BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG THỊ PHI HÂN
ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG THỦ TỤC RÚT GỌN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 06 - NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG THỊ PHI HÂN
ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG THỦ TỤC RÚT GỌN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
GVHD: THS. PHAN NGUYỄN BẢO NGỌC
TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 06 - NĂM 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan Khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Điều kiện áp dụng thủ tục
rút gọn trong tố tụng dân sự” là cơng trình nghiên cứu do chính tác giả thực hiện dưới
sự hướng dẫn của Thạc sĩ Phan Nguyễn Bảo Ngọc. Tất cả thông tin và tài liệu được
sử dụng trong khóa luận này đều được tác giả ghi chú và trích dẫn đầy đủ. Tác giả
xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 6 năm 2023
Tác giả
TRƯƠNG THỊ PHI HÂN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS năm 2015
TỪ ĐƯỢC VIẾT TẮT
Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 do
Quốc hội ban hành ngày 25 tháng 11 năm
2015.
2
BLTTDS
Bộ luật Tố tụng dân sự
3
TTDS
Tố tụng dân sự
4
TTRG
Thủ tục rút gọn
5
VADS
Vụ án dân sự
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG THỦ TỤC
RÚT GỌN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ.................................................................. 6
1.1. Khái quát chung về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự .............................. 6
1.1.1. Khái niệm thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự ............................................ 6
1.1.2. Đặc điểm thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự ............................................. 8
1.1.3. Ý nghĩa thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự .............................................. 11
1.2. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự .............................. 14
1.2.1. Kinh nghiệm quy định điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
của một số quốc gia ............................................................................................. 14
1.2.2. Sơ lược quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong lịch sử tố tụng
dân sự Việt Nam................................................................................................... 19
1.2.3. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 ............................................................................................................. 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ......................................................................................... 27
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG THỦ TỤC RÚT GỌN
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ................................................................................... 28
2.1. Tình hình thực tiễn về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân
sự hiện nay ............................................................................................................. 28
2.2. Thực trạng về điều kiện vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ
ràng ........................................................................................................................ 30
2.2.1. Thực tiễn về điều kiện vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng
............................................................................................................................ 30
2.2.2. Kiến nghị hoàn thiện điều kiện về vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp
luật rõ ràng .......................................................................................................... 33
2.3. Thực trạng về điều kiện đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ........................... 35
2.3.1. Thực tiễn về điều kiện đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ ............................. 35
2.3.2. Kiến nghị hoàn thiện điều kiện đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ................ 40
2.4. Thực trạng về điều kiện tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải
quyết vụ án và Tịa án khơng phải thu thập tài liệu, chứng cứ ........................... 42
2.4.1. Thực tiễn về điều kiện tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải
quyết vụ án và Tịa án khơng phải thu thập tài liệu, chứng cứ .............................. 42
2.4.2. Kiến nghị hoàn thiện về điều kiện tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn
cứ để giải quyết vụ án và Tịa án khơng phải thu thập tài liệu, chứng cứ.............. 44
2.5. Điều kiện giá ngạch áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự ............. 45
2.5.1. Sự cần thiết bổ sung quy định điều kiện giá ngạch trong áp dụng thủ tục rút
gọn....................................................................................................................... 45
2.5.2. Định hướng xây dựng điều kiện giá ngạch trong áp dụng thủ tục rút gọn ... 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ......................................................................................... 49
KẾT LUẬN CHUNG................................................................................................ 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 51
PHỤ LỤC .................................................................................................................. 56
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Đảng Cộng sản Việt Nam, công cuộc cải cách
tư pháp ở nước ta đã và đang đạt được những thành tựu nhất định. Trong lĩnh vực tố tụng
dân sự, việc ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 với nhiều quy định đổi mới trong
quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đã góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
và uy tín của Tịa án. Sự đổi mới phải kể đến là việc quy định về thủ tục rút gọn trong tố
tụng dân sự, đây là một bước chuyển biến mang tính cải cách quan trọng, được hy vọng
sẽ giải quyết thực tiễn xét xử của ngành Tịa án trong thời gian qua khi khơng ít những
vụ việc dân sự đã bị giải quyết kéo dài, gây mất niềm tin nghiêm trọng của một số bộ
phận nhân dân về ngành tư pháp Việt Nam.
Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự được xem là một thành công trong hoạt động
lập pháp, là tiền đề xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự linh hoạt, mềm dẻo,
nhanh chóng, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nhu
cầu hội nhập kinh tế, hợp tác quốc tế sâu rộng. Tuy nhiên, thủ tục rút gọn là một chế định
chỉ mới được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, do đó thực tiễn xét xử tại
Tịa án cho thấy thủ tục rút gọn vẫn chưa được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn tố tụng
dân sự. Một nguyên nhân cần được đề cập là vướng mắc ở quy định về điều kiện áp dụng
thủ tục rút gọn. Một tranh chấp dân sự có thể được áp dụng thủ tục rút gọn hay khơng
hồn tồn phụ thuộc vào việc tranh chấp có đáp ứng các điều kiện để áp dụng thủ tục rút
gọn và quy định về thời điểm áp dụng thủ tục rút gọn hay không.
Quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự sau khi được ban hành và có hiệu
lực thi hành đã bộc lộ nhiều hạn chế liên quan đến điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn.
Thứ nhất, quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn chưa thật sự cụ thể, chưa có
văn bản hướng dẫn chi tiết, khiến Thẩm phán thụ lý vụ án có nhiều cách hiểu và áp dụng
khác nhau đối với những vụ việc có tình tiết tương tự. Thứ hai, một tranh chấp cần có
đủ tất cả các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 317 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
thì mới được áp dụng thủ tục rút gọn, quy định này thiếu tính linh hoạt, mềm dẻo, làm
thu hẹp khả năng được áp dụng thủ tục rút gọn của các tranh chấp dân sự.
1
Nhận thấy được bất cập đó, tác giả đã chọn đề tài “Điều kiện áp dụng thủ tục rút
gọn trong tố tụng dân sự” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Tác giả hy vọng đề
tài sẽ cung cấp cho người đọc những thơng tin khái qt, góc nhìn khách quan, đa chiều
về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong Tố tụng dân sự cũng như những bất cập còn
tồn đọng trong thực tiễn xét xử. Qua đó, tác giả có thể góp phần đưa ra những đề xuất để
hoàn thiện quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự.
2.
Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng
dân sự”, tác giả tiến hành nghiên cứu một số cơng trình tiêu biểu để có hiểu biết toàn
diện, khách quan nhất về đề tài nghiên cứu, bao gồm:
(i)
Sách chuyên khảo
- Đặng Thanh Hoa (2016), “Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự”, Nhà xuất bản
Hồng Đức. Tác giả đã đưa ra một hệ thống các thông tin về những vấn đề lý luận và thực
tiễn liên quan đến thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự cũng như những góc nhìn về từ
kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xét xử và đề xuất xây dựng cơ chế thủ tục rút gọn.
- Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), “Bình luận khoa học về những điểm mới trong
bộ luật tố tụng dân sự năm 2015”, Nhà xuất bản Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí
Minh. Tác giả tập trung phân tích những hạn chế, bất cập về lý luận và thực tiễn liên
quan đến điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn. Ngoài ra, tác giả phân tích một số quy định
điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Nhật
Bản và so sánh với pháp luật Việt Nam.
- Trần Anh Tuấn (2017), “Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015”,
Nhà xuất bản Tư pháp. Tác giả tổng kết một số quan điểm về thủ tục rút gọn nói chung
và điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn nói riêng trên cơ sở các cơng trình nghiên cứu mình
đã xây dựng trong tồn bộ quá trình khởi thảo quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng
dân sự và so sánh đối chiếu với quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
(ii) Các cơng trình được thực hiện ở quy mơ luận án, luận văn, khóa luận tốt
nghiệp
- Đặng Thanh Hoa (2014), “Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học
Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Cơng trình nổi bật với nội dung phân tích thực tiễn giải
2
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại làm cơ sở cho việc xây dựng chế định thủ tục
rút gọn giải quyết tranh chấp dân sự nói chung và tranh chấp kinh doanh thương mại nói
riêng.
- Phạm Hồng Quảng (2021), “Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự Việt Nam”, Luận
văn Thạc sĩ, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn nghiên cứu thực tiễn các
quy định về thủ tục rút gọn, đánh giá tính hợp lý của các quy định với mục tiêu, vai trò
và yêu cầu khách quan của xã hội đối với thủ tục rút gọn. Tác giả cũng đề xuất một số
giải pháp hoàn thiện quy định thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự.
- Phạm Bá Sơn (2014), “Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự”, Khóa luận tốt nghiệp,
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Cơng trình phân tích, nghiên cứu các quy
định hiện hành về giải quyết các vụ việc dân sự ở Việt Nam và kinh nghiệm của các
nước trên thế giới về thủ tục rút gọn, xây dựng các cơ sở lý luận khoa học quy định về
thủ tục rút gọn trong hoạt động tố tụng dân sự phù hợp với tình hình Việt Nam.
(iii) Các bài viết tạp chí chun ngành
- Trương Hịa Bình (2014), “Vấn đề áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử và thành
lập Tòa giản lược trong hệ thống Tịa án nhân dân”, Tạp chí Tịa án nhân dân số 04/2014.
Bài viết khái quát về đặc điểm, ý nghĩa của thủ tục rút gọn, lịch sử lập pháp liên quan tại
Việt Nam cũng như đề cập đến mơ hình Tòa án giản lược tại Nhật Bản, Cộng hòa Pháp
và đề xuất thành lập tòa án giản lược tại Việt Nam.
- Vũ Gia Trưởng (2018), “Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự và
những vướng mắc trong thực tiễn thi hành”, Tạp chí Nghề luật số 02/2018. Tác giả đề
cập và phân tích những vướng mắc liên quan đến quy định về điều kiện áp dụng thủ tục
rút gọn, thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn tại một số Tòa án và đưa ra một số kiến nghị
hoàn thiện.
- Đào Thị Xuân Quỳnh, Phùng Thị Hoàn (2021), “Một số vấn đề về giải quyết vụ án
dân sự theo thủ tục rút gọn và kiến nghị hồn thiện Tịa án nhân dân”, Tạp chí Tịa án
Nhân dân, Số 11/2021. Nhóm tác giả tập trung phân tích, chỉ ra hạn chế, vướng mắc liên
quan đến thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự trên thực tiễn và đưa ra một số đề xuất,
kiến nghị.
Trước năm 2015 đã có rất nhiều cơng trình nghiên cứu về thủ tục rút gọn trong tố
tụng dân sự dưới quy mơ luận văn, luận án, khóa luận, bài viết trên tạp chí chuyên
3
ngành,… nhằm định hướng xây dựng quy định về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự.
Nhóm cơng trình nghiên cứu trên đã được thực hiện cách thời điểm hiện tại khá lâu và
không dựa trên thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn tại Tòa án.
Sau khi các quy định về thủ tục rút gọn có hiệu lực áp dụng, hiện nay vẫn chưa có
các cơng trình nghiên cứu chuyên sâu về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng
dân sự, quan điểm của một số chuyên gia trong lĩnh vực tố tụng dân sự về bất cập và
định hướng hoàn thiện quy định điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn vẫn còn nhiều mâu
thuẫn. Do đó, việc tổng kết, đánh giá, nghiên cứu chuyên sâu về điều kiện áp dụng thủ
tục rút gọn trong tố tụng dân sự là hết sức cần thiết.
3. Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, làm sáng tỏ cơ sở lý luận, quy định pháp luật cũng như sơ lược lịch sử
quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam;
Thứ hai, phân tích thực tiễn áp dụng thủ tục rút gọn tại Tòa án Việt Nam và các
quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo pháp luật của một số quốc gia trên
thế giới như Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Cộng Hòa Pháp, Nhật Bản,…. Từ đó có góc
nhìn sâu sắc, tồn diện nhằm so sánh, đề ra những phương hướng phù hợp giúp hoàn
thiện quy định pháp luật Việt Nam về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng
dân sự.
4.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài
Về đối tượng nghiên cứu, tác giả nghiên cứu chuyên sâu những quy định của pháp
luật tố tụng dân sự về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn cũng như thực tiễn áp dụng thủ
tục rút gọn trong giải quyết các vụ án dân sự tại Việt Nam.
Về phạm vi nghiên cứu, tác giả tập trung phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến
điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015. Tác giả tiến hành phân tích các vấn đề lý luận như khái niệm, đặc
điểm, ý nghĩa nhằm đảm bảo có góc nhìn khách quan, toàn diện về thủ tục rút gọn và
tiến hành nghiên cứu điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Nhật Bản và Cộng hòa Pháp làm cơ sở để kiến nghị hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự.
4
5.
Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đảm bảo mục tiêu và hiệu quả nghiên cứu, tác giả chủ yếu sử dụng các
phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp lịch sử: Tìm hiểu lịch sử hình thành và phát triển của điều kiện áp
dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự tại Việt Nam. Hiểu rõ về lịch sử phát triển sẽ
là tiền đề vững chắc giúp tác giả định hướng nghiên cứu các quy định liên quan đến điều
kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự tại Việt Nam.
- Phương pháp phân tích: Tác giả tiến hành phân tích các quy định của pháp luật tố
tụng dân sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tịa án thơng qua hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật, bản án của Tịa án, cơng trình nghiên cứu khoa học, luận văn,
luận án.... liên quan đến điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự.
- Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở thơng tin đã tìm được, tác giả tổng hợp thành
hệ thống các quan điểm, tiến hành phân loại và đánh giá để đưa ra những đề xuất phù
hợp về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự.
- Phương pháp so sánh luật học: Tác giả tìm hiểu, so sánh các quy định về điều kiện
áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự tại một số quốc gia trên cơ sở tồn tại sự
tương thích về điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội,... với Việt Nam để đúc kết những kinh
nghiệm mà pháp luật Việt Nam có thể học hỏi từ những quốc gia đó.
6.
Kết cấu khóa luận
Chương 1. Những vấn đề lý luận về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố
tụng dân sự
Chương 2. Thực trạng về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
hiện nay
5
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG THỦ
TỤC RÚT GỌN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Khái quát chung về thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
1.1.1. Khái niệm thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
TTRG được quy định chính thức lần đầu tiên tại BLTTDS 2015. Tuy nhiên, pháp
luật các quốc gia trên thế giới đã sớm tồn tại quy định về TTRG trong TTDS. Khái niệm
TTRG trong TTDS tại một số quốc gia cho thấy hiện nay khi nói đến TTRG có hai cách
thức xây dựng phổ biến: TTRG được xem là thủ tục TTDS với trình tự, thành phần xét
xử rút gọn hơn so với thông thường nhưng vẫn đảm bảo tổ chức phiên tòa xét xử và
TTRG được thể hiện dưới hình thức phán quyết rút gọn có nghĩa là Tịa án có thể đưa ra
phán quyết đối với vụ án đủ điều kiện và không cần tiến hành xét xử tại phiên tòa.
Đại diện hệ thống dân luật, theo pháp luật Cộng hòa Pháp, TTRG được biết đến
với tên gọi “procédure sommaire” (thủ tục rút gọn) là thủ tục tố tụng theo đó các thủ tục
đơn giản hóa hơn so với thủ tục thơng thường, được áp dụng trước Tịa án theo thơng
luật hoặc trước Tịa án có thẩm quyền chung trong những trường hợp đặc biệt1.
Hình thức giải quyết tranh chấp dân sự theo TTRG trong pháp luật các quốc gia
theo hệ thống thông luật được biết đến với thuật ngữ phổ biến “Summary Judgement”.
Theo từ điển Black’s Law Dictionary, thuật ngữ Summary judgement được hiểu là phán
quyết rút gọn, là phán quyết sẽ được tòa án đưa ra liên quan đến toàn bộ một vụ kiện
hoặc một số vấn đề trong một vụ kiện mà khơng cần phải thực hiện xét xử tại phiên tịa
đầy đủ theo thủ tục tố tụng thông thường2. Định nghĩa này tương tự với quy định về
TTRG trong pháp luật TTDS tại Vương quốc Anh, phán quyết rút gọn sẽ được tịa án
đưa ra liên quan đến tồn bộ một vụ kiện hoặc một số vấn đề trong một vụ kiện khi người
khiếu kiện khơng có triển vọng thực sự thành công đối với khiếu kiện, vấn đề hoặc bị
đơn đó khơng có triển vọng bảo vệ thành cơng khiếu kiện, vấn đề; Và khơng có lý do
thuyết phục nào khác khiến vụ việc hoặc vấn đề nên được giải quyết tại một phiên tòa3.
BLTTDS năm 2015 được ban hành có quy định về giải quyết VADS theo TTRG
tại Phần thứ 4, bao gồm chương 18 và 19. BLTTDS năm 2015 quy định đầy đủ về cơ
Nguyễn Văn Bình (2009), Từ điển thuật ngữ pháp luật Pháp-Việt, Nxb. Từ điển Bách Khoa Hà Nội, trang 706.
Bryan A.Garner (2001), Black’s Law Dictionary (Second Pocket Edition), West group A Thomson Company,
page 679.
3
Điều 24.2 Bộ quy tắc tố tụng dân sự của Vương quốc Anh năm 1998.
1
2
6
chế giải quyết VADS theo TTRG trong tất cả các giai đoạn của quá trình xét xử và định
nghĩa TTRG trong TTDS như sau:
“Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ
điều kiện theo quy định của Bộ luật này với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết
các vụ án dân sự thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm
đúng pháp luật.4”
So sánh với cách thức quy định của đại diện hai hệ thống pháp luật trên thế giới,
pháp luật Việt Nam quy định TTRG là một hình thức thủ tục TTDS đặc biệt với trình tự,
thành phần xét xử rút gọn hơn so với thông thường. Cách thức quy định này là sự kế
thừa, tiếp thu các cơng trình nghiên cứu, ý kiến đóng góp của giới học giả từ khi đề xuất
xây dựng TTRG trong TTDS được hình thành. Trong các cơng trình nghiên cứu đa dạng
trước đây, các tác giả đúc kết những khái niệm khác nhau về TTRG:
Theo tác giả Trần Anh Tuấn: “Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là loại hình thủ tục
tố tụng được giản lược, do một Thẩm phán tiến hành giải quyết đối với các vụ kiện dân
sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động có nội dung đơn giản, rõ ràng
hoặc có giá trị nhỏ theo một trình tự tố tụng đơn giản, nhanh chóng, phán quyết của Tịa
án có hiệu lực pháp luật ngay hoặc có thể bị phản kháng để giải quyết theo thủ tục sơ
thẩm thông thường hoặc thủ tục phúc thẩm được giản lược”5.
Tác giả Đặng Thanh Hoa cho rằng: “Thủ tục rút gọn là một thủ tục đơn giản, gọn
nhẹ hơn so với thủ tục TTDS thông thường về thành phần, trình tự, thủ tục và thời gian
giải quyết tranh chấp, được áp dụng đối với một số loại tranh chấp đơn giản hoặc có
giá trị thấp”6.
Khái niệm mà các tác giả đưa ra cũng như khái niệm tại BLTTDS năm 2015 tuy
có khác biệt về mặt câu chữ nhưng có đặc điểm chung là đã thể hiện rõ bản chất của
TTRG trong TTDS mà Việt Nam định hướng xây dựng: (i) là thủ tục đơn giản, gọn nhẹ,
giản lược hơn so với thủ tục thông thường về cả thời gian xét xử và thành phần xét xử
nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử và quyền tranh tụng của các bên trong vụ
Khoản 1 Điều 316 BLTTDS năm 2015.
Trần Anh Tuấn (Chủ nhiệm đề tài) (2014), Vấn đề xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn theo yêu cầu cải cách
tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay – Thực trạng và giải pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bộ Tư
pháp, trang 15.
6
Đặng Thanh Hoa (2016), Thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự, Nxb. Hồng Đức, trang 32- 33.
4
5
7
án (ii) được áp dụng với một số tranh chấp dân sự nói chung khi có đủ điều kiện (tranh
chấp đơn giản, nội dung rõ ràng, giá trị thấp,..) theo quy định của pháp luật TTDS.
1.1.2. Đặc điểm thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
Xuất phát từ khái niệm TTRG trong TTDS cũng như các quy định liên quan tại
BLTTDS năm 2015, TTRG trong TTDS tại Việt Nam có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, thủ tục rút gọn là một dạng thủ tục tố tụng dân sự đặc biệt được áp
dụng giải quyết các vụ án dân sự.
Trong giai đoạn xây dựng các quy định về TTRG, đã đặt ra vấn đề TTRG trong
TTDS nên được xây dựng thành một Pháp lệnh riêng biệt hay thành một phần của
BLTTDS vì theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 103 Hiến pháp 2013 thì “Việc
xét xử sơ thẩm của TAND có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo TTRG” và
“Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo
TTRG”7. Ðại diện nhiều cơ quan luật pháp ở Trung ương và địa phương ủng hộ quan
điểm cho rằng, TTRG trong TTDS là một bộ phận hay một ngoại lệ của BLTTDS. Bởi
vì, khi chưa có quy định riêng về TTRG (như Pháp lệnh), thì các quy định của BLTTDS
được áp dụng để giải quyết chung cho tất cả các loại vụ việc, bao gồm những vụ việc
đơn giản, chứng cứ rõ ràng. Hơn nữa, xuất phát từ đặc thù của TTRG là thủ tục độc lập
nhưng không tách rời thủ tục TTDS, nhằm giải quyết một số loại vụ án có những điều
kiện nhất định nhưng đồng thời vẫn đảm bảo được sự thống nhất của pháp luật tố tụng
nói chung, TTRG cần phải được quy định trong BLTTDS8. Ðồng thời, kinh nghiệm lập
pháp về TTRG trong TTDS của nhiều nước trên thế giới đều quy định TTRG là một thủ
tục đặc thù được quy định trong BLTTDS9. Tiếp thu những ý kiến trên, TTRG đã được
quy định ngay trong BLTTDS với một Phần riêng nhằm phân biệt với thủ tục TTDS
thông thường. Điều này đồng nghĩa ngoài các quy định riêng được áp dụng tại Phần này,
giải quyết VADS theo TTRG vẫn phải tuân thủ các quy định chung cũng như các nguyên
tắc cơ bản của BLTTDS năm 2015.
TTRG theo quy định của BLTTDS năm 2015 chỉ áp dụng với các VADS mà không
áp dụng với việc dân sự. Bản chất của việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan tổ chức không
Văn Nghiệp Chúc, “Những ưu điểm của thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự”, truy cập ngày 15/4/2023.
8
Đặng Thanh Hoa, tlđd (6), trang 45.
9
Tham khảo Luật Tố tụng Dân sự Liên bang Nga, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Nhật Bản, Cộng hòa Pháp.
7
8
có tranh chấp nhưng có u cầu tịa án cơng nhận hoặc không công nhận một sự kiện
pháp lý nào đó. Do đó, thủ tục giải quyết việc dân sự tại BLTTDS hiện hành đã được
đơn giản về thành phần giải quyết việc dân sự (đa phần các việc dân sự chỉ do một thẩm
phán giải quyết), về các bước tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự và thời hạn
chuẩn bị giải quyết cũng được rút ngắn hơn rất nhiều so với VADS. Vì vậy, TTRG chỉ
được áp dụng với VADS mà không áp dụng với việc dân sự.
Thứ hai, thủ tục rút gọn chỉ áp dụng để giải quyết những vụ án có đủ điều kiện
theo quy định của pháp luật.
VADS giải quyết theo TTRG được rút ngắn cả thời gian giải quyết vụ án cũng như
thành phần xét xử. Vụ án được thụ lý theo TTRG chỉ được xem xét giải quyết bởi một
thẩm phán (Điều 65 BLTTDS năm 2015). Thời gian chuẩn bị xét xử cũng được giới hạn
trong một tháng kể từ ngày thụ lý, thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm, giải quyết
theo thủ tục phúc thẩm đều được rút ngắn so với thủ tục thông thường. Tuy thời gian và
thành phần xét xử được đơn giản hóa nhưng giải quyết vụ án theo TTRG vẫn phải đảm
bảo đúng pháp luật, bảo vệ kịp thời quyền lợi của các bên trong vụ án. Do đó, đặt ra yêu
cầu các vụ án được thụ lý theo TTRG phải có nội dung tranh chấp rõ ràng, đơn giản đảm
bảo Thẩm phán có đủ thời gian và năng lực để tự mình xem xét nội dung vụ án, đánh giá
chính xác quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự để đưa ra phán quyết phù hợp nhất.
Để đáp ứng yêu cầu nêu trên, về cơ bản từ khi thụ lý, vụ án được giải quyết theo
TTRG đã phải là vụ án đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, Thẩm phán khơng gặp nhiều
khó khăn trong việc giải quyết, áp dụng pháp luật, xác định sự thật khách quan cũng như
quyền và nghĩa vụ của các bên trong vụ án. Tiêu chí để đo lường việc VADS có đáp ứng
những yêu cầu đã nêu chính là các điều kiện áp dụng TTRG được quy định tại khoản 1
Điều 317 BLTTDS năm 2015. Vì thế, TTRG chỉ áp dụng để giải quyết những vụ án khi
và chỉ khi có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 317 BLTTDS năm 2015.
Thứ ba, thủ tục rút gọn rút ngắn thời gian giải quyết so với thủ tục giải quyết
các vụ án dân sự thông thường, giảm thiểu chi phí cho Nhà nước và các đương sự.
Về phía Tịa án, thành phần xét xử vụ án giải quyết theo TTRG được rút gọn chỉ
còn một thẩm phán. Do đó, xét xử theo TTRG trước hết sẽ giảm thiểu chi phí vận hành
của cơ quan tư pháp vì rút gọn được thành phần xét xử. Đội ngũ thẩm phán vì thế có thể
tập trung nguồn lực và thời gian để giải quyết các tranh chấp phức tạp hơn. Thực tế cho
9
thấy, trong một vụ án đơn giản mà toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã được
bị đơn thừa nhận ngay từ khi khởi kiện hay trong quá trình giải quyết vụ án, về thực chất,
Tịa án chỉ xem xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có vi phạm điều cấm của pháp
luật hoặc trái đạo đức xã hội hay khơng. Nếu khơng có sự vi phạm, Tịa án khơng cịn
cách nào khác là phải ghi nhận trong phán quyết các yêu cầu khởi kiện đã được bị đơn
thừa nhận nghĩa vụ của mình10. Do vậy, giải quyết theo thủ tục thông thường những vụ
án đơn giản, phổ biến, quan hệ pháp luật rõ ràng như vậy là đang tiêu tốn nguồn nhân
lực, vật lực của hệ thống tư pháp.
Về phía đương sự, vấn đề án phí và tạm ứng án phí theo quy định tại khoản 4 Điều
7 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tịa án
thì mức tạm ứng án phí, án phí trong VADS giải quyết theo TTRG bằng 50% mức tạm
ứng án phí, án phí theo thủ tục thông thường quy định tại Danh mục ban hành kèm theo,
trừ các trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí. Trường hợp các
đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tịa xét xử theo
TTRG thì các đương sự phải chịu 50% án phí giải quyết vụ án theo TTRG, tức là bằng
25% án phí giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường. Vụ án giải quyết theo TTRG thì
đương sự sẽ tiết kiệm được một nửa khoản tạm ứng án phí so với thủ tục thơng thường.
Trình tự giải quyết theo TTRG đơn giản và rút ngắn thời gian so với thủ tục giải
quyết các VADS thông thường. Thời hạn chuẩn bị xét xử trong trường hợp vụ án được
xét xử theo TTRG không quá 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo TTRG và mở phiên
tòa trong thời hạn 10 ngày, kế từ ngày ra quyết định11. Thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ
tục thông thường đối với VADS là 04 tháng và đối với vụ án kinh doanh thương mại,
lao động là 02 tháng; Thời hạn mở phiên tòa là 01 tháng đến 02 tháng, kể từ ngày ra
quyết định đưa vụ án ra xét xử12.
Đặng Thanh Hoa, tlđd (6), trang 52.
Điều 318 BLTTDS năm 2015.
12
Điều 203 BLTTDS năm 2015.
10
11
10
1.1.3. Ý nghĩa thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
Thứ nhất, quy định về thủ tục rút gọn là một yêu cầu tất yếu của quá trình phát
triển kinh tế, góp phần tích cực thúc đẩy q trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Q trình tồn cầu hóa, cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra rất nhanh
chóng và mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu rộng trên tất cả lĩnh vực đời sống và sản xuất. Từ khi
Đảng và Nhà nước chủ trương cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa tồn diện đất nước, phát
triển nền kinh tế thị trường là một phần tất yếu trong công cuộc đó. Quan hệ kinh tế thay
đổi đa dạng địi hỏi những thay đổi tương ứng trong các thiết chế xã hội để phù hợp với
trình độ phát triển kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, các yếu tố liên quan đến đầu vào
của quá trình sản xuất kinh doanh như thời gian, vốn, sức lao động…ln ln trong q
trình vận động để tạo ra giá trị thặng dư. Do đó, sự tự do lưu thơng của các yếu tố này
đóng một vai trị quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Trong các
tranh chấp dân sự, các yếu tố này có thuộc tính đang tranh chấp, đang bị áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời đảm bảo thi hành án… nên chúng mất đi tính tự do lưu thơng và
hệ quả là cản trở sự phát triển của nền kinh tế. Thời gian giải quyết tranh chấp càng dài,
chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp đối với các yếu tố đó càng bị thiệt hại bởi khơng khai
thác được tính kinh tế của chúng13. Việc xây dựng TTRG vì thế có ý nghĩa lớn trong việc
giảm thời gian giải quyết tranh chấp, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Chỉ khi có
cơ chế giải quyết linh hoạt, mềm dẻo, nhanh gọn thì mới có thể tạo được niềm tin cho
các doanh nghiệp, người dân, nhà đầu tư yên tâm đầu tư sản xuất, kinh doanh.
Thêm vào đó, Việt Nam đã là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế
giới WTO và thành viên của nhiều hiệp định thương mại đa phương và song phương
khác. Từ đó đã tạo ra áp lực đòi hỏi Việt Nam phải cải cách pháp luật TTDS của mình
theo hướng đảm bảo sự mềm dẻo, linh hoạt và đa dạng hóa các loại hình thủ tục tố tụng
phù hợp với tính chất của từng loại tranh chấp. Vì vậy, TTRG trong TTDS ra đời như
một tất yếu khách quan củng cố niềm tin của doanh nghiệp trong nước lẫn các nhà đầu
tư nước ngoài về một nền tư pháp hiện đại, hiệu quả và là cơ sở giúp doanh nghiệp, người
dân an tâm đầu tư, phát triển sản xuất.
Nguyễn Thị Thu Thủy (2017), “Chế định mới về thủ tục rút gọn trong bộ luật tố tụng dân sự 2015”, Tạp chí
Thanh Tra, số 02/2017, trang 19.
13
11
Thứ hai, thủ tục rút gọn đảm bảo quyền tiếp cận cơng lý một cách nhanh chóng
của đương sự cũng như các tất cả chủ thể trong xã hội.
Năm 2022, các Tòa án đã thụ lý 444.402 vụ việc dân sự trong tổng số 567.521 vụ
việc Tòa án đã thụ lý14. Số liệu cho thấy các vụ việc dân sự nói chung và các VADS nói
riêng đang chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng số vụ án được giải quyết tại Tòa án. Nhu cầu
được giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả là nhu cầu tất yếu và sẽ luôn gia tăng trong
nền kinh tế trao đổi như hiện nay. Tịa án nhân dân tối cao ln đặt ra những chỉ tiêu
hằng năm nhằm đảm bảo các VADS được giải quyết với tỷ lệ cao nhất. Để hoàn thành
mục tiêu đề ra, Tịa án ln đề cao việc phân bổ nguồn lực hợp lý, phân loại các vụ án
và xây dựng những cơ chế giải quyết tương ứng để có thể đáp ứng tất cả nhu cầu của
người dân trong việc tiếp cận công lý. Một trong những cách thức để đạt mục tiêu đó là
đẩy mạnh việc áp dụng TTRG đối với những vụ án đủ điều kiện theo BLTTDS.
Thật vậy, một trong những nguyên nhân khiến người dân ngại ngần khi cần giải
quyết vụ việc dân sự tại tịa chính là thủ tục phức tạp, nhiều giai đoạn và có phần khó
khăn và xa lạ với người dân. Vì vậy, một thủ tục hợp lý và đơn giản sẽ là cơ sở cho quyền
tiếp cận công lý của tất cả chủ thể trong xã hội. Sự hợp lý và đơn giản thể hiện ở hai khía
cạnh là thời gian và chi phí tố tụng. Đương sự hay người khởi kiện khi quyết định đưa
tranh chấp ra giải quyết tại Tòa án đều cân nhắc kỹ càng giữa chi phí mà họ bỏ ra với
những lợi ích, giá trị mà họ có thể thu về. Chi phí được kể đến khơng chỉ là án phí, tạm
ứng án phí hoặc những chi phí tố tụng khác mà cịn bao gồm các chi phí luật sư, chi phí
di chuyển, và cả chi phí cơ hội…để theo đuổi một vụ kiện. Tất cả các chi phí trên đều sẽ
được giảm thiểu nếu trình tự, thời gian tố tụng được rút ngắn. Ngoài ra, trong các quan
hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng tín dụng, rút ngắn thời gian tố tụng giúp
đương sự nhanh chóng đạt được quyết định có hiệu lực của Tịa án làm cơ sở buộc đối
phương phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Chi phí tố tụng cao và thời gian kéo dài sẽ
cản trở mong muốn được tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thơng qua Tịa án.
Tiết kiệm thời gian và chi phí cũng giúp các bên đỡ e ngại khi sử dụng cơ chế giải
quyết tranh chấp hợp pháp là Tịa án thay vì sử dụng các phương pháp tiêu cực như bắt
Tòa án nhân dân tối cao (2022), Báo cáo tóm tắt tổng kết cơng tác năm 2022 và phương hướng, nhiệm vụ trọng
tâm công tác năm 2023 của các Tòa án, Hà Nội, trang 1.
14
12
cóc, tống tiền, địi nợ th…15. Từ đó, nâng cao niềm tin của người dân đối với pháp luật,
tránh những phiền tối như dân gian quan niệm “Vơ phúc đáo tụng đình”. Quyền tiếp
cận cơng lý của cơng dân được bảo đảm sẽ góp phần to lớn trong cơng cuộc xây dựng
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong đó quyền con người, quyền cơng dân được
đề cao và bảo vệ.
Thứ ba, thủ tục rút gọn góp phần nâng cao năng lực của thẩm phán, Tòa án và
giảm thiểu chi phí vận hành của Tịa án.
Hoạt động của hệ thống tư pháp, cũng giống như hoạt động của bất kỳ tổ chức nào
trong xã hội, đều cần có tính hiệu quả. Tính hiệu quả của pháp luật nói chung và hoạt
động của hệ thống tư pháp nói riêng đã là đối tượng nghiên cứu của triết lý kinh tế luật
từ những năm 60 của thế kỷ trước16. Theo trường phái này, hiệu quả của hoạt động xét
xử không chỉ được căn cứ vào khả năng giải quyết tốt các tranh chấp mà còn thể hiện ở
hiệu quả của các quy phạm pháp luật17. Xuất phát từ quan điểm việc phân tích về trình
tự, thủ tục pháp lý trong tố tụng cũng giống như việc nhà kinh doanh tính tốn về hiệu
quả hoạt động kinh doanh của cơng ty mình18. Do đó, việc xác định quy trình tố tụng cần
phải cân nhắc đến tình hài hịa giữa chi phí bỏ ra để vận hành bộ máy tố tụng với những
lợi ích được bảo vệ nhờ sự hoạt động của bộ máy tố tụng.
Theo nguyên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Trương Hịa Bình: “Giải quyết vụ
việc dân sự theo thủ tục đơn giản sẽ tạo điều kiện cho Thẩm phán chủ động giải quyết
vụ việc một cách linh hoạt. Khi áp dụng thủ tục này sẽ giải quyết nhanh chóng các vi
phạm hoặc các tranh chấp, bất đồng nảy sinh, góp phần ổn định các quan hệ xã hội…”19.
Xét xử theo TTRG giảm thiểu đáng kể thời gian và nguồn nhân lực, thúc đẩy Tòa án giải
quyết kịp thời các VADS đơn giản, góp phần nâng cao hiệu quả cơng tác xét xử của Tịa
án. Ngồi ra, Thẩm phán tiến hành xét xử theo TTRG có quyền tự chủ, tự chịu trách
nhiệm trong phạm vi quyền hạn được giao. Về lâu dài, điều đó sẽ góp phần nâng cao
Tòa án nhân dân tối cao (2015), Báo cáo “Nghiên cứu đề xuất, cơ chế, mơ hình giải quyết tranh chấp dân sự theo
thủ tục rút gọn tại Tòa án Việt Nam”, Hà Nội, trang 28.
16
Lê Nết (2006), Kinh tế luật, Nxb. Tri thức, trang 15.
17
Mai Hồng Quỳ (1999), Thực tiễn tranh chấp kinh tế với việc hoàn thiện pháp luật kinh doanh, Đề tài nghiên cứu
khoa học và công nghệ cấp Bộ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, trang 89.
18
Lê Nết, tlđd (16), trang 20.
19
Trương Hịa Bình (2013), “Vấn đề áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử và thành lập tòa án giản lược trong hệ
thống tòa án nhân dân”, Tạp chí Tịa án nhân dân, số 4 tháng 02/2014, trang 1.
15
13
năng lực cá nhân của thẩm phán, để tránh tình trạng án bị sửa hay bị hủy thẩm phán phải
tự mình nâng cao trách nhiệm, trau dồi kiến thức để giải quyết vụ án đúng pháp luật.
1.2. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân sự
1.2.1. Kinh nghiệm quy định điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong tố tụng dân
sự của một số quốc gia
Về hình thức tồn tại của TTRG, nghiên cứu quy định của một số quốc gia trên thế
giới có thể kết luận hiện nay TTRG trong TTDS tồn tại dưới nhiều hình thức, phổ biến
nhất là hình thức giải quyết vụ việc dân sự theo TTRG, Tòa án sẽ trực tiếp thụ lý, giải
quyết vụ án theo thủ tục TTDS rút ngắn hơn so với thủ tục thông thường và hình thức
Tịa án ban hành lệnh buộc thanh tốn hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ đối với bên có nghĩa
vụ trong những tranh chấp nhỏ. Theo nhà nghiên cứu Pierrer ESTOUP thì “các thủ tục
ra lệnh là loại hình thủ tục đơn giản cho phép người có quyền có được lệnh buộc người
có nghĩa vụ phải thanh tốn một khoản nợ hoặc thi hành một nghĩa vụ từ hợp đồng20.
Thủ tục ban hành lệnh là loại thủ tục khơng có tranh tụng, Tịa án ban hành Lệnh thanh
tốn theo u cầu của một bên đương sự và lệnh thanh toán sẽ có hiệu lực thi hành như
một bản án, quyết định của Tòa án.
Về thẩm quyền của Tòa án, tồn tại sự khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới,
TTRG trong TTDS được áp dụng tại Tòa án dân sự với tất cả các vụ việc hoặc chỉ tại hệ
thống Tịa án giản lược có thẩm quyền xét xử các vụ việc, tranh chấp nhỏ.
Từ những điểm khác biệt cơ bản đó, điều kiện áp dụng TTRG tại các quốc gia cũng
không tương đồng. Trong phạm vi bài viết, tác giả tiến hành nghiên cứu pháp luật của
ba quốc gia là Cộng hòa Pháp, Nhật Bản và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa để hiểu rõ
bản chất điều kiện áp dụng TTRG và làm cơ sở đưa ra những kiến nghị phù hợp cho
pháp luật TTDS Việt Nam.
Cộng hòa Pháp
Hệ thống Tòa án tư pháp của Pháp hiện nay được tổ chức và hoạt động theo tinh
thần của Hiến pháp năm 1958 và Luật tổ chức Tòa án tư pháp 2012. Theo đó, thẩm quyền
giải quyết các vụ án đơn giản, những tranh chấp nhỏ được giao cho Tịa án sơ thẩm thẩm
quyền hẹp. Những tranh chấp có giá trị nhỏ không vượt quá 10.000 EUR sẽ được giải
20
Pierrer ESTOUP (1990), La pratique des procedures rapides, edition Litec, page 279.
14
quyết tại Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp (các vụ án tranh chấp về hợp đồng thuê nhà ở,
giải quyết yêu cầu giám hộ, kê biên đối với tiền lương, thưởng...). Tòa án sơ thẩm thẩm
quyền hẹp xét xử vụ án bằng một Thẩm phán duy nhất và các bên tham gia tố tụng khơng
nhất thiết phải có luật sư. Đối với các vụ án có giá trị tranh chấp không quá 4.000 EUR,
người tham gia giải quyết tranh chấp tại Tịa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp có thể là các
thẩm phán không chuyên trách, được tuyển chọn từ những người có kinh nghiệm hoạt
động trong lĩnh vực pháp luật21.
Ngoài quy định chung về những VADS được giải quyết theo TTRG tại Tòa án sở
thẩm thẩm quyền hẹp. Luật TTDS Cộng hòa Pháp còn quy định một số hình thức khác
của TTRG được áp dụng với một số vụ việc nhằm đảm bảo giải quyết nhanh chóng yêu
cầu của người dân gồm thủ tục ra lệnh thanh toán và thủ tục buộc thực hiện công việc.
Điều 1405 BLTTDS Cộng hịa Pháp22, thủ tục ra lệnh thanh tốn được áp dụng để
thu hồi nhanh các khoản nợ trong những trường hợp sau: (i) Khoản nợ có nguồn gốc từ
một hợp đồng hoặc một nghĩa vụ theo điều lệ và là một số tiền nhất định; nếu là hợp
đồng thì được xác định theo các điều khoản của hợp đồng, kể cả điều khoản phạt nếu có;
(ii) Nợ do cam kết nhận hoặc rút hối phiếu (LC), ký nhận một kỳ phiếu, chuyển nhượng
hoặc bảo lãnh các loại tín phiếu ấy hoặc nhận chuyển nhượng một khoản nợ theo quy
định tại luật số 81-1 ngày 2/1/1981 khuyến khích tín dụng doanh nghiệp. Tịa án khơng
phải mở phiên tịa, việc tranh tụng giữa các đương sự khơng diễn ra, Tịa án chỉ xem xét
các tài liệu mà người yêu cầu ra lệnh cung cấp nếu phù hợp sẽ thực hiện ra lệnh thanh
toán. Người mắc nợ, người phải thực hiện lệnh thanh tốn có thể kháng cáo với lệnh mà
Tịa án đưa ra. Đối với kháng cáo này, Tòa án sẽ mở phiên tòa xem xét, giải quyết.
Theo Điều 1452-1 BLTTDS Cộng hòa Pháp, thủ tục ra lệnh buộc làm một công
việc được áp dụng nếu giá trị của trái vụ khơng vượt q phạm vi thẩm quyền của Tịa
án sơ thẩm thẩm quyền hẹp (10.000 EUR), nguyên đơn có thể làm đơn đề nghị Tòa án
sơ thẩm thẩm quyền hẹp cho thanh toán bằng hiện vật trái vụ phát sinh từ hợp đồng giữa
những người không phải là thương nhân.
“The French Legal System”, truy cập ngày
20/4/2023.
22
Nhà Pháp luật Việt Pháp (1998), Bộ Luật Tố tụng dân sự Pháp, Nxb. Chính trị Quốc gia Hà Nội, trang 318.
21
15
Như vậy. TTRG trong TTDS Cộng hịa Pháp hay nói cách khác thủ tục giải quyết
vụ việc dân sự tại hệ thống tòa giản lược (tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp) được áp dụng
phụ thuộc tiên quyết vào điều kiện giá trị tranh chấp. Để vụ việc dân sự giải quyết tại
Tịa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp thì vụ án phải có giá ngạch khơng vượt q 10.000 EUR.
Ngồi ra, để áp dụng TTRG dưới hình thức Tịa án ra lệnh thanh tốn nợ và buộc thực
hiện cơng việc thì vụ án phải thuộc loại tranh chấp nhất định mà pháp luật quy định như
tranh chấp phát sinh từ nghĩa vụ thanh toán hợp đồng, hối phiếu,...
Nhật Bản
Thẩm quyền giải quyết các vụ việc theo TTRG ở Nhật Bản được giao cho Tòa án
giản lược thực hiện. Hiện tại, Nhật Bản có 438 Tịa án giản lược được thành lập ở các
thành phố, thị trấn23. Theo quy định của Luật Tổ chức Tịa án Nhật Bản, thì tại Tòa án
giản lược, các vụ án đều do một Thẩm phán xét xử. Các tranh chấp được giải quyết tại
Tòa án giản lược phải có giá trị dưới 1.400.000 yên24.
Sau khi đáp ứng điều kiện về giá ngạch để được giải quyết tại Tòa án giản lược.
TTRG tại Tòa án giản lược lại tiếp tục được phân chia thành bốn loại thủ tục, gồm thủ
tục thơng thường tại Tịa án giản lược; thủ tục yêu cầu trả tiền đối với hối phiếu, lệnh
phiếu và séc; Thủ tục đối với khiếu kiện nhỏ và thủ tục đối với yêu cầu thanh tốn25.
Thủ tục thơng thường tại Tịa án giản lược sẽ được áp dụng với các tranh chấp có
giá trị dưới 1.400.000 yên. Thủ tục yêu cầu trả tiền đối với hối phiếu, lệnh phiếu và séc
được áp dụng cho các yêu cầu thanh toán một khoản tiền từ hối phiếu, lệnh phiếu, séc
hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại theo lãi suất pháp luật quy định26. Đây là thủ tục khơng
tranh tụng tuy nhiên nếu có u cầu hợp lý, Tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục
thông thường27. Thủ tục đối với những khiếu kiện nhỏ được áp dụng với các tranh chấp
có giá trị không vượt quá 600.000 yên được giải quyết tại hệ thống Tòa án rút gọn, thủ
tục này được quy định trong Luật tố tụng dân sự Nhật bản năm 1996 khi TTRG thông
thường tỏ ra không hiệu quả28. Thủ tục đối với yêu cầu thanh toán được áp dụng đối với
Ngơ Cường (2014), “Mơ hình Tịa án đơn giản ở Nhật Bản”, Tạp chí Tịa án nhân dân, số 16/2014, trang 43.
Điều 33 Luật Tổ chức Tòa án Nhật Bản năm 1947 được sửa đổi, bổ sung năm 2019.
25
Etsuko Sukiyama (2015), Simplified Civil Procedure in Japan, Erasmus Law Review, page 206.
26
Điều 350 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 2011.
27
Điều 356, 357 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 2011.
28
Điều 368 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 2011.
23
24
16
yêu cầu thanh toán một số tiền, chứng khoán hoặc các tài sản khác. Thư ký Tòa án, theo
yêu cầu của người cho vay, có thể ra lệnh thanh tốn nếu như con nợ không phản đối
yêu cầu ra lệnh trong vòng 02 tuần kể từ ngày nhận được yêu cầu29. TTRG tại Việt Nam
tương đồng với thủ tục thông thường trong Tòa án giản lược áp dụng với các tranh chấp
có giá trị dưới 1.400.000 yên.
Như vậy. Điều kiện đầu tiên cần được đáp ứng để các VADS được giải quyết tại hệ
thống Tòa án giản lược là các vụ án có giá trị tranh chấp khơng q 1.400.000 yên. Xuất
phát từ nguyên nhân Pháp và Nhật Bản đều xây dựng hệ thống Tịa án giản lược, vì vậy
tất yếu hệ thống pháp luật hai quốc gia này phải quy định điều kiện để giải quyết vụ án
theo TTRG đơn giản, súc tích và có tính khái qt cao.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Hệ thống Tòa án Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHND Trung Hoa) được chia
thành 4 cấp: Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân cấp
trung và Tịa án nhân dân cấp cơ sở30. Tại đây khơng tồn tại hệ thống Tòa án giản lược/rút
gọn như tại Nhật Bản và Cộng hòa Pháp. Các VADS thỏa mãn điều kiện nhất định sẽ
được giải quyết theo TTRG tại Tòa án nhân dân cấp cơ sở. Điều kiện áp dụng TTRG tại
CHND Trung Hoa không chỉ quy định dưới hình thức giá ngạch mà cịn được quy định
dưới các điều kiện định tính, dựa trên tính chất đơn giản của vụ án, bao gồm hai thủ tục:
TTRG chung được áp dụng với các VADS có nội dung rõ ràng, các quyền và nghĩa
vụ của các bên đương sự dễ dàng xác định, vấn đề có tranh chấp trong vụ án ít quan
trọng và các tranh chấp dân sự mà các đương sự trong vụ án có thỏa thuận về việc áp
dụng TTRG trong việc giải quyết vụ tranh chấp31.
TTRG đặc biệt đối với khiếu kiện nhỏ được quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật
Tố tụng dân sự CHND Trung Hoa năm 1991 sửa đổi, bổ sung năm 2012 (BLTTDS
CHND Trung Hoa), áp dụng với tranh chấp có giá trị thấp hơn 30% tiền lương trung
bình hàng năm của người lao động thuộc tỉnh, khu tự trị hoặc thành phố trực thuộc trung
Điều 382 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1991 được sửa đổi, bổ sung năm 2012.
Nhà xuất bản Tư pháp (2011), Báo cáo “Nghiên cứu tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp của năm quốc
gia:
Trung
Quốc,
In-đô-nê-xia,
Nhật
Bản,
Hàn
Quốc
và
Nga”,
/>hong%20tu%20phap%205%20nuoc.pdf, truy cập ngày 22/4/2023.
31
Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1991 sửa đổi, bổ sung năm 2012.
29
30
17
ương và quyết định, bản án của tòa án nhân dân cơ sở là quyết định có hiệu lực cuối
cùng32. Có thể thấy rằng con số 30% tuy là con số cụ thể nhưng lại thể hiện sự linh động,
phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội theo từng thời kỳ tại CHND Trung Hoa33.
Ngoài ra, pháp luật tố tụng CHND Trung Hoa còn quy định về thủ tục ra lệnh thanh
toán tại Điều 214 BLTTDS CHND Trung Hoa, chủ nợ có thể gửi yêu cầu con nợ hồn
trả tiền hoặc chứng khốn có thể chuyển nhượng đến Tịa án nhân dân cơ sở có thẩm
quyền để tịa án ra lệnh thanh tốn khi đáp ứng các điều kiện sau: (i) Khơng có tranh
chấp nợ nào khác giữa chủ nợ và con nợ; (ii) Lệnh thanh toán có thể được tống đạt cho
con nợ. Đơn đề nghị của chủ nợ nêu rõ số tiền hoặc chứng khoán chuyển nhượng được
hoàn trả và các sự kiện, bằng chứng chứng minh cho yêu cầu của chủ nợ.
Như vậy. Điều kiện áp dụng TTRG được quy định dưới dạng định tính và khơng
tồn tại hệ thống Tịa án giản lược là những đặc điểm khiến pháp luật TTDS về TTRG tại
CHND Trung Hoa có một số điểm tương đồng với quy định điều kiện áp dụng TTRG tại
Việt Nam và mơ hình tổ chức tịa án tại Việt Nam. Tuy nhiên, tương tự như Nhật Bản
và Pháp, BLTTDS CHND Trung Hoa tồn tại quy định về thủ tục ra lệnh thanh toán.
Hệ thống pháp luật của cả ba quốc gia đều quy định TTRG trong TTDS nói chung
và điều kiện áp dụng TTRG nói riêng đều được quy định đa dạng hơn so với pháp luật
Việt Nam nhằm đảm bảo giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các tranh chấp khác nhau.
Cộng hòa Pháp và Nhật Bản còn xây dựng hệ thống Tòa án giản lược, chuyên biệt để
giải quyết tranh chấp dân sự nhỏ. Tuy nhiên, không thể phủ nhận các quốc gia trên đều
trải qua quá trình dài xem xét việc áp dụng để đưa ra điều chỉnh phù hợp với tình hình
kinh tế, xã hội và các quốc gia đều hướng đến mục tiêu tương đồng là tăng cường hiệu
quả xét xử, xây dựng Tòa án với cơ chế giải quyết tranh chấp gần gũi với nhân dân. Do
đó, Việt Nam cần tăng cường đúc kết thực tiễn xét xử để đưa ra những điều chỉnh phù
hợp đối với điều kiện áp dụng TTRG nói riêng và chế định TTRG trong TTDS nói chung.
Điều 162 Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1991 sửa đổi, bổ sung năm 2012.
Nguyễn Thị Hồng Nhung (2017), “Thủ tục rút gọn trong xét xử các vụ án dân sự theo pháp luật Trung Quốc”,
Tạp chí Kiểm sát, số 17/2017, trang 53.
32
33
18
1.2.2. Sơ lược quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn trong lịch sử tố tụng
dân sự Việt Nam
Giai đoạn 1945 -1960
Một số nội dung của TTRG đã được thể hiện trong pháp luật Việt Nam từ trước
năm 194534. Tại Bắc Kỳ, Toà án cấp sơ thẩm có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm và chung
thẩm nếu giá ngạch không quá 30 đồng bạc. Tại Trung Kỳ, các tòa đệ nhị cấp xét xử
chung thẩm các việc tương tranh động sản hoặc việc thương sự, việc địi tiền bồi hồn
hay bồi thường với giá ngạch từ $500 USD đến $1500 USD, về bất động sản giá ngạch
khơng q $150 USD. Tại Nam Kỳ, tịa xử sơ thẩm và chung thẩm các tố quyền đối nhân
và động sản đến mức 7500 quan tức $750 USD hay 750 giạ lúa, các tố quyền bất động
sản lợi tức đồng 40 giạ lúa hay 300 quan, hay $30 USD35.
Sau thành công của Cách mạng tháng tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hoà được thành lập, Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật mới. Theo
quy định tại Điều 10 và Điều 17 Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về “Tổ chức các
Tòa án và ngạch Thẩm phán”, Chánh án xử một mình đối với các việc dân sự và thương
sự. Quy định này mang bản chất rút gọn về thành phần xét xử đối với các vụ việc dân sự
và thương sự. Ngoài ra, các văn bản khác liên tục quy định về cơ chế xét xử một lần
mang bản chất của TTRG với điều kiện áp dụng chủ yếu là điều kiện về giá ngạch. Điều
6 Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 về “Ấn định thẩm quyền các Tịa án và sự phân
cơng giữa các nhân viên trong Tòa án” nêu rõ về dân sự và thương sự, Tịa án sơ cấp có
quyền xét xử chung thẩm đối với những việc kiện về động sản mà giá ngạch do nguyên
đơn định không quá 150 đ. Sắc lệnh số 185/SL ngày 26/5/1948 tăng lên 300 đồng. Nghị
định số 32/NĐ ngày 06/4/1952 của Bộ Tư Pháp “Các Tịa án cấp huyện có thẩm quyền
chung thẩm các việc kiện dân sự về động sản có giá ngạch khơng q 60kg gạo và các
Tịa án nhân dân cấp tỉnh xử chung thẩm các việc kiện về bất động sản mà giá ngạch
không quá 60kg gạo…”. Tại Thông tư số 4013/TTC ngày 09/5/1959 của Bộ Tư Pháp và
Thông tư liên bộ Tư Pháp – Tòa án nhân dân tối cao số 93/TC ngày 11/11/1959 cũng
Tòa án nhân dân tối cao (2014), Báo cáo về khả năng áp dụng thủ tục đơn giản trong giải quyết một số loại vụ
việc dân sự cụ thể và đề xuất mơ hình khả thi cho Tòa án Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, trang 30.
35
Đặng Thanh Hoa, tlđd (6), trang 27.
34
19