Tải bản đầy đủ (.pdf) (107 trang)

Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (13.82 MB, 107 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN HÀ ANH THƯ

HẬU QUẢ CỦA VIỆC
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ

TP. HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 – 2023


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN HÀ ANH THƯ

HẬU QUẢ CỦA VIỆC
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THẠC SĨ PHẠM THỊ THÚY

TP. HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 – 2023


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Phạm Thị Thúy – Giảng viên Khoa Luật Dân
sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Những tài liệu có nội dung được
tham khảo, trích dẫn trong luận văn đã được dẫn trong phần trích dẫn và tài liệu tham


khảo. Các bản án, quyết định được nêu trong khóa luận là chính xác, đúng sự thật.
Tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Sinh viên thực hiện

Trần Hà Anh Thư


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Số thứ tự

Chữ viết tắt

1

BLTTDS năm 2015

BLTTDS năm 2004

2

Chữ viết thường
Bộ

luật

Tố

tụng

dân


sự

(Luật

số

92/2015/QH13) ngày 25/11/2015
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được sửa

đổi, bổ sung bởi Luật số 65/2011/QH12 ngày
sửa đổi, bổ sung năm
29/3/2011 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một
2011
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự
Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày

3

Nghị quyết số
04/2017/NQ-HĐTP

05/5/2017 hướng dẫn một số quy định tại
khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng
dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi
kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án

4


HĐTP

Hội đờng Thẩm phán

5

TAND

Tịa án nhân dân

6

TANDTC

7

VADS

Vụ án dân sự

8

TTDS

Tố tụng dân sự

Tòa án nhân dân tối cao


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................................. 2
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài .................................................................................... 4
4. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 5
5. Bố cục của khóa luận ............................................................................................ 6
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ
HẬU QUẢ CỦA VIỆC ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ .................. 7
1.1 Khái quát về vụ án dân sự và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ..................... 7
1.1.1 Khái niệm vụ án dân sự.................................................................................. 7
1.1.2 Khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự................................................... 8
1.1.3 Đặc điểm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự .................................................. 10
1.2 Khái quát về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ................ 12
1.2.1 Khái niệm hậu quả đình chỉ giải quyết vụ án dân sự................................... 12
1.2.2 Đặc điểm của hậu quả đình chỉ giải quyết vụ án dân sự............................. 12
1.2.3 Ý nghĩa của hậu quả đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ................................ 13
1.3 Quy định pháp luật về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 15
1.3.1 Quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án của đương sự ........... 15
1.3.2 Xử lý tiền tạm ứng án phí............................................................................. 20
1.3.2.1 Tiền tạm ứng án phí sung vào cơng quỹ nhà nước ................................... 20
1.3.2.2 Tiền tạm ứng án phí trả lại cho đương sự ................................................ 21
1.3.3 Quyền kháng cáo, kháng nghị của đương sự và Viện kiểm sát ................... 23
1.3.4 Giải quyết hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan khi
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm
sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm .................................................... 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................ 30


CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HẬU QUẢ ĐÌNH CHỈ
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ, BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

PHÁP LUẬT ............................................................................................................ 31
2.1 Quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án của đương sự ............ 31
2.1.1 Ghi nhận quyền khởi kiện của đương sự trong quyết định đình chỉ vụ án dân
sự ………………………………………………………………………………..31
2.1.2 Xác định việc khởi kiện vụ án sau khác với vụ án trước.............................. 34
2.1.3 Quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án của đương sự khi vụ án
bị đình chỉ do ngun đơn khơng nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi
phí tố tụng khác..................................................................................................... 41
2.2 Xử lý tạm ứng án phí khi đình chỉ giải quyết vụ án ...................................... 48
2.2.1 Xử lý tạm ứng án phí khi vụ án bị đình chỉ theo điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị
quyết 04/2017/NQ-HĐTP ..................................................................................... 48
2.2.2 Xử lý tạm ứng án phí khi vụ án bị đình chỉ theo điểm b khoản 6 Điều 477 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015 .............................................................................. 49
2.3 Giải quyết hậu quả của việc thi hành án khi đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám
đốc thẩm, tái thẩm ............................................................................................... 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................ 56
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thơng qua ngày
25/11/2015, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016. Trên cơ sở kế thừa, sửa đổi bổ sung
những điểm còn hạn chế trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015 đã hồn thiện và từng bước khẳng định được vai trị trong việc là căn

cứ để giải quyết các vụ án dân sự cũng như các việc dân sự. Một trong những nội
dung có sự kế thừa, bổ sung hồn thiện có thể kể đến đó là quy định về hậu quả đình
chỉ giải quyết vụ án dân sự. Theo đó, nhà làm luật đã có sự kế thừa quy định về quyền
khởi kiện lại của đương sự cần phải xác định dựa trên tư cách đương sự, quan hệ pháp
luật tranh chấp và quy định bổ sung trường hợp đương sự được quyền khởi kiện lại
khi bị trả đơn khởi kiện. Việc xác định xử lý tạm ứng án phí cũng được kế thừa theo
quy định cũ khi chia thành hai hình thức xử lý là sung vào cơng quỹ nhà nước hoặc
trả lại cho đương sự đã nộp nhưng quy định áp dụng căn cứ để xử lý lại có sự bổ sung
hồn thiện hơn nhằm phù hợp với thực tiễn xét xử. Nhà làm luật cũng quy định thêm
về việc xử lý hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan khi đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm. Đây là một quy định hồn tồn mới và có ý nghĩa
to lớn trong việc giải quyết vụ án dân sự.
Bộ luật mới ra đời nhằm điều chỉnh quy trình thủ tục tố tụng phù hợp hơn với
thực tiễn. Tuy nhiên, qua thời gian áp dụng, thực tiễn xét xử cho thấy nhiều bất cập
xoay quanh các vấn đề về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, cụ thể:
Thứ nhất, trường hợp ghi nhận hay không ghi nhận hậu quả về quyền khởi kiện
lại vụ án của đương sự trong quyết định đình chỉ giải quyết vụ án vẫn có nhiều quan
điểm dẫn đến thực tiễn có nhiều quyết định đình chỉ cùng một căn cứ nhưng cách ghi
nhận giữa các Thẩm phán lại khác nhau, điều này khiến việc ghi nhận hậu quả về
quyền khởi kiện lại vụ án không đúng làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của
cơng dân.
Thứ hai, nhiều trường hợp khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, đương
sự muốn khởi kiện lại nhưng theo quy định về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết
vụ án thì cần xác định vụ án sau khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan
hệ pháp luật có tranh chấp, điều này đặc ra câu hỏi xác định như thế nào để đáp ứng
yêu cầu theo quy định pháp luật.


2


Thứ ba, khi vụ án bị đình chỉ theo căn cứ tại điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự khơng được quyền khởi kiện lại vụ án. Tuy
nhiên thực tiễn vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này.
Thứ tư, vụ án bị đình chỉ theo căn cứ tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 thì xử lý tiền tạm ứng án phí theo hướng sung vào cơng quỹ
nhà nước hay trả lại cho đương sự đã nộp, điều này cũng chưa được quy định rõ.
Thứ năm, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định mới về việc giải quyết
hậu quả của việc thi hành án, các vấn đề khác có liên quan (nếu có) khi đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết
định giám đốc thẩm, tái thẩm, nhưng giải quyết, xử lý ra sao và cần áp dụng điều luật
như thế nào cho phù hợp thì chưa có quy định cụ thể.
Xuất phát từ các lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Hậu quả của việc đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự” để làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp. Cơng trình nghiên cứu
nhằm phân tích các quy định pháp luật cũng như tập hợp quan điểm, lý luận của các
nhà nghiên cứu trước đó. Đờng thời, phân tích thực tế xét xử của cơ quan Tòa án, từ
đó làm sáng tỏ bản chất pháp lý của hậu quả đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, chỉ ra
những bất cập, kiến nghị của quy định pháp luật hiện hành về hậu quả đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự. Thơng qua đó tác giả mong muốn đề xuất những kiến nghị nhằm
góp phần hồn thiện quy định pháp luật về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài “Hậu quả của việc đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự”, tác giả nhận thấy trên thực tế có một số cơng trình nghiên cứu
dựa trên các góc độ nhìn nhận, đánh giá, phạm vi và cách thức nghiên cứu khác nhau.
Một số cơng trình nghiên cứu tiêu biểu được kể đến như sau:
Thứ nhất, giáo trình, sách bình luận, sách chuyên khảo
Trường Đại học Luật Thành phố Hờ Chí Minh (2020), Giáo trình Luật tố tụng
dân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam: Giáo trình được
biên soạn nhằm cung cấp những kiến thức cơ bản nhất của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Giáo trình đã nêu các hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, giáo trình chỉ tiếp cận dưới góc độ lý luận,
giải thích theo điều luật quy định nhưng không đề cập đến những vướng mắc, bất cập
của điều luật. Do đó đây là kiến thức nền tảng giúp tác giả nghiên cứu chuyên sâu và
đưa ra đánh giá phù hợp với thực tiễn áp dụng.


3

Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam,
Nhà xuất bản Công an nhân dân: Tương tự với giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt
Nam của Trường Đại học Luật Thành phố Hờ Chí Minh, giáo trình trình bày những
vấn đề chung về khái niệm, tiếp cận dưới góc độ lý luận, giải thích theo điều luật quy
định nhưng khơng đề cập đến những vướng mắc, bất cập của điều luật. Do đó đây là
kiến thức nền tảng giúp tác giả nghiên cứu chuyên sâu, đưa ra đánh giá phù hợp với
thực tiễn áp dụng.
Nguyễn Thị Hồi Phương (2016), Sách bình luận những điểm mới trong Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam: Cơng
trình nghiên cứu được nhóm tác giả nêu và phân tích những điểm mới của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi, bổ sung
năm 2011. Trong đó có những phân tích liên quan đến đình chỉ giải quyết vụ án cũng
như hậu quả của đình chỉ giải quyết vụ án. Cụ thể nhóm tác giả đã phân tích, bình
luận về khoản 4 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đồng thời nêu lên những
bất cập khi áp dụng trong thực tiễn. Công trình là cơ sở nền tảng để tác giả có thể
thực hiện việc nghiên cứu chuyên sâu về hậu quả đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Nguyễn Văn Tiến (Chủ biên) (2021), Sách tình huống Luật Tố tụng dân sự (Bình
luận bản án), Nhà xuất bản Hờng Đức: Cơng trình nghiên cứu của nhóm tác giả đã
phân tích, bình luận các vấn đề của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Cơng trình
nghiên cứu phân tích, bình luận các vấn đề của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Trong tài liệu này chủ đề số 18 của tác giả Nguyễn Văn Tiến bàn luận về căn cứ và

hậu quả của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là chủ đề mà tác giả có thể căn cứ và
định hướng phân tích chuyên sâu trong luận văn của mình.
Thứ hai, luận văn thạc sĩ
Khưu Thanh Tâm (2014), “Căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự”, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hờ Chí Minh: Luận văn trình bày
một số vấn đề cơ bản về căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự như khái niệm, đặc
trưng pháp lý của căn cứ, hậu quả pháp lý của việc áp dụng căn cứ đình chỉ theo quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004. Luận văn chỉ ra những vướng mắc, bất
cập trong thực tiễn áp dụng căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, qua đó kiến nghị
hồn thiện pháp luật.
Nguyễn Đờng Vũ (2021), “Quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án
dân sự”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hờ Chí Minh:
Luận văn đã phân tích và chỉ ra một số bất cập về quy định quyền khởi kiện lại vụ án


4

của đương sự trong hậu quả đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, qua đó đưa ra kiến nghị
hồn thiện pháp luật.
Nguyễn Thị Thùy Trang (2021), “Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Thành phố Hờ Chí Minh:
Luận văn đã phân tích và nêu ra một số bất cập trong hậu quả đình chỉ giải quyết vụ
án về quyền khởi kiện lại của đương sự, xử lý tạm ứng án phí và giải quyết hậu quả
của việc thi hành án, qua đó đưa ra kiến nghị hồn thiện pháp luật.
Thứ ba, bài báo, tạp chí
Trương Thanh Hòa (2018), “Quyền khởi kiện lại vụ án trong quyết định đình
chỉ giải quyết vụ án dân sự”, Tạp chí Tồ án nhân dân điện tử: Thơng qua việc phân
tích, tác giả nêu ra vướng mắc về việc có nên ghi nhận quyền khởi kiện của đương sự
trong quyết định đình chỉ vụ án và kiến nghị hồn thiện pháp luật.
Lê Văn Luật (2021), “Xét xử lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết

định giám đốc thẩm, tái thẩm - một số vướng mắc cần hướng dẫn”, Trang thơng tin
điện tử Tịa án nhân dân tỉnh Quảng Trị: Bài viết phân tích tình huống thực tế và đưa
ra những bất cập xoay quanh vấn đề về việc áp dụng khoản 4 Điều 217 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015. Từ đó kiến nghị sửa đổi, hồn thiện pháp luật.
Lê Hờng Sơn (2022), “Quyền khởi kiện lại khi vụ án bị đình chỉ do đương sự
khơng nộp tạm ứng chi phí tố tụng”, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 50/2022: Bài
viết nêu lên những bất cập trong thực tiễn khi áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ
luật Tố tụng dân sự năm 2015 và đưa ra quan điểm đóng góp cho q trình giải quyết
vụ án.
Nguyễn Quang Trí (2023), “Việc hạn chế quyền khởi kiện lại của đương sự
trong vụ án dân sự”, Tạp chí Tồ án nhân dân điện tử: Bài viết phân tích, nêu lên
những điểm bất cập về việc hạn chế quyền khởi kiện lại của đương sự đờng thời tác
giả đưa ra kiến nghị nhằm hồn thiện quy định pháp luật.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong khuôn khổ nội dung đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu các khía cạnh lý
luận và thực tiễn về khái niệm, đặc điểm pháp lý, căn cứ và hậu quả pháp lý dựa trên
cơ sở quy định của pháp luật Việt Nam. Từ đó luận giải một số vấn đề cịn tờn tại
trong thực tiễn xét xử như: Vấn đề về xác định lại quyền khởi kiện của đương sự;
phương hướng xử lý tiền tạm ứng án phí trong các trường hợp khác nhau khi có quyết
định đình chỉ giải quyết vụ án; giải quyết hậu quả của việc thi hành án khi đình chỉ


5

giải quyết vụ án dân sự đối với vụ án được xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm.
Về phạm vi không gian nghiên cứu đề tài, nội dung nghiên cứu xoay quanh các
vấn đề liên quan đến hậu quả đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Do đó, để phân tích rõ
cũng như làm sáng tỏ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng, tác giả cần
phân tích, bình luận dựa trên các quyết định đình chỉ, bản án trên phạm vi tồn quốc

mà khơng giới hạn tại một vị trí địa lý nào nhất định. Điều này giúp cho tác giả nhìn
nhận được bao quát, chuyên sâu hơn dưới góc độ thực tiễn xét xử của nhiều tịa án tại
các địa phương trên tồn quốc, từ đó đưa ra được những đánh giá khách quan, nhìn
nhận đúng đắn về cách thức áp dụng điều luật trong thực tiễn đời sống. Bên cạnh đó,
tác giả tiến hành nghiên cứu quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới như
Trung Quốc, Nga,… để có thể đưa ra so sánh, nhận xét từ đó rút kinh nghiệm cho
việc hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu khoa học cụ thể như sau:
Thứ nhất, phương pháp phân tích: Tác giả sử dụng phương pháp này để làm rõ
những quy định của pháp luật về hậu quả đình chỉ vụ án dân sự trong Tố tụng dân sự
Việt Nam. Phương pháp này được sử dụng xun suốt cơng trình nhằm phân tích các
quy định cũng như thực tiễn áp dụng trong xét xử của Tòa án khi ra quyết định đình
chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Thứ hai, phương pháp so sánh: Tác giả đã so sánh quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 về hậu quả đình
chỉ giải quyết vụ án dân sự; so sánh quy định pháp luật Việt Nam với quy định tương
tự của một số quốc gia trên thế giới như Liên Bang Nga, Trung Quốc. Việc sử dụng
phương pháp này giúp tác giả có thêm những đánh giá khách quan cũng như rút ra
những quan điểm phù hợp cho cơng trình nghiên cứu.
Thứ ba, phương pháp tổng hợp, chứng minh và diễn giải: Tác giả sử dụng
phương pháp này xun suốt trong cơng trình nghiên cứu để thể hiện khái niệm, đặc
điểm, ý nghĩa, nội dung hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Bên cạnh
đó, phương pháp này còn được sử dụng nhằm trình bày các bất cập, vướng mắc của
pháp luật Tố tụng dân sự liên quan đến hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự. Từ đó, đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật.


6


5. Bố cục của khóa luận
Ngồi phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục
của Khóa luận có hai chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề chung và quy định pháp luật về hậu quả của việc đình
chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về hậu quả đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật.


7

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HẬU QUẢ
CỦA VIỆC ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái quát về vụ án dân sự và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
1.1.1 Khái niệm vụ án dân sự
Thuật ngữ “VDAS” là thuật ngữ pháp lý chuyên ngành được sử dụng rộng rãi
trong các văn bản pháp luật Việt Nam. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học
định nghĩa: “Vụ án dân sự là việc phát sinh tại Toà án, thuộc thẩm quyền xét xử về
dân sự của Tòa án, do cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức xã hội
khởi kiện, Viện kiểm sát khởi tố yêu cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình, của Nhà nước, của tập thể hay của người khác”1.
Trước khi BLTTDS ra đời, thuật ngữ trên được đề cập trong ba pháp lệnh về
thủ tục tố tụng. Đầu tiên, Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8 của Hội đồng Nhà nước ngày
07/12/1989 về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, thuật ngữ VADS được dùng để
chỉ những yêu cầu hoặc tranh chấp liên quan đến các vấn đề về tài sản, quyền và
nghĩa vụ trong quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình và lao động thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án (Điều 10). Lúc này, nhà làm luật vẫn chưa quy định riêng cho các
vụ việc liên quan đến kinh tế, do đó thuật ngữ VADS trong giai đoạn này là rộng nhất

bao hàm cả các vấn đề về yêu cầu và tranh chấp trong quan hệ dân sự, hơn nhân gia
đình, kinh tế và lao động. Đến khi Pháp lệnh số 31-L/CTN của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội ban hành ngày 29/3/1994 về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ra đời, nhà
làm luật đã tách các vụ án kinh tế ra khỏi nội hàm của VADS làm cho phạm vi, nội
dung VADS bị thu hẹp đi chỉ còn dùng để chỉ các tranh chấp và u cầu trong quan
hệ dân sự, hơn nhân gia đình và lao động. Năm 1996, Pháp lệnh số 48-L/CTN của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội được ban hành ngày 11/4/1996 về thủ tục giải quyết các
tranh chấp lao động, tranh chấp lao động đã được loại trừ khỏi nội hàm của thuật ngữ
VADS. Một lần nữa, phạm vi, nội dung vụ án dân sự bị thu hẹp và chỉ còn bao gờm
việc có tranh chấp và khơng có tranh chấp trong quan hệ dân sự và hơn nhân gia đình.
Đến năm 2004, các pháp lệnh trước đây đã bị bãi bỏ hiệu lực thi hành, BLTTDS
năm 2004 ra đời đã pháp điển hóa các quy định pháp luật TTDS hiện hành, khắc phục
những hạn chế và sự mâu thuẫn, chồng chéo trong các văn bản pháp luật tố tụng trước
Nguyễn Thị Tuyết Thanh (2014), Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường
Đại học Luật Thành phố Hờ Chí Minh, tr. 6.
1


8

đây. Một số khái niệm, quy định, thủ tục với nhiều nội dung quan trọng đã được bổ
sung, cập nhật. Thuật ngữ VADS đã được định nghĩa lại theo Điều 1 BLTTDS năm
2004 và Điều 1 BLTTDS năm 2015 như sau: “Bộ luật Tố tụng dân sự quy định những
nguyên tắc cơ bản trong Tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để TAND (sau
đây gọi là Tòa án) giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hơn nhân và gia đình,
kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự)”. Theo như
quy định trên, các vụ án về tranh chấp về dân sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động do các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện tại Tòa án được gọi
chung là VADS. Theo Giáo trình Luật TTDS Việt Nam của trường Đại học Luật
Thành phố Hờ Chí Minh khẳng định “VADS phát sinh tại TAND trong trường hợp

cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu giải quyết các tranh chấp về dân sự, hơn
nhân, gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động”2. Hay theo tác giả Đàm Thị Hoa
cho rằng “VADS là các tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức về quyền và
nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động được Tịa án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật
TTDS”3. Các quan điểm trên tuy có khác nhau về góc độ nhìn nhận nhưng nhìn chung
đã phản ánh khá đầy đủ về nội dung khái niệm VADS.
Từ đó, tác giả rút ra khái niệm VADS như sau: “VADS là các tranh chấp về dân
sự, hơn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được Tòa án thụ lý, giải
quyết trên cơ sở đơn khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.
1.1.2 Khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Đình chỉ giải quyết VADS là một trong những quyết định quan trọng mà Tịa
án có thể ban hành để giải quyết vụ án. Xét về góc độ ngữ nghĩa, theo Từ điển Tiếng
Việt: “Đình chỉ là ngừng lại hoặc làm cho phải ngừng lại trong một thời gian hay
vĩnh viễn”4. Theo định nghĩa này, đình chỉ giải quyết VADS được hiểu là quá trình
giải quyết VADS sẽ bị ngừng lại hoàn toàn hoặc trong một khoảng thời gian.
Xét về góc độ pháp lý, theo Từ điển Luật học “Đình chỉ vụ án là một trong
những cách thức cơ quan tiến hành tố tụng kết thúc vụ án khi có những căn cứ do

Trường Đại học Luật Thành phố Hờ Chí Minh (2020), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nhà xuất
bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr. 18-19.
3
Đàm Thị Hoa (2016), Quyền tự do khởi kiện vụ án dân sự theo pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật
học, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 10.
4
Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, tr.324.
2


9


pháp luật quy định”5. Đối với TTDS, thuật ngữ đình chỉ vụ án được dùng với nghĩa
là đình chỉ việc giải quyết vụ án, do đó ta có thể hiểu đình chỉ giải quyết vụ án là một
trong những cách thức cơ quan tiến hành tố tụng kết thúc vụ án khi có những căn cứ
do pháp luật quy định.
Xét về góc độ lý luận, có nhiều tác giả đã đưa ra định nghĩa về đình chỉ giải
quyết VADS. Theo tác giả Hồng Ngọc Thỉnh, “Đình chỉ giải quyết vụ án là việc
Tòa án quyết định ngừng việc giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp
luật quy định”6. Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến, “Đình chỉ giải quyết vụ án là hành
vi tố tụng sau khi thụ lý vụ án của Tịa án có thẩm quyền. Quyết định đình chỉ vụ án
được ban hành khi phát hiện có một trong các căn cứ do pháp luật quy định”7. Cũng
theo tác giả, “Quyết định đình chỉ vụ án là căn cứ làm chấm dứt quá trình giải quyết
vụ án và các đương sự có thể khơng được quyền khởi kiện lại”8. Các khái niệm các
nhà nghiên cứu đưa ra tuy có khác nhau về câu chữ, cách triển khai, nhưng nhìn chung
về bản chất khơng có khác biệt quá lớn và đã phản ánh khá đầy đủ về nội dung và
hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết VADS.
Dựa theo các quan điểm vừa đề cập, có thể thấy đình chỉ giải quyết VADS là
quyết định vai trị rất lớn đối với q trình hoạt động tố tụng của Tịa án. Khi quyết
định đình chỉ được ban hành đồng nghĩa với việc mọi hoạt động tố tụng đang diễn ra
đến thời điểm có quyết định đình chỉ đều sẽ ngừng lại, quá trình giải quyết vụ án sẽ
chấm dứt. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự bởi lẽ đối với một số trường hợp nhất định, quyết định đình chỉ
chấm dứt việc giải quyết vụ án nhưng nội dung tranh chấp của đương sự vẫn chưa
được giải quyết triệt để. Cùng với đó, khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án,
Tịa án sẽ thực hiện việc xóa tên trong sổ thụ lý; nếu có u cầu Tịa án sẽ trả lại đơn
khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự và trong trường hợp này, Tòa án
phải sao chụp và lưu lại để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu.
Trên cơ sở kế thừa và phát triển các kết quả công trình nghiên cứu trước đây có
thể rút ra khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án như sau: “Đình chỉ giải quyết VADS là
quyết định tố tụng làm chấm dứt q trình giải quyết vụ án dân sự của Tịa án có

Viện Khoa học Pháp lý-Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa - Nhà xuất
bản Tư Pháp, tr. 263.
6
Nguyễn Cơng Bình (Chủ biên), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà
xuất bản Công an nhân dân, tr. 274.
7
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tlđd (2), tr. 342.
8
Trường Đại học Luật Thành phố Hờ Chí Minh, tlđd (2), tr. 342.
5


10

thẩm quyền khi có một trong các căn cứ theo pháp luật quy định và khi quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có hiệu lực, đương sự sẽ khơng có quyền khởi kiện
hoặc u cầu Tịa án giải quyết lại vụ việc trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác”.
1.1.3 Đặc điểm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Như đã nêu ở trên, đình chỉ giải quyết VADS là quyết định tố tụng làm chấm
dứt quá trình giải quyết VADS của Tịa án có thẩm quyền khi có một trong các căn
cứ theo pháp luật quy định và khi quyết định đình chỉ giải quyết VADS có hiệu lực,
đương sự sẽ khơng có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ việc trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác. Từ khái niệm trên, có thể rút ra các đặc điểm
của đình chỉ giải quyết VADS như sau:
Thứ nhất, quyết định đình chỉ giải quyết VADS chỉ được ban hành khi Tòa án
đã thụ lý giải quyết vụ án.
Đình chỉ giải quyết vụ án là một quyết định được Tòa án ban hành sau khi vụ
án đã được thụ lý vì sau khi Tịa án thụ lý giải quyết mới hình thành VADS. Lúc này
dựa trên các chứng cứ mà đương sự cung cấp cùng với các hoạt động thu thập, xác

minh chứng cứ, Tòa án xác định được có căn cứ luật định và có quyền ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án; còn ở giai đoạn trước khi thụ lý thì chưa đủ điều kiện để
trở thành VADS nên Tịa án khơng thể ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Thứ hai, đình chỉ giải quyết VADS là quyết định làm chấm dứt việc giải quyết
VADS.
Đặc điểm này được nêu ra nhằm tạo ra sự phân biệt giữa đình chỉ và tạm đình
chỉ giải quyết VADS. Trong khi tạm đình chỉ giải quyết vụ án là việc Tòa án tạm
ngừng thủ tục giải quyết đến khi căn cứ tạm đình chỉ khơng cịn nữa thì vụ án sẽ được
tiếp tục giải quyết theo trình tự thủ tục luật định thì định đình chỉ giải quyết VADS
là việc Tòa án chấm dứt việc giải quyết VADS. Về nguyên tắc, VADS đã được giải
quyết bằng quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì đương sự khơng có quyền khởi
kiện lại nếu vụ án sau khơng có gì khác vụ án trước, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác9.
Thứ ba, đình chỉ giải quyết VADS chỉ được ban hành khi đáp ứng những căn cứ
mà pháp luật quy định.

9

Nội dung này sẽ được phân tích kỹ hơn ở mục 1.3 của Khóa luận này.


11

Vì đình chỉ giải quyết vụ án sẽ làm chấm dứt ngay việc giải quyết vụ án do đó
nếu Tịa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án không trên cơ sở căn cứ theo quy
định của pháp luật TTDS thì sẽ gây ra thiệt hại cho đương sự. Đây là đặc điểm cần
thiết cần đưa ra nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Điều này cịn
nhằm đảm bảo rằng, Thẩm phán khơng thể dựa trên quan điểm cá nhân, phán quyết
thiếu cơ sở mà cần phải căn cứ vào quy định pháp luật để đưa ra quyết định phù hợp
thể hiện được tính cơng bằng, minh bạch, khách quan của Tịa án. Căn cứ đình chỉ

giải quyết vụ án được quy định tại khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, theo đó tại
khoản này liệt kê tám căn cứ đình chỉ giải quyết VADS và một căn cứ đó là “các
trường hợp khác theo quy định của pháp luật”. Khi và chỉ khi thuộc một trong các
căn cứ nêu trên thì Tịa án mới có thể ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS.
Đơn cử như điểm a khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, vụ án sẽ bị đình chỉ
khi có căn cứ nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ
không được thừa kế. Quy định này xuất phát từ việc phát sinh sự kiện pháp lý là
đương sự chết nhưng do đặc thù của quan hệ pháp luật tranh chấp, chẳng hạn như
quan hệ nhân thân, quan hệ cấp dưỡng thì quyền, nghĩa vụ này không thể chuyển giao
cho chủ thể khác nên trong trường hợp này quyền và nghĩa vụ của đương sự đương
nhiên chấm dứt, Tịa án có thẩm quyền đình chỉ giải quyết vụ án.
Thứ tư, thẩm quyền, trình tự thủ tục ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS theo
quy định pháp luật.
Về thẩm quyền, nếu là trước khi mở phiên tịa thì thẩm quyền đình chỉ giải quyết
VADS thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cịn nếu quyết định đình
chỉ được đưa ra tại phiên tịa xét xử thì thẩm quyền ra quyết định thuộc về Hội đồng
xét xử (Điều 112 BLTTDS năm 2015).
Về trình tự thủ tục, tại cấp sơ thẩm, khi có căn cứ đình chỉ vụ án, Tịa án ban
hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Tại cấp phúc thẩm, khi đình chỉ giải quyết
VADS thì Hội đờng xét xử phúc thẩm phải ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và đình
chỉ giải quyết vụ án. Đối với thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, khi đình chỉ giải quyết vụ án thì Tịa án
hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cùng với việc đình chỉ giải quyết vụ
án.
Do đó, tùy thuộc vào từng thời điểm ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án mà
trình tự, thủ tục cũng như các quy định về thẩm quyền ra quyết định sẽ khác nhau,


12


bắt buộc Tòa án phải tuân thủ để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự cũng như đảm bảo quy trình tố tụng thống nhất tại các cấp xét xử.
1.2 Khái quát về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
1.2.1 Khái niệm hậu quả đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Như đã nêu ở trên, đình chỉ giải quyết VADS là quyết định tố tụng làm chấm
dứt quá trình giải quyết VADS của Tịa án có thẩm quyền khi có một trong các căn
cứ theo pháp luật quy định và khi quyết định đình chỉ giải quyết VADS có hiệu lực,
đương sự sẽ khơng có quyền khởi kiện hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ việc trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác. Theo đó, khi có quyết định đình chỉ giải quyết
vụ án thì vụ án sẽ chấm dứt các quy trình tố tụng và một số hậu quả sẽ phát sinh.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Hậu quả là kết quả không hay về sau”10. Theo từ
điển Luật học: “Hậu quả pháp lý là kết cục tất yếu sẽ dẫn đến mà cá nhân, tổ chức
phải gánh chịu trong trường hợp vi phạm pháp luật”11. Như vậy, có thể hiểu hậu quả
của việc đình chỉ giải quyết VADS là kết quả tất yếu xảy ra cho đương sự, những chủ
thể có liên quan và Tòa án trong trường hợp có quyết định đình chỉ giải quyết VADS.
Tùy thuộc vào từng trường hợp, căn cứ đình chỉ mà hậu quả của đình chỉ giải quyết
VADS có thể bất lợi hoặc có lợi cho đương sự. Về bản chất, như đã trình bày ở trên,
đình chỉ giải quyết vụ án là một trong những phương thức làm chấm dứt việc giải
quyết vụ án tại Tòa án, các đương sự cũng như Tòa án không mất thời gian, công sức,
tiền của để tham gia tố tụng kéo dài. Bên cạnh đó, chẳng hạn, về xử lý tiền tạm ứng
án phí khi Tòa án đình chỉ giải quyết VADS thì tùy từng trường hợp mà tiền tạm ứng
án phí được sung vào công quỹ nhà nước hoặc được trả lại cho đương sự. Do đó,
khơng phải mọi trường hợp hậu quả đình chỉ giải quyết VADS là hồn tồn bất lợi
đối với các đương sự, Tòa án hay các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Vậy theo những phân tích trên ta có thể đưa ra khái niệm như sau: Hậu quả của
việc đình chỉ giải quyết VADS là kết quả tất yếu xảy ra từ việc đình chỉ giải quyết
VADS, đó có thể là những hậu quả có lợi hoặc bất lợi cho đương sự, Tịa án, cơ quan,
tổ chức, cá nhân có liên quan.
1.2.2 Đặc điểm của hậu quả đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Thứ nhất, đây là loại hậu quả pháp lý, có tác động trực tiếp đến q trình giải

quyết VADS.

10
11

Viện ngôn ngữ học, tlđd (4), tr. 431.
Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp lý, tlđd (5), tr. 325.


13

Khi quyết định đình chỉ giải quyết VADS thì Tịa án sẽ không thực hiện bất kỳ
hoạt động tố tụng nào nữa. Tịa án sẽ thực hiện việc xóa tên vụ án trong sổ thụ lý và
trả lại đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ (nếu có) theo yêu cầu từ đương sự và trong
trường hợp đó, Tịa án phải lưu chụp lại để làm cơ sở giải quyết kháng cáo, kháng
nghị nếu có yêu cầu về sau.
Thứ hai, đây là kết quả từ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Đình chỉ giải quyết VADS xảy ra trước và là nguyên nhân dẫn đến những hậu
quả của việc đình chỉ giải quyết VADS. Giữa chúng có mối quan hệ nhân quả, hậu
quả đình chỉ giải quyết VADS là hệ quả phát sinh từ việc ra quyết định đình chỉ giải
quyết VADS. Hậu quả đình chỉ giải quyết VADS là kết quả mà đương sự cũng như
cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân theo khi quyết định đình chỉ giải quyết vụ án được
ban hành và có hiệu lực pháp luật.
Thứ ba, hậu quả đình chỉ giải quyết vụ án vừa mang tính tích cực vừa mang tính
tiêu cực.
Vì đình chỉ giải quyết vụ án xuất phát từ nhiều căn cứ luật định khác nhau. Do
đó, trong một số trường hợp hậu quả nó mang lại có lợi cho đương sự nhưng một số
trường hợp lại gây ra sự bất lợi. Như trường hợp Tịa án đình chỉ giải quyết VADS
do người khởi kiện rút yêu cầu khởi kiện theo điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS
năm 2015 thì hậu quả về việc xử lý tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp sẽ được

trả lại cho họ nhưng nếu quyết định đình chỉ giải quyết vụ án vì nguyên đơn đã được
triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217
Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí sẽ được sung vào cơng quỹ nhà nước và đương sự
sẽ không được nhận lại khoản tiền tạm ứng đã nộp. Do đó, việc xác định hậu quả của
đình chỉ giải quyết VADS là có lợi hay bất lợi với đương sự thì cần xem xét đến căn
cứ đình chỉ giải quyết VADS.
1.2.3 Ý nghĩa của hậu quả đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Hậu quả đình chỉ giải quyết VADS được ghi nhận cụ thể tại Điều 218 BLTTDS
năm 2015, điều này cho thấy hậu quả đình chỉ giải quyết VADS có vai trò quan trọng,
ý nghĩa to lớn trong việc giải quyết VADS.
Thứ nhất, việc quy định hậu quả có thể xảy ra khi quyết định đình chỉ VADS
được ban hành sẽ giúp người dân có cái nhìn bao qt hơn, hệ thống hơn các hậu quả
có thể phát sinh, từ đó giúp đương sự, chủ thể khác có liên quan cũng như cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nắm rõ những kết quả có thể xảy ra khi


14

đình chỉ giải quyết VADS. Trên cơ sở đó, đương sự có thể cân nhắc, đưa ra lựa chọn
phù hợp với nhu cầu của mình; cơ quan tiến hành tố tụng, chủ thể khác có liên quan
có thể đưa ra các quyết định phù hợp với quy định của pháp luật.
Thứ hai, quy định về hậu quả đình chỉ giải quyết VADS cũng giúp Tòa án tiết
kiệm được thời gian, công sức tiến hành tố tụng khi quy định cụ thể đương sự khi nào
không được quyền khởi kiện lại VADS và khi nào vẫn có quyền khởi kiện đối với vụ
án đã được ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án trước đó. Điều này giúp
Tịa tinh giảm được lượng vụ án cần xem xét giải quyết, tạo điều kiện cho Tịa án có
thể tập trung xử lý các vụ án khác, nâng cao chất lượng, hiệu quả xét xử.
Thứ ba, hậu quả đình chỉ giải quyết VADS có ý nghĩa làm chấm dứt q trình
tố tụng tại Tòa án. Lúc này, VADS đã được giải quyết bằng quyết định đình chỉ giải
quyết vụ án. Và như vậy, sẽ khơng cịn lý do để Tịa án tiếp tục tiến hành tố tụng,

đương sự hay những người tham gia tố tụng khác tiếp tục tham gia tố tụng. Trường
hợp này, yêu cầu của đương sự sẽ không được Tịa án xem xét giải quyết và trở lại
tình trạng ban đầu như trước khi đương sự khởi kiện.
Thứ tư, hậu quả đình chỉ giải quyết VADS có ý nghĩa bảo đảm quyền tự định
đoạt của đương sự. Theo đó “Quyền tự định đoạt của đương sự trong TTDS là quyền
tố tụng được quy định trong pháp luật TTDS, theo đó đương sự thể hiện tự do ý chí
của mình bằng việc tự mình lựa chọn quyết định các hành vi tố tụng nhằm bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự”12. Hậu
quả đình chỉ giải quyết vụ án có ý nghĩa bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự
thông qua việc quy định đương sự có thể thực hiện kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm
nếu xét thấy căn cứ ra quyết định đình chỉ giải quyết VADS khơng đúng theo quy
định pháp luật hoặc làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
“Hành vi kháng cáo của đương sự sẽ mở ra thủ tục phúc thẩm và đây là một trong
những quyền tự định đoạt thuộc về đương sự”13. Bên cạnh đó, nhà làm luật còn quy
định về quyền khởi kiện của đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án trong một
số trường hợp nhất định. Khi nhận thấy vụ án bị đình chỉ chưa giải quyết được yêu
cầu cũng như quyền lợi của mình thì đương sự có quyền khởi kiện lại, đây cũng là
một quy định thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự.
Nguyễn Anh Đức, Quyền tự định đoạt của đương sự và thực tiễn áp dụng tại các Tòa án nhân dân tỉnh Sơn
La,
/>12/3/2023.
13
Đinh Kim Huệ (2013), Quyền tự định đoạt của đương sự trong Tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hờ Chí Minh, tr. 63.
12


15

1.3 Quy định pháp luật về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

1.3.1 Quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án của đương sự
Tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS năm 2015 quy định: “Khi có quyết định đình
chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự khơng có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải
quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau khơng có gì khác với vụ án
trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy
định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường
hợp khác theo quy định của pháp luật”. Khi vụ án đã bị đình chỉ giải quyết, theo quy
định chung, đương sự sẽ khơng được quyền khởi kiện u cầu Tịa án giải quyết lại
VADS đó nếu việc khởi kiện vụ án sau khơng có gì khác với vụ án trước về nguyên
đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp. Tuy nhiên, quy định này cũng có
ngoại lệ, trong một số trường hợp pháp luật cho phép, các đương sự có quyền khởi
kiện u cầu Tịa án giải quyết lại VADS đó khi thuộc trường hợp quy định tại khoản
3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 và các trường hợp khác
theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 192 BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc
trả lại đơn khởi kiện, tại khoản 3 quy định các trường hợp đương sự có quyền nộp
đơn khởi kiện lại như sau: “Người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân
sự; Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi
thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di
sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn,
đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tịa án
chưa chấp nhận u cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
Đã có đủ điều kiện khởi kiện; Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”14.
Đây là một số trường hợp mà việc khởi kiện trước đó đã khơng được Tịa án thụ lý
giải quyết vì khơng đáp ứng được các yêu cầu theo quy định pháp luật và hiện tại đã
khắc phục, đáp ứng điều kiện thụ lý đơn hoặc vụ việc đã được Tòa án giải quyết bằng
bản án, quyết định đã có hiệu lực mà pháp luật cho phép đương sự được quyền khởi
kiện lại. Do đó, trong những trường hợp này, đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện
lại để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Ví dụ thứ nhất: Theo bản án số 37/2018/HNGĐ-ST ngày 29/5/2018 về tranh

chấp Hôn nhân gia đình, ly hơn và ni con của TAND thành phố C, tỉnh Đ có nội
14

Theo khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015.


16

dung sau: “Tháng 10/2017 chị N nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, anh T đến xin chị N
cho anh T cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng để cùng ni dưỡng chăm sóc con chung.
Chị N đồng ý cho anh T cơ hội hàn gắn tình cảm nên hai lần nộp đơn đều rút đơn
khởi kiện được Tòa án ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số
150/2017/QĐST-HNGĐ ngày 22/11/2017 và Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số
01/2018/QĐST-HNGĐ ngày 15/01/2018”15. Theo đó, chị N đã nộp đơn xin ly hôn và
khi đã rút đơn thì Tòa án ban hành quyết định đình chỉ vụ án. Sau đó chị có u cầu
ly hơn thì vẫn được Tòa chấp nhận và giải quyết lại theo thủ tục.
Ngồi ra khi có căn cứ trong trường hợp sau thì đương sự vẫn được quyền khởi
kiện lại VADS khi bị Tịa án ban hành quyết định đình chỉ: “Người khởi kiện rút toàn
bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn
vắng mặt”16. Liên quan đến quy định về “rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện”, thuật ngữ
này được nhà làm luật quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015
nhằm thay thế cho “rút đơn khởi kiện” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192
BLTTDS năm 2004. Việc thay đổi này là phù hợp và cần thiết bởi “Việc thụ lý giải
quyết vụ án của Tịa án xuất phát từ việc đương sự có u cầu khởi kiện cịn đơn khởi
kiện chỉ là hình thức chứa đựng các yêu cầu khởi kiện đó”17. Xét về mặt nội hàm thì
thuật ngữ “rút tồn bộ u cầu khởi kiện” cho chúng ta kết quả chính xác hơn về mặt
nội dung cũng như ý nghĩa khái quát của chúng. Khi thuộc một trong hai căn cứ của
điều luật trên, đương sự vẫn được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ
án là phù hợp. Bởi lẽ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi ban hành trong trường
hợp này chỉ giải quyết được về hình thức rằng bản án sẽ chấm dứt hoạt động tố tụng

nhưng về mặt nội dung bản án, quyền và nghĩa vụ của đương sự vẫn chưa được đảm
bảo thực hiện. Việc người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, đây là quyền của
nguyên đơn, pháp luật đã trao quyền tự định đoạt cho đương sự nhằm tạo điều kiện
cho đương sự tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trường hợp ngun đơn
đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nhưng khơng vì sự kiện bất khả
kháng hay có lý do chính đáng, vụ án bị đình chỉ trong trường hợp này là do nguyên
đơn vi phạm thủ tục tố tụng. Do đó, xét về nội dung, vụ án vẫn chưa được xử lý,
quyền và nghĩa vụ các bên đương sự chưa được thực hiện. Chính vì những lý do trên,
Phụ lục số 01: Bản án số 37/2018/HNGĐ-ST ngày 29/5/2018 của TAND thành phố C, tỉnh Đ.
Theo điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015.
17
Đinh Kim Dung (2019), Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án cấp sơ thẩm và thực tiễn thực hiện tại
Tòa án nhân dân Thành phố Bắc Kạn, Tỉnh Bắc Kạn, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà
Nội, tr. 63.
15
16


17

khi vụ án bị đình chỉ giải quyết vì người khởi kiện đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện
hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nhưng sau đó
đương sự nhận thấy quyền và lợi ích hợp pháp chưa được đảm bảo thì có quyền khởi
kiện u cầu Tịa án giải quyết lại VADS.
Ví dụ thứ hai: Quyết định đình chỉ giải quyết VADS số 04/2023/QĐST-HNGĐ
ngày 21/02/2023 của TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xác định căn cứ đình
chỉ giải quyết vụ án do nguyên đơn rút toàn bộ đơn khởi kiện theo quy định tại điểm
c khoản 1 Điều 217 BLTTDS. Phần tuyên hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án
Tòa án xác định “nguyên đơn có quyền khởi kiện lại”18. Do đó khi vụ án đã bị đình
chỉ giải quyết theo căn cứ tại điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, nếu nhận

thấy quyền và lợi ích hợp pháp chưa được đảm bảo thì đương sự có quyền khởi kiện
u cầu Tịa án giải quyết lại VADS.
Tại các nước, thủ tục đình chỉ VADS cũng được xây dựng trong pháp luật
TTDS. Cụ thể:
Trong pháp luật TTDS Trung Quốc, vụ án sẽ bị đình chỉ giải quyết khi có căn
cứ theo Điều 154 BLTTDS Trung Quốc19. Các căn cứ đình chỉ được đưa ra đều liên
quan đến việc một trong các đương sự chết, quyền và nghĩa vụ của họ không được
thừa kế, quy định này có phần tương tự với pháp luật Việt Nam. Hậu quả của việc
đình chỉ giải quyết vụ án trong pháp luật tố tụng Trung Quốc không được quy định
trong một điều luật cụ thể mà cần phải tìm hiểu trong các điều luật liên quan. Xét về

18

Phụ lục số 02: Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 04/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21/02/2023 của

Tòa phúc thẩm TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
19

Nguyên văn: 第一百五十四条

有下列情形之一的,终结诉讼:(一)原告死亡,没有继承人,或者

继承人放弃诉讼权利的;(二)被告死亡,没有遗产,也没有应当承担义务的人的;(三)离婚案件一
方当事人死亡的;(四)追索赡养费、扶养费、抚养费以及解除收养关系案件的一方当事人死亡的。
Tạm dịch: Điều 154. Khi thuộc một trong các trường hợp sau đây thì vụ kiện đình chỉ:
(1) Ngun đơn đã chết khơng có người thừa kế, hoặc người thừa kế từ bỏ quyền khởi kiện;
(2) Bị đơn đã chết, khơng có di sản, khơng có người phải chịu nghĩa vụ;
(3) Một bên trong vụ án ly hôn chết;
(4) Một trong các bên liên quan đến vụ án yêu cầu cấp dưỡng, cấp dưỡng nuôi con, chấm dứt quan hệ nuôi con
nuôi chết.

19/3/2023.


18

quyền khởi kiện lại, theo khoản 7 Điều 127 BLTTDS Trung Quốc20 có đề cập đến
việc nếu khơng có tình tiết mới, lý do mới mà trong thời hạn sáu tháng, ngun đơn
khởi kiện lại thì khơng được thụ lý. Theo đó, nguyên đơn chỉ được khởi kiện lại vụ
án khi xác định được bản án đã được giải quyết có tình tiết mới hoặc ngun đơn đưa
ra được lý do mới cho việc khởi kiện lại vụ án của mình. Đây là điểm khác biệt so
với quy định về quyền khởi kiện lại vụ án của Việt Nam. Bản chất quy định pháp luật
Việt Nam về quyền khởi kiện lại vụ án chỉ yêu cầu cần có sự khác biệt về tư cách
đương sự cũng như quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp. Tuy nhiên những điều
kiện này chỉ là yêu cầu về hình thức bản án. Thực chất về nội dung bản án, khi đương
sự đưa ra thêm những lý do mới, tình tiết mới cho việc giải quyết vụ án thì có được
quyền khởi kiện lại vụ án hay không vẫn chưa lý giải rõ. Do đó pháp luật Việt Nam
có thể tham khảo, học hỏi nội dung quy định trên của Trung Quốc.
Trong BLTTDS của Liên Bang Nga quy định về các căn cứ đình chỉ giải quyết
vụ án có phần tương tự với Việt Nam. Tuy nhiên quy định về hậu quả pháp lý của
đình chỉ giải quyết vụ án lại có phần khác biệt. Theo Điều 221 BLTTDS Liên Bang
Nga quy định: “Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án quy định rõ khơng
được khởi kiện đến Tịa án về tranh chấp giữa các bên khi cùng chủ đề và cùng căn
cứ, trừ trường hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm người theo thủ
tục quy định tại khoản 7 Điều 244.24 của Bộ luật này”21.
Về thủ tục chung, pháp luật TTDS Liên Bang Nga và pháp luật tố tụng Việt nam
đều có quy định đương sự sẽ khơng được khởi kiện u cầu Tịa án giải quyết lại vụ
án đó nếu khơng có sự khác biệt về chủ đề, căn cứ khởi kiện. Tuy nhiên có trường
hợp ngoại lệ, đương sự có quyền khởi kiện lại vụ án đó, nhưng quy định của Việt

20


Nguyên văn:(七)判决不准离婚和调解和好的离婚案件,判决, 调解维持收养关系的案件,没有新

情况、新理由,原告在六个月内又起诉的,不予受理.
Tạm dịch: (7) Nếu khơng có tình tiết mới, lý do mới mà trong thời hạn sáu tháng mà nguyên đơn khởi kiện lại
thì khơng được thụ lý.
19/3/2023.
21
Ngun văn: Article 221. Procedure and effects of suit abatement
Proceeedings stop determination of court in which it is specified that repeated appeal to the court on dispute
between the same parties, about the same subject and of the same bases is not allowed, except for suit
abatements about protection of the rights and legitimate interests of group of persons according to the
procedure, established by part seven of Article 244.24 of this Code.
20/3/2023.


19

Nam và Liên bang Nga lại xác định khác nhau. Theo quy định pháp luật tố tụng Việt
Nam, ngoại lệ được đặt ra trong trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi
kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thuộc
điểm c khoản 1 Điều 127 hoặc thuộc trường hợp đương sự được quyền nộp đơn khởi
kiện lại theo khoản 3 Điều 192 và các trường hợp khác theo quy định của BLTTDS
năm 2015, còn theo quy định BLTTDS Liên Bang Nga, trường hợp được phép khởi
kiện lại vụ án thuộc khoản 7 Điều 244.24. Theo đó khi vụ án bị đình chỉ giải quyết
theo căn cứ thuộc khoản 7 Điều 244.24 rằng “nguyên đơn đại diện cho quyền và lợi
ích của nhóm người nộp đơn từ bỏ quyền đại diện đó và khơng có người chỉ định thay
thế thì khi vụ án bị đình chỉ, những người thuộc nhóm người nhằm bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của nhóm bị xâm phạm hoặc có tranh chấp phát sinh thì được quyền
khởi kiện lại theo thủ tục của Bộ luật này quy định”22. Đây là một quy định nằm trong

một chương riêng của BLTTDS Liên Bang Nga về thủ tục xét xử vụ án nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của nhóm người. Khi tiến hành xét xử theo thủ tục này sẽ
giúp cho Tòa án giảm thiểu được số vụ án cần phải giải quyết nếu tách riêng từng vụ
án cụ thể, khi đáp ứng được các tiêu chí luật định thì u cầu khởi kiện của các nguyên
đơn sẽ được tập hợp lại và thực hiện theo thủ tục giải quyết vụ án nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của nhóm người. Thủ tục liên quan đến vụ án bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của nhóm người là thủ tục phát sinh trong pháp luật TTDS Liên Bang
Nga, pháp luật Việt Nam chưa có quy định nào liên quan đến nội dung này. Do đó,
Việt Nam có thể học hỏi, đúc kết kinh nghiệm, nếu có thể áp dụng được vào thực tiễn
thì sẽ giảm bớt gánh nặng xét xử cho Tòa án đối với những trường hợp tương tự.
Từ việc tìm hiểu quy định pháp luật của các quốc gia trên thế giới, tùy vào cách
nhìn nhận và tư tưởng lập pháp của từng quốc gia mà việc quy định về hậu quả đình
chỉ giải quyết vụ án có phần khác nhau nhưng mục đích chung của việc quy định này
22

Nguyên văn: If person who processes the case in interests of group of persons which submitted the

declaration of abandonment of the claim will perform all necessary operations according to the notification of
persons who joined the requirement about protection of the rights and legitimate interests of group of persons,
but specified persons during the term established by court will not make replacement of such person with other
person, the court accepts abandonment of claim and stops proceedings about protection of the rights and
legitimate interests of group of persons according to the procedure, stipulated in Clause 221 of this Code. Suit
abatement about protection of the rights and legitimate interests of group of persons does not deprive of persons
from this group of the right to take a legal action behind protection of the violated or disputed rights and
legitimate interests according to the procedure, established by this Code.
20/3/2023.


×