn
của đại biểu Quốc hội - Thực trạng và kiến nghị” làm Khóa luận tốt nghiệp Cử
nhân Luật của mình. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt chất vấn
của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam, tác giả đưa ra một số khuyến nghị nhằm hoàn
thiện pháp luật nước nhà về vấn đề này, đồng thời Khóa luận cũng là tư liệu tham
khảo hữu ích cho các tác giả khi nghiên cứu về chức năng giám sát của Quốc hội.
2. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến đề tài “Hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội - Thực
trạng và kiến nghị” đã có hai Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Luật và một Luận
văn Thạc sĩ nghiên cứu, đó là đề tài “Hoạt động chất vấn của Đại biểu Quốc hội:
Thực trạng và một số kiến nghị” của tác giả Trần Thị Thanh Tâm năm 2013; đề tài
1

Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013.


2
“Giải pháp nâng cao hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội” của tác giả
Nguyễn Văn Đông năm 2013; đề tài “Hoạt động chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội

Việt Nam Khóa XII (2007-2011)” của tác giả Nguyễn Thị Hiền năm 2014 nghiên
cứu chuyên sâu vấn đề này. Tuy nhiên cả hai Khóa luận tốt nghiệp của tác giả
Trần Thị Thanh Tâm và tác giả Nguyễn Văn Đông và Luận văn của tác giả
Nguyễn Thị Hiền nghiên cứu hoạt động chất vấn của ĐBQH chủ yếu dựa trên
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) và Luật Hoạt động giám sát của
Quốc hội năm 2003. Đến nay đã có Hiến pháp năm 2013 và Luật Hoạt động giám
sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 thay thế nên có một số nội dung
nghiên cứu đã khơng cịn phù hợp với thực tiễn thực hiện hoạt động chất vấn của
ĐBQH Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hiện nay đã có nhiều bài viết được đăng trên tạp chí nghiên cứu về hoạt
động chất vấn của ĐBQH Việt Nam như: bài viết “Hoạt động chất vấn của Quốc
hội theo tinh thần Hiến pháp năm 2013” của tác giả Bùi Ngọc Thanh được đăng
trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp năm 2015; bài viết “Hoàn thiện hệ thống pháp
luật về hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam hiện nay” của tác giả
Vũ Trang đăng trên tạp chí Giáo dục lý luận năm 2015; bài viết “Những đổi mới
trong hoạt động chất vấn” của tác giả Nguyễn Thúy Hà, Lương Thị Thu Hà được
đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp năm 2017; bài viết “Một số vấn đề chất vấn
của Đại biểu Quốc hội ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đức Giang đăng trên tạp
chí Quản lý nhà nước năm 2022… Tuy nhiên, đa số các bài viết đã được các tác giả
tiến hành phân tích, đánh giá từ năm 2015, đến nay đã nhiều năm và tình hình kinh
tế, xã hội, chính trị, pháp luật đã có nhiều thay đổi nên có một số nội dung đã lỗi
thời, khơng theo kịp sự biến đổi của xã hội và không cịn phù hợp.
Ngồi ra, một số Khóa luận tốt nghiệp, Luận văn thạc sĩ, Luận án tiến sĩ, các
bài nghiên cứu khoa học và bài viết trên các tạp chí khác chỉ đề cập đến hoạt động
giám sát tối cao của Quốc hội ở Việt Nam nói chung chứ khơng tiến hành nghiên
cứu hoạt động chất vấn của ĐBQH Việt Nam một cách cụ thể, chuyên sâu.
3. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu đề tài, tác giả mong muốn sẽ làm sáng tỏ các nội dung
cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Tìm hiểu những vấn đề cơ bản về hoạt động chất vấn của ĐBQH

trên cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý (thông qua các bản Hiến pháp và các văn bản
pháp luật liên quan). Đồng thời, tác giả tiến hành nghiên cứu hoạt động chất vấn tại
Nghị viện của Anh, Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức.


3
Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện hoạt động chất vấn của
ĐBQH Việt Nam ở hai khía cạnh: thành tựu đạt được và những mặt hạn chế, bất
cập khi ĐBQH thực hiện quyền chất vấn của mình.
Thứ ba: Từ những phân tích, đánh giá trên, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm
nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động chất vấn của ĐBQH trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là hoạt động chất vấn của ĐBQH
được quy định trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật có liên quan. Trong đề tài
này, tác giả tập trung nghiên cứu hoạt động chất vấn của ĐBQH trên cả hai cơ sở lý
luận và thực tiễn. Từ đó tiến hành đánh giá thực trạng ở hai khía cạnh: thành tựu đạt
được và những mặt hạn chế, bất cập cịn tồn tại, tìm hiểu ngun nhân dẫn đến
những bất cập đó và kiến nghị các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, bất
cập đó. Bên cạnh đó, tác giả cịn tiến hành nghiên cứu hoạt động chất vấn tại Nghị
viện Anh, Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức để so sánh những điểm tương đồng và
khác biệt của chế định này, rút ra những ưu điểm của hoạt động chất vấn tại Nghị
viện các nước để hoàn thiện hơn nữa hoạt động chất vấn của ĐBQH nước ta.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Khóa luận.
Một số cơng trình, đề tài khoa học nghiên cứu về hoạt động chất vấn của
ĐBQH chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một cách khái quát về chế định này trên cơ
sở lý luận, chưa có nhiều cơng trình, đề tài nghiên cứu chun sâu về chế định này
trên thực tiễn. Rất ít cơng trình, đề tài khoa học nghiên cứu tiến hành so sánh chế
định chất vấn của ĐBQH Việt Nam với hoạt động chất vấn tại một số Nghị viện
trên thế giới để phản ánh sự tương đồng cũng như những điểm khác biệt của chế
định này để góp phần hồn thiện các quy định pháp luật cũng như cơ chế thực thi

chế định này như trong Khóa luận của tác giả. Vì thế, tác giả hy vọng rằng Khóa
luận này sẽ là nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng
dạy tại các cơ sở đào tạo luật.
Bên cạnh đó, tác giả mong muốn Khóa luận này sẽ góp phần nâng cao nhận
thức về hiệu quả của hoạt động chất vấn của ĐBQH Việt Nam trong tổng thể hoạt
động giám sát tối cao của Quốc hội. Góp phần vào các hoạt động nghiên cứu thực
tiễn trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hoạt động chất vấn của ĐBQH
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
6. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin và Tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm về Đảng và Nhà nước về tổ chức quyền lực nhà


4
nước, nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, về sự phân công, phối
hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Ngồi ra,
tác giả cịn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như:
Phương pháp phân tích: Trong Chương 1, phương pháp này được sử dụng để
phân tích, lý giải về cơ sở lý luận về hoạt động chất vấn của ĐBQH, bao gồm: phân
tích khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hoạt động chất vấn củaĐBQH, đồng thời
tác giả cũng tiến hành phân tích hoạt động chất vấn tại Nghị viện Anh, Hoa Kỳ,
Cộng hòa Liên bang Đức. Trong Chương 2, tác giả sử dụng phương pháp này để
phân tích những quy định của Hiến pháp và văn bản pháp luật hiện hành về hoạt
động chất vấn của ĐBQH Việt Nam, từ đó đánh giá được thực tiễn thực hiện quyền
chất vấn của ĐBQH, chỉ ra được những thành tựu đã đạt được, những mặt hạn chế
còn tồn đọng và kiến nghị hoàn thiện chế định này.
Phương pháp so sánh: Trong Chương 1, phương pháp này sử dụng để so
sánh khái niệm về “chất vấn” theo từng quan điểm của các tác giả, so sánh, đối
chiếu với các quy định của pháp luật về hoạt động chất vấn của ĐBQH trong quá
khứ và hiện tại. Đồng thời cũng so sánh hoạt động chất vấn tại Nghị viện Anh, Hoa

Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức.
Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng kết hợp với phương
pháp phân tích để đưa ra những kết luận cuối cùng của đề tài.
7. Bố cục của Khóa luận.
Ngồi phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Khóa luận
gồm có hai chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hoạt động chất vấn.
Chương 2: Hoạt động chất vấn của đại biểu quốc hội ở Việt Nam và một số
kiến nghị


5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHẤT VẤN
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động chất vấn
1.1.1. Khái niệm hoạt động chất vấn
Chất vấn là một hoạt động phổ biến của Nghị viện các quốc gia, tùy theo
hình thức chính thể của mỗi nước mà hoạt động này có cơ sở hình thành nguyên tắc
và cách thức tiến hành khác nhau.
Ở nước Anh, q hương của mơ hình Nghị viện, chất vấn được xem như là
công cụ để Nghị viện Anh giám sát mọi hoạt động của Chính phủ, cụ thể là nghị sĩ
sẽ đưa ra các chất vấn, Chính phủ hoặc thành viên của Chính phủ có trách nhiệm trả
lời các chất vấn của nghị sĩ. Sự giám sát này xuất phát từ lý do nước Anh là quốc
gia theo hình thức chính thể Quân chủ đại nghị, nhân dân tiến hành bầu ra Nghị
viện (Hạ viện), cịn Chính phủ thì được thành lập trên cơ sở của Nghị viện và đây là
cơ sở hình thành nên chức năng giám sát của Nghị viện. Nghị viện Anh sử dụng
hình thức chất vấn như là công cụ hữu hiệu để Nghị viện giám sát Chính phủ. Bởi
lẽ, niềm tin của Nghị viện là cơ sở để Chính phủ tồn tại, nếu mối quan hệ giữa Nghị
viện và Chính phủ khăng khít, Nghị viện sẽ “bảo vệ” Chính phủ trong một chừng
mực nào đó. Ngược lại, nếu mối quan hệ giữa Nghị viện và Chính phủ khơng cịn
khăng khít thì Nghị viện sẽ tiến hành hoạt động chất vấn Chính phủ, đến một lúc

nào đó Chính phủ đánh mất niềm tin của Nghị viện thì Nghị viện sẽ tun bố bất tín
nhiệm Chính phủ, điều này có thể dẫn đến thay đổi cả Chính phủ (Thủ tướng phải
nộp đơn lên nguyên thủ quốc gia để xin từ chức, từ chức tập thể cả Thủ tướng và
toàn bộ Nội các giúp việc cho Thủ tướng).
Qua nghiên cứu các hình thức chính thể trong thế giới đương đại, có thể nhận
thấy rằng dù các quốc gia theo hình thức chính thể Đại nghị hay chính thể Cộng hịa
hỗn hợp cũng áp dụng phổ biến hình thức chất vấn để thực hiện chức năng giám sát
của Nghị viện. Về sau, Nghị viện các quốc gia theo chính thể Cộng hòa tổng thống
cũng áp dụng các hoạt động tương tự như chất vấn, điển hình như ở Hoa Kỳ tuy
khơng có hoạt động chất vấn nhưng Nghị viện Hoa Kỳ có thể giám sát Chính phủ
bằng một số hoạt động có tính chất tương tự như: hoạt động điều tra của các ủy ban
của Nghị viện, phiên điều trần, luận tội.
Hiện nay, giám sát đã trở thành chức năng quan trọng của Nghị viện/Quốc
hội, mặc dù chức năng này chỉ được hình thành sau chức năng Lập pháp. Các quốc
gia theo các hình thức chính thể khác nhau thì cách tiếp cận về hoạt động chất vấn
cũng sẽ khác nhau, nhưng nhìn chung thì hoạt động chất vấn có thể được hiểu là
“Chất vấn của Nghị viện là những yêu cầu thể hiện bằng miệng hoặc văn bản của


6
các nghị sĩ đối với Chính phủ và các thành viên của Chính phủ đề nghị giải thích
một vấn đề nào đó”2.
Ở Việt Nam, dưới góc độ ngơn ngữ thì chất vấn hiểu theo định nghĩa trong từ
điển tiếng Việt (Thành Yến chủ biên) là “Hỏi và yêu cầu giải thích rõ ràng: Đại
biểu quốc hội trả lời chất vấn”3. Trong khi đó, chất vấn (interpellate) theo định
nghĩa của từ điển Cambridge được hiểu là “Quốc hội đặt câu hỏi chính thức cho
một Bộ trưởng của Chỉnh phủ liên quan đến vấn đề chính sách”4.
Trên thực tế, thơng qua q trình nghiên cứu chế định chất vấn đã có rất
nhiều tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về khái niệm chất vấn, điển hình như:
Tác giả Nguyễn Sĩ Dũng thì cho rằng “Chất vấn (interpellation) được định

nghĩa là yêu cầu của nghị sĩ đối với Thủ tướng hay các thành viên của của Chính
phủ ra trước phiên họp tồn viện để trả lời về sự thi hành chính sách quốc gia hay
một vấn đề hiện thời nào đó của quốc gia”5. Tác giả Nguyễn Đình Quyền6 thì cho
rằng “Chất vấn là quyền, hình thức giám sát quan trọng nhất của đại biểu Quốc
hội. Chất vấn là yêu cầu của đại biểu trong việc làm rõ trách nhiệm của người bị
chất vấn, buộc người bị chất vấn phải báo cáo, giải trình trước cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất về những vấn đề liên quan trách nhiệm của họ trong việc thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định”7. Theo quan điểm của tác giả
Nguyễn Đức Giang cho rằng “Chất vấn là một hình thức giám sát của Đại biểu
Quốc hội, hoạt động chất vấn thể hiện quyền lực của cơ quan dân cử và trách
nhiệm của các Đại biểu dân cử với cử tri của mình, đồng thời cũng xác định rõ
trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan công quyền”8.
Trong phạm vi nghiên cứu của Khóa luận này, khái niệm chất vấn được hiểu
với một khái niệm có nội hàm rộng hơn. Trước hết chất vấn là quyền của ĐBQH người đại diện cho nhân dân, được nhân dân trao quyền thực hiện hoạt động chất
vấn đối với một số đối tượng bị chất vấn theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp
luật. Đối tượng bị chất vấn buộc phải trả lời, giải thích những vấn đề bị chất vấn
2

(truy cập ngày 08 tháng 3 năm 2023).
3
Từ điển tiếng Việt thông dung – Thành Yến biên soạn, Nxb Dân trí, 2022.
4
(truy cập ngày 08 tháng
3 năm 2023).
5
Nguyễn Sĩ Dũng (2011), “Tổ chức và hoạt động của Nghị viện các nước trên thế giới”,
(truy cập ngày 08 tháng 3 năm 2023).
6
Tác giả Nguyễn Đình Quyền hiện đang giữ chức vụ Viện trưởng Nghiên cứu lập pháp Quốc hội.
7

Nguyễn Đình Quyền (2016), “Giám sát thông qua hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội”,
/>(truy
cập ngày 08 tháng 3 năm 2023).
8
Nguyễn Đức Giang (2022), “Một số vấn đề về chất vấn của đại biểu Quốc hội ở Việt Nam”, Tạp chí Quản
lý nhà nước, số 316(5/2022), tr.25.


7
trong các lĩnh vực mà mình phụ trách một cách cụ thể. Bên cạnh đó, họ cịn có trách
nhiệm nêu lên những bất cập và chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những bất cập đó.
Đồng thời phải xây dựng phương án, biện pháp khắc phục đối với những vấn đề bị
chất vấn. Họ phải chịu trách nhiệm đối với những vấn đề thuộc lĩnh vực mà mình
quản lý hoặc những hoạt động của cơ quan mà họ là người đứng đầu. Tuy có nhiều
cách định nghĩa khác nhau về khái niệm chất vấn, nhưng nhìn chung thì hoạt động
chất vấn có thể được hiểu là: “Chất vấn là một hình thức giám sát của cơ quan Lập
pháp chủ yếu đối với cơ quan Hành pháp, được tiến hành định kỳ tại phiên họp của
Nghị viện. Thành viên của Nghị viện/Quốc hội đưa ra câu hỏi về các vấn đề liên
quan tới hoạt động của đối tượng bị chất vấn, yêu cầu các đối tượng này trả lời về
những vấn đề thuộc trách nhiệm của mình”.
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động chất vấn
Để thấy được vai trò và sự cần thiết của hoạt động chất vấn trong quá trình
quản lý, điều hành hoạt động của bộ máy nhà nước, việc nghiên cứu những đặc
điểm của hoạt động này là vô cùng cần thiết. Tuy có sự khác nhau về cách thức thực
hiện ở mỗi quốc gia, nhưng nhìn chung hoạt động chất vấn có những đặc trưng cơ
bản sau đây:
Thứ nhất, chất vấn là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước
Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở mỗi quốc gia là khác nhau, tùy
thuộc vào hình thức chính thể của từng quốc gia. Đối với các quốc gia tổ chức nhà
nước theo ngun tắc phân quyền thì có sự phân chia rạch ròi giữa ba nhánh quyền

lực Lập pháp - Hành pháp - Tư pháp. Điển hình như Hoa Kỳ là quốc gia áp dụng
nguyên tắc “phân quyền cứng” triệt để, có sự phân chia mạnh mẽ giữa các nhánh
quyền lực. Mặc dù quyền giám sát của Nghị viện đối với các nhánh quyền lực còn
lại bị hạn chế nhưng vẫn có các hình thức giám sát như: hoạt động điều tra tại các
ủy ban; phiên điều trần; luận tội nhằm đáp ứng nhu cầu kiềm chế - đối trọng giữa
các nhánh quyền lực. Như vậy có thể thấy dù áp dụng nguyên tắc tổ chức quyền lực
nhà nước phân quyền hay thống nhất thì Nghị viện vẫn có chức năng giám sát đối
với các nhánh quyền lực còn lại.
Hoạt động chất vấn tại nghị trường nhằm thể hiện chức năng giám sát của
Nghị viện/Quốc hội, được thực hiện bởi những chủ thể mang quyền lực nhà nước.
Nghị sĩ/đại biểu Quốc hội - những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng, lợi ích
của nhân dân. Họ thay mặt nhân dân chất vấn những vấn đề liên quan đến lợi ích
của đa số cử tri, được đơng đảo nhân dân quan tâm, những vấn đề mà dư luận xã hội
đang bức xúc và cần có giải pháp tháo gỡ, ứng phó kịp thời.


8
Ở nước Anh, kết quả của phiên chất vấn có thể là một tuyên bố bất tín nhiệm
của Nghị viện đối với một thành viên hoặc tập thể Chính phủ, là một loại trách
nhiệm chính trị. Cịn ở Hoa Kỳ, nếu cuộc đàn hạch/luận tội Tổng thống thành cơng
thì sẽ tiến hành phế truất Tổng thống, Tổng thống sẽ bị cơ quan Tư pháp đưa ra xét
xử như một công dân bình thường và phải chịu những chế tài, hình phạt tương ứng
với những sai phạm của mình. Cịn ở Pháp, nếu Hạ viện tiến hành bỏ phiếu bất tín
nhiệm Chính phủ thì Thủ tướng phải đệ đơn từ chức của Chính phủ lên Tổng thống
(từ chức tập thể Chính phủ)9. Ở Cộng hòa Liên bang Đức, nếu Nghị viện khơng cịn
niềm tin đối với Chính phủ thì có thể dẫn đến việc Nghị viện tiến hành bỏ phiếu bất
tín nhiệm đối với Thủ tướng Liên bang. Luật cơ bản Cộng hòa Liên bang Đức cho
phép Hạ viện bày tỏ sự thiếu tín nhiệm đối với Thủ tướng Liên bang bằng cách bầu
ra một người kế nhiệm với đa số phiếu của Hạ nghị sĩ và yêu cầu Tổng thống Liên
bang phế truất Thủ tướng Liên bang10, Tổng thống Liên bang buộc phải chấp nhận

yêu cầu này và chỉ định người được bầu.
Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy rằng hoạt động chất vấn được thực
hiện bởi các chủ thể mang quyền lực nhà nước và đối tượng bị chất vấn có thể sẽ
gánh chịu những hệ quả pháp lý nặng nề, do đó chất vấn là hoạt động mang tính
quyền lực nhà nước rất cao.
Thứ hai, chất vấn là công cụ để Nghị viện/Quốc hội thực hiện chức năng
giám sát đối với các cá nhân, cơ quan được Nghị viện/Quốc hội trao quyền
Ở nước Anh, Nghị viện thực hiện quyền giám sát đối với Chính phủ, cụ thể là
Thủ tướng hoặc các Bộ trưởng. Bởi lẽ, nước Anh theo chính thể Quân chủ đại nghị
mà đặc trưng cơ bản của chính thể này là Chính phủ được thành lập trên cơ sở niềm
tin của Nghị viện và vì vậy Nghị viện có quyền giám sát, kiểm sốt hoạt động của
Chính phủ. Trong chính thể Quân chủ đại nghị, ngun thủ quốc gia là Hồng đế/Nữ
hồng được hình thành bằng cịn đường truyền ngơi thế tập. Mặc dù nước Anh xây
dựng một mơ hình nhà nước dân chủ, quyền lực tập trung vào nhân dân mà Nghị viện
là cơ quan đại diện nhưng mơ hình này vẫn giữ lại thiết chế Hoàng đế/Nữ hoàng như
là một biểu tượng văn hóa chính trị của nhân dân. Thiết chế này chỉ mang tính hình
thức, Hồng đế/Nữ hồng khơng có thực quyền nên cũng không đặt ra trách nhiệm
đối với họ, họ khơng phải chịu bất cứ trách nhiệm gì trước Nghị viện.
Hoa Kỳ là quốc gia theo chính thể Cộng hịa tổng thống, đặc trưng của chính
thể này là sự phân quyền cứng, hai cơ quan Lập pháp – Hành Pháp đều do nhân dân
9

Điều 50 Hiến pháp Cộng hòa Pháp 1958.
Điều 67 Luật cơ bản nước Cộng hòa Liên bang Đức năm 1949, sửa đổi năm 2009.

10


9
Hoa Kỳ bầu ra, hai cơ quan này không thành lập trên cơ sở của nhau nên khơng có

sự phụ thuộc lẫn nhau. Tuy nhiên, giữa hai cơ quan này cũng có nhu cầu kiểm sốt
chéo nhau, do vậy Nghị viện vẫn có một số hoạt động kiểm sốt, giám sát đối với
Chính phủ như thơng qua hoạt động điều tra của ủy ban Nghị viện, phiên điều trần,
đặc biệt Hiến pháp Hoa Kỳ còn trao cho Nghị viện quyền luận tội, phế truất Tổng
thống và một số quan chức nhà nước.
Cộng Hòa Liên bang Đức là quốc gia theo chính thể Cộng hịa đại nghị, đặc
trưng cơ bản của chính thể này là Chính phủ Liên bang được thành lập trên cơ sở
niềm tin của Nghị viện11, được trao quyền Hành pháp. Quốc hội Liên bang
(Bundestag) có trách nhiệm thành lập Chính phủ. Vì thế, Chính phủ phải chịu trách
nhiệm trước Nghị viện và bị Nghị viện kiểm soát, giám sát nhằm hạn chế sự lạm
quyền, ngăn ngừa một Chính phủ độc tài, chuyên quyền. Đối tượng bị chất vấn tại
Nghị viện Đức là thành viên của Chính phủ mà cụ thể là Thủ tướng và các Bộ trưởng.
Thứ ba, chất vấn là cách thức để quy kết trách nhiệm chính trị
Qua nghiên cứu các đại chính thể trong thế giới đương đại đã chỉ ra rằng, các
quốc gia theo chính thể Cộng hịa đại nghị và Cộng hịa hỗn hợp thì Chính phủ sẽ được
thành lập trên cơ sở niềm tin của Nghị viện. Nếu Chính phủ đánh mất niềm tin của
Nghị viện thì Nghị viện sẽ tuyên bố bất tín nhiệm Chính phủ, điều này có thể dẫn đến
thay đổi cả Chính phủ (Thủ tướng phải nộp đơn lên nguyên thủ quốc gia để xin từ
chức, từ chức tập thể cả Thủ tướng và toàn bộ Bộ trưởng giúp việc cho Thủ tướng).
Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện và đây là một loại trách nhiệm chính trị.
Trách nhiệm chính trị được xác lập trên cơ sở “tín nhiệm” của nhân dân. Đây
là một loại trách nhiệm đặc biệt bởi vì chỉ cần đánh mất niềm tin, uy tín trước nhân
dân thì cũng có thể đặt ra vấn đề trách nhiệm chính trị mà khơng cần phải có những
hành vi sai phạm như các loại trách nhiệm pháp lý khác. Bởi lẽ, thông qua việc trả
lời chất vấn, Nghị viện (thành viên Nghị viện) có thể biết được trình độ, năng lực và
tinh thần trách nhiệm của người bị chất vấn, từ đó làm cơ sở để nhân dân nhìn nhận
và xem xét “niềm tin” của mình đối với các chủ thể bị chất vấn12. Nếu như đối
tượng bị chất vấn không thể trả lời chất vấn hoặc trả lời chất vấn không thỏa đáng,
không thuyết phục thì cũng có thể đánh mất niềm tin của nhân dân. Nếu như “niềm
tin” khơng cịn thì việc bỏ phiếu bất tín nhiệm (tương ứng với bỏ phiếu tín nhiệm ở

Việt Nam) để quy kết trách nhiệm chính trị là điều không tránh khỏi. Sau khi tiến

Điều 63 Luật cơ bản Cộng hòa Liên bang Đức năm 1949, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Trần Thị Thanh Tâm (2013), Hoạt động chất vấn của Đại biểu Quốc hội – Thực trạng và một số kiến nghị,
Khóa luận tốt nghiệp năm 2013 trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
11
12


10
hành bỏ phiếu bất tín nhiệm, những chức danh khơng cịn được sự tín nhiệm của
nhân dân theo quy định của pháp luật thì họ buộc phải rời khỏi ghế nghị trường13.
Chất vấn là hình thức giám sát đặc biệt quan trọng, là bước tiền đề để quy kết trách
nhiệm chính trị.
Thứ tư, mục đích của hoạt động chất vấn nhằm làm rõ nguyên nhân của vấn đề
Mục đích khi thực hiện hoạt động chất vấn của Nghị viện/Quốc hội là nhằm
làm rõ nguyên nhân của vấn đề, từ đó xem xét trách nhiệm của đối tượng bị chất
vấn. Đối tượng bị chất vấn phải nêu lên những mặt hạn chế, khuyết điểm còn tồn tại
trong việc thi hành Luật, chính sách quốc gia, quản lý nhà nước… và xác định được
những nguyên nhân dẫn tới những mặt hạn chế đó để Nghị viện/Quốc hội đánh giá,
xem xét. Nếu những khuyết điểm, hạn chế đó xuất phát từ năng lực yếu kém của
chính đối tượng bị chất vấn, họ khơng hoàn thành tốt nhiệm vụ và quyền hạn đã
được Nghị viện/Quốc hội giao phó thì đó sẽ là cơ sở để Nghị viện/Quốc hội đánh
giá, xem xét trách nhiệm của họ.
Hoạt động chất vấn cũng nhằm hướng tới phát huy tính dân chủ trong bộ
máy nhà nước, bảo đảm sự minh bạch và chế độ trách nhiệm trong bộ máy nhà
nước. Nhân dân có quyền giám sát đối với mọi hoạt động của Nhà nước, phát huy
được quyền làm chủ thực sự của người dân trong việc tham gia xây dựng chính
quyền, lựa chọn người đại diện cho mình thơng qua cơ quan đại diện là Nghị
viện/Quốc hội. Nếu nhân dân đã khơng cịn “niềm tin”, khơng cịn sự tín nhiệm đối

với đối tượng bị chất vấn thì nhân dân có quyền “tước bỏ” quyền lực đã trao cho họ.
Nghị viện/Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân sẽ thay mặt nhân dân
tiến hành hoạt động bỏ phiếu bất tín nhiệm (tương ứng với bỏ phiếu tín nhiệm ở
Việt Nam) đối với đối tượng bị chất vấn.
1.1.3. Ý nghĩa của hoạt động chất vấn
Hoạt động chất vấn của Quốc hội đã góp phần nâng cao hiệu quả việc thực
hiện chức năng của Quốc hội, chất vấn và trả lời chất vấn có ý nghĩa rất quan trọng
được thể hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, về phía nhà nước
Nước Anh và Cộng hịa Liên bang Đức là hai quốc gia theo chính thể đại
nghị, đặc trưng của chính thể này một nguyên thủ quốc gia “mờ nhạt”, khơng có
thực quyền. Các quốc gia trong chính thể đại nghị trao tồn bộ quyền Hành pháp
vào tay Thủ tướng, đặc biệt cho phép Thủ tướng được đề nghị nguyên thủ quốc gia
Trần Thị Thu Hà (2010), Vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm tại Quốc hội – Lý luận, thực tiễn và phương pháp đổi
mới, Khóa luận tốt nghiệp năm 2010 trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
13


11
ký sắc lệnh giải tán Nghị viện trước hạn. Do đó, Nghị viện cần có các cơng cụ giám
sát đối với Chính phủ để hạn chế sự lạm quyền, ngăn ngừa một Chính phủ độc tài,
chuyên quyền. Chẳng hạn như thơng qua hoạt động chất vấn, Nghị viện Anh có thể
tuyên bố bất tín nhiệm đối với một thành viên hoặc tập thể Chính phủ, Hạ viện Đức
có thể bày tỏ sự thiếu tín nhiệm đối với Thủ tướng Liên bang Đức bằng cách bầu ra
một người kế nhiệm với đa số phiếu của Hạ nghị sĩ và yêu cầu Tổng thống Liên
bang phế truất Thủ tướng Liên bang Đức14.
Hoa Kỳ là quốc gia theo chính thể Cộng hịa tổng thống với nguyên tắc
“phân quyền cứng”, Nghị viện và Chính phủ được nhân dân bầu một cách độc lập,
nhân dân trao quyền Hành pháp cho Chính phủ. Tổng thống có 3 quyền năng cơ
bản: đứng đầu nhà nước, nắm quyền Hành pháp, nắm Cơng an, Qn đội. Ngồi ra

Tổng thống còn được trao các quyền như: quyền phủ quyết luật, đề xuất bổ nhiệm
các thẩm phán…Tổng thống rất quyền lực (Tổng thống chế). Chính vì Tổng thống
được trao q nhiều quyền lực, sẽ có nguy cơ dẫn đến lạm quyền, đàn áp hai nhánh
quyền lực cịn lại. Do đó, Nghị viện cần có các cơng cụ giám sát đối với Chính phủ
để đảm bảo sự kiềm chế– đối trọng giữa các nhánh quyền lực.
Ngồi ra, hoạt động chất vấn cịn giúp cho các nghị sĩ/ĐBQH thể hiện được
trình độ, năng lực làm việc của mình thơng qua việc nghị sĩ/ĐBQH đặt ra các chất
vấn có nội dung sát với thực tiễn, xoay quanh những vấn đề trọng tâm của xã hội,
ảnh hưởng trực tiếp quyền, lợi ích của nhân dân như: tham nhũng, các chính sách
kinh tế, thất nghiệp, thuế, tội phạm, lạm phát…chứng tỏ nghị sĩ/ĐBQH có tinh thần
trách nhiệm cao, luôn quan tâm và phục vụ nhân dân hết sức mình, tạo niềm tin của
nhân dân dành cho cơ quan dân biểu. Các đối tượng bị chất vấn phải trả lời về
những sai sót, nguyên nhân và biện pháp khắc phục cho những vấn đề trên. Nhờ vào
các câu hỏi chất vấn đúng trọng tâm, đúng vấn đề nên các vấn đề có thể được giải
quyết một cách nhanh chóng, hiệu quả, đảm bảo quyền và lợi ích của nhân dân,
nâng cao quyền làm chủ của nhân dân.
Thứ hai, về phía người dân
Hoạt động chất vấn nhằm hướng tới phát huy tính dân chủ và chế độ trách
nhiệm trong bộ máy nhà nước. Nghị sĩ/ĐBQH thay mặt nhân dân đứng ra chất vấn,
đó cũng là một trong các cách thức giám sát của nhân dân đối với các cơ quan nhà
nước, phát huy quyền làm chủ của người dân trong việc tham gia xây dựng chính
quyền, lựa chọn người đại diện cho mình thơng qua cơ quan đại diện là Nghị
viện/Quốc hội. Đối với những đại biểu không xứng đáng với sự tin cậy, tín nhiệm
14

Điều 67 Luật cơ bản nước Cộng hòa Liên bang Đức năm 1949, sửa đổi năm 2009.


12
của nhân dân thì nhân dân có quyền bãi nhiệm, miễn nhiệm họ thông qua cơ quan

đại diện là Nghị viện/Quốc hội, đảm bảo phát huy tính dân chủ, thể hiện quyền
được làm chủ của nhân dân một cách công khai, mạnh mẽ và hiệu quả.
1.2. Quy trình, thủ tục và hệ quả của hoạt động chất vấn
1.2.1. Quy trình chất vấn
Các quốc gia mà Nghị viện được tổ chức theo mơ hình lưỡng viện thì quyền
chất vấn sẽ được trao cho Hạ viện. Chẳng hạn như ở nước Anh, tất cả những vấn đề
về chất vấn, bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với Chính phủ sẽ do Thứ dân viện (Hạ viện)
quyết định. Ở nước Pháp, tất cả những vấn đề liên quan đến giám sát, chất vấn, phê
bình, bất tín nhiệm lật đổ Chính phủ đều do Hạ viện quyết định, Thượng viện sẽ
khơng can thiệp. Nhìn chung, hoạt động chất vấn của đa số Nghị viện các quốc gia
trên thế giới sẽ bao gồm 04 bước sau: gửi yêu cầu chất vấn; xác định thời gian chất
vấn; tiến hành phiên chất vấn và biểu quyết kết quả chất vấn.
Về thủ tục gửi yêu cầu chất vấn: Những yêu cầu chất vấn có thể do một cá
nhân hoặc một nhóm nghị sĩ đặt ra, thường là do nghị sĩ của phe đối lập đưa ra. Yêu
cầu chất vấn không được gửi trực tiếp cho đối tượng bị chất vấn mà họ sẽ gửi yêu
cầu chất vấn cho chủ tịch Nghị viện trước, sau đó chủ tịch Nghị viện sẽ chuyển tiếp
yêu cầu chất vấn tới đối tượng bị chất vấn. Đối tượng bị chất vấn thường là những
cá nhân thuộc nhánh Hành pháp như: Thủ tướng, thành viên khác của Chính phủ.
Thơng thường thì u cầu chất vấn sẽ được đặt ra đối với một số vấn đề có liên
quan đến việc thực hiện một số chính sách nhà nước hoặc liên quan trực tiếp đến
hoạt động của Chính phủ. Tuy nhiên, các yêu cầu chất vấn cũng phải được Nghị
viện xem xét trước khi được gửi tới đối tượng bị chất vấn nhằm tránh tình trạng các
yêu cầu chất vấn khơng chính đáng.
u cầu đặt ra đối với các câu hỏi chất vấn là: Câu hỏi chất vấn phải rõ
ràng, diễn đạt ngắn gọn; phải liên quan đến trách nhiệm của một đối tượng cụ
thể; câu hỏi chất vấn phải đảm bảo sự tôn trọng, không xúc phạm, phê phán đối
tượng bị chất vấn. Bên cạnh đó, Nghị viện nhiều nước còn quy định các yêu cầu
chất vấn phải thu thập được một lượng nhất định các chữ ký đồng tình của nghị
sĩ15. Ở nhiều nước như Bỉ, Hà Lan, Đức, Đan Mạch…những hoạt động chất vấn
của cá nhân nghị sĩ phải được tồn thể nhóm đảng hoặc lãnh đạo đảng đồng ý

mới tiến hành được16.
Lê Anh (2022), “Quy trình chất vấn”, (truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2023).
16
Nguyễn Sĩ Dũng (2011), “Tổ chức và hoạt động của Nghị viện các nước trên thế giới”, choi.
vn/sites/default/files/nghi_vien_the_gioi-ok.9.pdf,( truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2023).
15


13
Về thủ tục xác định thời gian chất vấn: Hoạt động chất vấn thường được
diễn ra định kỳ. Chẳng hạn như ở nước Anh, hoạt động chất vấn được tiến hành tại
Nghị viện Anh trong một giờ, từ thứ Hai đến thứ Năm trong kỳ họp của Nghị viện.
Ở Hạ viện của Australia thì phiên hỏi – đáp diễn ra từ 14 giờ đến 15 giờ 30 phút từ
thứ Hai đến thứ Năm17. Còn ở Pháp, trong 04 tuần làm việc của Nghị viện thì phải
có một tuần ưu tiên cho việc xem xét các hoạt động của Chính phủ và đánh giá các
chính sách cơng theo trình tự do mỗi viện xác định. Trong đó phải có một phiên
họp dành cho việc chất vấn giữa các nghị sĩ và thành viên của Chính phủ18. Thủ
tướng và các Bộ trưởng có nghĩa vụ phải trả lời các câu hỏi chất vấn do nghị sĩ
đưa ra.
Về thủ tục tiến hành chất vấn: Ở các quốc gia theo truyền thống Nghị viện,
quá trình tiến hành hoạt động chất vấn sẽ được diễn ra trực tiếp tại nghị trường. Chủ
tịch Nghị viện (Hạ viện) sẽ làm chủ tọa phiên chất vấn. Các nghị sĩ có câu hỏi chất
vấn sẽ được phép trình bày câu chất vấn của mình và đối tượng bị chất vấn (Thủ
tướng hoặc thành viên của Chính phủ) sẽ phải giải đáp, trả lời câu hỏi chất vấn
trong khoảng thời gian nhất định. Thông thường Nội quy Nghị viện các nước sẽ
giới hạn thời gian trả lời câu hỏi chất vấn khơng q 15 phút. Các nghị sĩ sẽ có
quyền đặt thêm câu hỏi phụ về vấn đề chất vấn và đối tượng bị chất vấn sẽ trả lời
ngay trong vòng 10 phút đối với mỗi câu hỏi phụ19.
Về thủ tục biểu quyết kết quả chất vấn: Sau khi theo dõi, lắng nghe quá trình
đặt câu hỏi chất vấn, trả lời chất vấn cũng như là quá trình tranh luận của các bên,

Nghị viện sẽ tiến hành đưa ra ý kiến của mình. Bởi lẽ, mục đích của hoạt động chất
vấn là để quy kết trách nhiệm của Thủ tướng hoặc các thành viên của Chính phủ,
Nghị viện với vai trò là cơ quan giám sát phải đưa ra kết luận rằng Thủ tướng hoặc
các thành viên của Chính phủ có chịu trách nhiệm hay khơng. Trong trường hợp
Nghị viện chấp nhận câu trả lời của Thủ tướng hoặc các thành viên của Chính phủ
về các chất vấn, tức là Nghị viện cho rằng các câu trả lời cho các chất vấn đã thỏa
đáng thì khơng cần đặt ra vấn đề bất tín nhiệm đối với Thủ tướng hoặc các thành
viên của Chính phủ. Ngược lại, nếu Nghị viện khơng đồng ý với câu trả lời của Thủ
tướng hoặc các thành viên của Chính phủ thì vấn đề bất tín nhiệm, lật đổ Chính phủ
sẽ được đặt ra.
Nguyễn Sĩ Dũng (2011), “Tổ chức và hoạt động của Nghị viện các nước trên thế giới”, choi.
vn/sites/default/files/nghi_vien_the_gioi-ok.9.pdf,( truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2023).
18
Điều 48 Hiến pháp Cộng hòa Pháp 1958.
19
Lê Anh (2022), “Quy trình chất vấn”, (truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2023).
17


14
1.2.2. Hệ quả của hoạt động chất vấn
Chất vấn là một hình thức giám sát của Nghị viện/Quốc hội, hoạt động chất
vấn thể hiện quyền lực và trách nhiệm của đại biểu dân cử đối với cử tri cả nước,
đồng thời cũng xác định rõ trách nhiệm của các cá nhân, cơ quan nhà nước được
Nghị viện/Quốc hội trao quyền. Trong trường hợp họ không thực hiện đúng quyền
hạn và trách nhiệm của mình thì đương nhiên họ sẽ chịu trách nhiệm trước Nghị
viện/Quốc hội và nhân dân. Do đó, hoạt động chất vấn có thể mang lại những hậu
quả bất lợi cho đối tượng bị chất vấn. Hệ quả của hệ động chất vấn được thể hiện
qua các loại trách nhiệm sau đây:
Thứ nhất, về trách nhiệm chính trị

Trách nhiệm chính trị thường là trách nhiệm của một cá nhân trước cử tri,
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thì cá nhân được Nghị viện/Quốc hội trao quyền
phải hành động theo đúng quyền hạn và trách nhiệm được quy định trong Hiến pháp
và pháp luật, thực hiện theo đúng lương tâm và đề cao tinh thần trách nhiệm. Nếu
các chủ thể đó thực hiện khơng đúng quyền hạn và trách nhiệm được giao hoặc có
thực hiện nhưng thực hiện chưa tốt thì phải đối mặt với các chất vấn của Nghị
viện/Quốc hội. Chất vấn là bước đệm để quy kết trách nhiệm chính trị, bởi vì thơng
qua q trình trả lời các chất vấn, nhân dân và Nghị viện/Quốc hội sẽ đánh giá được
thái độ và trách nhiệm làm việc của các đối tượng bị chất vấn. Một khi đã đánh mất
niền tin của nhân dân và Nghị viện/Quốc hội thì trách nhiệm chính trị sẽ được đặt
ra, việc bỏ phiếu bất tín nhiệm (tương ứng với bỏ phiếu tín nhiệm ở Việt Nam)
chính là một phương thức, là “thước đo” niềm tin một cách hiệu quả và rõ ràng. Các
đối tượng bị đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm mà có q nửa tổng số nghị sĩ/ĐBQH đánh
giá khơng tín nhiệm thì người đó có thể xin từ chức.
Ngồi ra, trách nhiệm chính trị là trách nhiệm được đặt ra để làm tiền đề cho
việc quy kết các loại trách nhiệm khác. Người mang quyền lực nhà nước, người
đứng đầu cơ quan, tổ chức nhà nước mắc sai lầm hoặc khơng làm đúng quyền hạn
và trách nhiệm của mình thì ngồi việc gánh chịu trách nhiệm chính trị, họ có thể
phải chịu các loại trách nhiệm khác như: trách nhiệm pháp lý – hình sự, trách nhiệm
dân sự. Trong trường hợp này, họ có thể bị miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc cách chức
trước khi chịu các loại trách nhiệm pháp lý khác (một quy tắc bất thành văn). Điều
này cũng dễ hiểu bởi vì nếu như họ vẫn cịn là một đại biểu của nhân dân, là cá
nhân được Nghị viện/Quốc hội tin tưởng giao phó những nhiệm vụ quan trọng thì
rất khó để đưa ra xem xét các loại trách nhiệm khác, điều này sẽ làm ảnh hưởng
niềm tin của nhân dân dành cho cơ quan công quyền. Do đó, trước hết phải tước đi


15
quyền hạn đã trao cho họ và chính Nghị viện/Quốc hội sẽ thay mặt nhân dân xem
xét, quyết định miễn nhiệm, bãi nhiệm họ trước khi cơ quan Tư pháp xét xử họ về

các loại trách nhiệm khác.
Thứ hai, về trách nhiệm pháp lý
Nếu như trách nhiệm chính trị là trách nhiệm của một cá nhân trước cử tri cả
nước thì trách nhiệm pháp lý là trách nhiệm của một cá nhân trước pháp luật. Đây là
một loại trách nhiệm nghiêm trọng và bất lợi đối với những chủ thể có hành vi vi
phạm pháp luật, họ sẽ bị cơ quan Tư pháp xét xử và gánh chịu các biện pháp cưỡng
chế mang tính quyền lực nhà nước. Thơng qua hoạt động chất vấn, nghị sĩ/ĐBQH
đã tìm hiểu và thu thập khá nhiều thông tin quan trọng về các vấn đề chất vấn, có
thể sẽ tìm ra được những sai phạm và xác định được trách nhiệm của các đối tượng
bị chất vấn trong lĩnh vực mà họ điều hành, quản lý. Có thể những sai phạm này sẽ
đem lại hậu quả bất lợi cho Nhà nước, xâm phạm lợi ích xã hội. Do đó, tùy vào từng
hành vi sai phạm của đối tượng bị chất vấn mà họ bị xử lý theo các loại trách nhiệm
như: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật…Trong đó, trách
nhiệm kỷ luật là loại trách nhiệm phổ biến đối với cán bộ, công chức nhà nước.
Người đứng đầu cơ quan nhà nước đa số là đảng viên, nếu họ có những hành vi sai
phạm, vi phạm pháp luật thì trước khi bị xử lý trách nhiệm pháp lý - hình sự thì họ
sẽ chịu trách nhiệm kỷ luật như khiển trách, cảnh cáo, cách chức và nếu như họ mắc
phải những sai phạm nghiêm trọng có thể bị khai trừ đảng.
Để đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với một cá nhân thì phải có
đủ cấu thành hành vi vi phạm pháp luật. Chẳng hạn như để cấu thành hành vi vi phạm
pháp luật hình sự thì phải có các dấu hiệu về mặt khách thể, mặt khách quan, mặt chủ
quan và dấu hiệu về chủ thể. Để xác định những dấu hiệu này thì phải có cơ quan
điều tra và có kết luận của các cơ quan có thẩm quyền, việc Nghị viện/Quốc hội phải
chứng minh một chủ thể nào đó có lỗi và hậu quả do hành vi sai phạm của chủ thể đó
gây ra là rất khó. Đây là chức năng của cơ quan Tư pháp, Nghị viện/Quốc hội chỉ
thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước và
chỉ có thể quy kết trách nhiệm chính trị đối với các đối tượng bị chất vấn.
1.3. Hoạt động chất vấn ở một số quốc gia trên thế giới
Chất vấn đã trở thành công cụ hữu hiệu để Nghị viện/Quốc hội thực hiện
việc giám sát quyền lực nhà nước tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, mỗi

quốc gia sẽ theo một hình thức chính thể khác nhau và tư duy, trình độ lập pháp
cũng khác nhau. Chính vì thế mà cách thức thực hiện hoạt động chất vấn cũng khác
nhau dẫn đến quy trình, thủ tục tiến hành hoạt động chất vấn cũng khác nhau.


16
1.3.1. Hoạt động chất vấn tại Nghị viện Anh
Nước Anh là cái nơi sinh ra mơ hình Nghị viện, là quốc gia đại diện cho
chính thể Quân chủ đại nghị với đầy đủ các quy định về trình tự, thủ tục chất vấn
(phiên hỏi – đáp) giữa Nghị viện và Chính phủ. Có thể nói nước Anh áp dụng mơ
hình giám sát thông qua hoạt động chất vấn rất hiệu quả, vì vậy tác giả quyết định
chọn nước Anh để phân tích trong Khóa luận này.
1.3.1.1. Đối tượng bị chất vấn
Nước Anh theo chính thể Quân chủ đại nghị mà đặc trưng cơ bản của chính
thể này là Chính phủ được thành lập trên cơ sở niềm tin của Nghị viện, Nghị viện
có quyền kiểm sốt, giám sát hoạt động của Chính phủ. Nước Anh xây dựng một
mơ hình nhà nước dân chủ, quyền lực tập trung vào nhân dân mà Nghị viện là cơ
quan đại diện nhưng mơ hình này vẫn giữ lại thiết chế Hoàng đế/Nữ hoàng như là
một biểu tượng văn hóa chính trị của nhân dân. Hồng đế/Nữ hồng được hình
thành bằng cịn đường truyền ngơi thế tập, thiết chế này chỉ còn là biểu tượng niềm
tin, sự tự hào của con người và sự trường tồn, vĩnh hằng của đất nước20. Hồng
đế/Nữ hồng khơng có thực quyền nên cũng không đặt ra trách nhiệm đối với họ.
Do đó, đối tượng bị chất vấn chỉ có thể là thành viên của Chính phủ, cụ thể là Thủ
tướng hoặc các Bộ trưởng.
1.3.1.2. Quy trình thủ tục chất vấn
Tất cả những vấn đề liên quan hoạt động chất vấn, bỏ phiếu bất tín nhiệm đối
với Chính phủ Anh đều do Hạ viện (Thứ dân viện – House of commons) quyết
định, quá trình tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn được diễn ra tại phiên họp của
Nghị viện. Tuy nhiên, cũng có trường hợp chất vấn và trả lời chất vấn được tiến
hành bên ngồi phịng họp của Nghị viện, chẳng hạn như: Boris Johnson trở thành

Thủ tướng đầu tiên trả lời chất vấn bên ngồi phịng họp Nghị viện sau khi được
yêu cầu cách ly sau cuộc gặp với Lee Anderson, người sau đó có kết quả dương tính
với Covid-19. Cịn Keir Starmer trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên của phe đối lập tiến
hành chất vấn từ xa sau khi một nhân viên văn phòng của ơng nhiễm Covid-19 buộc
ơng phải cách ly21.
Có ba hình thức chất vấn tại Nghị viện Anh: Chất vấn trực tiếp; chất vấn kín
và khẩn cấp; chất vấn bằng văn bản.

(truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2023).
Quỳnh Vũ (2022), “Chất vấn Thủ tướng - Nét đặc biệt nhất của nền chính trị Anh”,
(truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2023).
20
21


17
Chất vấn trực tiếp tại Nghị viện Anh diễn ra dưới hình thức hỏi – đáp. Quy
trình, thủ tục hỏi – đáp bao gồm các bước như sau: gửi câu hỏi chất vấn; tiến hành
chất vấn; tuyên bố về chất vấn.
Gửi câu hỏi chất vấn: Chủ tịch Hạ viện sẽ là người chủ trì, điều phối phiên
chất vấn, các câu hỏi sẽ được các nghị sĩ chuẩn bị trước và đệ trình cho chủ tịch Hạ
viện hạn chót là 12 giờ 30 trưa ba ngày trước khi tiến hành phiên hỏi - đáp22. Riêng
Bắc Ireland, Scotland và xứ Wales thì thời hạn đặt câu hỏi hạn chót là 12 giờ 30
trưa năm ngày trước khi tiến hành phiên hỏi - đáp23. Câu hỏi chất vấn chỉ được đưa
vào chương trình nghị sự phải tuân thủ theo các nguyên tắc về nội dung và hình
thức24, cụ thể:
Thứ nhất, câu hỏi chất vấn phải xác định đúng trách nhiệm của đối tượng bị
chất vấn, phải liên quan đến phạm vi trách nhiệm của Thủ tướng hoặc Bộ trưởng
trong việc thực thi quyền Hành pháp. Các câu hỏi chất vấn nằm ngoài phạm vi trách
nhiệm của Thủ tướng, Bộ trưởng (nghị sĩ đặt các câu hỏi liên quan hoạt động của

chính quyền địa phương) thì khơng được chấp nhận với lý do khơng đúng phạm vi
trách nhiệm. Bên cạnh đó, câu hỏi chất vấn phải tập trung vào các thơng tin chính
thống, khơng được đặt câu hỏi với các tin đồn hay suy diễn cá nhân của nghị sĩ.
Thứ hai, câu hỏi chất vấn phải được diễn đạt một cách ngắn gọn, dễ hiểu,
ngôn từ lịch sự, tôn trọng người bị chất vấn, khơng dùng những từ ngữ mang tính
chất cơng kích, xúc phạm đến danh dự, uy tín của Thủ tướng hoặc Bộ trưởng. Các
câu hỏi chất vấn trực tiếp phải gửi trong thời gian không sớm hơn 10 ngày làm việc
và không muộn quá 03 ngày làm việc trước ngày trả lời chất vấn.
Tiến hành chất vấn: Chất vấn tại Nghị viện Anh được tiến hành dưới hình
thức là một phiên hỏi – đáp trực tiếp diễn ra trong một giờ, từ thứ Hai đến thứ Năm
(riêng Thủ tướng sẽ trả lời các câu hỏi của các nghị sĩ vào ngày thứ Tư từ 12 giờ
trưa đến 12 giờ 30 trưa)25. Tại phiên hỏi – đáp thì chủ tịch Hạ viện sẽ cơng bố danh
sách các nghị sĩ có câu hỏi chất vấn (chỉ đọc tên các nghị sĩ vì các câu hỏi đã được
gửi tới từng nghị sĩ đính kèm theo chương trình nghị sự), thứ tự đặt câu hỏi sẽ được
xác định bằng cách “xáo trộn” ngẫu nhiên bởi máy tính26. Đồng thời cũng cơng bố
danh sách người trả lời chất vấn theo đúng lĩnh vực và trách nhiệm của mình. Chủ
(truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2023).
(truy cập ngày 25
tháng 3 năm 2023).
24
Quỳnh Vũ (2022), “Nguyên tắc đối với câu hỏi chất vấn”, (truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2023).
25
(truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2023).
26
(truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2023).
22
23


18

tọa phiên chất vấn sẽ mời từng nghị sĩ đứng lên đặt câu hỏi chất vấn và mời người
bị chất vấn trả lời câu hỏi theo thứ tự danh sách đã công bố.
Thủ tục chất vấn trực tiếp tại Nghị viện Anh cho phép nghị sĩ có quyền đưa
thêm các câu hỏi về vấn đề nêu ra tại câu hỏi chính, sau khi người bị chất vấn đã trả
lời (đây là thủ tục đối với câu hỏi phụ). Đối với câu hỏi chất vấn chính thì Nghị viện
Anh quy định thời gian hỏi tối đa là 30 phút vào đầu giờ làm việc từ thứ Hai đến thứ
Năm. Còn thời gian đối với câu hỏi phụ thì sẽ do chủ tọa (chủ tịch Hạ viện) cân
nhắc, quyết định tùy vào nội dung, vấn đề của mỗi câu hỏi.
Thứ tự hỏi – đáp sẽ căn cứ theo danh sách đã công bố trước đó, chủ tọa sẽ
lần lượt chuyển tiếp các câu hỏi cho đến khi hết thời gian, nếu đã hết thời gian chất
vấn trực tiếp mà vẫn còn câu hỏi chưa được trả lời, thì người trả lời chất vấn phải
trả lời bằng văn bản. Đặc biệt, Bộ trưởng có thể từ chối trả lời hoặc từ chối cung cấp
thông tin đối với câu hỏi chất vấn trực tiếp dành cho mình và câu hỏi đó có thể được
nêu lại sau ba tháng. Thông thường đối với các vấn đề về an ninh quốc gia, bí mật
thương mại, các Bộ trưởng sẽ từ chối trả lời.
Ngoài các chất vấn trực tiếp, các nghị sĩ cũng có thể chất vấn bằng văn
bản, loại chất vấn này thường được sử dụng để thu thập thơng tin của các chính
sách và số liệu thống kê về hoạt động của cơ quan Chính phủ. Chất vấn bằng văn
bản bao gồm 03 loại câu hỏi: câu hỏi thông thường (ordinary); câu hỏi “ngày được
đặt tên” (named day) và câu hỏi vấn đáp không được trả lời trong thời gian hỏi (oral
questions not answered during question time).
Đối với các câu hỏi thông thường của Hạ viện không cần phải trả lời vào
một ngày cụ thể mà nó thường được trả lời trong vịng 05 đến 07 ngày kể từ ngày
câu hỏi được đưa ra. Tuy nhiên, khơng có quy định nào của Nghị viện quy định các
câu hỏi thông thường phải được trả lời vào một ngày nhất định. Đối với câu hỏi
“ngày được đặt tên” chỉ có trong Hạ viện, nghị sĩ lập bảng câu hỏi và chỉ định ngày
mà họ sẽ nhận được câu trả lời (phải thông báo câu hỏi trước 02 ngày)27. Nghị sĩ đặt
câu hỏi thông thường và câu hỏi “ngày được đặt tên” sẽ được nhận câu trả lời qua
email28. Đối với câu hỏi vấn đáp không được trả lời trong giờ hỏi đáp là các câu hỏi
ban đầu được lập bảng để trả lời bằng miệng (trực tiếp) mà không được trả lời tại

thời điểm hỏi sẽ được gửi đến cơ quan Chính phủ dưới dạng câu hỏi đặt tên trong
ngày và được trả lời bằng văn bản29.
(truy cập ngày 02 tháng 4 năm 2023).
(truy cập ngày 02 tháng
năm 2023).
29
(truy cập ngày 02 tháng 4 năm 2023).
27
28


19
Đối với chất vấn kín hoặc chất vấn khẩn cấp phát sinh mà một nghị sĩ cần có
câu trả lời ngay lập tức từ một Bộ trưởng của Chính phủ thì nghị sĩ có thể đăng ký theo
thủ tục hỏi khẩn cấp. Nghị sĩ có thể nộp đơn đăng ký câu hỏi khẩn cấp đến Văn phòng
chủ tịch trong thời gian từ thứ Hai đến thứ Sáu hàng tuần30. Để được đánh giá là câu
hỏi “khẩn cấp” thì đó phải là câu hỏi liên quan đến sự kiện hoặc diễn biến trong thời
gian gần nhất hoặc sắp xảy ra mà một Bộ trưởng có thể trả lời ngay vào ngày được hỏi.
Vấn đề nêu ra trong câu hỏi phải liên quan đến chính sách cơng và có sức ảnh hưởng
lớn đối với cơng chúng31. Chủ tịch Hạ viện có thẩm quyền quyết định về việc có đưa ra
câu hỏi khẩn cấp hay không. Trong trường hợp chủ tịch Hạ viện quyết định khơng đưa
ra câu hỏi khẩn cấp thì cũng khơng cần phải giải thích về quyết định đó. Nếu chủ tịch
Hạ viện cho rằng câu hỏi đó là quan trọng và cấp thiết thì có quyền đưa vào chương
trình nghị sự và loại câu hỏi này được trả lời vào cuối buổi chất vấn.
Tuyên bố về chất vấn: Khác với chất vấn thì phiên hỏi – đáp khơng đi đến
một cuộc biểu quyết là thỏa mãn hay không thỏa mãn đối với câu trả lời của Chính
phủ32. Trong trường họp Nghị viện vẫn còn đặt niềm tin đối với Thủ tướng hoặc Bộ
trưởng thì coi như phiên hỏi - đáp kết thúc tốt đẹp, không quy kết trách nhiệm thuộc
về ai. Ngược lại, kết quả của phiên hỏi - đáp cũng có thể là một tun bố bất tín
nhiệm của Nghị viện đối với Thủ tướng hoặc Bộ trưởng mà khơng cần Thủ tướng

hoặc Bộ trưởng phải có hành vi sai sót. Chỉ cần một khi Nghị viện khơng cịn niềm
tin đối với Thủ tướng hoặc Bộ trưởng thì vấn đề bỏ phiếu bất tín nhiệm sẽ được đặt
ra và dẫn đến việc họ phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện.
1.3.1.3. Hệ quả của chất vấn
Tác động lớn nhất của hoạt động chất vấn có thể làm thay đổi mức độ tín
nhiệm của Nghị viện Anh đối với những chủ thể bị chất vấn. Do đó, hoạt động chất
vấn có ý nghĩa rất quan trọng. Bởi lẽ, niềm tin của Nghị viện là cơ sở để Chính phủ
tồn tại, nếu niềm tin khơng cịn thì Chính phủ phải từ chức (Thủ tướng phải nộp đơn
lên nguyên thủ quốc gia xin từ chức, từ chức tập thể cả Thủ tướng và toàn bộ Bộ
trưởng giúp việc cho Thủ tướng). Bởi vì kết quả của phiên chất vấn có thể là một
tuyên bố bất tín nhiệm của Nghị viện đối với một thành viên hoặc tập thể Chính
phủ, đây là một loại trách nhiệm chính trị. Theo quy định của pháp luật, các thành
viên Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể và trách nhiệm cá nhân trước Nghị viện.
(truy cập ngày 03 tháng 4 năm 2023).
(truy cập ngày 03 tháng 4
năm 2023).
32
Nguyễn Sĩ Dũng (2011), “Tổ chức và hoạt động của Nghị viện các nước trên thế giới”, choi.
vn/sites/default/files/nghi_vien_the_gioi-ok.9.pdf, (truy cập ngày 03 tháng 4 năm 2023).
30
31


×