TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH – NHÀ NƯỚC
-----------***------------
NGUYỄN HUỲNH THANH HIẾU
MSSV: 1953801014068
CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Khoá luận tốt nghiệp cử nhân luật
Niên khóa: 2019 - 2023
Người hướng dẫn: Th.S Trần Thị Thu Hà
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2023
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là cơng trình nghiên cứu của cá nhân tác giả, được thực hiện dưới
sự hướng dẫn khoa học của ThS. Trần Thị Thu Hà. Các kết quả được nêu trong luận văn
này hoàn toàn trung thực. Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả
Nguyễn Huỳnh Thanh Hiếu
LỜI CẢM ƠN
Sau 4 năm theo học tại trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã
lựa chọn đề tài: “Cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn”
nghiên cứu và thực hiện khố luận tốt nghiệp. Để hồn thành được khoá luận này, tác
giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ.
Tác giả vơ cùng biết ơn tình u thương khơng có biên giới của ba mẹ. Cảm ơn
ba mẹ đã luôn hỗ trợ, quan tâm và động viên tác giả trong suốt quá trình học tập từ trước
đến nay.
Tác giả chân thành cảm ơn đến toàn thể các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy cho
tác giả không chỉ là về mặt kiến thức lý luận mà còn là những kỹ năng, những bài học
thực tiễn quý giá. Đặc biệt, tác giả cảm ơn cô ThS. Trần Thị Thu Hà đã hướng dẫn khóa
luận tốt nghiệp của tác giả. Cảm ơn sự giúp đỡ, sự chỉ dạy tận tâm, sự đồng hành sâu sát
của cơ trong q trình tác giả thực hiện.
Sau cùng, tác giả cũng xin cảm ơn đến những tình cảm từ bạn bè đã động viên,
giúp đỡ, hỗ trợ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường.
Một lần nữa, xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
ĐBQH
Đại biểu quốc hội
QPPL
Quy phạm pháp luật
TAHPLB
Toà án Hiến pháp liên bang
UBTVQH
Uỷ ban thường vụ Quốc hội
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................................
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................................
DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT .......................................................................
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu ............................................................................................. 2
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu .......................................................................... 4
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn ............................................................................... 4
5. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................... 5
6. Bố cục của khoá luận .............................................................................................. 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ GIÁM SÁT
HIẾN PHÁP .................................................................................................................... 6
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế giám sát Hiến pháp .................... 6
1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của cơ chế giám sát Hiến pháp ....................... 11
1.2.1 Khái niệm cơ chế giám sát Hiến pháp ....................................................... 11
1.2.2
Đặc điểm của cơ chế giám sát Hiến pháp .................................................. 13
1.2.3 Ý nghĩa của cơ chế giám sát Hiến pháp..................................................... 19
1.3 Cơ chế giám sát Hiến pháp ở một số quốc gia trên Thế giới .......................... 23
1.3.1 Cơ chế giám sát Hiến pháp ở Hợp chúng quốc Hoa Kỳ ................................ 24
1.3.2 Cơ chế giám sát Hiến pháp ở Cộng hoà Liên bang Đức ................................ 27
1.3.3 Cơ chế giám sát Hiến pháp ở Cộng hoà Pháp ................................................ 31
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 .............................................................................................. 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ GIÁM SÁT
HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................................................................... 37
2.1 Thực trạng về cơ chế giám sát hiến pháp ở Việt Nam hiện nay ..................... 37
2.1.1 Thực trạng quy định của pháp luật về cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam
................................................................................................................................. 37
2.1.2 Thực trạng thực hiện cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam ....................... 57
2.2 Vấn đề đổi mới cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay .................. 64
2.2.1 Quan điểm, định hướng đổi mới cơ chế giám sát Hiến pháp ......................... 64
2.2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam. . 73
TIỂU KẾT CHƯƠNG II ............................................................................................. 78
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là một mục tiêu chung mà hầu hết các quốc
gia đều hướng đến trong tiến trình xây dựng xã hội dân chủ hiện đại, khơng ngoại trừ
Việt Nam. Xã hội càng phát triển thì vấn đề nhân quyền càng được quan tâm sâu sắc. Để
bảo vệ nhân quyền thì Hiến pháp đã ra đời như một ranh giới cấm những nhà cầm quyền
xâm phạm đến quyền và lợi ích của nhân dân. Từ trước đến nay, Hiến pháp luôn được
biết đến là một đạo luật mang tính tối cao, mọi văn bản quy phạm pháp luật khác của
quốc gia đều phải tuân theo Hiến pháp. Tuy nhiên, việc các quốc gia ban hành ra bản
Hiến pháp không đồng nghĩa quyền lực Nhà nước được kiểm sốt, những chủ thể có
quyền khơng thể sai quyền. Song song việc khai sinh ra Hiến pháp thì cùng với đó quốc
gia cần một cơ chế giám sát Hiến pháp nhằm củng cố, tăng cường tính tối cao của văn
bản này.
Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đến vấn đề xây dựng, hoàn thiện cơ
chế giám sát Hiến pháp. Trong các kỳ Đại hội Đảng cũng từng đưa ra các đánh giá, định
hướng nhằm hoàn thiện cơ chế này ở Việt Nam. Trong báo cáo chính trị của Ban chấp
hành Trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ X đã cam kết
chính thức về việc xây dựng chế độ tài phán Hiến pháp ở Việt Nam: “Xây dựng cơ chế
phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Gần đây trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tại Đại
hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng đã thừa nhận rằng: “Cơ chế kiểm sốt quyền
lực chưa hồn thiện; vai trò giám sát của nhân dân chưa được phát huy mạnh mẽ”.
Trong định hướng để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng
đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng quy trình lập pháp, tập trung xây dựng,
hồn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tôn trọng, bảo đảm,
bảo vệ quyền con người, quyền cơng dân; hồn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp, cơ chế
giám sát, lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội,
Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn”.
Dẫu biết cần có một cơ chế giám sát Hiến pháp hoàn thiện, Đảng và Nhà nước
vẫn luôn đưa ra định hướng, hành động để thực hiện mục tiêu, thế nhưng trong suốt lịch
sử lập hiến ở Việt Nam đến nay, thực tế là chúng ta chưa có cơ chế giám sát Hiến pháp
đúng nghĩa. Các nội dung quy phạm pháp luật về cơ chế này còn rời rạc, được quy định
trong nhiều văn bản khác nhau. Quy định về cơ chế giám sát Hiến pháp có chiều rộng
1
nhưng chưa có chiều sâu. Đặc biệt, trên con đường hội nhập quốc tế, nhiều đòi hỏi đặt
ra cho Việt Nam, trong đó có địi hỏi về mặt pháp luật Việt Nam cần nhanh chóng hồn
thiện cơ chế giám sát Hiến pháp. Cần thẳng thắn nhìn nhận hạn chế đang tồn đọng, đánh
giá tác động để có định hướng hành động phù hợp. Đó cũng chính là lý do mà tác giả
lựa chọn đề tài “Cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn” để
thực hiện khố luận tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Cơ chế giám sát Hiến pháp như một nhu cầu có tính khách quan và ln mang giá
trị về mặt thời sự mà các quốc gia nói chung, Việt Nam nói riêng đều quan tâm. Vì là
vấn đề nhận được sự quan tâm nên từ trước đến nay có khơng ít các cơng trình, tác phẩm
nghiên cứu liên quan đến cơ chế giám sát Hiến pháp.
Trong đó, phải kể đến một số sách chuyên khảo, tham khảo có đề cập đến những
vấn đề có liên quan như: Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, Nguyễn Thị Quế Anh, Vũ
Cơng Giao, Nguyễn Hồng Anh, Mai Văn Thắng (đồng chủ biên) (2019), Thi hành Hiến
pháp năm 2013 – Thực trạng và những vấn đề đặt ra, NXB Chính trị Quốc gia sự thật;
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc đảm
bảo quyền con người, NXB Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam; Đào Trí Úc, Nguyễn
Như Phát (…), “Tài phán Hiến pháp và vấn đề xây dựng mơ hình tài phán Hiến pháp ở
Việt Nam”.
Ngoài các sách chuyên khảo, tham khảo thì cịn có kho tàng các bài viết được
đăng tải trên các tạp chí khác nhau như: “Về giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy
phạm pháp luật ở Việt Nam” của tác giả Tào Thị Quyên đăng trên Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật số 7 năm 2005, “Cơ chế giám sát hiến pháp theo các hiến pháp Việt Nam và
vấn đề xây dựng tài phán hiến pháp ở nước ta hiện nay” của tác giả Trương Đắc Linh
đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1 năm 2007, “Bàn về mơ hình bảo hiến ở
Việt Nam: Từ giám sát của Quốc hội chuyển sang tài phán bằng toà án hiến pháp” của
tác giả Bùi Xuân Đức đăng trên Tạp chí Luật học số 8 năm 2007, “Các điều kiện của
việc xây dựng cơ chế giám sát và phán quyết các hành vi vi phạm Hiến pháp ở Việt
Nam” của tác giả Phạm Hữu Nghị đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5 năm
2009, “Giám sát việc tuân theo Hiến pháp của Quốc hội ở Việt Nam hiện nay” của tác
giả Nguyễn Thanh Tùng đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 4 năm 2016, “Hoàn
thiện cơ chế bảo vệ hiến pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
2
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045” của tác giả
Lê Minh Tâm đăng trên Tạp chí Luật học số 3 năm 2022.
Khơng chỉ vậy mà cịn có các khố luận, luận văn, cơng trình nghiên cứu khoa
học khác như: Trương Thị Thu Trang (2009), Cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam,
thực trạng và kiến nghị, Khoá luận tốt nghiệp; Trịnh Phương Thảo (2011), Xây dựng cơ
chế Nhà nước bảo vệ Hiến pháp ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luận văn
Thạc sĩ, Trường Đại học quốc gia Hà Nội; Nguyễn Ý Ngọc (2014), Hoàn thiện cơ chế
giám sát Hiến pháp trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, Khoá
luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Trịnh Thị Nguyệt (2017),
Cơ chế giám sát hiến pháp ở Việt Nam hiện nay thực trạng và kiến nghị, Khoá luận tốt
nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
Và cịn nhiều cơng trình, tác phẩm nghiên cứu khác. Đa phần các cơng trình, tác
phẩm nghiên cứu đều có nhiều nét tương đồng trong việc đưa ra các phân tích, quan
điểm, đánh giá về mặt lý luận. Tuy nhiên, tuỳ vào mỗi một phạm vi nghiên cứu cũng
như đối tượng nghiên cứu mà các cơng trình, tác phẩm có sự nghiên cứu ở những vấn đề
khác nhau. Nhìn chung, các cơng trình, tác phẩm nghiên cứu chủ yếu bình luận và nghiên
cứu về việc thực hiện cơ chế giám sát của Việt Nam qua các năm, cụ thể về chủ thể,
phương thức. Cũng có một số cơng trình đưa ra các giải pháp kiến nghị. Tuy vậy, muốn
tiệm cận với mục tiêu hoàn thiện được cơ chế giám sát Hiến pháp, cần dành thêm sự
quan tâm đến các định hướng, mục tiêu mà Nhà nước, Đảng đưa ra qua các kỳ Đại hội
Đảng. Chú trọng đến mục tiêu chung trong việc xây dựng quốc gia dân chủ. Hơn nữa
cũng cần phải nghiên cứu trong tình hình thực tế đất nước khi đang phát triển, hội nhập
kinh tế quốc tế, cần phải nhanh chóng đổi mới để hồ nhập nhất là về pháp luật. Chính
vì lẽ đó, trong khố luận tốt nghiệp của mình, tác giả sẽ nghiên cứu cơ chế giám sát Hiến
pháp ở Việt Nam trong thời kỳ mà quốc gia đang chuyển mình, dần dần phát triển, tiến
tới hội nhập với các quốc gia phát triển trên thế giới. Đánh giá những hạn chế của cơ chế
giám sát ở Việt Nam trong giai đoạn này, từ đó làm nền tảng nghiên cứu sâu hơn về tác
động của những hạn chế này ở các khía cạnh như xã hội, kinh tế, chính trị, … dựa trên
cơ sở tham khảo các cơng trình, tác phẩm đã có, kế thừa và hơn hết là tôn trọng những
thành quả quý giá mà các thế hệ đi trước đã nghiên cứu cũng như sẽ nghiên cứu sâu hơn,
trọng tâm hơn về các khía cạnh của vấn đề này.
3
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan
đến cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay. Từ đó, đưa ra một số đánh giá cụ
thể về tác động của những mặt còn hạn chế của cơ chế giám sát Hiến pháp để góp phần
thúc đẩy việc hồn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam. Đúng với tinh thần,
mục tiêu mà Việt Nam ln hướng đến, đó chính là xây dựng thành công một Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhà nước dân chủ, của nhân dân, vì nhân dân.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu các vấn đề mang tính lý luận
chung về cơ chế giám sát Hiến pháp. Có sự nghiên cứu các mơ hình giám sát Hiến pháp
trên thế giới. Bao gồm mơ hình của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ; Cộng hoà Liên bang Đức
và Cộng hoà Pháp. Đồng thời cũng nghiên cứu về cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam
qua các giai đoạn trong lịch sử lập hiến đến nay. Trọng tâm của đề tài là việc phân tích
thực tiễn cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang
trong thời kỳ phát triển nền kinh tế và không ngừng đổi mới để đi vào xu hướng hội nhập
quốc tế. Đánh giá các hạn chế đang tồn đọng của cơ chế giám sát Hiến pháp, cuối cùng
là những ảnh hưởng mà hạn chế đó tác động đến các mặt trong đời sống chính trị, xã hội
Việt Nam.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Vị trí, vai trị của pháp luật trong điều hành quản lý xã hội đã được nhận thức từ
rất sớm. Cùng với đó là tư tưởng xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
luôn theo suốt quá trình xây dựng, phát triển của Bộ máy Nhà nước nói riêng và Việt
Nam nói chung. Một trong những mục tiêu để xây dựng nên Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa chính là tính dân chủ. Đảm bảo mọi quyền lực Nhà nước thuộc về nhân
dân. Coi nhân dân là nguồn gốc của mọi sự tổ chức, hoạt động. Chính vì thế, việc bảo vệ
cho lợi ích của nhân dân để họ thực hiện các quyền lợi của mình mang tính chất vơ cùng
quan trọng.
Hiến pháp chính là văn bản quy phạm pháp luật ra đời vì nhân quyền, quyền lợi
nhân dân. Muốn bảo vệ được quyền lợi chính đáng của tầng lớp nhân dân thì cần có cơ
chế giám sát Hiến pháp phù hợp, đúng với tinh thần dân chủ. Có như vậy thì mới có căn
cứ để khẳng định được tính dân chủ của quốc gia. Tương đồng với lý tưởng, mục tiêu
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân
dân.
4
Việc nghiên cứu đề tài này mang đậm những giá trị về lý luận của cơ chế giám
sát Hiến pháp. Khơng chỉ thế, việc phân tích thực tiễn cùng các hạn chế và tác động của
các hạn chế đó trong cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam sẽ phần nào thúc đẩy việc
cần phải xây dựng một cơ chế giám sát Hiến pháp hoàn chỉnh, đầy đủ để hiện thực hoá
mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đúng nghĩa trong tương lai.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả thực hiện trên cơ sở kết hợp sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, đánh
giá, … Tuỳ vào từng nội dung mà mức độ sử dụng sẽ khác nhau. Đồng thời, tác giả cũng
nghiên cứu trên cơ sở phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác –
Lênin để xem xét, đánh giá, bàn luận các mặt của vấn đề nghiên cứu trong một mối liên
hệ với nhau từ lịch sử đến hiện tại.
Cụ thể, đối với các nội dung lý luận tác giả chủ yếu nghiên cứu trên cơ sở sử dụng
phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin. Nội dung về cơ
chế giám sát Hiến pháp qua các thời kỳ được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp phân
tích, đối chiếu, tổng hợp. Cuối cùng với các nội dung về thực trạng, kiến nghị tác giả sử
dụng phương pháp thống kê, so sánh và phân tích.
6. Bố cục của khố luận
Ngồi Phần mở đầu, Phần kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Khóa luận
này có phần nội dung gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế giám sát hiến pháp
Chương 2: Thực trạng và vấn đề đổi mới cơ chế giám sát hiến pháp ở việt nam
hiện nay
5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế giám sát Hiến pháp
Cơ chế giám sát Hiến pháp hình thành gắn với sự ra đời của Hiến pháp cũng như
gắn với Nhà nước mà ở đó quyền lực phải được thừa nhận thuộc về nhân dân. Theo dòng
lịch sử nhân loại trở về hàng ngàn năm trước dưới chế độ phong kiến đã tồn tại một loại
quyền lực mà ở đó những người đứng đầu Nhà nước nắm giữ quyền lực tối cao. Những
người đứng đầu Nhà nước được quyền quyết định tất cả mọi thứ kể cả sinh mạng của
con người. Họ ban hành ra luật lệ và luật lệ đó khơng nhằm kiểm soát những người ở vị
thế cai trị. Dưới thời kỳ này tại các quốc gia, người đứng đầu Nhà nước thường được gọi
là Vua. Ở một số nơi người đứng đầu Nhà nước cịn được gọi là Hồng thượng; Hoàng
đế; Nữ hoàng; … Do ảnh hưởng bởi quan điểm duy tâm thần bí về nguồn gốc và quyền
lực Nhà nước, theo quan điểm này quyền lực Nhà nước là ý trời, từ đấng tối cao. Người
đứng đầu Nhà nước là hiện thân của thần thánh, của ông Trời. Ở một số quốc gia châu
Á chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hoá Trung Hoa như: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam,
… thì người đứng đầu cịn được gọi là Thiên tử. Các chiếu chỉ mà Vua ban xuống hay
còn gọi là Thánh chỉ. Điều này có nghĩa Hồng đế là con trời, phụng theo lệnh của trời
mà ban hành nên chiếu chỉ. Do đó, người dân phải ln tn theo, phục tùng tuyệt đối
cho dù các luật lệ mà Vua ban có ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân thì cũng khơng
thể chống lại nó. Suốt hàng ngàn năm quyền lực của nhà Vua không bao giờ bị giới hạn
bởi một quy định pháp luật nào, khơng có bất kỳ một rào cản nào được đặt ra.
Ở thời kỳ cận đại, khi giai cấp phong kiến bước vào giai đoạn suy tàn, xuất hiện
thuyết khế ước xã hội, học thuyết chỉ ra rằng quyền lực Nhà nước không phải do Thượng
đế mà có, quyền lực Nhà nước là do nhân dân trao cho. Theo học thuyết này: “Xã hội
loài người khi mới hình thành tồn tại những sự hỗn loạn tự nhiên … Để thốt khỏi tình
trạng đó con người cần phải thoả thuận với nhau để thiết lập ra Nhà nước nhằm đảm
bảo trật tự xã hội”1. Cùng với đó là hàng loạt các cuộc Cách mạng tư sản bùng nổ trên
thế giới, tiêu biểu có Cuộc Cách mạng Anh năm 1688 – 1689, hay còn được biết đến với
tên gọi là Cách mạng vinh quang. Bấy giờ giai cấp tư sản đấu tranh nêu cao các khẩu
hiệu tự do, dân chủ để lật đổ sự chuyên chế của giai cấp phong kiến. Bằng nhiều cách
thức đấu tranh khác nhau, quyền lực đã bị hạn chế đối với hoàng gia, thiết lập quyền tối
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2009), Tập bài giảng Lý luận về Nhà nước, NXB Hồng Đức –
Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr. 44, 45
1
6
cao cho Nghị viện, trao cho Nghị viện rất nhiều quyền lực khác nhau. Thời kỳ này được
xem là thời kỳ vơ cùng hồng kim, vàng son của Nghị viện. Lúc này tồn tại lý thuyết
“Nghị viện tối cao” hay “Tối thượng nghị viện”. Theo đó, Nghị viện được coi như cơ
quan quyền lực cao nhất, đứng trên tất cả mọi cơ quan, chủ thể khác. Trên thế giới và
mạnh mẽ nhất là tại châu Âu suốt từ thế kỷ 17, thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 20 bị thống
trị bởi lý thuyết Nghị viện tối cao. Địa vị của Nghị viện là tối thượng. Thậm chí, người
Anh cịn có một câu ngạn ngữ rất nổi tiếng: “Nghị viện Anh có thể làm mọi thứ trừ việc
biến đàn ông thành đàn bà”2. Có ba lý do để người dân tôn sùng Nghị viện nhiều đến
như vậy. Thứ nhất, khi lật đổ chế độ phong kiến, Nghị viện chính là công cụ trong tay
của giai cấp tư sản. Thứ hai, khi đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến tồn tại suốt hàng
ngàn năm, khẩu hiệu mà giai cấp tư sản đặt ra chính là tự do, dân chủ, và chính Nghị
viện là nơi biểu hiện sinh động nhất lý thuyết chủ quyền thuộc về nhân dân và giai cấp
tư sản đã dùng làm đối trọng với lý thuyết thiên mệnh của giai cấp phong kiến. Nghị viện
đã mang đến một Nhà nước kiểu mới đối lập hoàn toàn với Nhà nước “cha truyền con
nối”. Thứ ba, một nhà tư tưởng lỗi lạc ở cuối thế kỷ 18, Jean Jacques Rousseau đã dành
rất nhiều ưu ái cho Nghị viện trong tác phẩm kinh điển Khế ước xã hội của ông.
J.J.Rousseau đã khởi đầu tác phẩm nổi tiếng “Khế ước xã hội” bằng một luận đề: “Con
người được sinh ra một cách tự do, nhưng khắp nơi lại bị xiềng xích”3. Cho thấy nguồn
gốc quyền lực thuộc về nhân dân từ quyền lực Nhà nước. Như vậy vấn đề về giám sát
Hiến pháp chưa xuất hiện trong giai đoạn này.
Nghị Viện đóng vai trị như một nhà làm luật, ban hành ra luật lệ và hồn tồn
khơng có một rào cản, ranh giới nào được đặt ra. Mục đích của việc ban hành nên pháp
luật cơ bản nhằm thiết lập nên một hệ thống pháp luật quản lý đất nước, giải quyết các
vấn đề phát sinh mà đất nước gặp phải. Ban đầu Nghị viện cần có thật nhiều quyền lực
vì Nghị viện là cơng cụ giúp giai cấp tư sản đấu tranh với giới quý tộc, do đó Nghị viện
phải thật sự mạnh mẽ. Nhưng rõ ràng khi Nghị viện đã thật sự đủ mạnh thì để ổn định
và phát triển đất nước cần có một Chính phủ, một Thủ tướng mạnh. Do vậy, cần phải có
sự giới hạn quyền lực của Nghị viện. Ý thức của con người đã bắt đầu hướng tới chủ
nghĩa tự do, xuất hiện các mong muốn mãnh liệt để bảo vệ quyền sống, quyền về tính
mạng, tài sản, … thốt ly ra khỏi sự bó buộc, con người mong muốn có được nhân quyền
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2009), Tập bài giảng Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới,
NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.148
3
Nguyễn Đăng Dung, Trương Đắc Linh, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, Nguyễn Minh Trí (2011), Xây
dựng và bảo vệ Hiến pháp – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr. 40
2
7
thực thụ, chính đó là một trong các tư tưởng tiến bộ thời bấy giờ. Và nhắc đến những tư
tưởng tiến bộ phải kể đến hai nhân vật nổi tiếng là Hans Kelsen4 và Charles de Gaulle5,
vai trò của hai nhân vật này đã làm suy yếu lý thuyết Nghị viện tối cao và chấm dứt thời
hoàng kim của Nghị viện ở châu Âu cũng như trên phạm vi của toàn thế giới.
Bằng những quan điểm tiến bộ, hợp thời, Nghị viện được đưa trở về đúng vị trí
mà nó nên có, đạo luật mà Nghị viện ban hành phải được xem xét sự phù hợp so với
Hiến pháp. Hiến pháp phải thật sự tối cao. Vì Hiến pháp khơng chỉ là đạo luật cơ bản mà
còn là đạo luật mang tính chất chính trị. Và muốn Hiến pháp thật sự có tơn nghiêm, có
tính tối thượng cần đặt ra vấn đề giám sát Hiến pháp. Tránh sự áp dụng tuỳ tiện, hạn chế
tối đa việc cơ quan lập pháp ban hành đạo luật vi hiến. Thậm chí kiểm sốt cả hành vi
của các nhà cầm quyền phải phù hợp Hiến pháp.
Mặc dù mãi đến sau đầu thế kỷ thứ 20 mới chấm dứt giai đoạn thịnh vượng nhất
của Nghị viện và quan điểm về Hiến pháp tối cao mới được phổ biến rộng khắp, cũng
như sự xuất hiện dần dần các mơ hình bảo vệ Hiến pháp, nhưng trong lịch sử, tư tưởng
về giám sát Hiến pháp bắt đầu xuất hiện ở Anh vào thế kỷ thứ 17. Theo đó, Hội đồng Cơ
mật có quyền tuyên bố văn bản do cơ quan lập pháp của các thuộc địa Anh ban hành trái
với luật của Nghị viện Anh hay pháp luật chung, vì vậy văn bản đó khơng thể có hiệu
lực và cần phải bị bãi bỏ6. Sau đó, vào năm 1787, tư tưởng giám sát Hiến pháp thời hiện
đại được đề cập tại hội nghị Philadelphia ở Mỹ (Hợp chúng quốc Hoa Kỳ). Hội nghị
Philadelphia diễn ra đã thống nhất được rất nhiều vấn đề tại thời điểm bấy giờ ở Mỹ.
Như việc phải xây dựng một chính quyền mạnh để ổn định trật tự xã hội nước Mỹ, liên
kết chặt chẽ các bang với nhau, phân chia quyền lực giữa các nhánh quyền lực. Một điểm
sáng tại hội nghị chính là đã đưa ra vấn đề về tài phán hiến pháp thông qua phát biểu của
Jame Wilson. Theo Wilson, “Các thẩm phán là người giải thích luật nên phải có cơ hội
bảo vệ các quyền Hiến định”7. Mặc dù phát biểu của Wilson đối với tài phán Hiến pháp
Hans Kelsen (11/10/1881 – 19/04/1973) là một nhà luật học người Mỹ gốc Áo. Trong ngành luật thì ơng được
xem là cha đẻ của "lý thuyết thuần túy về luật pháp”. Ông cũng là người đã viết bản Hiến pháp năm 1920 của Áo.
Một số tác phẩm nổi tiếng:
General Theory of Law and State (1945)
The Law of the United Nations (1950)
Principles of International Law (1952, 2. Aufl. 1966)
5
Charles de Gaulle (22/11/1890 – 9/11/1970) là chính khách nổi tiếng của Pháp. Ông cũng là Tổng thống lần thứ
18 của Cộng hoà Pháp nhiệm kì từ năm 1959 - 1969. Charles de Gaulle cũng chính là cha đẻ của bản Hiến pháp
năm 1958 của Cộng hoà Pháp. Bản Hiến pháp đầu tiên trên thế giới được ban hành theo hình thức trưng cầu dân ý.
6
Đào Trí Úc – Võ Khánh Linh (chủ biên) (2003), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước
ở nước ta hiện nay, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, tr. 556
7
Vũ Văn Nhiêm (chủ biên) (2013), Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm quyền con người, NXB Hồng
Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr. 12
4
8
chưa được thông qua, nhưng việc ra đời bản Hiến pháp Mỹ năm 1787 là bản Hiến pháp
đầu tiên trên thế giới, không chỉ tạo nên bước ngoặt quan trọng trong lịch sử lập hiến thế
giới mà còn căn nguyên trực tiếp của sự ra đời chế độ giám sát Hiến pháp8.
Tư tưởng về giám sát Hiến pháp phải được chuyển hoá thành thực tiễn phải kể
đến vụ kiện lịch sử ở Mỹ gắn liền với tên tuổi của vị chánh án John Marshall - Vụ
Marbury kiện Madison. Theo đó, John Adam (tổng thống thứ 2 của Hoa Kỳ có nhiệm
kỳ từ 1797 – 1801) trong mọi nỗ lực tái tranh cử đã bị thất bại. Do vậy, ông đã tìm cách
để kiềm chế chính quyền mới. Với mục đích đó, John Adam mong muốn kiểm sốt được
nhánh quyền tư pháp. Trước khi Tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ là Thomas Jefferson
tuyên thệ nhậm chức ông đã cho bổ nhiệm 42 Thẩm phán. Một trong những vị thẩm phán
được bổ nhiệm có William Marbury. Tuy nhiên, đây là cuộc bổ nhiệm “lúc nửa đêm” và
khơng có bất kỳ một quyết định bổ nhiệm nào được đưa ra. Khi chính quyền mới của
Tổng thống Thomas Jefferson bắt đầu lên nắm quyền thì Thomas Jefferson u cầu
Chánh án James Madison khơng ban hành quyết định bổ nhiệm cho Marbury. Quyết
định này tất nhiên không được Marbury chấp nhận, ông đã đệ đơn khởi kiện James
Madison để yêu cầu được trao quyết định bổ nhiệm. Điều này dẫn đến một tình thế khó
khăn cho Chánh án John Marshall khi ơng đối mặt với các lo ngại, áp lực chính trị. Tuy
vậy, ơng vẫn quyết định đưa vụ việc ra xem xét. Chánh án John Marshall lập luận khi
xem xét lại điều luật của Bộ Luật Tư Pháp 1789 cho phép Tịa có quyền trao quyết định
Bổ nhiệm cho Thẩm phán là vi hiến khoản 13 của bộ Luật đã trái với Điều 3, khoản 2
Hiến pháp Hoa Kỳ 1789. Phán quyết từ chối trao quyết định bổ nhiệm của Madison là
sai, nhưng cũng không yêu cầu Madison trao quyết định bổ nhiệm9. John Marshall đã
kiến tạo nền móng cho ngành tư pháp được đối trọng với hai nhánh quyền lực còn lại.
Bằng cách khẳng định quyền tuyên bố các hành vi của Quốc hội là vi hiến, Marshall đã
tuyên bố cho tòa án một vị trí tối cao với tư cách là người giải thích Hiến pháp10.
Ở châu Âu, trước chiến tranh thế giới thứ hai, theo mơ hình của Hoa Kỳ, các nước
như Na Uy, Hy Lạp, và một số bang của Thuỵ Sĩ cũng thiết lập quyền bảo hiến của toà
án11. Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các quốc gia tại châu Âu bắt đầu xây dựng mô
Nguyễn Quốc Sửu (chủ biên) (2018), Xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay – Lý
luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tr. 28
9
La Mạnh Nhất, “Marbury kiện Madison – Thẩm quyền Pháp viện Tối cao Hoa Kỳ”,
(Truy cập ngày 04
tháng 03 năm 2023)
10
Melvin.I.Urofsky,
“Marbury
and
Madison
–
United
States
law
case”,
(Truy cập ngày 04 tháng 03 năm 2023)
11
Phạm Văn Hùng (chủ biên) (2010), Bàn về lập hiến, NXB Lao động, Hà Nội, tr. 497
8
9
hình giám sát Hiến pháp cho mình. Tại nước Áo, Hans Kelsen đã thay thế quan điểm
Nghị viện tối cao bằng quan điểm Hiến pháp mới thực sự tối cao. Ông cũng đã soạn thảo
cho Áo bản Hiến pháp năm 1920, thành lập nên Toà án Hiến pháp để bảo vệ tính tối cao,
tính bất khả xâm phạm của Hiến pháp. Tiếp sau đó tại Đức, Hans Kelsen cũng đã vận
dụng rất thành công các lập luận, tư duy của mình và đưa Nghị viện về đúng vị trí. Tại
Pháp, gắn liền với tên tuổi của vị tướng Charles de Gaulle, xuất phát từ những toan tính
chính trị của De Gaulle khi muốn đối đầu với Nghị viện, ông đã làm suy yếu quyền lực
của Nghị viện bằng cách tăng cường quyền lực cho tổng thống, trong đó có quyền phủ
quyết một đạo luật do Nghị viện ban hành. Bản Hiến pháp của Pháp năm 1958 trong nền
Cộng hoà thứ 5 đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ hoàng kim của Nghị viện. Đây cũng là
bản Hiến pháp đầu tiên trên thế giới được ban hành theo hình thức trưng cầu dân ý, và
cũng trong bản Hiến pháp này De Gaulle đã thành lập một hội đồng bảo hiến.
Cũng từ sau Thế chiến thứ II, ngồi châu Âu thì các quốc gia khác trên thế giới
cũng manh nha xây dựng mơ hình giám sát Hiến pháp cho riêng mình. Nhật Bản với mơ
hình giám sát Hiến pháp phi tập trung gần như tương đồng với Mỹ. Dựa trên tư tưởng
của Hans Kelsen, Toà án Hiến pháp tại Cộng hoà Tiệp Khắc được thiết lập đầu năm
1920. Sau đó là Toà án Hiến pháp Cộng hoà Liên bang Đức ra đời năm 1949 cũng với
công lao to lớn của Hans Kelsen, sau đó nữa Tồ án Hiến pháp Hàn Quốc thành lập năm
1988, … và còn nhiều quốc gia nữa trên thế giới đã xây dựng mơ hình giám sát Hiến
pháp. Các quốc gia trên đã xây dựng một Toà án Hiến pháp hoặc Tồ án tối cao thay vì
một tồ án xét xử các vụ việc thơng thường để thực hiện chức năng bảo vệ Hiến pháp.
Ngoài ra, một số quốc gia khơng thiết lập nên một Tồ án chuyên trách để bảo vệ hiến
pháp, mà phân cho nhiều cơ quan, chủ thể khác nhau có thẩm quyền thực hiện ví dụ như
Trung Quốc, Cuba, …
Nhìn chung, có thể thấy quá trình lịch sử hình thành cơ chế giám sát Hiến pháp
là một quá trình lâu dài, chuyển biến qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau. Từ khi xuất
hiện tư tưởng chủ quyền thuộc về tay nhân dân thay thế thuyết Thần quyền, khi giai cấp
phong kiến lụi tàn cùng với sự lên ngôi của Nghị viện. Và cuối cùng là sự ra đời của cơ
chế giám sát Hiến pháp thay thế thuyết Nghị viện tối cao. Hiến pháp cần được xem là tối
cao, tối thượng trong đời sống chính trị, xã hội quốc gia. Hiến pháp bảo vệ nhân quyền
trước các nhà cầm quyền. Và để Hiến pháp có thể bảo vệ nhân quyền, như đúng mục
đích ban đầu, cơ bản nhất khi nó được sinh ra thì phải có một cơ chế giám sát Hiến pháp
mạnh mẽ, phù hợp. Cơ chế giám sát Hiến pháp này như một ranh giới để giới hạn quyền
10
lực của Nghị viện, nói rộng ra là giới hạn quyền lực của những chủ thể nắm quyền trong
tay, và đây cũng chính là mục đích mà cơ chế này tồn tại.
1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của cơ chế giám sát Hiến pháp
1.2.1 Khái niệm cơ chế giám sát Hiến pháp
Cơ chế (trong tiếng Anh là Mechanism) được giảng nghĩa trong Từ điển tiếng
Việt là “Cách thức theo đó là một q trình thực hiện”12. Trong cuốn Đại từ điển Tiếng
Việt cũng có nêu ra một khái niệm về cơ chế “Là cách thức sắp xếp tổ chức để làm
đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện”13. Hoặc cũng có thể hiểu cơ chế theo hai
phạm vi nghĩa rộng và nghĩa hẹp theo quan điểm như sau:
“Theo nghĩa hẹp, cơ chế được hiểu là tổng hợp các thiết chế (tổ chức), hình thức
và phương pháp (biện pháp) hoạt động, quy phạm điều chỉnh tổ chức và hoạt
động, chủ thể, khách thể, đối tượng tác động. Theo nghĩa rộng, thì cơ chế được
đặt vào một mơi trường nào đó để vận động, hoạt động trong mối liên hệ tác động
qua lại, theo những nguyên tắc nhất định, nhằm hướng tới mục đích đã được xác
định”14.
Đối với thuật ngữ giám sát Hiến pháp, thuật ngữ này đã xuất hiện từ rất lâu trên
thế giới. Trước hết, nói về giám sát là đang chỉ một hình thức hoạt động thơng qua thực
hiện việc xem xét, đánh giá, theo dõi, quan sát mang tính chất chủ động của chủ thể thực
hiện giám sát với chủ thể, đối tượng bị giám sát. Thông qua giám sát, chủ thể thực hiện
việc giám sát có thể đảm bảo tính đúng đắn, phù hợp, các tiến trình hoạt động đều đi
theo như quỹ đạo, mục tiêu đề ra. Có quan điểm cho rằng “giám sát Hiến pháp là tổng
hợp các biện pháp giữ gìn, chống lại sự vi phạm các nguyên tắc và quy phạm Hiến
pháp”15. Theo quan điểm này, giám sát Hiến pháp được hiểu trong một phạm vi rộng.
Hơn nữa hiểu theo quan điểm này làm cho ranh giới giữa giám sát Hiến pháp với bảo
đảm thi hành Hiến pháp trở nên mờ nhạt, khó phân định. Bởi lẽ, bảo đảm thi hành Hiến
pháp là một dạng tư duy của pháp chế xã hội chủ nghĩa16, đi đến mục tiêu đưa Hiến pháp
tiếp cận đến đời sống xã hội, làm cho Hiến pháp được phổ biến rộng rãi, hơn hết là kiến
tạo nền tảng vững chắc đảm bảo việc thi hành Hiến pháp thực sự diễn ra trên thực tế.
Hoàng Phê (chủ biên) (2021), Từ điển tiếng việt, NXB. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 214
Trích Đại từ điển Tiếng Việt (1998), NXB. Văn hóa thơng tin, Hà Nội, tr. 464
14
Vũ Văn Nhiêm (chủ biên) (2013), Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc đảm bảo quyền con người, NXB Hồng
Đức - Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội tr. 14
15
Đặng Văn Chiến (chủ biên) (2005), Cơ chế bảo hiến, NXB. Tư pháp, Hà Nội, tr. 17
16
Trịnh Thị Nguyệt (2017), Cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và kiến nghị, Khoá luận
tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, tr. 8
12
13
11
Trong khi đó, giám sát Hiến pháp lại ra đời nhằm mục đích quan trọng nhất chính là bảo
vệ nhân quyền thông qua việc giám sát, xử lý những vi phạm Hiến pháp. Dĩ nhiên, nó
đồng nghĩa với việc, giám sát Hiến pháp sẽ không được vận hành khi không có vi phạm
Hiến pháp xuất hiện.
Quan điểm thứ hai lại cho rằng “giám sát Hiến pháp là sự bảo vệ Hiến pháp trước
các hoạt động đã được thực hiện hoặc sẽ được thực hiện bởi một cơ chế bên ngoài”17.
Dưới góc độ của quan điểm này thì giám sát Hiến pháp được thể hiện trong phạm vi hẹp
hơn quan điểm thứ nhất vừa nêu. Quan điểm trên cho thấy giám sát Hiến pháp là việc
thực hiện việc đánh giá, xem xét, thậm chí là có thể điều tra một đạo luật được ban hành
có phù hợp với tinh thần của Hiến pháp hay khơng. Đạo luật đó được ban hành có vi
phạm đến nhân quyền hay có vi hiến. Lúc này giám sát Hiến pháp được bộc lộ dưới dạng
giám sát về mặt hình thức, nội dung trên văn bản của một đạo luật. Nhưng để giám sát
chặt chẽ và bao qt thì khơng thể thu hẹp trong phạm vi văn bản. Mà nó phải được mở
rộng đến giám sát các hành vi của tất cả chủ thể có quyền lực trong một Nhà nước là hợp
hiến hay vi hiến. Có thể thấy rất rõ điều này qua Tồ án Hiến pháp ở Châu Âu. Toà án
Hiến pháp Cộng hoà Liên bang Đức hay Hội đồng bảo hiến Cộng hoà Pháp không chỉ
được quyền tuyên bố luật do Nghị viện ban hành là vi hiến mà còn được quyền giải quyết
tất cả tranh chấp, khiếu nại về nhân quyền. Cơ quan bảo hiến của Mỹ, Đức tương tự cũng
có quyền tuyên bố một đạo luật do Nghị viện ban hành là vi hiến và từ chối áp dụng.
Song song đó cịn có quyền giải quyết tranh chấp giữa các nhánh quyền lực hành pháp,
lập pháp ở trung ương, địa phương.
Như vậy, giám sát Hiến pháp cần được hiểu một cách đầy đủ, bao quát hơn. Theo
đó, giám sát Hiến pháp là việc kiểm sốt các tính hợp hiến trong các chế định chính trị
mà Hiến pháp đã ghi nhận, các đạo luật có giá trị hiệu lực thấp hơn Hiến pháp. Đồng
thời với đó, giám sát Hiến pháp cũng là việc kiểm soát cả các hành vi mà các chế định
chính trị đã ghi nhận trong Hiến pháp.
Tuỳ thuộc vào quan điểm hay góc độ của mỗi người tiếp cận thì phạm vi và cách
thể hiện khái niệm cơ chế giám sát Hiến pháp có sự khác nhau. Tóm lại, cơ chế giám sát
Hiến pháp là tổng hợp một loạt các phương thức, thiết chế hay biện pháp cùng với sự
xem xét khách thể, đối tượng tác động, tổng hợp văn bản quy phạm pháp luật để vận
hành một hoạt động có mối liên hệ với nhau, giúp đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp.
Vũ Văn Nhiêm (chủ biên) (2013), Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc đảm bảo quyền con người, NXB Hồng
Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr. 11
17
12
Hơn nữa, cơ chế giám sát Hiến pháp sẽ không chỉ giới hạn ở việc kiểm sốt tính đúng
đắn, phù hợp của các văn bản pháp luật dưới Hiến pháp mà cơ chế giám sát Hiến pháp
cần được hiểu với phạm vi rộng hơn là tổng hoà các thiết chế, hình thức, biện pháp đảm
bảo hành vi của những chủ thể có quyền cũng phải tuân thủ theo Hiến pháp.
1.2.2 Đặc điểm của cơ chế giám sát Hiến pháp
Thứ nhất, cơ chế giám sát hiến pháp mang tính chính trị và tính pháp lý. Khi
đã nói đến cơ chế giám sát Hiến pháp thì khơng chỉ nói đến Bộ máy Nhà nước, Quốc
hội, Chính phủ, Tồ án hay các thiết chế nhà nước khác, mà cịn nói đến các đảng phái
chính trị, các lực lượng chính trị18. Và để xây dựng một cơ chế giám sát Hiến pháp dù ít
hay nhiều đều có sự liên quan đến chế độ chính trị. Ví dụ như đa số các quốc gia có chính
thể Cộng hồ Tổng thống, trong đời sống chính trị có sự phân quyền mạnh mẽ thì sẽ áp
dụng cơ chế giám sát Hiến pháp theo mơ hình phi tập trung. Hoặc với một số quốc gia
khơng có phân quyền mạnh mẽ, đi theo chính thể Cộng hồ Đại nghị thì có cơ chế giám
sát Hiến pháp theo mơ hình tập trung. Quan điểm chính trị, định hướng chính trị thế nào
thì cơ chế giám sát Hiến pháp sẽ mang những đặc điểm thế đó. Gắn liền với chính trị của
quốc gia tạo ra nó.
Bên cạnh đó, cơ chế giám sát Hiến pháp cịn mang tính pháp lý. Hiến pháp là văn
bản chính trị và cịn là văn bản mang tính pháp lý ràng buộc các chủ thể mà nó hướng
tới điều chỉnh. Vậy thì cơ chế giám sát Hiến pháp, được khai sinh dựa trên một bản Hiến
pháp hoàn chỉnh để bảo vệ Hiến pháp cũng mang tính pháp lý. Đó là những lý lẽ, những
cơ sở, căn cứ để vận hành được cơ chế giám sát Hiến pháp. Tạo ra một bộ khung cho cơ
chế giám sát Hiến pháp hoạt động. Ràng buộc các chủ thể mà cơ chế giám sát Hiến pháp
điều chỉnh phải chấp hành theo. Nếu như cơ chế giám sát Hiến pháp thiếu đi đặc điểm
pháp lý thì sẽ khơng có một cơ sở nào để giải quyết các vi phạm Hiến pháp. Do đó, cơ
chế giám sát Hiến pháp có sự giao thoa về chính trị và pháp lý.
Thứ hai, cơ chế giám sát hiến pháp mang tính xã hội và tính thống nhất.
Thượng nghị sĩ người Mỹ Daniel Webster có một câu nói rất nổi tiếng vào năm 1837:
“Một quốc gia, một hiến pháp, một vận mệnh”19. Câu nói này cho thấy, quốc gia khác
nhau thì Hiến pháp khác nhau. Bởi mỗi một quốc gia đều có một bề dày lịch sử khác
nhau, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hố riêng biệt. Vì vậy, Hiến pháp của mỗi
Vũ Văn Nhiêm (chủ biên) (2013), Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc đảm bảo quyền con người, NXB Hồng
Đức - Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr. 17
19
Vũ Văn Nhiêm (chủ biên) (2013), Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc đảm bảo quyền con người, NXB Hồng
Đức - Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr. 27
18
13
quốc gia như một trong những nét bộc lộ ra bên ngồi của các yếu tố đó. Ngồi ra, trên
tinh thần học hỏi, vận dụng, kế thừa có chọn lọc, đôi khi các quốc gia tiếp thu kinh
nghiệm lập hiến của nhau có sự học hỏi nhưng cũng vận dụng tính sáng tạo tuỳ thuộc
các yếu tố của quốc gia mình mà có sự thay đổi thích hợp. Ở mỗi một giai đoạn khác
nhau, tuỳ thuộc vào tình hình chính trị, xã hội, văn hố, tơn giáo, tín ngưỡng, trình độ
phát triển, khoa học mà Hiến pháp sẽ tương quan với giai đoạn đó. Và tuỳ kiểu Nhà nước
khác nhau mà cơ chế giám sát Hiến pháp sẽ khác nhau. Do vậy, giám sát Hiến pháp
mang tính xã hội.
Về đặc điểm tính thống nhất, khi đã nói tới hai từ cơ chế là nói đến cách thức một
q trình được thực hiện. Khâu trước sẽ là cơ sở nền tảng cho khâu phía sau. Vì vậy,
từng yếu tố một trong cơ chế giám sát Hiến pháp phải có sự gắn bó, tương trợ nhau, dẫn
đến cả cơ chế hoạt động liền mạch, chính xác. Đã là cơ chế thì phải thống nhất, đây là
yếu tố vô cùng cần thiết đảm bảo mọi nỗ lực bảo vệ Hiến pháp được hiệu quả. Nếu các
yếu tố của cơ chế giám sát Hiến pháp mà đi ngược nhau thì khơng thể đảm bảo tính thống
nhất của cả cơ chế, các mục tiêu giám sát Hiến pháp cũng không được thực hiện đúng
nghĩa.
Thứ ba, cơ chế giám sát Hiến pháp có đối tượng giám sát và chủ thể giám sát
đa dạng, phong phú. Đầu tiên, cơ chế giám sát Hiến pháp để bảo vệ tính tối cao của
Hiến pháp. Bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp cũng chính là bảo đảm quyền lực của nhân
dân. Xây dựng thành công cơ chế giám sát Hiến pháp cũng là yếu tố dẫn đến xây dựng
thành cơng Nhà nước pháp quyền. Vì lẽ đó, việc xác định đối tượng sẽ điều chỉnh mang
tính chất quan trọng. Nếu như xác định đối tượng khơng chính xác có khả năng dẫn đến
mất tính hiệu quả trong hoạt động giám sát Hiến pháp, lúc này Hiến pháp vẫn bị vi phạm
và khơng đảm bảo tính tối cao. Nhìn chung, có thể chia đối tượng giám sát Hiến pháp
làm hai nhóm. Thứ nhất là các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý thấp hơn
Hiến pháp. Thứ hai là các chủ thể có thẩm quyền trong bộ máy Nhà nước.
Các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị hiệu lực pháp lý thấp hơn Hiến pháp
gồm văn bản luật, văn bản dưới luật như pháp lệnh, nghị định, nghị quyết, quyết định,
thông tư, ... Bản chất của các văn bản quy phạm pháp luật đều có tính giai cấp và tính xã
hội. Tính xã hội thể hiện ở việc các yếu tố xã hội sẽ dẫn đến sự hình thành chúng. Một
vấn đề mới trong xã hội phát sinh thì sẽ cần một quy phạm pháp luật được xây dựng để
điều chỉnh. Tính giai cấp chính là ý chí của giai cấp cầm quyền khi ban hành ra pháp
luật. Dù ít hay nhiều, dù cho đó là Nhà nước dân chủ tới đâu thì pháp luật của Nhà nước
14
đó vẫn sẽ hiện diện, phản ánh ý chí giai cấp cầm quyền. Suy cho cùng, các văn bản quy
phạm pháp luật khi được ra đời là để trở thành công cụ trong tay Nhà nước để quản lý
đất nước, giúp giai cấp thống trị kiểm tra, giám sát hành động của nhân dân có tn theo
những gì mà pháp luật đã quy định.
Từ đó xuất hiện tư tưởng “Ai sẽ canh gác những người lính gác” (Quis custodiet
custodes) với nội dung cần phải có sự giám sát chặt chẽ việc thi hành hiến pháp của các
cơ quan nhà nước được phân quyền, đảm bảo cho quyền lực được phân chia cho các cơ
quan một cách chặt chẽ và có thể kiểm soát được20. Các văn bản quy phạm pháp luật
phải được ban hành một cách phù hợp, đúng với tình hình thực tế. Khơng được ban hành
một cách tuỳ tiện. Thượng tôn pháp luật nhưng pháp luật phải tuân theo chuẩn mực của
Hiến pháp. Để đảm bảo điều này, cơ chế giám sát Hiến pháp mở rộng phạm vi điều chỉnh
với nhóm đối tượng này. Cơ chế giám sát Hiến pháp tạo ra một khuôn khổ trong việc
kiểm tra, xem xét, đánh giá, phản hồi. Cho thấy văn bản quy phạm pháp luật khi ban
hành nếu có gây phương hại quyền cơ bản của con người thì cần được bãi bỏ, không
được phép áp dụng.
Đối với các Điều ước quốc tế mà quốc gia tiến hành đàm phán ký kết song phương
hoặc đa phương. Khi ký kết các Điều ước quốc tế, khi phát sinh hiệu lực thì rõ ràng quốc
gia sẽ chịu sự ràng buộc với Điều ước quốc tế đó. Do vậy, trong q trình đàm phán ln
cần có sự xem xét, cân nhắc một cách cẩn thận. Đặt ra vấn đề các điều khoản trong Điều
ước quốc tế có thể có khả năng dẫn đến vi hiến. Một số quốc gia nhìn nhận khía cạnh
này và đã đưa vào điều chỉnh khi lường trước các hệ quả vi hiến có thể phát sinh. Ví dụ,
Điều 95 của Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978 quy định: “Việc ký kết điều ước quốc tế
bao hàm những điều khoản trái với Hiến pháp này chỉ được tiến hành sau khi sửa đổi
Hiến pháp; Chính phủ hay một trong hai viện của nghị viện có thể u cầu Tồ án bảo
hiến quyết định có sự mâu thuẫn giữa điều ước quốc tế với Hiến pháp hay khơng”21.
Tiếp đó, nếu chỉ dừng lại ở việc điều chỉnh nhóm đối tượng là văn bản thì chưa
đủ. Vi phạm Hiến pháp cịn có thể ở dạng hành vi. Nhưng khơng phải mọi hành vi đều
là đối tượng của cơ chế giám sát Hiến pháp. Thường cơ chế giám sát Hiến pháp sẽ điều
chỉnh đến hành vi của các chủ thể như Thủ tướng, Tổng thống, Chủ tịch nước, … những
người này là những chủ thể có quyền và nghĩa vụ được Hiến pháp đưa vào điều chỉnh.
Do vậy, cơ chế giám sát Hiến pháp sẽ thực hiện giám sát, xem xét những hành vi của
20
21
(Truy cập ngày 08/03/2023)
Vũ Hồng Anh (2003), “Giám sát Hiến pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12, tr. 72
15
các chủ thể nói trên. Các hành vi này thường sẽ được xem xét ở góc độ trách nhiệm chính
trị hơn là xem xét ở góc độ trách nhiệm pháp lý. Một khi nó được xem xét ở góc độ trách
nhiệm chính trị thì nó có sự phụ thuộc vào niềm tin số đơng, vì vậy khơng bắt buộc phải
có hành vi vi hiến, không cần theo một thủ tục quy trình kết tội, thu thập bằng chứng hay
cơng khai xét xử như trách nhiệm pháp lý. Như vậy, tuỳ thuộc truyền thống pháp luật
của mỗi quốc gia, tuỳ thuộc mơ hình giám sát Hiến pháp mà mỗi quốc gia có đối tượng
điều chỉnh khác nhau.
Song song với đối tượng giám sát Hiến pháp, chủ thể thực hiện giám sát Hiến
pháp là một đặc điểm quan trọng của cơ chế giám sát Hiến pháp không kém đối tượng
điều chỉnh. Việc xác định được chủ thể thực hiện giám sát Hiến pháp tạo nên tính hiệu
quả trong việc giám sát và bảo vệ được Hiến pháp một cách tuyệt đối nhất. Giai đoạn
đầu, chủ quyền giám sát Hiến pháp là các cơ quan dân cử. Người ta lập luận rằng cơ
quan dân chủ sẽ tạo sự thuận lợi cho việc bảo vệ Hiến pháp. Đây là những cơ quan chính
trị như Hạ viện hoặc Thượng viện của Nghị viện, Hội nghị dân cử, … Cơ quan thực hiện
giám sát Hiến pháp thường là chủ thể lập hiến. Tuy nhiên, điều này không phù hợp và
dần không được áp dụng bởi cơ quan này sẽ có nguy cơ lạm quyền rất cao. Khi làm ra
Hiến pháp, chủ thể này chịu sự chi phối bởi các giá trị mà đạo luật được ban hành mang
lại, do vậy vấn đề kiểm sốt có thể bị lệch lạc. Hamilton nhận xét rằng: “Ngành hành
pháp không những có quyền phân phối các vinh dự mà lại có quyền sử dụng vũ lực.
Ngành lập pháp khơng những kiểm sốt tài chính mà lại cịn có quyền quy định các luật
lệ chi phối, sự sinh hoạt của các công dân”. Hành pháp hay lập pháp đều mang nguy cơ
vi hiến. Do vậy, cần có cơ quan khác thực hiện giám sát Hiến pháp.
Nhánh quyền lực còn lại là tư pháp được xem xét tới. Tư pháp có một hệ thống
Tồ án thực thi cơng lý, giải quyết tranh chấp. Khơng một ai có thể đưa ra những phán
quyết hợp lý bằng các vị thẩm phán, bởi việc đưa ra phán quyết giải quyết tranh chấp là
chuyên môn của thẩm phán. Đồng thời, việc kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản,
hành vi mang tính chất pháp lý. Từ những lý lẽ đó, nảy sinh quan điểm giao quyền giám
sát Hiến pháp cho nhánh quyền lực tư pháp. Tư pháp không ban hành ra pháp luật, không
chi phối đến xã hội về mặt tài sản, không quản lý tiền bạc quốc gia. Đối với tư pháp chỉ
quan tâm đến việc dùng các lập luận, lý lẽ trên tinh thần các quy định của lập pháp và sự
tương trợ từ các nguyên tắc thi hành, áp dụng của hành pháp, bằng tất cả lý trí để đưa ra
nhận định, phán quyết. So với hai nhánh lập pháp và hành pháp thì quyền lực nhánh tư
pháp ít và nguy cơ lạm quyền của nhánh tư pháp cũng ít hơn. Như vậy, dựa trên nguyên
16
lý tổ chức quyền lực thì đa số tại các quốc gia, chủ thể được trao quyền thực hiện giám
sát Hiến pháp thuộc về ngành tư pháp. Cũng cần nói thêm, tuỳ điều kiện phát triển, lịch
sử, cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước, thể chế chính trị mà mỗi quốc gia có thành lập Tồ
án chun trách nhằm giám sát Hiến pháp. Các quốc gia theo mơ hình bảo hiến phi tập
trung kiểu Mỹ thì giao về cho tồ án thơng thường, các quốc gia theo mơ hình bảo hiến
tập trung như Đức, Áo thì thành lập Tồ án Hiến pháp riêng. Và khơng phải mọi quốc
gia có Hiến pháp đều sẽ trao quyền giám sát Hiến pháp cho ngành tư pháp, vẫn có một
số quốc gia đến nay chưa thành lập toà án để giám sát Hiến pháp mà đưa về cho các chủ
thể khác nhau trong bộ máy nhà nước cùng thực hiện như Việt Nam hiện nay.
Thứ tư, phân biệt cơ chế giám sát Hiến pháp với bảo vệ Hiến pháp và tài
phán Hiến pháp
• Giám sát Hiến pháp và bảo vệ Hiến pháp
Đây là một trong các trường hợp dễ bị nhầm lẫn và đồng nhất với nhau. Về cơ
bản, giám sát Hiến pháp hay bảo vệ Hiến pháp đều là hoạt động mang tính chất nhằm
giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật và hành vi của chủ thể có thẩm
quyền. Đó là lý do mà hai thuật ngữ này thường bị nhầm lẫn và dẫn đến bị đánh đồng
làm một. Song, mặc dù có quan điểm cho rằng cả hai thuật ngữ trên đồng nhất nhau
nhưng cũng có tác giả đã tiếp cận đến hai thuật ngữ này và cho thấy điểm khác nhau giữa
hai thuật ngữ. Có quan điểm cho rằng: “Bảo vệ Hiến pháp là tổng hợp các hoạt động
được tiến hành bởi cơ quan, cá nhân nhằm đảm bảo sự tôn trọng và thi hành Hiến pháp,
ngăn ngừa và xử lý mọi hành vi vi phạm Hiến pháp”22. Để thực hiện việc bảo vệ Hiến
pháp có thể thơng qua bằng nhiều cách thức, hành động đa dạng. Thơng qua hành vi giải
thích Hiến pháp, bảo đảm cho các quy định của Hiến pháp được nhận thức và khi có
nhận thức sẽ dẫn đến việc thực hiện thống nhất, kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật,
tính hợp hiến trong hành vi của chủ thể có thẩm quyền, hoặc giải quyết khiếu nại của
cơng dân trong vi phạm Hiến pháp … Nói tóm lại là bằng nhiều hành vi khác nhau hướng
đến mục tiêu giữ cho Hiến pháp được tôn trọng tuyệt đối, chống lại vi phạm Hiến pháp,
đảm bảo cho Hiến pháp tối cao, trọn vẹn. Dù đều có hoạt động kiểm tra, giám sát, cùng
có một mục tiêu chống lại sự vi hiến nhưng bảo vệ Hiến pháp cần được xem là một tập
hợp con nằm phía bên trong của một tập hợp mẹ là cơ chế giám sát Hiến pháp. Giám sát
Hiến pháp rộng hơn bởi giám sát Hiến pháp còn bao hàm cả việc thiết lập nên một cơ
Tào Thị Quyên (2017), “Bảo vệ Hiến pháp góp phần bảo đảm sự bền vững của chế độ chính trị”, Tạp chí Lý luận
chính trị, số 10, tr. 38 – 42
22
17
quan nhằm thực hiện các hoạt động để kiểm tra giám sát tính hợp hiến. Cơ quan đó bao
gồm chủ thể được trao quyền nhất định. Có một cơ cấu vận hành hoạt động rõ ràng,
thông qua cơ chế giám sát Hiến pháp để xây dựng mơ hình bảo hiến.
• Giám sát Hiến pháp và tài phán Hiến pháp
Tài phán Hiến pháp – một định chế thiết yếu của nhà nước pháp quyền, được sinh
ra để bảo vệ quyền con người trước sự xâm phạm của Nhà nước23. Về cơ sở của giám
sát Hiến pháp và tài phán Hiến pháp không giống nhau. Nếu như giám sát Hiến pháp
xuất hiện khi có sự xuất hiện Hiến pháp. Một đạo luật mang tính tối cao ghi nhận quyền
lực Nhà nước là của nhân dân trao cho, một đạo luật mang sứ mệnh, tầm vóc cao cả là
bảo vệ nhân quyền. Khi Hiến pháp được đặt đúng vị trí của nó, khi được thừa nhận tính
tối cao thì địi hỏi có hoạt động giám sát Hiến pháp nhằm đảm bảo tính tối cao của Hiến
pháp. Trong khi đó, với tài phán Hiến pháp ngồi địi hỏi việc thừa nhận tính tối cao của
Hiến pháp để có cơ sở thực hiện tài phán Hiến pháp thì phải có thêm cơ sở quy định về
quyền công dân trong Hiến pháp. Quyền công dân khi được đưa vào ghi nhận trong Hiến
pháp phải thể hiện được sự giới hạn đối với cơng quyền. Đó phải là những quyền tự
nhiên mà cơng dân có, khơng phải từ một chủ thể nào trao cho. Như vậy, nền tảng cơ
bản của tài phán Hiến pháp là quyền công dân.
Tài phán Hiến pháp cũng có các đặc điểm như hoạt động xét xử bình thường. Có
ngun đơn, bị đơn, có hành vi vi phạm, có xét xử và đưa ra phán quyết. Điều đặc biệt
hành vi vi phạm trong tài phán Hiến pháp là vi phạm Hiến pháp. Đối tượng của tài phán
Hiến pháp là các đạo luật có giá trị hiệu lực thấp hơn Hiến pháp, các chủ thể có thẩm
quyền thực hiện hành vi vi hiến. Việc đảm bảo tính đúng đắn của Hiến pháp được thực
hiện thơng qua cơ quan Tồ án. Trên thế giới, có rất nhiều quốc gia thành lập Toà án để
thực hiện giám sát Hiến pháp. Như Mỹ, Nhật theo mơ hình bảo hiến phi tập trung sẽ trao
quyền cho Toà án thơng thường. Đức, Áo, Hàn, … theo mơ hình bảo vệ hiến pháp tập
trung châu Âu lục địa thì trao quyền này cho một cơ quan chuyên trách như Toà án Hiến
pháp. Tài phán Hiến pháp sẽ là một phần nhỏ nằm bên trong giám sát Hiến pháp. Trong
tài phán Hiến pháp cơ quan có thẩm quyền là cơ quan tài phán, là Toà án. Nguyên lý,
thủ tục hoạt động là những thủ tục tố tụng. Kết thúc giải quyết tranh chấp bằng việc ban
hành ra phán quyết. Trong khi cơ chế giám sát Hiến pháp là cả một cơ cấu hoạt động
Nguyễn Như Phát (chủ biên) (2011), Tài phán Hiến pháp – Một số vấn đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế
và khả năng áp dụng cho Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Tp. Hồ Chí Minh, tr. 133
23
18
gồm nhiều chủ thể khác nhau cùng có thẩm quyền xem xét, kiểm tra, xử lý, gồm nhiều
cách thức thực hiện theo nhiều thủ tục khác nhau.
1.2.3 Ý nghĩa của cơ chế giám sát Hiến pháp
1.2.3.1 Cơ chế giám sát Hiến pháp góp phần bảo vệ nhân quyền
Về vấn đề nhân quyền và dân chủ đã gần như trở thành vấn đề mang tính chất
thường nhật nhưng vẫn ln có một sức nóng đáng kể, đặc biệt là con người ngày càng
nhận ra vai trị, tầm quan trọng của nó.
Hiến pháp ra đời xuất phát từ mục đích rất thiêng liêng là bảo vệ quyền tự nhiên
của con người trước Nhà nước. Mục đích này cũng là yếu tố quan trọng duy trì sự tồn
tại của Hiến pháp. Giá trị pháp lý của một văn bản Hiến pháp được đặt ở thang bậc cao
nhất trong toàn hệ thống pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật khác đều phải lấy
Hiến pháp làm cơ sở. Hiến pháp đóng vai trị là văn bản ghi nhận quyền con người, quyền
công dân24. Đây là vai trò cơ bản, đầu tiên, quan trọng nhất của Hiến pháp. Khi một Nhà
nước ra đời và thực hiện chế độ cai trị của Nhà nước đó, lập nên Hiến pháp cũng chính
là đang thừa nhận quyền lực tồn tại là do nhân dân trao cho. Do đó, nếu Nhà nước đó
khơng làm tốt trọng trách, vai trị lãnh đạo thì nhân dân sẽ thiết lập nên Nhà nước mới.
Nhưng nếu như chỉ tồn tại một bản Hiến pháp long trọng ghi nhận quyền con người,
quyền công dân nhưng trên hiện thực khơng có một cơ chế nào được thiết lập thì tất cả
chỉ nằm ở mặt hình thức, khơng có giá trị thực tiễn.
Cơ chế giám sát Hiến pháp chính là nền tảng cho việc hiện thực hố những gì
được ghi nhận trên văn bản vào thực tế cuộc sống. Bằng một cơ chế giám sát Hiến pháp,
quốc gia sẽ có một hệ thống các cách thức, phương pháp, cơ cấu tổ chức, cơ quan có
thẩm quyền thực hiện bảo vệ Hiến pháp. Từ đó bảo vệ được nhân quyền. Như các quốc
gia nổi bật trên thế giới đã thành lập mơ hình tài phán Hiến pháp để bảo vệ Hiến pháp.
Thơng qua cơ quan Tồ án, Mỹ đã trao cho Toà án thẩm quyền xem xét một đạo luật hay
một hành vi có vi hiến hay không và đưa ra phán quyết để xử lý. Tồ án Hiến pháp Đức
có thể tun bố đạo luật do Nghị viện ban hành là vi hiến, đặc biệt cịn có quyền giải
quyết tất cả mọi vụ việc mà cơng dân của Đức khiếu nại vì lý do nhân quyền. Hoặc ở
Pháp ban đầu khi De Gaulle bằng toan tính chính trị đã xây dựng cơ chế giám sát Hiến
pháp thông qua việc thành lập Hội đồng bảo hiến nhằm xem xét đạo luật do Nghị viện
ban hành. Về sau, khi De Gaulle đạt được mục đích thì cơ quan này mở rộng thẩm quyền,
Nguyễn Ngọc Thiệp, Nguyễn Tuấn Việt (2020), “Vai trò của Hiến pháp trong việc bảo đảm quyền con người,
quyền công dân – Khảo sát trường hợp Nhật bản”, Tạp chí Nghiên cứu Đơng Bắc Á, số 11, tr. 51 – 58
24
19