BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THƠNG
HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 - NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
lục 2:
TRƯỜNG ĐẠI HỌCPhụ
LUẬT
TP HỒ CHÍ MINH
Mẫu trang phụ bìa (Khổ 210 x 297 mm)
NGUYỄN THÔNG
HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: Th.S NGƠ THỊ ANH VÂN
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 - NĂM 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan Khóa luận “HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM” là kết quả nghiên cứu khoa học của tôi. Mọi nội dung trong Khóa
luận này được thực hiện theo đúng quy định của sở hữu trí tuệ.
Tác giả
Nguyễn Thơng
LỜI CẢM ƠN
Sau nhiều tháng tìm tòi, nghiên cứu, với những kiến thức về lý luận và thực tiễn
cũng như sự nỗ lực của bản thân. Tôi đã hoàn thành đề tài Khóa luận tốt nghiệp mang
tên “Hiến bộ phận cơ thể người theo pháp luật Việt Nam”. Đồng hành với tôi trong quá
trình hoàn thiện Khóa luận này, là quý thầy, cô Khoa luận Dân sự - Trường Đại học Luật
Thành phớ Hờ Chí Minh.
Qua đó, với tất cả sự biết ơn từ tận đáy lòng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất
đến quý thầy, cô Khoa Luật Dân sự đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến
thức quý báu trong quãng thời gian học tập tại trường, để làm cơ sở và nền tảng cho tơi
hoàn thành đề tài Khóa luận này.
Trong q trình hồn thành Khóa luận, do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm
thực tiễn còn hạn chế, nên nội dung Khóa luận khơng thể tránh khỏi những thiếu sót, rất
mong quý thầy, cô bỏ qua. Tác giả rất mong nhận được sự góp ý kiến của q Thầy, Cơ
để Khóa luận của mình được hồn chỉnh hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thông
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Từ viết đầy đủ
BLDS
Bộ luật dân sự
BPCT
Bộ phận cơ thể
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................................ 1
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu .................................................................................... 2
3. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 5
5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................................... 6
6. Bố cục tổng quát của Khóa luận ......................................................................................... 6
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ....................................................................... 7
HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI ........................................................................................ 7
1.1. Khái niệm ......................................................................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm về bộ phận cơ thể người .......................................................................... 7
1.1.2. Khái niệm về hiến bộ phận cơ thể người .................................................................. 8
1.2. Nguyên tắc hiến bộ phận cơ thể người .......................................................................... 10
1.2.1. Nguyên tắc tự nguyện ............................................................................................. 10
1.2.2. Nguyên tắc khơng nhằm mục đích thương mại ...................................................... 12
1.2.3. Ngun tắc bảo mật thông tin ................................................................................. 16
1.2.4. Nguyên tắc bảo đảm tuân thủ yêu cầu về chuyên môn - kỹ thuật .......................... 17
1.3. Ý nghĩa của việc hiến bộ phận cơ thể người .................................................................. 19
1.4. Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về hiến bộ phận cơ thể người ................... 20
1.4.1. Pháp luật Singapore về hiến bộ phận cơ thể người ................................................. 20
1.4.2. Pháp luật Trung Quốc về hiến bộ phận cơ thể người ............................................. 20
1.4.3. Pháp luật Liên Bang Nga về hiến bộ phận cơ thể người ........................................ 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ..................................................................................................... 31
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI, THỰC
TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ................................................... 32
2.1. Điều kiện hiến bộ phận cơ thể người ............................................................................. 32
2.1.1. Quy định hiện hành về điều kiện hiến bộ phận cơ thể người ................................. 32
2.1.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật và một số kiến nghị hoàn thiện về điều kiện hiến bộ
phận cơ thể người ............................................................................................................. 35
2.2. Quyền lợi của người hiến bộ phận cơ thể người ............................................................ 40
2.2.1. Quy định hiện hành về quyền lợi người hiến bộ phận cơ thể ................................. 40
2.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật và một số kiến nghị hoàn thiện về quyền lợi của người
hiến bộ phận cơ thể ........................................................................................................... 44
2.3. Trình tự, thủ tục hiến bộ phận cơ thể người .................................................................. 46
2.3.1. Quy định hiện hành về trình tự, thủ tục hiến bộ phận cơ thể người ....................... 46
2.3.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật và một số kiến nghị hoàn thiện về trình tự, thủ tục hiến
bộ phận cơ thể người ........................................................................................................ 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ..................................................................................................... 53
KẾT LUẬN .............................................................................................................................. 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................
PHỤ LỤC.....................................................................................................................................
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển không ngừng của của xã hội, kéo theo các mối quan hệ ngày càng
đa dạng và phức tạp. Bên cạnh sự tăng lên nhu cầu về vật chất, về tinh thần, thì con người
dần chú trọng hơn về nhu cầu sức khỏe. Những năm gần đây, nền công nghệ y sinh học
thế giới đã có bước phát triển vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu trong việc tìm ra các
phương pháp chữa bệnh mới và một trong số đó không thể không nhắc đến là công nghệ
ghép bộ phận cơ thể (BPCT). Ghép BPCT được xem là một thành tựu công nghệ y sinh
rực rỡ của nền y học thế giới.
Việt Nam là một quốc gia đi sau trong lĩnh vực hiến, ghép BPCT. Tuy nhiên,
nước ta đã có những sự tiếp thu một cách có chọn lọc trong lĩnh vực này. Nhằm tạo hành
lang pháp lý cho sự phát triển của nền y học trong nước nói chung và lĩnh vực hiến, ghép
BPCT người nói riêng. Ở Việt Nam, hiến BPCT người được Nhà nước ghi nhận trong
các văn bản pháp luật khác nhau như: Luật Bảo vệ sức khỏe Nhân dân năm 1989, Nghị
định của Hội đồng Bộ trưởng trưởng số 23 năm 1991, Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật
Dân sự năm 2005, Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến lấy xác năm 2006, Bộ
luật Dân sự năm 2015. Các văn bản pháp luật trên, ban hành nhằm bảo đảm cho việc
hiến BPCT người diễn ra phù hợp với đạo đức, lối sống và con người Việt Nam. Hiến
BPCT người được thực hiện với tư cách là một hoạt động thực hiện quyền nhân thân,
thể hiện ý chí tự nguyện, tự định đoạt của chủ thể đới với các BPCT của mình. Việc hiến
BPCT vì mục đích chữa bệnh hay mục đích nhân đạo khác, cũng đều đem lại nhiều giá
trị tích cực cho cộng đờng.
Trải qua q trình áp dụng pháp luật, trước sự biến đổi không ngừng của thực
tiễn, pháp luật về hiến BPCT người đã xuất hiện một số nội dung bất cập. Vì vậy, trước
tình hình đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Hiến bộ phận cơ thể người theo Pháp luật Việt
Nam” làm nội dung cho Khóa luận tớt nghiệp của mình. Thơng qua đề tài này, tác giả
tiến hành làm rõ một sớ vấn đề cơ bản có liên quan đến hiến BPCT người, từ đó nêu lên
một sớ kiến nghị hồn thiện về chế định hiến BPCT người ở Việt Nam.
2
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Hiến BPCT người là một chế định pháp luật đã xuất hiện ở Việt Nam nhiều năm.
Vì vậy, đề tài nghiên cứu liên quan đến hiến BPCT người được sự quan tâm, nghiên cứu
của rất nhiều tác giả. Trong đó có thể kể đến một sớ cơng trình tiêu biểu sau đây:
Đỡ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm
2015, NXB Hồng Đức - Hội luật gia Việt Nam. Trong nghiên cứu này, hoạt động hiến
BPCT được tác giả đề cập đến dưới góc độ là một Quyền hiến BPCT. Tác giả đã đưa ra
quan điểm của mình về Quyền hiến BPCT trên cơ sở BLDS năm 2015, thơng qua đó tác
giả đã có những phân tích và đánh giá sâu sắc liên quan đến sự khác biệt giữa BLDS
năm 2005 và BLDS năm 2015 khi đề cập đến Quyền hiến BPCT.
Bùi Đức Hiển (2009), “Quy định về điều kiện hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi
chết”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (13). Trong tạp chí này, dựa trên những quy định về
điều kiện hiến xác, hiến mô, BPCT được quy định trong Luật Bảo vệ sức khỏe Nhân dân
năm 1989, BLDS năm 2005, Luật Hiến lấy, ghép mô, BPCT người và hiến lấy xác năm
2006 và các văn bản luật khác có liên quan. Tác giả đã tiến hành phân tích những điều
kiện về hiến xác, BPCT dưới góc độ luật thực định, đánh giá về thực trạng áp dụng của
những quy định nói trên trong thực tiễn. Từ việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật
tác giả đã kiến nghị một sớ đề x́t nhằm hồn thiện các điều kiện liên quan đến việc
hiến xác, hiến BPCT.
Trần Thị Huệ (2013), “Một số bất cập cần được sửa đổi, bổ sung trong Luật Hiến,
lấy, ghép mô, BPCT người và hiến lấy xác”, Tạp chí Luật học, (05). Tác giả tiến hành
làm rõ những quy định có nội dung liên quan đến hiến, lấy, ghép mô, BPCT người trong
Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến lấy xác năm 2006. Từ việc phân tích quy
định pháp luật, tác giả cũng đã nêu lên một số bất cập chưa phù hợp với tình hình thực
tiễn như: những vấn đề có liên quan đến người hiến (điều kiện hiến mô, BPCT, hiến xác;
quyền lợi của người hiến; chủ thể hiến…); trình tự và thủ tục hiến BPCT. Các bất cập
được tác giả chỉ ra trong tạp chí này, với mong ḿn hoàn thiện hơn những quy định
pháp luật hiện hành về chế định hiến, lấy, ghép, mô BPCT và xác người trên thực tiễn.
Lê Thị Thu Hằng (2006), Khía cạnh pháp lý của việc áp dụng tiến bộ khoa học
công nghệ trong vấn đề lấy, ghép mơ, bộ phận cơ thể người, Khóa luận tớt nghiệp,
Trường Đại học Luật Thành phớ Hờ Chí Minh. Đây là một đề tài mới trong việc nghiên
3
cứu các vấn đề liên quan đến hiến, ghép BPCT người ở Việt Nam. Tuy ra đời vào thời
điểm Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến lấy xác năm 2006 chưa có hiệu lực,
nhưng nghiên cứu đã khái quát được các vấn đề liên quan đến mô, BPCT người, việc áp
dụng tiến bộ khoa học trong lấy, ghép mô, BPCT người. Thông qua đề tài, tác giả cũng
đã đề xuất những kiến nghị hoàn thiện về áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong lấy
ghép, BPCT người ở Việt Nam.
Lê Hương Trà (2008), Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo quy định của
Bộ luật Dân sự năm 2005, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong
Luận văn, trên cơ sở quy định của BLDS năm 2005 và Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT
người và hiến lấy xác năm 2006, tác giả đã tiến hành phân tích các quy định liên quan
đến Quyền hiến BPCT người của cá nhân, tiến trình phát triển của Quyền hiến BPCT
trong các văn bản pháp luật khác nhau. Tác giả đề tài, cũng nêu lên những bất cập trong
Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và đề x́t một sớ kiến nghị hồn thiện gửi đến
bạn đọc.
Nguyễn Thị Thúy (2014), Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể theo pháp luật Việt
Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả viết vào thời điểm gần mười
năm Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến lấy xác năm 2006 có hiệu lực. Ngoài
việc làm rõ hơn những quy định pháp luật về chế định hiến mơ, BPCT, tác giả cịn tích
cực chỉ ra những điểm chưa phù hợp của Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến
lấy xác năm 2006 sau nhiều năm áp dụng, trên cơ sở đó tác giả cũng đã nêu lên những
kiến nghị giúp hoàn thiện hơn chế định hiến mô, BPCT người ở Việt Nam.
Dương Thị Thanh Thúy, Nguyễn Ngọc Phương Trinh (2018), Hiến mô, bộ phận
cơ thể và xác người trong pháp luật Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường,
Trường Đại học Luật TP. Hờ Chí Minh. Các tác giả của Đề tài nghiên cứu khoa học trên,
đã tiến hành phân tích những vấn đề liên quan đến hiến mơ, BPCT và xác người trên cơ
sở quy định của BLDS năm 2015 và Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy
xác năm 2006. Thông qua đề tài, các tác giả cũng đã chỉ ra những điểm chưa phù hợp
của Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006, những vướng mắc
thực tiễn về chế định đang nghiên cứu, từ đó làm cơ sở cho các tác giả đề x́t một sớ
giải pháp hồn thiện về chế định hiến mô, BPCT và xác người trong pháp luật Việt Nam.
4
Sunil Shroff (2009), Legal and ethical aspects of organ donation and
transplantation, Indian J Urol. 2009 Jul-Sep; 25(3): 348–355. Trong công trình nghiên
cứu này, tác giả nói về Đạo luật Cấy ghép Nội tạng Người (THO) được thông qua ở Ấn
Độ vào năm 1994 nhằm mục đích hợp lý hóa các hoạt động hiến tặng và cấy ghép nội
tạng. Nội dung đạo luật (THO) được tác giả đề cập có chấp nhận chết não như một hình
thức chết và coi việc bán nội tạng là một hành vi phạm tội bị trừng phạt. Với việc chấp
nhận chết não, người dân ở quốc gia này không chỉ có thể thực hiện ghép thận mà còn
bắt đầu cấy ghép các nội tạng khác như gan, tim, phổi và tuyến tụy. Bên cạnh đề cập
những điểm mới về nội dung của (THO), tình trạng các vụ bê bối buôn bán nội tạng cũng
được tác giả đề cập. Để giải quyết tình trạng này, tác giả bàn luận đến việc xem xét lại
đạo đức của các chương trình không liên quan và có một động thái hướng tới việc biến
điều này thành một giải pháp thay thế pháp lý có thể chấp nhận được.
Nicole Scholz (2020), Organ donation and transplantation Facts, figures and
European Union action, European Parliamentary Research Service, PE 646.363 – April
2020. Cơng trình nghiên cứu này viết về hiến và ghép tạng, sự kiện, số liệu và hành động
của liên minh Châu Âu. Vấn đề hiến và cấy ghép nội tạng được tác giả chỉ ra là một
trong những ưu tiên sức khỏe hàng đầu của Hội đồng liên minh Châu Âu (EU), việc cấy,
ghép tạng được xem là một trong những biện pháp chữa bệnh tớt nhất. Ngồi ra, tác giả
cũng nói về vấn đề sự thiếu hụt nguồn tạng làm cho số lượng lớn các bệnh nhân nằm
trong danh sách chờ. Những vấn đề về thiếu hụt nguồn tạng được các quốc gia thành
viên EU giải quyết bằng cách thông qua pháp luật và một kế hoạch hành động, các dự
án tài trợ, Nghị viện Châu Âu thông qua các nghị quyết, sáng kiến riêng về các khía cạnh
của hiến và cấy ghép nội tạng ở Châu Âu.
Nhìn chung, từ khi Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến lấy xác năm
2006 ra đời cho đến nay, tại Việt Nam đã có nhiều cơng trình tập trung nghiên cứu và
tìm hiểu về chế định hiến BPCT người. Tuy nhiên, thực tiễn ln có nhiều biến đổi khơng
ngừng so với quy định của pháp luật, trải qua thời gian áp dụng những quy định về hiến
BPCT người tại Việt Nam có phát sinh một sớ hạn chế nhất định. Vì vậy, tác giả đã chọn
nghiên cứu đề tài “Hiến bộ phận cơ thể theo pháp luật Việt Nam” nhằm làm rõ hơn
những quy định pháp luật hiện hành về hiến BPCT người, và cập nhật một số điểm hạn
chế, đảm bảo tính mới, tính khoa học về chế định đang nghiên cứu. Các cơng trình nghiên
5
cứu đã tồn tại trước đó, được xem là nền tảng để tác giả có thể thuận lợi thực hiện đề tài
Khóa luận của mình.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Hiến, ghép BPCT người là một hoạt động của cá nhân đã phát triển từ lâu trên thế
giới. Mặc dù đã có một thời gian dài phát triển, nhưng hoạt động này ở Việt Nam lại trở
nên tương đới mới. Vì vậy, thơng qua Khóa luận này, tác giả hướng đến hai mục tiêu
sau:
Một là, phân tích và làm rõ dưới góc độ pháp lý những vấn đề liên quan đến hiến
BPCT người ở Việt Nam.
Hai là, tác giả đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng về hiến BPCT
người tại Việt Nam dựa trên cơ sở của các quy định hiện hành như: Hiến pháp năm 2013,
Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy
xác năm 2006. Từ việc đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng, tác giả đưa ra
một sớ kiến nghị hồn thiện về chế định hiến BPCT người tại Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Về đối tượng nghiên cứu
Về đới tượng nghiên cứu, trong Khóa luận này tác giả tập trung nghiên cứu các
đối tượng sau: hiến BPCT người dưới góc độ pháp luật Việt Nam mà cụ thể là Hiến pháp
năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy
xác năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
4.2. Về phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về: Hiến BPCT người theo pháp luật
Việt Nam kể từ thời điểm Luật Hiến, lấy, ghép mơ, BPCT người và hiến, lấy xác năm
2006 có hiệu lực. Trong q trình nghiên cứu của Khóa luận này, tác giả tập trung làm
rõ một số vấn đề cơ bản liên quan đến hiến BPCT người theo pháp luật Việt Nam. Việc
tác giả có đề cập đến pháp luật nước ngồi, về vấn đề hiến BPCT người trong Khóa luận
khơng phải nội dung trọng tâm của Khóa luận này.
Về khơng gian nghiên cứu: Khóa luận này nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật
về Hiến BPCT người trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
6
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, đây là phương pháp được tác giả sử dụng xun śt
Khóa luận nhằm giải quyết các vấn đề lý luận, phân tích các quy phạm pháp luật về hiến
BPCT người. Trong Khóa luận này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích tại các nội
dung: Chương 1 gồm: 1.1. Khái niệm; 1.2. Nguyên tắc hiến BPCT người; 1.3. Ý nghĩa
của việc hiến BPCT người; và Chương 2 gồm: 2.1.1. Quy định hiện hành về điều kiện
hiến BPCT người; 2.2.1. Quy định hiện hành về quyền lợi người hiến BPCT; 2.3.1. Quy
định hiện hành về trình tự thủ tục hiến BPCT người.
Phương pháp tổng hợp, phương pháp này được tác giả sử dụng ở các chương
nhưng tập trung vào các phần tổng kết và kết luận để đưa ra các nhận định, đánh giá. Có
thể kể đến các nội dung được tác giả sử dụng như: Kết luận chương 1, kết luận chương
2, kết luận chung.
Phương pháp so sánh, tác giả khi sử dụng phương pháp này, chỉ ra những điểm
tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới
về vấn đề hiến BPCT người. Phương pháp so sánh, được tác giả dùng tại các phần Khóa
luận này gờm: Chương 1 gờm: 1.4.1. Pháp luật Singapore về hiến BPCT người; 1.4.2.
Pháp luật Trung Quốc về hiến BPCT người; 1.4.3. Pháp luật Liên Bang Nga về hiến
BPCT người. Chương 2 gồm: 2.1.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật và một sớ kiến nghị
hồn thiện về điều kiện hiến BPCT người; 2.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật và một sớ
kiến nghị hồn thiện về qùn lợi của người hiến BPCT; 2.3.2. Thực tiễn áp dụng pháp
luật và một sớ kiến nghị hồn thiện về trình tự, thủ tục hiến bộ phận cơ thể người.
6. Bố cục tổng qt của Khóa luận
Ngồi phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Khóa
luận gờm 2 chương:
Chương 1: Những vấn cơ bản về hiến bộ phận cơ thể người.
Chương 2: Quy định hiện hành về hiến bộ phận cơ thể người, thực trạng và một
sớ kiến nghị hồn thiện.
7
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ
HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI
1.1. Khái niệm
1.1.1. Khái niệm về bộ phận cơ thể người
Bộ phận cơ thể người là một thuật ngữ được nhắc đến nhiều trong những năm trở
lại đây. Trên thế giới, thuật ngữ này đã trở nên khá phổ biến ở nhiều quốc gia như: Pháp,
Trung Quốc, Singapore, Hoa kỳ…Sự phổ biến của thuật ngữ BPCT người thể hiện ở
nhiều lĩnh vực khác nhau. Hiện nay, BPCT người khơng chỉ x́t hiện trong lĩnh vực Y
học, mà cịn xuất hiện trong lĩnh vực Luật học. Bàn về khái niệm BPCT người có nhiều
cách để làm rõ như sau:
Theo cách hiểu thông thường “bộ phận cơ thể người” được ghép bởi 2 thuật ngữ
khác là “bộ phận” và “cơ thể người”. Dựa vào từ điển tiếng Việt của Việt Nam, có thể
hiểu thuật ngữ “bộ phận” được giải thích "là phần của một tồn thể”, cịn thuật ngữ “cơ
thể người” được giải thích là “các bộ phận trong cơ thể của một con người”.1 Từ cách
lý giải nêu trên, thuật ngữ BPCT người có thể hiểu với nghĩa chung nhất là từng phần
trong cơ thể của một con người.
Dưới góc độ sinh học, BPCT người là tồn bộ cấu trúc của một con người. Cơ thể
người gồm ba phần: đầu, thân và chi (tay, chân). Đầu gồm bộ não và các giác quan (tai,
mắt, mũi, lưỡi, miệng); thân gồm khoang ngực chứa tim, phổi; khoang bụng chứa dạ
dày, ruột non, ruột già, hậu mơn, gan, tụy, thận, bóng đái; chi gờm tay, chân.2
Dưới góc độ Luật học, thuật ngữ BPCT người đã được ghi nhận trong pháp luật
một số q́c gia trên thế giới, một trong sớ đó có thể kể đến như: Pháp và Tây Ban Nha.
Ở Pháp, BPCT người được ghi nhận trong Pháp luật y sinh Cộng hịa Pháp ban
hành ngày 30/1/2003 có nội dung là“một phần của cơ thể người, riêng biệt và có khả
năng sống, được hình thành từ nhiều loại mơ khác nhau và có khả năng duy trì cấu trúc,
sự phân bố mạch và thực hiện các chức năng sinh lý một cách hoàn toàn độc lập”.
Ở Tây Ban Nha, khi bàn luận về BPCT người, quốc gia này ghi nhận BPCT người
là một cấu trúc vật lý có sự phân cấp khác nhau, đảm nhiệm các chức năng sinh học một
Nguyễn Lân (1998), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB Thành phớ Hờ Chí Minh, tr. 172, tr. 430.
Ngũn Quang Vinh (2011), Sách giáo khoa Sinh học lớp 8, NXB Giáo dục Việt Nam, tái bản lần thứ
bảy, tr. 14, 15, 16.
1
2
8
cách chuyên biệt. Cơ thể người là hệ thống các cơ quan được hình thành bởi các mơ và
các mơ này được liên kết từ các tế bào.3
Dưới góc độ pháp luật Việt Nam, khái niệm BPCT người được đề cập tại khoản
2 Điều 3 Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006. Theo
đó,“BPCT người là một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau
để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định”.
Từ các khái niệm nêu trên, tác giả đưa ra quan điểm về BPCT người như sau: BPCT
người là một phần của cơ thể người trong một chỉnh thể thống nhất được hình thành từ
các loại mơ khác nhau tạo thành một cơ thể sống hoàn chỉnh.
Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và
hiến lấy xác năm 2006, dựa vào khả năng sống và phát triển của BPCT sau khi tách rời,
có thể chia BPCT thành hai loại là BPCT không tái sinh và BPCT tái sinh. BPCT không
tái sinh là BPCT mà sau khi tách rời khỏi cơ thể gốc ban đầu, không thể sản sinh ra một
bộ phận mới để thay thế bộ phận đã lấy. Ngược lại, BPCT tái sinh là BPCT mà sau khi
tách rời ra khỏi cơ thể gốc ban đầu, vẫn sản sinh, phát triển ra một bộ phận mới thay thế
bộ phận đã lấy.
Về nguyên tắc, cơ thể người là một khối thống nhất mỗi bộ phận trên cơ thể đều
đảm nhiệm một chức năng, một nhiệm vụ riêng biệt. Do vậy, việc tách rời BPCT khỏi
cơ thể người là điều không được phép thực hiện. Mặc dù vậy, trong một số trường hợp
luật định vẫn được phép tách rời BPCT người, để thực hiện mục đích chữa bệnh hay mục
đích nhân đạo khác. Việc tách rời BPCT người cần tuân thủ theo trình tự, thủ tục được
quy định tại Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006 và các quy
định pháp luật khác có liên quan.
1.1.2. Khái niệm về hiến bộ phận cơ thể người
Theo từ điển tiếng Việt, “hiến” là một động từ được hiểu là cho, dâng thứ quý
giá của mình một cách tự nguyện và trân trọng.4 Khi thực hiện việc “hiến” người thực
Dương Thị Thanh Thúy, Nguyễn Ngọc Phương Trinh (2018), Hiến mô, bộ phận cơ thể và xác người
trong pháp luật Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật TP. Hờ Chí
Minh, tr.7.
4
Chu Bích Thu, Nguyễn Ngọc Trâm, Nguyễn Thị Thanh Nga (2002), Từ điển Tiếng việt phổ thơng,
NXB Thành phớ Hờ Chí Minh, tr. 336.
3
9
hiện hành vi này mang tính chủ động, cho, tặng cái q giá của mình cho một người
khác.
Dưới góc độ Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006,
khoản 6 Điều 3 quy định hiến BPCT người là việc cá nhân tự nguyện hiến BPCT của
mình khi cịn sống hoặc sau khi chết. Cịn dưới góc độ của Bộ luật Dân sự năm 2015,
việc hiến BPCT được thể hiện là một quyền năng dân sự cơ bản của con người với tên
gọi là “quyền hiến BPCT”. Cá nhân có qùn hiến BPCT của mình khi cịn sớng hoặc
hiến BPCT sau khi chết vì mục đích chữa bệnh hoặc mục đích nhân đạo khác. Việc hiến
BPCT phải tuân thủ theo các điều kiện và được thực hiện theo quy định của pháp luật.5
Xét về bản chất pháp lý, việc hiến BPCT không được xem là hợp đồng giữa người
hiến và người nhận BPCT. Bởi lẽ, theo quy định tại Điều 285 BLDS năm 2015: “Hợp
đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự”. Khi bàn luận về sự khác biệt giữa hiến BPCT với hợp đờng có thể kể đến
một sớ điểm như:
Một là, về sự thể hiện ý chí. Hợp đờng chỉ có thể được tạo ra bởi sự thớng nhất ý
chí của hai hay nhiều bên, nếu chỉ có ý chí một bên chủ thể thì đó khơng phải là hợp
đờng.6 Trong hoạt động hiến BPCT, chỉ có duy nhất một bên thể hiện ý chí là người hiến
BPCT. Việc ký tên vào đơn đăng ký hiến BPCT, là việc làm biểu thị ý chí tự nguyện của
người hiến khi đờng ý chấp thuận hiến đi BPCT của mình. Cơ sở y tế trong trường hợp
này, được ví như là một chủ thể trung gian có nhiệm vụ hỡ trợ, giúp đỡ người hiến thực
hiện đúng quyền của mình, đúng trình tự thủ tục mà luật định nhằm bảo vệ một cách tối
đa nhất quyền lợi của người hiến.
Hai là, về sự ràng buộc pháp lý giữa các bên tham gia. Quyền và nghĩa vụ của các
bên trong hợp đồng là do các bên tự mình tạo ra dựa trên cơ sở thỏa thuận, bình đẳng, tự
do và tự nguyện.7 Tuy nhiên, trong trường hợp hiến BPCT, người hiến và người nhận
khơng có bất kỳ sự thỏa thuận về ràng buộc pháp lý giữa các bên, trong việc xác lập,
Điều 35 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại
ngồi hợp đồng, NXB Hờng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.117.
7
Trường Đại học Luật Thành phố Hờ Chí Minh (2017), Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại
ngồi hợp đồng, NXB Hờng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr.119.
5
6
10
thay đổi, chấm dứt, quyền nghĩa vụ dân sự với nhau.8 Hiến BPCT được xem là quyền
của người hiến, khi thực hiện quyền này người hiến không tạo ra bất kỳ sự đối ứng nào
về nghĩa vụ đối với chủ thể khác. Hoạt động hiến BPCT và hoạt động nhận BPCT được
xem là hai hoạt động độc lập hoàn toàn về mặt pháp lý; quyền lợi và nghĩa vụ giữa người
hiến và người nhận hoàn toàn riêng biệt trong trường hợp này.
Từ các lý giải nêu trên, tác giả cho rằng hiến BPCT là việc một người tự nguyện
cho đi BPCT của mình lúc cịn sống hoặc sau khi đã chết vì mục đích chữa bệnh hoặc
mục đích nhân đạo khác.
1.2. Nguyên tắc hiến bộ phận cơ thể người
1.2.1. Nguyên tắc tự nguyện
Quyền con người và các quyền khác có liên quan đến con người cần được tôn
trọng và bảo hộ bằng pháp luật. Tuy nhiên, ở một vài trường hợp cụ thể quyền con người
chỉ mang tính chất tương đối và sẽ bị hạn chế. Theo cách hiểu phổ biến, “Sự hạn chế đối
với một quyền con người là việc Nhà nước không cho phép các chủ thể thụ hưởng quyền
có thể thực hiện quyền đó ở mức độ tuyệt đối”.9 Quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
được xem là một quyền con người. Vì vậy, quyền này cũng sẽ bị hạn chế trong một số
trường hợp nhất định. Có thể kể đến trường hợp hiến BPCT người, trong trường hợp này
quyền bất khả xâm phạm về thân thể của cá nhân bị hạn chế. Cá nhân khi thực hiện hiến
BPCT người, thân thể sẽ chịu sự tác động từ các yếu tố bên ngoài để thực hiện việc lấy
BPCT nhằm mục đích cấy, ghép.
Hiến pháp năm 2013 đã thừa nhận: “Mọi người có quyền hiến mơ, BPCT người
và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất
kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được
thử nghiệm”.10 Dựa trên quy định của Hiến pháp, việc hiến BPCT người chỉ được thực
hiện khi có sự tự nguyện của người hiến. Ngoài Hiến pháp, sự tự nguyện của người hiến
cũng được thể hiện trong các văn bản luật khác như: BLDS năm 2015 và Luật Hiến, lấy,
ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006.
Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Huỳnh Thị Mỹ Tho (2022), Nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh đại
dịch Covid-19, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật Thành phớ Hờ Chí Minh, tr. 17.
10
Khoản 3 Điều 20 Hiến pháp năm 2013.
8
9
11
Trong BLDS năm 2015, sự tự nguyện của người hiến được thể hiện thông qua hai
nội dung như sau: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận”.11 và “Việc hiến, lấy
mô, BPCT người, hiến, lấy xác phải tuân thủ theo các điều kiện và được thực hiện theo
quy định của Bộ luật này, Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác và luật
khác có liên quan”.12
Trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006 quy định
về sự tự nguyện được thể hiện tại khoản 1 Điều 4 với nội dung “Tự nguyện đối với người
hiến, người được ghép”.
Nguyên tắc tự nguyện là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Dân
sự nói chung và pháp luật về hiến BPCT người nói riêng. Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT
người và hiến, lấy xác năm 2006 đã ghi nhận sự tự nguyện đối với người hiến thành
nguyên tắc đầu tiên trong việc hiến BPCT người, cho thấy tầm quan trọng của nguyên
tắc này trong việc định hướng chủ đạo, tác động đến các nguyên tắc còn lại của luật. Tự
nguyện là thuật ngữ chỉ một hành động hoặc quyết định của một người thực hiện dựa
trên ý chí và ý thức cá nhân của người đó không bị ép buộc bởi người khác. Trong việc
hiến BPCT người, biểu thị ý chí về sự tự nguyện của chủ thể hiến giữ vai trò quan trọng
làm phát sinh quyền hiến BPCT người.
Quyết định hiến BPCT người, phải được chủ thể hiến đưa ra trong trạng thái hoàn
toàn minh mẫn, dựa trên việc đọc, hiểu biết được rõ thông tin liên quan đến việc hiến
BPCT và hệ quả của nó. Nguyên tắc tự nguyện cũng cho phép chủ thể hiến có quyền
thay đổi, hủy bỏ ý định hiến BPCT tại bất cứ thời điểm nào chủ thể hiến muốn mà không
buộc đưa ra lý do. Việc cho phép chủ thể hiến được thay đổi, hủy bỏ quyết định hiến của
mình nhằm bảo vệ hơn nữa quyền lợi của họ.
Trên thực tế, có trường hợp đã đưa ra quyết định hiến khi chủ thể đã bị cưỡng ép
về mặt tâm lý một cách trái ý muốn tại thời điểm đưa ra quyết định. Do vậy, sự thay đổi
về ý định hiến ở bất kỳ thời điểm nào được xem là lớp bảo vệ sau cùng để tránh trường
hợp chủ thể hiến bị cưỡng ép tại thời điểm đưa ra quyết định. Mọi lựa chọn của chủ thể
hiến cần phải được tôn trọng một cách tuyệt đối, không ai được can thiệp vào quyết định
11
12
khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015.
khoản 3 Điều 35 Bộ luật Dân sự năm 2015.
12
của họ. Pháp luật nghiêm cấm các hành vi lừa đảo, ép buộc, đe dọa chủ thế hiến về thể
chất lẫn cả tinh thần, ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định của người hiến.
1.2.2. Nguyên tắc không nhằm mục đích thương mại
Thương mại, xét về thuật ngữ tiếng Việt ở nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động
kinh doanh trên thị trường nhằm mục tiêu sinh lợi của các chủ thể kinh doanh. Còn ở
nghĩa hẹp, thương mại được hiểu là q trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường.13
Dưới góc độ Luật học, thuật ngữ thương mại, khơng được cụ thể hóa trong Luật Thương
mại 2005. Thay vào đó, Luật Thương mại 2005 chỉ đề cập đến thuật ngữ “hoạt động
thương mại” với cách hiểu như sau:“hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua
bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm
mục đích sinh lợi khác”.14
BPCT người không phải là tài sản và cũng không thỏa mãn các đặc trưng vốn có
của tài sản. Đã là một tài sản thì phải có giá trị kinh tế nhất định, vì khi ta cầm một tài
sản trên tay, ta có thể lượng hóa nó được về mặt kinh tế hay tiền tệ.15 BPCT người không
thể được lượng hóa thành một giá trị kinh tế cụ thể, không quy đổi được thành tiền. Việc
hiến BPCT người không được coi là hoạt động mang tính thương mại. Bởi lẽ, ngay trong
thuật ngữ “hiến” BPCT đã mang một ý nghĩa biểu thị đây là một hành động cao cả cứu
giúp người khác, xuất phát từ sự tự nguyện hy sinh vì cộng đờng của người hiến, chính
vì thế việc hiến BPCT người sẽ khơng nhằm mục đích thương mại.
Ngun tắc khơng nhằm mục đích thương mại giữ một vai trị quan trọng trong
việc hiến BPCT người. Vì thế, pháp luật về hiến BPCT người ở Việt Nam đã tiến hành
luật hóa nguyên tắc này. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 của BLDS năm 2015:“Cá
nhân có quyền hiến mơ BPCT của mình khi cịn sống hoặc hiến mơ, BPCT, hiến xác của
mình sau khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu y học, dược
học và các nghiên cứu khoa học khác”. Dựa vào quy định trên, người hiến có qùn hiến
BPCT của mình khi cịn sớng hoặc sau khi chết và việc hiến BPCT chỉ được phép thực
Bình Thảo, “Thương mại là gì, các hoạt động thương mại gồm những gì?”,
truy cập lần cuối ngày
02/06/2023.
14
Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005.
15
Trường Đại học Luật Thành phớ Hờ Chí Minh (2023), Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu
và thừa kế, NXB Hồng Đức, tr.20.
13
13
hiện với mục đích chữa bệnh, nghiên cứu y học, dược học và nghiên cứu khoa học khác.
Mục đích hiến BPCT khơng mang tính thương mại khơng được đề cập một cách trực
tiếp trong BLDS năm 2015. Bộ luật này chỉ tiến hành liệt kê các mục đích hiến BPCT
như: chữa bệnh, nghiên cứu y học, dược học, nghiên cứu khoa học khác.
Khi xem xét về nội dung các mục đích được đề cập, tác giả cho rằng các mục đích
được liệt kê đều mang tính “phi thương mại”. Người hiến BPCT khi thực hiện các mục
đích trên, khơng hướng đến mục tiêu sinh lợi cho bản thân mà hướng đến các giá trị cống
hiến cho cộng đồng, cho các ngành khoa học. Chính vì thế, có thể kết luận ngun tắc
khơng nhằm mục đích thương mại được BLDS 2015 thể hiện một cách gián tiếp. Với
việc liệt kê các mục đích hiến BPCT, tác giả cho rằng dường như Bộ luật đã thu hẹp đi
phạm vi về mục đích hiến BPCT. Có thể lấy ví dụ, về trường hợp hiến BPCT nhằm mục
đích giảng dạy nếu xét trên câu chữ của BLDS đây là trường hợp đã không được liệt kê.
Do vậy, việc hiến BPCT nhằm mục đích giảng dạy sẽ không được phép thực hiện.
Trong một văn bản luật khác, Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến lấy
xác năm 2006, ngun tắc khơng nhằm mục đích thương mại đã không còn được quy
định một cách gián tiếp mà đã có sự ghi nhận trực tiếp thông qua một quy định cụ thể,
tại khoản 3 Điều 4 với nội dung: “Khơng nhằm mục đích thương mại”.
Từ các nội dung của BLDS năm 2005 và Luật Hiến, lấy, ghép mơ, BPCT người
và hiến lấy xác năm 2006, có thể kết luận pháp luật Việt Nam chỉ công nhận những hành
vi hiến BPCT người vì mục đích nhân đạo, khơng mang tính thương mại.
Nội dung ngun tắc khơng nhằm mục đích thương mại, bao gờm hai nội dung
như sau: Một là, việc hiến BPCT khơng mang tính thương mại. Người hiến và người
nhận giữa các chủ thể này không diễn ra việc trả tiền cho hoạt động hiến BPCT. Người
hiến, cũng khơng có qùn u cầu sự đền bù bất kỳ về tài chính, hay tiền bạc hoặc một
lợi ích vật chất khác từ phía người nhận. Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến
lấy xác năm 2006 nghiêm cấm hành vi: “Mua, bán mô, BPCT người; mua, bán xác”.16
Ngồi ra, vì việc hiến BPTC khơng mang tính thương mại, nên các chủ thể có thẩm
quyền sử dụng BPCT vì mục đích nhân đạo khơng cần phải tiến hành chi trả cho việc có
được BPCT.
16
Khoản 3 Điều 11 Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến lấy xác năm 2006.
14
Hai là, cấm các hoạt động quảng cáo, môi giới cho các chủ thể nhận BPCT người
mang tính thương mại. Nội dung này của nguyên tắc, cũng được luật hóa thành một quy
định trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến lấy xác năm 2006 với nội dung
cấm: “Quảng cáo, mơi giới việc hiến, nhận BPCT người vì mục đích thương mại”.17 Có
thể nói, những hoạt động kể trên không liên quan trực tiếp đến hoạt động hiến BPCT
mang tính thương mại, tuy nhiên những hoạt động này lại giữ vai trò thúc đẩy, trung gian
cho hoạt động hiến BPCT mang tính thương mại diễn ra. Do vậy, việc Luật Hiến, lấy,
ghép mô, BPCT người và hiến lấy xác năm 2006 tiến hành nghiêm cấm các hoạt động
nêu trên là điều hồn tồn phù hợp.
Hiến BPCT người vì mục đích thương mại sẽ dẫn đến nhiều hệ quả tiêu cực cho
xã hội, có thể kể đến như: xâm phạm quyền con người, quyền nhân thân; là mầm mống
cho các tội phạm về hiến BPCT người phát sinh gây bất ổn định xã hội. Khi hiến BPCT
vì mục đích thương mại, được thừa nhận sẽ tạo nên bất công bằng xã hội. Những người
giàu, với sự vững mạnh về tài chính họ có thể dùng tiền mua BPCT, trong khi những
người nghèo khi mắc những căn bệnh cần được thay thế BPCT lại khơng đủ tài chính để
tiếp cận.
Việc hiến BPCT người mang tính phi thương mại, người hiến vẫn được nhận được
phần lợi ích từ phía người nhận và từ phía nhà nước. Tuy nhiên, cần có cách hiểu đúng
về tính thương mại của việc hiến BPCT với việc bù đắp lợi ích nhất định.
Theo đó, hiến BPCT mang tính thương mại là nhìn BPCT trở thành một loại hàng
hóa có thể bn bán được theo ngun tắc hàng - tiền, mục đích ći cùng của việc hiến
BPCT là vì tiền khơng phải để cứu người hay thực hiện một mục đích phi thương mại
khác. Hành vi hiến BPCT người mang tính thương mại, là hành vi vi phạm đạo đức và
trái với quy định pháp luật. Trái lại, việc bù đắp về lợi ích cho người hiến BPCT, từ phía
Nhà nước, đây là hành động được xã hội hoan nghênh, đáng trân trọng. Chủ thể khi hiến
BPCT mang tính phi thương mại, có giá trị cớt lõi cuối cùng xuất phát từ niềm mong
muốn là cứu giúp người khác, cống hiến cho xã hội, những giá trị bù đắp về lợi khơng
phải là mục đích trong việc họ đưa ra quyết định hiến BPCT. Trên thực tế, thật khó xác
định giữa tính thương mại và bù đắp lợi ích ranh giới của việc này rất mong manh.
17
Khoản 8 Điều 11 Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến lấy xác năm 2006.
15
Trong việc phân định sự khác biệt giữa tính thương mại với việc bù đắp lợi ích
của hoạt động hiến BPCT. Ta có thể tham khảo đến một chế định pháp lý tương tự, về
việc mang thai hộ để làm rõ sự khác biệt giữa tính thương mại với việc việc bù đắp lợi
ích như sau: “Với những lợi ích thu được vượt ngồi những chi phí thực tế để bảo đảm
việc chăm sóc sức khỏe sinh sản theo quy định của Bộ Y tế như tiền thưởng, tiền bồi
dưỡng... nhưng chưa đến mức là một hoạt động thương mại, thì việc người mang thai hộ
nhận các lợi ích này không nên bị xem là trường hợp mang thai hộ vì mục đích thương
mại”.18 Có thể xem, việc người hiến BPCT nhận được một sớ lợi ích nhất định như: tiền
thưởng, tiền bồi dưỡng sức khỏe từ một chủ thể khác (người nhận, Nhà nước) được xem
là những lợi ích khơng mang tính thương mại. Nói một cách khác, những lợi ích mà
người hiến được nhận sẽ được loại trừ đi yếu tớ thương mại.
Bên cạnh mục đích chữa bệnh, việc hiến BPCT cịn vì mục đích giảng dạy, nghiên
cứu khoa học. Hiện nay, con người đang phải đối mặt với nhiều căn bệnh mới, đa dạng
và vô cùng phức tạp. Vì lý do đó, đòi hỏi các tổ chức nghiên cứu khoa học phải tích cực
xây dựng các cơng trình nghiên cứu để tìm ra nguyên nhân, giải pháp chữa trị các căn
bệnh này. Để đáp ứng cho việc nghiên cứu khoa học, thì việc hiến BPCT người có vai
trị vơ cùng quan trọng vì đây là ng̀n thử nghiệm, là căn cứ thực tế để thực hiện các
công trình nghiên cứu. Một phần khác của các kết quả nghiên cứu được đưa vào giảng
dạy, nhằm làm nâng cao tầm tri thức cũng như sự hiểu biết của người học.
Để thực hiện đúng nguyên tắc này, các cơ sở khám chữa bệnh, pháp nhân, cá nhân
có thẩm quyền về nghiên cứu khoa học, nhận BPCT người phải thực hiện các hoạt động
đúng với mục đích chữa bệnh, thử nghiệm y học, dược học và các mục đích khác theo
quy định. Các chủ thể trong lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu khoa học khơng được phép
chuyển mục đích sử dụng ng̀n BPCT có được, chỉ có việc làm đúng mục đích, thực
hiện đúng quy định của luật mới thể hiện được tinh thần nhân đạo của người hiến và tạo
niềm tin cho dân tộc phát huy tinh thần “tương thân tương ái” hỗ trợ lẫn nhau.
Ngô Thị Anh Vân (2018), Xác định cha, mẹ cho con được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong
pháp luật Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Thành phớ Hờ Chí
Minh, tr.21.
18
16
1.2.3. Nguyên tắc bảo mật thông tin
Nội dung của nguyên tắc bảo mật thông tin thể hiện thông qua khoản 4 Điều 4
Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006 với nội dung: “Giữ bí
mật về các thơng tin có liên quan đến người hiến, người được ghép, trừ trường hợp các
bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.19 Theo quy định trên, những
“thơng tin có liên quan” đến người hiến cần phải được giữ bí mật. Tuy nhiên, Luật Hiến,
lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006 đã khơng đưa ra bất kì sự giải
thích nào về “thơng tin liên quan” dẫn đến việc khó vận dụng quy định trên vào thực tế.
Theo tác giả, việc giữ bí mật về “thơng tin liên quan” đến người hiến có nghĩa là các
thơng tin như tên, năm sinh, giới tính, địa chỉ thường trú,...và các thơng tin khác đều
khơng được tiết lộ cho bên thứ ba khi chưa được sự đồng ý của người hiến hoặc pháp
luật chưa cho phép.
Ngun tắc bảo mật thơng tin, cịn được thể hiện tại Điều 38 của Luật Hiến, lấy,
ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006 với “Mọi thông tin về người hiến,
người được ghép BPCT người phải được mã hóa thơng tin và bảo mật”. Trường hợp
cơng bớ thơng tin, phải bảo đảm tính vơ danh để khơng xác định được người hiến trừ
trường hợp người hiến và người được ghép là người có cùng dịng máu về trực hệ hoặc
có họ trong phạm vi ba đời. Việc mã hóa thơng tin thuộc về trách nhiệm của các chủ thể
hoạt động trong mạng lưới hiến tặng. Các chủ thể hoạt động trong mạng lưới hiến là
những chủ thể đầu tiên tiếp cận thông tin của người hiến, tham gia trong tồn bộ q
trình hiến. Do vậy, những chủ thể này có nghĩa vụ tn thủ, thực hiện chính xác trình tự
mã hóa thơng tin theo quy định của pháp luật để bảo đảm quyền lợi của người hiến.
Nguyên tắc này rất quan trọng, nó cho phép tránh mọi áp lực không cần thiết về
mặt tinh thần cũng như vật chất từ phía người hiến, người nhận và gia đình họ đối với
nhau, qua đó ngăn chặn các hoạt động thương mại hóa BPCT do quan hệ trực tiếp của
nhóm đới tượng này.20 Vì vậy, việc tn thủ đúng ngun tắc về bảo mật thơng tin thì có
thể ngăn ngừa được các tình h́ng tiêu cực xảy ra. Có thể kể đến trường hợp, một người
chết hiến đi BPCT mình. Gia đình của người chết khi có được thơng tin của người được
Khoản 4 Điều 4 Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006.
Nguyễn Thị Thúy (2014), Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể theo pháp luật việt Nam, Luận văn thạc sĩ,
Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 19.
19
20
17
ghép, họ sẽ luôn nhớ về người đã chết và không thể vượt qua được nỗi đau. Một số
trường hợp khác, người thân của người hiến không chấp nhận việc hiến BPCT diễn ra
và họ cho rằng người được ghép đã cướp đi cuộc sớng của người thân mình dẫn tới việc
làm bất lợi cho người được nhận (đòi tiền, đe doạ, quấy rối…).
Nguyên tắc bảo mật thông tin cũng có những ngoại lệ nhất định. Trong trường
hợp, người hiến và người được ghép là người có cùng dịng máu về trực hệ hoặc có họ
trong phạm vi ba đời” khơng cần đảm bảo tính vơ danh.21 Đây là một ngoại lệ có phần
hợp lý của Luật, bởi lẽ những người có dịng máu “trực hệ” hoặc có họ trong “phạm vi
ba đời” đã có mới quan hệ huyết thớng từ trước, và thông thường những người này sẽ
sinh sống gần nhau trên một khu vực địa lý nhất định, nên sẽ có cơ hội nắm được thơng
tin của nhau. Do vậy, việc đặt ra bảo mật thông tin đối với những người có quan hệ “trực
hệ” hoặc “phạm vi ba đời” là khơng cần thiết.
Ngồi ra, Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006 đề cập
đến một ngoại lệ khác tại khoản 3 Điều 38 với nội dung: “Trong trường hợp đặc biệt vì
mục đích chữa bệnh theo yêu cầu của người đứng đầu cơ sở y tế hoặc theo yêu cầu của
cơ quan tiến hành tố tụng thì cơ sở lưu giữ thơng tin mới được phép cung cấp thông tin”.
Sự hợp lý quy định này thể hiện ở chỗ, việc cung cấp thơng tin chỉ hướng đến một mục
đích duy nhất là chữa bệnh. Khi cung cấp thơng tin vì mục đích chữa bệnh sẽ tạo thuận
lợi cho việc tìm được những BPCT tương thích (nhóm máu, đặc tính duy trùn học…)
để phù hợp cho việc cấy ghép BPCT vào người nhận, tránh xảy ra các rủi ro về bệnh lý
hoặc sự khơng tương thích về BPCT.
1.2.4. Ngun tắc bảo đảm tn thủ yêu cầu về chuyên môn - kỹ thuật
Việc hiến, lấy BPCT người là một hoạt động trực tiếp liên quan đến sức khỏe,
tính mạng của người hiến. Do vậy, khi thực hiện hiến BPCT cần đảm bảo nguyên tắc
tuân thủ yêu cầu về chuyên môn - kỹ thuật.
Trong giai đoạn đăng ký, đây là giai đoạn đầu tiên của hoạt động hiến BPCT. Ở
giai đoạn này các chủ thể hoạt động trong mạng lưới về hiến BPCT phải thể hiện được
trình độ, năng lực chun mơn của mình trong việc tư vấn, giải đáp các thắc mắc về trình
tự, thủ tục hiến BPCT cho người có nguyện vọng hiến BPCT. Có thể kể đến như, người
21
Khoản 1, 2 Điều 38 Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác năm 2006.
18
tư vấn phải trực tiếp gặp người đăng ký hiến để tư vấn. Bằng kỹ năng chun mơn của
mình, trong quá trình tư vấn người tư vấn phải tạo được sự thuận lợi, thoải mái giữa
người tư vấn và người được tư vấn. Ngồi ra, trong śt q trình tư vấn, người tư vấn
hạn chế sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành, thay vào đó cần phải sử dụng các ngôn
ngữ phù hợp, dễ hiểu. Việc tư vấn diễn ra trên nguyên tắc tự nguyện, tôn trọng, phải biết
lắng nghe, thấu hiểu những mong muốn của người được tư vấn.22 Những việc làm nêu
trên là cần thiết, được xem là nguyên tắc chung đối với người tư vấn, khi thực hiện đúng
những nguyên tắc này, người tư vấn sẽ giúp cho người có nguyện vọng hiến BPCT có
tâm lý dễ chịu, thoải mái giảm bớt nỗi sợ về việc hiến BPCT.
Trong giai đoạn lấy BPCT, chỉ có những cơ sở y tế có đủ trình độ năng lực chun
mơn và yêu cầu kỹ thuật theo quy định của Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và
hiến, lấy xác năm 2006, mới được phép thực hiện việc lấy đi BPCT từ người hiến. Căn
cứ quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật này, điều kiện của cơ sở được phép lấy BPCT từ
người hiến bao gồm:
Đối với đội ngũ cán bộ y tế, phải là đội ngũ cán bộ y tế có năng lực, trình độ
chun mơn về lấy BPCT người, gây mê, hồi sức sau ghép được cơ sở y tế hoặc cơ sở
đào tạo cấp giấy chứng nhận hoặc văn bằng chuyên khoa. Điều kiện này rất quan trọng,
bởi lẽ đội ngũ cán bộ y tế là những người trực tiếp tham gia vào cuộc phẫu thuật lấy
BPCT. Nói một cách khác, việc lấy BPCT có thành cơng, có đảm bảo an tồn về sức
khỏe, tính mạng cho người hiến hay khơng phụ thuộc rất nhiều vào trình độ năng lực
chuyên môn của đội ngũ này. Do vậy, việc đòi hỏi các y, bác sĩ phải có yêu cầu cao về
năng lực chun mơn là cực kì cần thiết.
Đới với điều kiện về trang thiết bị kỹ thuật khi diễn ra việc lấy BPCT người. Luật
quy định cần phải có ít nhất ba phịng liên hồn khép kín, bớ trí một chiều, bảo đảm vơ
trùng; bao gờm phịng lấy, xử lý và bảo quản BPCT người, phòng ghép và phịng hời sức
sau ghép. Phải có phịng kỹ thuật dành riêng cho việc theo dõi, chăm sóc liên tục người
hiến; có đơn vị ghép thực nghiệp, phịng xét nghiệm, đơn vị lọc máu…Có thể thấy, yêu
cầu về trình độ kỹ thuật chuyên môn được đặt ra môn cách nghiêm ngặt và quy định chi
Mục II.2 Quy định về “Hướng dẫn tư vấn, kiểm tra sức khỏe cho người hiến mô, bộ phận cơ thể ở
người sống; hiến mô, bộ phận cơ thể ở người sau khi chết và người hiến xác” ban hành kèm theo
Quyết định số 13/2008/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế.
22