BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
HỒNG QUỲNH UN
CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO
LUẬT ĐỊNH – NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ
THỰC TIỄN
KHĨA LUẬN CHUN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
TP. HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 -NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
HỒNG QUỲNH UN
CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO
LUẬT ĐỊNH – NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VÀ
THỰC TIỄN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
THS. NGƠ KHÁNH TÙNG
TP. HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 -NĂM 2023
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
1
NGHĨA
Bộ luật dân sự
2
BLTTDS
Bộ luật tố tụng dân sự
3
DNTN
Doanh nghiệp tư nhân
4
HNGĐ
Hôn nhân gia đình
5
NĐ 126/2014
Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014
của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật Hơn nhân và gia đình 2014
6
NĐ 70/2001
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Hơn nhân
và gia đình 2000
7
TAND
Tịa án nhân dân
8
TTLT 01/2016
9
UBND
Thơng tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTCVKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tịa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ
Tư pháp về hướng dẫn thi hành một số quy định của
Luật Hơn nhân và gia đình.
Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ
CHỒNG THEO LUẬT ĐỊNH..................................................................................6
1.1. Khái niệm, đặc điểm của chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định ..........6
1.1.1. Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định ...........................6
1.1.2. Đặc điểm chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định ............................7
1.2. Ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định ...............................8
1.3. Quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định......10
1.3.1. Tài sản chung của vợ chồng .................................................................10
1.3.2. Tài sản riêng của vợ, chồng..................................................................25
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................32
CHƯƠNG 2: BẤT CẬP TRONG QUY ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ
CHỒNG THEO LUẬT ĐỊNH VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN .......................33
2.1. Bất cập về căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng và
kiến nghị hoàn thiện...............................................................................................33
2.1.1. Về tài sản vợ chồng được tặng cho chung ............................................33
2.1.2. Về thời điểm xác lập tài sản chung của vợ chồng ................................35
2.2. Bất cập trong quy định về thực hiện quyền của vợ chồng đối với tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân ................................................................................36
2.2.1. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân ....................36
2.3. Bất cập trong quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với giao
dịch do một bên xác lập, thực hiện và kiến nghị hoàn thiện .................................38
2.3.1. Nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ, chồng ....................38
2.3.2. Giao dịch về đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình ..........................39
2.4. Bất cập về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hơn và kiến nghị hồn
thiện .....................................................................................................................40
2.4.1. Xác định cơng sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và
phát triển khối tài sản chung. .............................................................................40
2.4.2. Xác định lỗi của mỗi bên trong việc vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ
chồng ...............................................................................................................43
2.4.3. Về đưa tài sản chung của vợ chồng vào trong kinh doanh ..................45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................49
KẾT LUẬN ..............................................................................................................50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................51
PHỤ LỤC .....................................................................................................................
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình ln được ví như là một tế bào của xã hội này dù trong bối cảnh nào
đi chăng nữa. Gia đình cũng là nhóm xã hội nhỏ đặc thù, có đặc trưng cơ bản là được
thiết lập trên cơ sở hôn nhân, từ đó hình thành các quan hệ giữa các thành viên trong
gia đình1. Gia đình được xây dựng dựa trên nền tảng là tình u tự nguyện đơi lứa,
sau khi đã kết hôn – về chung một nhà, lúc này họ đang tạo ra cho mình một gia đình
mới. Đối với một gia đình, sự gắn bó về mặt tình cảm giữa vợ chồng có vai trị rất
quan trọng trong việc “giữ ngọn lửa hôn nhân” nhưng chỉ vậy thơi là chưa đủ. Gia
đình khơng chỉ có chức năng sinh đẻ, giáo dục mà cịn có chức năng về kinh tế. Trong
đó, chức năng kinh tế có vai trị quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển của gia
đình nói riêng và cả xã hội nói chung.
Tài sản là cơ sở kinh tế cho sự tồn tại và phát triển của một gia đình. Vì khi
bắt đầu cuộc sống hơn nhân, vợ chồng có nghĩa vụ cùng nhau lao động, sản xuất, hay
đầu tư kinh doanh để tạo ra nguồn thu nhập chung của gia đình, tạo ra của cải vật
chất, cùng nhau tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung của gia đình. Quan hệ
tài sản được hiểu nôm na là quan hệ về sở hữu tài sản hay tài sản đó thuộc sở hữu của
ai, họ có quyền như thế nào đối với tài sản ấy. Đối với quan hệ vợ chồng thì sở hữu
tài sản là xác định tài sản là sở hữu chung của vợ chồng hay sở hữu riêng của vợ,
chồng; việc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên đối với tài sản riêng của mình và
tài sản chung của vợ chồng; đặc biệt là việc phân chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân và hậu quả pháp lý của nó đối với các bên, gia đình và người
thứ ba ngay tình.
Tài sản có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định và phát triển bền vững
của gia đình. Tài sản khơng chỉ gắn liền với lợi ích thiết thực của vợ chồng trong việc
thực hiện các quan hệ giao dịch dân sự về tài sản hay công việc kinh doanh thương
mại nhằm đáp ứng nhu cầu chung của gia đình, mà cịn gắn với lợi ích của Nhà nước,
xã hội và đặc biệt là bên thứ ba có liên quan tới các giao dịch tài sản này. Vấn đề này
phát sinh khá nhiều trong thực tế và nhất là tại thời điểm vợ chồng ly hôn. Thực tiễn
xét xử cho thấy hầu hết các vụ tranh chấp giữa vợ chồng đều liên quan tới tài sản.
Chính vì lẽ đó, chế độ tài sản của vợ chồng luôn là đề tài nghiên cứu quan
trọng mà các nhà lập pháp, nhà nghiên cứu quan tâm, xây dựng thành một chế định
cơ bản, trong Luật HNGĐ và được hoàn thiện qua từng thời kỳ của đất nước.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết các tranh chấp trong thực tiễn, Tịa án
gặp khơng ít khó khăn bởi sự hạn chế, thiếu khuyết trong quy định của pháp luật về
chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định. Chằng hạn, bất cập về hoa lợi, lợi tức phát
sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân, trong việc chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân hay bất cập trong việc đưa tài sản vào trong công việc
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Sách tình huống (Bình luận bản án) Luật Hơn nhân
và gia đình, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 83.
1
1
kinh doanh. Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật
định – Những vấn đề pháp lý và thực tiễn” làm khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định là chủ đề có phạm vi khá rộng lớn
liên quan tới nhiều khía cạnh pháp lý nên đã được nhiều nhà nghiên cứu phân tích,
đánh giá trên nhiều góc độ khác nhau. Tiêu biểu là:
Nhóm giáo trình và sách chuyên khảo:
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2022), Giáo trình Luật Hơn
nhân và gia đình Việt Nam, Nxb. Hồng Đức: Cơng trình có đề cập đến chế độ tài sản
chung của vợ chồng theo luật định, phân tích, đánh giá khái niệm chế độ tài sản giữa
vợ chồng, căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng; quyền và nghĩa
vụ cơ bản của vợ, chồng đối với tài sản. Tuy nhiên với đặc thù của giáo trình mang
tính tổng qt, khái quát, các vấn đề trong thực tiễn áp dụng pháp luật sẽ không được
đề cập cụ thể.
Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Hơn nhân và gia đình
Việt Nam, Nxb. Tư pháp: Cơng trình này có đề cập vấn đề tài sản chung, tài sản riêng
của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng
cũng như đưa ra một số cách giải quyết những bất cập, vướng mắc của pháp luật cũ
và pháp luật hiện hành. Theo đó, tác giả cũng nắm được những kiến thức khái quát
về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định và vấn đề khác có liên quan. Từ đó, có
cái nhìn tổng quan và chính xác hơn về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.
Nguyễn Ngọc Điện (2021), Giáo trình Luật Hơn nhân và gia đình (tập 2),
Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Cơng trình nghiên cứu có phân tích,
đánh giá về khái niệm chế độ tài sản giữa vợ chồng, căn cứ xác định đâu là tài sản
chung, tài sản riêng của vợ, chồng, quyền và nghĩa vụ của các bên đối với tài sản
chung, tài sản riêng, phân tích một số bất cập, vướng mắc của pháp luật hôn nhân so
với thực tiễn như vấn đề về tư trang cá nhân, của hồi môn hay hoa lợi, lợi tức phát
sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân…
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2018), Sách tình huống (Bình
luận bản án) Luật Hơn nhân và gia đình, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam:
Cơng trình nghiên cứu và tìm hiểu sâu hơn các quy định của Luật Hơn nhân và gia
đình cũng như vận dụng hiệu quả quy định pháp luật vào giải quyết các tình huống
trong thực tiễn, phân tích về quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản của vợ chồng,
xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng và xác định cơng sức đóng góp
của vợ chồng trong khối tài sản chung. Đồng thời phân tích và bình luận một số bản
án giúp người đọc có cái nhìn thực tiễn hơn về việc áp dụng quy định của pháp luật.
Phan Trung Hiền, Huỳnh Thị Trúc Giang (2020), Hỏi đáp và bình luận Luật
Hơn nhân và gia đình (hiện hành), Nxb. Chính trị quốc gia và sự thật: Cơng trình
nghiên cứu về việc trả lời một số câu hỏi liên quan tới chế độ tài sản của vợ chồng,
2
có sự phân tích quy định pháp luật hiện hành và một số pháp luật của các thời kỳ
trước. Từ đó, giúp cho việc so sánh pháp luật có hiệu quả hơn đồng thời phân tích
được những điểm tiến bộ của pháp luật hiện hành nhưng cũng đánh giá được hạn chế
để tìm ra biện pháp khắc phục hạn chế đó, hồn thiện hơn hệ thống pháp luật.
Nguyễn Ngọc Điện, Đoàn Thị Phương Diệp (2018), Sách chuyên khảo: Pháp
luật về quan hệ tài sản giữa vợ chồng, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh: Cơng trình nghiên cứu này phân tích các vấn đề về khái quát chung sự hình
thành và phát triển quan hệ tài sản của vợ chồng qua các thời kỳ, quan hệ tài sản giữa
vợ chồng trong Luật so sánh, pháp luật Việt Nam hiện hành, có sự so sánh, phân tích
và đánh giá pháp luật một số nước như Pháp, Nhật.
Nhóm luận văn, khóa luận:
Lê Vĩnh Châu (2001), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hơn nhân và gia
đình hiện hành, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh: Cơng trình này phân tích một số quy định của pháp luật HNGĐ năm 2000 về
chế độ tài sản pháp định của vợ chồng, có sự phân tích, đánh giá và đưa ra quan điểm
của tác giả đối với quy định của pháp luật. Từ đó, đưa ra hướng hoàn thiện hơn cho
chế độ tài sản của vợ chồng nói chung và hệ thống pháp luật nói chung.
Đinh Thị Thùy Linh (2016), Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định, Khóa
luận tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh: Cơng
trình nghiên cứu này phân tích và đánh giá chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật
HNGĐ năm 2014, tức pháp luật hiện hành và có đưa ra những quan điểm của tác giả
về vướng mắc, bất cập của pháp luật. Từ đó khái quát nên những hướng giải quyết
hay khắc phục tình trạng trên.
Nhóm bài viết trên báo, tạp chí:
Nguyễn Tùng (2022), “Pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly
hôn – Một số bất cập và giải pháp hồn thiện”, Tạp chí Tịa án nhân dân, số 9: Bài
Tạp chí có phân tích quy định về phân chia tài sản chung của vợ chồng nhưng không
phải lúc nào cũng theo nguyên tắc chia đơi mà cịn có sự xem xét tới một vài yếu tố
khác nữa. Từ đó, có cái nhìn đúng đắn, hợp lý hơn về điểm tiến bộ hay bất cập của
pháp luật hiện hành khi đưa vào áp dụng thực tế, đồng thời đưa ra một số giải pháp
pháp lý hồn thiện bất cập đó.
Đặng Lê Phương Un (2019), “Hậu quả về quan hệ tài sản của vợ chồng khi
chia tài sản chung trong thời kỳ hơn nhân”, Tạp chí Tịa án nhân dân, số 09: Cơng
trình nghiên cứu này có phân tích về hình thức sở hữu tài sản, quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng đối với người thứ ba và phân tích, đánh giá một số hậu quả pháp lý khi chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Các bài viết này thường phân tích rất sâu về
một vấn đề trong chế định tài sản của vợ chồng theo luật định, nhưng do tính chất của
bài viết nghiên cứu, các tác giả chỉ đề cập đến một khía cạnh hoặc một trường hợp cụ
thể liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng mà không thể phân tích tồn
diện các khía cạnh của chế định này.
3
Nguyễn Vinh Hưng (2022), “Xác định tài sản chung của vợ chồng đối với
doanh nghiệp tư nhân - một số vướng mắc và kiến nghị”, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp, số 24 (472). Tạp chí này phân tích trách nhiệm của Doanh nghiệp tư nhân và
chủ doanh nghiệp tư nhân về quan hệ tài sản và tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hơn nhân. Từ đó, có cái nhìn tổng quan về quy định pháp luật khi đưa tài sản chung
vào trong kinh doanh, đưa ra quan điểm của tác giả về bất cập của pháp luật và kiến
nghị hồn thiện hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện nhằm làm sáng tỏ các quy định của pháp luật về chế
độ tài sản của vợ chồng theo luật định và thực tiễn áp dụng pháp luật, từ đó kiến nghị
những giải pháp pháp lý nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Với mục đích trên, trong khóa luận, tác giả tiến hành giải quyết các nhiệm vụ
sau đây:
Một là, làm rõ những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hiện hành
về chế độ tài sản của vợ chồng.
- Hai là, tìm hiểu thực tiễn việc áp dụng pháp luật về chế độ tài sản của vợ
chồng thông qua việc xét xử và giải quyết tranh chấp tài sản giữa vợ chồng
tại Tịa án, các văn bản thỏa thuận hay cơng chứng, chứng thực tài sản tại
Văn phịng cơng chứng để đánh giá điểm tiến bộ và hạn chế của quy định
pháp luật.
- Ba là, trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu nội dung và thực tiễn, tác giả có kiến
nghị giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về chế độ tài sản của
vợ chồng dưới góc độ pháp luật và áp dụng nó.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài
-
Đối tượng nghiên cứu: Tác giả nghiên cứu một số vấn đề lý luận về chế độ tài
sản của vợ chồng theo luật định, quy định của pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật
một số nước như Cộng hòa Pháp, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Vương quốc Thái
Lan, Nhật Bản về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định và những bất cập trong
quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về nội dung này.
Phạm vi nghiên cứu: Tác giả nghiên cứu chế độ tài sản của vợ chồng theo luật
định trong quan hệ hơn nhân và gia đình giữa cơng dân Việt Nam với nhau. Vì vậy,
trong phạm vi khóa luận, tác giả khơng đề cập tới loại chế độ tài sản này trong quan
hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngồi.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Với đề tài này, tác giả vận dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:
-
Phương pháp lịch sử khi tìm hiểu và nghiên cứu quy định của pháp luật HNGĐ
trước đây, thơng qua đó so sánh với pháp luật hiện hành. Phương pháp này được
sử dụng ở mục 1.3 của Khóa luận.
4
-
-
Phương pháp so sánh pháp luật sử dụng khi tìm hiểu quy định của pháp luật hiện
hành với hệ thống pháp luật trước đây của Việt Nam và so sánh pháp luật HNGĐ
ở Việt Nam với Luật HNGĐ trước đây và với pháp luật nước ngoài. Phương pháp
này sử dụng ở mục 1.3 và 2.1 của Khóa luận.
Phương pháp phân tích sử dụng xun suốt trong tồn bài để phân tích quy định
về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngồi phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
chia thành 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định
Chương 2: Bất cập trong quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật
định và kiến nghị hoàn thiện
5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ
CHỒNG THEO LUẬT ĐỊNH
1.1. Khái niệm, đặc điểm của chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định
1.1.1. Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định
Khái niệm tài sản
Theo Từ điển Tiếng Việt, tài sản là “mọi giá trị hữu hình (vật chất) hoặc vơ hình
(tinh thần) đem lại lợi ích thiết thực đối với chủ sở hữu”2.
Dưới góc độ pháp lý, tài sản lại được định nghĩa là “các vật có giá trị bằng tiền
và là đối tượng của quyền tài sản và các lợi ích vật chất khác. Tài sản bao gồm vật có
thực, vật đang tồn tại và sẽ có như hoa lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo theo mẫu đã
được thỏa thuận giữa các bên, tiền và các giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài
sản”3. Hay có định nghĩa rằng “Tài sản bao gồm vật , giấy tờ có giá, các quyền tài sản
có thể tồn tại dưới hình thức vật chất hoặc phi vật chất; động sản hoặc bất động sản;
hữu hình hoặc vơ hình; các chứng từ hoặc cơng cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu
hoặc lợi ích đối với tài sản đó”4.
Điều 105 BLDS năm 2015 quy định tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền
tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể
là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Nói tóm lại, tài sản là các yếu
tố có giá trị vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt thường ngày, nhu cầu thiết yếu
của con người.
Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định
Trước khi kết hôn, giữa hai bên nam, nữ không chịu sự ràng buộc nào về mặt
tài sản. Khi đó, tài sản của mỗi người là tài sản riêng của họ, có quyền tự mình chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt mà khơng cần sự đồng ý của chủ thể khác. Ngược lại, sau khi
đã kết hôn, giữa các bên tồn tại mối quan hệ vợ chồng gắn kết bền chặt, lâu dài và
giữa họ khơng chỉ có sự ràng buộc về mặt tình cảm mà cịn ràng buộc về mặt tài sản.
Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ nhất định với tài sản chung hay riêng của mình.
Về mặt ngơn ngữ luật học, chế độ tài sản của vợ chồng là “tổng hợp các quy
định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung và tài
sản riêng”5. Theo hướng cụ thể và chi tiết hơn, chế độ tài sản của vợ chồng là “tổng
hợp các quy định pháp luật điều chỉnh về (sở hữu) tài sản của vợ chồng, bao gồm các
quy định thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng; về căn cứ xác lập tài sản, quyền
Từ điển Tiếng Việt, Tài sản là gì, (truy cập
ngày 14/3/2023).
3
Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, NXB. Từ điển Bách Khoa, Tư pháp, tr.685.
4
Nguyễn Ngọc Điệp (2022), Từ Điển Pháp Luật Việt Nam, NXB. Thế giới, tr.119.
5
Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), tldd (3), tr.129.
2
6
và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và
nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật định”6.
Dựa vào các phân tích nêu trên, chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định là
việc pháp luật quy định về căn cứ, hình thức xác lập, việc thực hiện quyền và nghĩa
vụ của vợ chồng trong việc sử dụng, định đoạt, chiếm hữu của họ đối với khối tài sản.
Vợ chồng có quyền hạn và nghĩa vụ khác nhau đối với tài sản chung hay riêng nhưng
vẫn thực hiện theo khuôn khổ mà pháp luật giới hạn. Đây là cơ chế pháp lý khi vợ
chồng khơng có sự thỏa thuận về tài sản hoặc trường hợp thỏa thuận tài sản bị Tịa
tun vơ hiệu.
1.1.2. Đặc điểm chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định
Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, căn cứ xác lập, thay đổi hay chấm dứt chế độ tài sản chỉ phụ thuộc
vào việc phát sinh và chấm dứt quan hệ hôn nhân của họ.
Chế độ tài sản của vợ chồng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân7, phát sinh tại
thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân và chấm dứt khi hơn nhân này kết thúc.
Khi vợ chồng có đăng ký kết hôn hay trường hợp nam, nữ sống chung với
nhau như vợ chồng nhưng đáp ứng các điều kiện để được Nhà nước thừa nhận là vợ
chồng, chế độ tài sản của vợ chồng được hình thành, khi đó vợ chồng cùng nhau đóng
góp trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung của vợ chồng, cùng
quản lý, định đoạt và sử dụng khối tài sản chung vào thực hiện nhu cầu chung của gia
đình. Nhưng khi hôn nhân chấm dứt, về cơ bản, giữa vợ chồng khơng cịn ràng buộc
nhau về mặt pháp lý. Theo nguyên tắc chung thì tài sản chung của họ sẽ được phân
chia trở thành tài sản riêng của mỗi người, có quyền và nghĩa vụ khác nhau trong việc
sử dụng và định đoạt tài sản.
Thứ hai, chủ thể trong chế độ tài sản của vợ chồng phải là vợ chồng hợp pháp
Xét về chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản của vợ chồng thì giữa
vợ chồng phải tồn tại quan hệ hôn nhân theo quy định của pháp luật, nghĩa là họ cần
phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện kết hôn theo như quy định của Luật HNGĐ năm
2014. Ngược lại, chế độ tài sản của vợ chồng sẽ không tồn tại đối với trường hợp hai
người sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn (trừ trường hợp hôn nhân
thực tế) hoặc đã đăng ký kết hôn nhưng bị hủy theo quyết định của Tịa án do kết hơn
trái pháp luật hay trong các trường hợp không được công nhận quan hệ vợ chồng. Vì
vậy, chủ thể của quan hệ về chế độ tài sản của vợ chồng phải là vợ chồng hợp pháp
thông qua sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vậy nên, chỉ đáp ứng
Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Hơn nhân và gia đình, NXB. Hồng Đức, tr.164.
Thời kỳ hơn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ ngày đăng kí kết hơn đến khi chấm
dứt hôn nhân (Khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014). Tuy nhiên, có một số trường hợp hơn nhân
thực tế, thời kỳ hơn nhân tính từ khi sống chung đến khi chấm dứt hôn nhân, ở đây, tồn tại quan hệ vợ chồng
trước khi kết hôn.
6
7
7
yêu cầu quan hệ sở hữu theo quy định dân sự thơi là chưa đủ vì chỉ khi là vợ chồng
hợp pháp thì giữa họ mới có thể tồn tại chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.
Thứ ba, chế độ tài sản của vợ chồng chịu sự điều chỉnh chủ yếu của pháp luật
hôn nhân và gia đình, đồng thời cũng chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự.
Trong quan hệ hôn nhân, chế độ tài sản phải tuân thủ một số quy tắc về chế
định tài sản trong hơn nhân để dung hịa lợi ích chung của gia đình, đảm bảo cho nhu
cầu thiết yếu của gia đình với lợi ích của mỗi bên vợ, chồng và con cái.
Nếu như ở BLDS 2015, chủ sở hữu có quyền tự mình chiếm hữu, sử dụng và
định đoạt tài sản riêng của họ miễn là không xâm phạm tới quyền và lợi ích của Nhà
nước hay của người khác thì trong quan hệ hơn nhân, vợ chồng bị giới hạn quyền này
đối với tài sản riêng của vợ, chồng trong một số trường hợp nhất định. Ví dụ, trong
trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn
sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng,
vợ8.
1.2.
Ý nghĩa của chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định
Vấn đề quy định tài sản vợ chồng là việc tất yếu lịch sử, quan hệ tài sản của
vợ chồng mặc dù mang tính riêng biệt, có sự chi phối của tình cảm nhưng nó vẫn
mang bản chất của quan hệ dân sự phần lớn trong đó, diễn ra trong cuộc sống hàng
ngày và cần có sự điều chỉnh của pháp luật. Có thể nói chế độ tài sản của vợ chồng
có từ rất xa xưa, trải qua rất nhiều giai đoạn lịch sử, cùng với đó là sự học hỏi, kế
thừa và phát triển cho đến ngày nay vẫn mang nhiều ý nghĩa quan trọng.
Thứ nhất, quy định về chế độ tài sản của vợ chồng có ý nghĩa trong việc xác
định quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với các loại tài sản trong mối quan hệ vợ
chồng.
Khi hai bên nam nữ kết hôn với nhau trở thành vợ chồng hợp pháp thì dù chọn
chế độ tài sản theo thỏa thuận hay luật định thì pháp luật đều có quy định riêng. Pháp
luật quy định rõ về khái niệm tài sản chung và tài sản riêng, nguồn gốc hay thời gian
hình thành nên tài sản chung và riêng, cũng quy định về vấn đề quản lý, sử dụng, định
đoạt những tài sản đó như thế nào. Đồng thời, việc phân chia tài sản thành tài sản
chung hay riêng còn nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên vợ hoặc chồng
đối với từng loại tài sản này để có cách xử sự sao cho hợp lý, hợp pháp trong quản
lý, sử dụng và định đoạt tài sản. Quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng
cũng là cơ sở tạo điều kiện để vợ chồng chủ động hơn trong việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ của mình đối với khối tài sản của họ.
Thứ hai, quy định có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ dân sự.
8
Khoản 4 Điều 44 Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014.
8
Khi tham gia vào các giao dịch dân sự, việc hiểu hay nắm rõ tình hình kinh tế
của những bên còn lại giúp bên thứ ba đánh giá được rủi ro có thể xảy ra khi tiến hành
trao đổi, mua bán, chuyển giao quyền nghĩa vụ hay tặng cho tài sản đối với một hoặc
hai bên vợ chồng. Đổng thời, người thứ ba tham gia giao dịch cần phải biết trường
hợp nào hợp đồng đó được đảm bảo thực hiện từ tài sản chung, tài sản riêng của vợ,
chồng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình.Từ đó xác định được quyền
và nghĩa vụ, trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong giao dịch này, và việc thực hiện
giao dịch bảo đảm bằng tài sản chung hay riêng của vợ, chồng để có cái nhìn tổng
quan, trực diện hơn, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba ngay tình.
Thứ ba, là căn cứ để Tòa án và các cơ quan thi hành pháp luật bảo đảm quyền
lợi của vợ chồng khi phân chia tài sản hay giải quyết tranh chấp tài sản giữa vợ
chồng khi hôn nhân chấm dứt hay giữa vợ chồng với bên thứ ba ngay tình 9.
Chế độ tài sản của vợ chồng khơng những có vai trị điều chỉnh quan hệ tài sản
giữa vợ chồng với nhau mà còn ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ
ba trong các giao dịch dân sự có thể do một hoặc cả hai vợ chồng cùng xác lập. Nếu
khơng có sự điều chỉnh của Nhà nước thì việc phát sinh, thay đổi, thực hiện hay chấm
dứt các quan hệ tài sản này khơng có sự ràng buộc nhất định nào, khi đó sẽ thiếu đi
sự thống nhất gây ảnh hưởng không chỉ tới vợ chồng, thành viên trong gia đình, người
thứ ba ngay tình mà cịn tác động xấu tới lợi ích cơng cộng, lợi ích Nhà nước. Vì thế,
việc Nhà nước ban hành các quy định điều chỉnh chế độ tài sản vợ chồng bao gồm
quan hệ nhân thân và tài sản, giúp làm rõ hơn, mọi người hiểu hơn về các giao dịch
tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, bảo vệ truyền thống xã hội tốt đẹp trong
cuộc sống hơn nhân.
Bên cạnh đó, giữa vợ chồng không chỉ tồn tại mối quan hệ về nhân thân mà
cịn có cả quan hệ về tài sản. Tài sản chung hay riêng của vợ chồng được xem là cơ
sở quan trọng trong mối liên kết về tài sản của vợ chồng. Pháp luật quy định rõ ràng
về căn cứ, hình thức xác lập, việc sử dụng và quản lý tài sản chung, riêng cũng như
quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với từng loại tài sản. Thơng qua đó, cơ quan nhà
nước sẽ có căn cứ bảo hộ quyền sở hữu cho vợ chồng đối với tài sản của mình và đảm
bảo giao dịch về tài sản diễn ra một cách hợp pháp.
Quy định về chế độ tài sản không chỉ nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng đối với các loại tài sản mà còn cung cấp cơ sở pháp lý, nguyên tắc về phân
chia tài sản để giúp ích hơn cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền như Tịa án,
Văn phịng cơng chứng, các cơ quan thi hành pháp luật khác trong việc bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ hôn nhân, giải quyết tranh chấp về
tài sản giữa vợ chồng với nhau khi có u cầu ly hơn hay chia tài sản chung trong
thời kỳ hơn nhân hoặc với bên thứ ba có liên quan trong các giao dịch dân sự. Đồng
thời, cũng điều chỉnh quan hệ vợ chồng khi một bên chết hoặc bị Tòa tuyên là đã chết,
Nguyễn Hữu Lê Anh (2012), Chế độ tài sản của vợ chồng: Thực trạng và giải pháp hồn thiện, Khóa luận
tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
9
9
mất tích, thơng quan Tịa án, bên cịn lại có thể được cơ quan Nhà nước bảo vệ về
quyền hưởng di sản thừa kế sao cho công bằng và hợp lý nhất.
1.3. Quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định
1.3.1. Tài sản chung của vợ chồng
1.3.1.1. Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng
Theo quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng, tài sản chung của
vợ chồng được xác định theo các căn cứ sau đây:
Thứ nhất, căn cứ vào thời điểm phát sinh tài sản
Tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ
hôn nhân; thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh; hoa lợi, lợi tức phát
sinh từ tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, hay thu nhập hợp pháp
khác theo quy định của pháp luật10.
Tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân và thu nhập do lao động,
hoạt động sản xuất, kinh doanh là hai nhóm tài sản chủ yếu của vợ chồng, nhằm duy
trì, phát triển tài sản chung đồng thời đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình. Tài
sản chung của vợ chồng cũng không nhất thiết do công sức của hai vợ chồng cùng
tạo ra mà có thể do một bên vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên,
việc quy định này sẽ dễ dẫn đến tình trạng một bên lười biếng, khơng chịu lao động,
đóng góp vào việc tạo lập, duy trì và phát triển tài sản chung của gia đình. Trên thực
tế khi xảy ra trường hợp như vậy, người vợ hoặc chồng cịn lại cần được bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp, đảm bảo sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Một số nước trên thế giới, như Cộng hịa Pháp cũng có quy định khá giống
nước ta về việc xác định tài sản chung như sau:“Tài sản cộng đồng gồm những thu
nhập chung của hai vợ chồng hoặc thu nhập riêng của từng người trong thời kỳ hơn
nhân và có nguồn gốc từ cơng việc làm ăn của họ, cũng như từ những khoản tiết kiệm
có được do hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của họ”11, trừ những tài sản riêng do bản
chất theo quy định của Điều 1404 BLDS Cộng hòa Pháp. Hay theo BLDS và Thương
mại Thái Lan cũng quy định khá giống Việt Nam về các loại tài sản chung của vợ
chồng tại Điều 1474, cụ thể như sau: Phần tài sản chung “Sin Somros” bao gồm tài
sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hơn nhân, tài sản mà vợ chồng có được trong
thời kỳ hơn nhân thơng qua một di chúc hoặc tặng cho được lập bằng văn bản nếu
trong di chúc hay văn bản này tuyên bố rõ tài sản đó là tài sản chung, hoa lợi phát
sinh từ tài sản riêng, ngoài ra trong trường hợp tài sản có nguồn gốc hợp pháp khác
nhưng khơng chứng minh được là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng thì tài sản
đó được coi là tài sản chung. Tương tự vậy, tại Điều 1062 BLDS Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa cũng quy định “Tiền lương, tiền thưởng, thù lao lao động và lợi nhuận từ
10
11
Điều 33 Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014.
Điều 1401 BLDS Cộng Hòa Pháp.
10
sản xuất, kinh doanh, xuất vốn có được trong thời kỳ tồn tại và duy trì quan hệ hơn
nhân là tài sản chung của vợ chồng”.
Đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ
hơn nhân, chúng ta có thể hiểu như sau:
Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại12. Hay nói cách khác, hoa lợi
là sản vật (vật mới) tạo thành do sự phát triển tự nhiên có tính chất hữu cơ thu được
từ tài sản (vật) ban đầu, từ trồng trọt hoặc từ chăn ni, ví dụ như trâu, bò đẻ ra nghé
con, bê con, trái của cây. Khi đó, nghé con, bê con hay trái của cây được coi là hoa
lợi. Trong trường hợp này, hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng của vợ chồng là sản vật
tự nhiên mà vợ, chồng có được từ tài sản riêng của mình13.
Lợi tức là khoản lợi thu được từ khai thác tài sản14. Như vậy, chúng ta có thể
hiểu lợi tức là những khoản lợi có được từ việc khai thác, công dụng, chức năng của
tài sản. Thơng thường lợi tức sẽ được tính ra một khoản tiền nhất định.Ví dụ như
khoản tiền thu được từ việc cho thuê xe được coi là lợi tức. Và lợi tức phát sinh từ tài
sản riêng của vợ, chồng là khoản lợi mà vợ, chồng thu được từ việc khai thác tài sản
riêng của mình15. Trước khi có Luật HNGĐ năm 2014, khơng có quy định nào rõ
ràng là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng này là tài sản chung hay riêng vì có
khá nhiều quan điểm pháp lý khác nhau.
Đồng thời Điều 224 BLDS năm 2015 cũng quy định chủ sở hữu, người sử
dụng tài sản có quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức theo thỏa thuận hoặc theo quy
định của pháp luật, kể từ thời điểm thu được hoa lợi, lợi tức đó. Bên cạnh đó, theo
ngun tắc chung thì Luật Dân sự là một trong những nguồn của Luật HNGĐ về chế
độ tài sản. Nếu Luật HNGĐ năm 2000 không quy định gì về hoa lợi, lợi tức phát sinh
từ tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản chung hay riêng thì áp dụng việc dẫn chiếu
theo nguồn luật là BLDS để giải quyết. Cũng có ý kiến cho rằng, chỉ hoa lợi, lợi tức
mà do vợ, chồng cùng có đầu tư về mặt thời gian, cơng sức thì mới được xác định là
tài sản chung của vợ chồng (tức trường hợp này được hiểu theo nghĩa thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh mà vợ chồng có được). Vì thế, khoản hoa lợi,
lợi tức phát sinh từ tài sản riêng này phải là của riêng mỗi người.
Hay có ý kiến khác cho rằng, khối tài sản này là thu nhập hợp pháp khác của
vợ, chồng có được trong thời kỳ hơn nhân và ở góc độ Luật HNGĐ năm 2014 thì về
nguyên tắc, những tài sản nào mà không phải là tài sản riêng của vợ, chồng thì đó là
tài sản chung hay tài sản mà khơng có chứng cứ chứng minh là tài sản riêng thì cũng
là tài sản chung16. Nếu theo BLDS thì chủ sở hữu tài sản có quyền sở hữu đối với hoa
lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mình, tức nó là tài sản riêng của vợ, chồng.
Nhưng quan hệ hơn nhân có tính chất đặc biệt và mục đích của cuộc hơn nhân là vợ
Khoản 1 Điều 109 Bộ luật dân sự năm 2015.
Khoản 1 Điều 10 NĐ 126/2014.
14
Khoản 2 Điều 109 BLDS năm 2015.
15
Khoản 2 Điều 10 NĐ 126/2014.
16
Khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
12
13
11
chồng cùng chung sức, đồng lòng tạo ra tài sản nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của
gia đình, ni dạy và chăm sóc con cái nên việc pháp luật quy định đây là tài sản
chung là hợp lý.
Do bản chất của hơn nhân là vợ chồng cùng đóng góp trong việc tạo lập, duy
trì và phát triển khối tài sản chung, xây dựng và bảo vệ hạnh phúc gia đình nên hoa
lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng được xem là tài sản chung. Tuy nhiên, không
phải lúc nào khoản phát sinh này cũng được xem là tài sản chung mà cần xem xét tới
thời điểm xác định nó, cặp vợ chồng đó đã phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn
nhân hay chưa. Nếu thời điểm xem xét, họ chưa hoặc khơng có sự phân chia tài sản
chung trong thời kỳ hơn nhân thì tài sản này là tài sản chung của vợ chồng. Ngược
lại, thời điểm đó họ đã chia tài sản chung trong thời kỳ hơn nhân thì đây là tài sản
riêng của vợ hoặc chồng, trừ khi họ có thỏa thuận khác. Trong trường hợp chia tài
sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản
riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng
của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản cịn lại khơng
chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng17.
Ngoài những loại tài sản nêu trên, thu nhập hợp pháp khác cũng được xem là
tài sản chung của vợ chồng. Các khoản thu nhập hợp pháp khác này có thể do một
hoặc hai bên vợ chồng có được trong thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng. “Thu nhập
do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và thu nhập hợp pháp khác là nhóm tài
sản chủ yếu tạo dựng nên khối tài sản chung của vợ chồng, thực tế nhiều cặp vợ
chồng cũng chỉ sở hữu nguồn tài sản này trong thời kỳ hôn nhân”18. Theo quy định
tại Điều 11 NĐ 126/2014, thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng gồm: Tiền trúng số,
tiền trợ cấp, tiền thưởng mà vợ, chồng có được (trừ trường hợp quy định tại khoản 3
Điều 11 NĐ 126/201419) hay tài sản mà vợ chồng được xác lập quyền sở hữu như:
Tài sản là động sản vô chủ, không xác định được ai là chủ sở hữu, gia súc gia cầm bị
thất lạc… và thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Theo nguyên tắc, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là tài sản chung thì
đa phần tiền trúng thưởng, trúng số suy đoán đương nhiên là tài sản chung. Trường
hợp đào hay nhặt được tài sản vô chủ, gia súc gia cầm mà không xác định được chủ
sở hữu…cũng được xem là đương nhiên thuộc khối tài sản chung của vợ chồng trong
thời kỳ hôn nhân.
Mặt khác, tài sản phải có nguồn gốc là hợp pháp hay hình thành phù hợp với
pháp luật mới được coi là tài sản. Ví dụ trường hợp tài sản do vợ, chồng trộm cắp,
buôn lậu, tham nhũng hay có những nguồn gốc bất hợp pháp khác có được xem là tài
Khoản 1 Điều 40 Luật Hơn nhân va gia đình năm 2014.
Đặng Lê Phương Uyên (2019), “Hậu quả về quan hệ tài sản của vợ chồng sau khi chia tài sản chung”, Tạp
chí Tịa án nhân dân, số 09.
19
Trợ cấp thất nghiệp, hưu trí, mất sức hay trợ cấp một lần khi thôi việc; Tiền thưởng gắn liền với danh hiệu
nghề nghiệp, bằng khen, các cơng trình phát minh sáng chế, sở hữu trí tuệ được thực hiện theo đơn hàng của
người khác; Các loại học bổng, trợ cấp đào tạo; hoa hồng dịch vụ môi giới. Đặc biệt là các khoản thu nhập
khác liên quan tới lao động trợ cấp đối với người có cơng với cách mạng sẽ thuộc tài sản riêng của vợ, chồng.
17
18
12
sản chung hay không? Và họ dùng tài sản trộm cắp, từ hành vi bất hợp pháp để mua
sắm hay đầu tư vào việc nào đó thì cái tài sản đã mua sắm hay lợi nhuận từ đầu tư
đấy có được xem là tài sản chung hay không? Việc trả lời cho câu hỏi này còn phụ
thuộc vào vấn đề là hành vi trái pháp luật đó có bị phát hiện hay không? Nếu bị phát
hiện, Nhà nước sẽ thu hồi, tịch thu hay tiêu hủy tài sản đó, trộm cắp tài sản thì sẽ trả
cho chủ sở hữu và bị xử phạt theo quy định, gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại
bằng tài sản chung (nếu vợ chồng thông đồng nhau tức đồng phạm thực hiện hành vi
vi phạm pháp luật). Nhưng nếu không bị phát hiện thì cũng vẫn được xem là tài sản
chung của vợ chồng20.
Thêm nữa, về tài sản là quyền sử dụng đất. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng
có được sau khi kết hôn sẽ là tài sản chung của hai vợ chồng. Quyền sử dụng đất bao
gồm rất nhiều nguồn như: được Nhà nước giao có trả tiền hoặc khơng trả tiền, cho
thuê đất trả tiền một lần hay trả hàng năm, được tặng cho, thừa kế chung hay chuyển
đổi, chuyển nhượng, nhận thế chấp theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.
Thứ hai, căn cứ vào nguồn gốc tài sản
Nếu căn cứ vào nguồn gốc hình thành, tài sản chung của vợ chồng có thể kể
đến như tài sản do vợ chồng được tặng cho chung hay thừa kế chung.
Tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, bên tặng cho giao tài sản của
mình và chuyển giao quyền sở hữu cho bên kia mà khơng có yêu cầu đền bù, bên kia
đồng ý nhận. Việc xác định tài sản chung trong trường hợp này cần dựa vào ý chí của
người tặng cho. Khi chủ sở hữu tài sản thể hiện ý chí tặng cho cả hai vợ chồng tức
không đề cập đến phần quyền sở hữu của mỗi người thì tài sản này là tài sản chung
của vợ chồng. Nhưng nếu thể hiện rõ quyền sở hữu của vợ hoặc chồng thì tài sản này
khơng là tài sản chung mà trở thành tài sản riêng của mỗi người (ứng với phần sở hữu
xác định theo ý chí của người tặng cho). Hiện nay, vấn đề tặng cho tài sản là “sính
lễ” đang là vấn đề gây nhiều tranh cãi, thường khi cha, mẹ, họ hàng trao tặng tiền,
vàng cho con cái trong lễ cưới thì cha mẹ hay họ hàng không đề cập đến tặng cho
chung hay chỉ tặng một bên vợ hoặc chồng. Thêm nữa, lễ cưới không phải là sự kiện
xác định đã phát sinh quan hệ hôn nhân hay chưa mà thời điểm đăng ký kết hôn là
căn cứ xác định hai người nam, nữ có tư cách vợ chồng. Đối với bất động sản thì việc
tặng cho phải được lập thành văn bản được công chứng, chứng thực tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng ký quyền
sở hữu21. Vấn đề này cũng có bất cập khi thực tế, có nhiều trường hợp ông bà, cha
mẹ tặng cho con, cháu tài sản là nhà ở hay quyền sử dụng đất nhưng không lập thành
văn bản mà chỉ thực hiện bằng lời nói bởi nhiều lý do khác nhau. Điều này dẫn đến
việc khi ly hơn và tranh chấp tài sản thì việc xác định tài sản tranh chấp đã được tặng
cho hay chưa rất khó khăn và phức tạp. Tác giả sẽ trình bày rõ hơn bất cập này ở
chương 2 của Khóa luận.
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật hơn nhân và gia đình, NXB. Hồng Đức, tr.
221.
21
Điều 459 BLDS năm 2015.
20
13
Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người đã mất cho những người cịn sống
theo ý chí của người để lại di sản trước khi chết hoặc theo quy định pháp luật. Đối
với quan hệ thừa kế, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung để trở thành tài sản
chung chỉ có thể xảy ra trong trường hợp thừa kế theo di chúc. Vì theo quy định của
pháp luật về thừa kế, khơng có quy định về diện và hàng thừa kế bao gồm cả con dâu
và con rể mà chỉ có con trai, con gái.
Việc xác định tài sản chung theo di chúc sẽ áp dụng tương tự như tài sản do
vợ chồng được tặng cho, nghĩa là cũng dựa vào ý chí của người lập di chúc. Nghĩa
là, nếu một người trước khi chết lập di chúc để lại tài sản cho hai vợ chồng, trong di
chúc không đề cập cụ thể phần quyền sở hữu của mỗi bên thì khi được hưởng thừa
kế, tài sản này là tài sản chung của vợ chồng. Còn trong di chúc có đề cập quyền sở
hữu của vợ hoặc chồng thì khi hưởng thừa kế, tài sản này là tài sản riêng của họ.
Thứ ba, căn cứ vào ý chí của vợ chồng thì tài sản mà vợ chồng thỏa thuận với
nhau là tài sản chung sẽ là tài sản chung
Quy định này góp phần khẳng định quyền tự định đoạt của vợ chồng đối với
tài sản thuộc quyền sở hữu của mình, cũng thể hiện quan điểm Nhà nước về vấn đề
đảm bảo điều kiện vật chất trong việc xây dựng gia đình bình đẳng, hạnh phúc. Theo
khoản 1 Điều 44 Luật HNGĐ năm 2014, việc nhập hay không nhập tài sản riêng vào
khối tài sản chung là hồn tồn phụ thuộc vào ý chí của hai bên vợ chồng mà pháp
luật sẽ không can thiệp. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 46 Luật HNGĐ năm 2014,
trong trường hợp nhập tài sản riêng là nhà ở hay quyền sử dụng đất và các tài sản có
giá trị lớn khác vào khối tài sản chung, pháp luật định rõ hình thức văn bản và có chữ
ký của cả vợ và chồng, văn bản cần được công chứng, chứng thực theo quy định của
pháp luật.
Thứ tư, căn cứ vào ngun tắc suy đốn pháp lý
Trong trường hợp khơng có căn cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có
tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung22. Khi
cuộc hơn nhân ấm êm, hịa thuận thì giữa vợ chồng khơng có sự phân biệt đâu là tài
sản chung và đâu là tài sản riêng. Nhưng một khi giữa vợ chồng có tranh chấp, mâu
thuẫn với nhau thì việc phân định tài sản rất quan trọng gây nên nhiều tranh cãi hơn
cả. Nó cũng được xem là rắc rối nếu ai cũng cho rằng đây là tài sản riêng của mình
hoặc một bên cho rằng đây là tài sản riêng của người đó nhưng bên kia lại cho rằng
đó là tài sản chung nên không phân chia. Trên cơ sở đó, pháp luật về HNGĐ mới đặt
ra nguyên tắc suy đoán pháp lý này. Trên phương diện so sánh, pháp luật Cộng hòa
Pháp cũng quy định tương tự như nước ta về vấn đề này. Cụ thể, trong trường hợp
không chứng minh được một tài sản là tài sản riêng của vợ hoặc chồng theo quy định
22
Khoản 3 Điều 33 Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014.
14
của pháp luật thì mọi tài sản dù là động sản hay bất động sản đều được coi là thu nhập
chung của hai vợ chồng23.
Quy định này có ý nghĩa lớn trong thực tiễn nhằm đảm bảo quyền tài sản của
vợ chồng về vấn đề giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng. Khi vợ, chồng có
tranh chấp về tài sản chung, tài sản riêng thì bên nào có u cầu cơng nhận tài sản đó
là riêng thì cần phải đưa ra chứng cứ chứng minh tài sản đó thuộc sở hữu riêng của
mình. Nhưng nếu khơng có chứng cứ chứng minh được là tài sản riêng thì đương
nhiên tài sản đó được xem là tài sản chung của vợ chồng.
1.3.1.2. Quyền của vợ chồng đối với tài sản chung
Quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng
Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật HNGĐ năm 2014,“vợ, chồng bình
đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt
tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu
nhập”.
Đây được xem là nguyên tắc cơ bản trong chế độ tài sản của vợ chồng. Tài sản
chung của vợ chồng là khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia
được. Vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc quản lý tài sản chung, đối với những
tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì trong
giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đó phải ghi tên của hai vợ chồng, trừ
trường hợp mà vợ chồng có thỏa thuận khác. Nhưng trên hết, việc quản lý tài sản
chung của vợ chồng vẫn phải phù hợp với nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện và tiến
bộ.
Và để đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ, chồng và tạo cơ sở giải quyết tranh
chấp tài sản giữa vợ, chồng thì pháp luật có quy định đăng ký quyền sở hữu đối với
tài sản chung của họ. Điều 12 NĐ 126/2014 nêu ra một số tài sản chung mà vợ chồng
phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng là quyền sử dụng đất, tài sản khác mà
pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng.
Theo quy định trên, ta có thể hiểu những người nội trợ hay công việc khác có
liên quan để duy trì đời sống chung trong gia đình cũng được xem là lao động có thu
nhập khi đánh giá về cơng sức đóng góp của mỗi người vào khối tài sản chung của
họ trong thời kỳ hôn nhân. Việc pháp luật quy định như trên nhằm bảo vệ chính đáng
cho các bên vợ chồng, đặc biệt là hướng đến các chủ thể là bên vợ chồng có điều kiện
kinh tế hay thu nhập thấp hơn đối phương. Đồng thời, cơ chế pháp lý này cũng giúp
ngăn chặn, hạn chế việc có một bên vợ hoặc chồng lợi dụng các lợi thế về mặt kinh
tế này, lợi dụng sự phụ thuộc về mặt kinh tế của bên còn lại để xâm phạm đến các
quyền và lợi ích hợp pháp của bên kia, làm mất đi sự bình đẳng giữa vợ chồng với
nhau.
23
Điều 1402 BLDS Cộng Hòa Pháp.
15
Hai là, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử
dụng và định đoạt đối với tài sản chung. Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với khối
tài sản chung thể hiện trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên
quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc nguồn sống duy nhất của gia đình, việc
dùng tài sản để đầu tư, kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận vì việc
định đoạt tài sản chung này ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống gia đình.
Quy định trên cũng nhằm bảo vệ quyền lợi cho gia đình và thể hiện nguyên
tắc bình đẳng, tự nguyện, tiến bộ của vợ chồng. Nếu thiếu sự thống nhất ý chí của
một bên thì bên cịn lại có quyền u cầu Tịa tun bố rằng giao dịch đó là vơ hiệu
và Tịa sẽ giải quyết hậu quả của giao dịch vơ hiệu theo quy định của BLDS năm
2015, trừ các trường hợp mà liên quan tài sản chung nhưng trong giấy chứng nhận
quyền sở hữu, quyền sử dụng chỉ ghi tên một trong hai vợ chồng khi người ấy tự ý
xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch, đồng thời phải đảm bảo quyền lợi của người
thứ ba ngay tình. Khi vợ chồng tự ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà điều này
gây thiệt hại cho khối tài sản chung thì đối phương có quyền u cầu bồi thường cho
khối tài sản chung lấy từ tài sản riêng của người đó.
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Vấn đề chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được ghi nhận từ sớm ở
Luật HNGĐ năm 1986 như sau:“ Khi hôn nhân tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý
do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ, chồng theo quy định ở Điều 42
của Luật này”24.
Tuy nhiên, quy định pháp luật còn khá sơ sài cộng thêm bối cảnh kinh tế, chính
trị, xã hội nước ta lúc bấy giờ nên quy định này áp dụng trên thực tế rất ít. Đến Luật
HNGĐ năm 2000, pháp luật cũng đã có sự điều chỉnh nhất nhưng vẫn cịn một ít thiếu
sót mà các nhà làm luật chưa thể làm rõ được. Luật về HNGĐ năm 2014 ban hành đã
khắc phục được một số bất cập trước đó của hai văn bản Luật trên.
Căn cứ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hơn nhân
Trong q trình chung sống với nhau, cuộc sống vợ chồng mới đầu ln êm
đềm nhưng về lâu về dài sẽ có bất đồng quan điểm, mâu thuẫn một số vấn đề nào đó.
Bên cạnh đó, vì như muốn đầu tư kinh doanh riêng (dưới nhiều hình thức khác nhau:
mở cơng ty, đầu tư chứng khốn hay góp vốn thành lập doanh nghiệp…), thực hiện
nghĩa vụ dân sự riêng (như thanh toán các khoản nợ trước hôn nhân, nợ do mua đồ
dùng riêng… nhưng tài sản riêng không đủ để thực hiện) hay lý do chính đáng khác25
mà một hoặc hai bên vợ chồng không ly hôn nhưng muốn phân chia tài sản chung thì
pháp luật cho phép vợ chồng thỏa thuận chia tài sản chung nếu chứng minh chia tài
sản phù hợp với ý chí của mỗi bên và khơng ảnh hưởng tới lợi ích chung của gia đình.
Điều 18 Luật Hơn nhân và gia đình năm 1986.
Luật HNGĐ năm 1986 và năm 2000 có đề cập tới lý do chính đáng nhưng lại khơng nói rõ thế nào gọi là
chính đáng. TAND tối cao có dẫn ra trường hợp vợ chồng không hợp hay con cái lớn rồi nên không muốn ly
hơn để bổ sung cho lý do chính đáng này.
24
25
16
Điều 1443 BLDS Cộng hòa Pháp quy định về việc chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau: “Nếu do sự xáo trộn trong công việc làm ăn
của vợ hoặc chồng, do vợ hoặc chồng quản lý kém hoặc thiếu đạo đức, mà việc duy
trì chế độ tài sản chung gây phương hại đến lợi ích của người kia, thì người có lợi
ích bị phương hại có thể u cầu Tịa án cho tách riêng tài sản. Mọi trường hợp tự
tách riêng tài sản đều vô hiệu”. Sự xáo trộn trong công việc làm ăn của vợ hoặc
chồng khá tương đồng với quy định chia tài sản chung để vợ chồng thực hiện đầu tư
kinh doanh riêng. Trường hợp do vợ chồng quản lý kém hoặc thiếu đạo đức như vợ
chồng thực hiện các hành vi phá tán tài sản hay tự mình thực hiện giao dịch dân sự
gây ảnh hưởng tới khối tài sản chung, lợi ích gia đình và bên cịn lại. Tương tự như
Cộng hòa Pháp, pháp luật Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cũng quy định vợ hoặc
chồng có thể yêu cầu Tòa án cho phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong
trường hợp như sau: “Một bên có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng dẫn đến lợi ích
tài sản chung của vợ chồng như cất giấu, chuyển dời, bán của cải lấy tiền mặt, hủy
hoại, tiêu xài phung phí tài sản chung của vợ chồng hoặc ngụy tạo trái vụ chung vợ
chồng”26.
Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân
chia cho nên xét đến ngun tắc tơn trọng quyền tự do sử dụng, định đoạt tài sản của
vợ chồng thì Luật HNGĐ năm 2014 có quy định: “Vợ chồng có quyền tự thỏa thuận
phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung hoặc vợ chồng cũng có thể u cầu
Tịa án giải quyết việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân”27. Pháp luật
hiện hành không đặt ra quy định về các điều kiện để vợ chồng phân chia tài sản trong
thời kỳ hôn nhân, có nghĩa là vợ chồng có thể thỏa thuận phân chia hay yêu cầu Tòa
án phân chia bất kỳ lúc nào miễn là khơng nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ về tài
sản, hay không gây ảnh hưởng đến lợi ích của gia đình, vẫn đảm bảo được quyền và
lợi ích hợp pháp của con cái. Thỏa thuận này phải được lập thành văn bản, được công
chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật bởi
cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khác với Việt Nam, theo pháp luật Cộng hòa Pháp,
cả hai trường hợp tách riêng tài sản chung chỉ được ghi nhận thơng qua Tịa án. Mọi
trường hợp vợ chồng tự tách riêng tài sản đều khơng có giá trị pháp lý. Như vậy, quy
định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Việt
Nam tỏ ra “cởi mở” hơn so với BLDS Pháp.
Theo pháp luật Vương quốc Thái Lan, “một bên vợ hoặc chồng bị tuyên mất
năng lực hành vi và người kia bị coi là khơng thích hợp để làm người giám hộ và do
đó cha hoặc mẹ của người đó hoặc một người được chỉ định làm người giám hộ thì
người giám hộ đó sẽ trở thành người đồng quản lý tài sản chung với người kia”28.
Trong trường hợp này, vợ hoặc chồng của người bị mất năng lực hành vi có quyền
u cầu Tịa án chia tài sản chung nếu có tình huống quan trọng gây ra nguy hại cho
họ.
Khoản 1 Điều 1066 Bộ luật Dân sự nước Cộng hịa nhân dân Trung Hoa.
Khoản 1 Điều 38 Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014.
28
Điều 1598 Bộ Luật Dân sự và Thương mại Thái Lan.
26
27
17
So với BLDS Pháp, BLDS và Thương mại Thái Lan đã mở rộng thêm hai
trường hợp được chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân
Trong trường hợp “tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao
dịch liên quan đến tài sản đó phải tn theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản
chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà
pháp luật quy định”29. Điều này góp phần bảo đảm sự bình đẳng giữa vợ chồng và
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mỗi bên tham gia giao dịch cũng như thể hiện sự
tương thích đối với pháp luật có liên quan.
Dưới góc độ đối chiếu, pháp luật của Cộng hòa Pháp lại quy định khác, cụ thể
ở Điều 1443 chỉ cho phép vợ chồng yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung mà không
cho vợ chồng tự thỏa thuận với nhau. Thế nên trong mọi trường hợp mà vợ chồng tự
thỏa thuận tách riêng tài sản đều khơng có giá trị pháp lý.
Cịn đối với Luật HNGĐ Việt Nam, pháp luật có quy định nếu vợ chồng không
thỏa thuận được với nhau về phân chia tài sản chung thì có thể u cầu Tòa án giải
quyết theo quy định tại Điều 59. Theo đó, thì việc giải quyết phân chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân xử lý giống như nguyên tắc chia tài sản khi vợ
chồng ly hôn. Trong trường hợp yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hơn
nhân thì việc chia tài sản chung có hiệu lực từ ngày bản án, quyết định của Tịa án có
hiệu lực pháp luật.
Thêm nữa, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước
thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực sẽ vẫn có giá trị pháp lý, trừ khi vợ
chồng có thỏa thuận khác.
Hậu quả của chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quan hệ vợ chồng của họ
vẫn còn tồn tại. Cho dù vợ chồng sống chung hay riêng cũng không làm hạn chế các
quyền nhân thân giữa vợ, chồng cũng như vẫn có quyền hạn và nghĩa vụ ngang nhau
về mọi mặt trong gia đình. Việc phân chia tài sản chung này cũng sẽ không làm thay
đổi quan hệ giữa cha mẹ và con, không làm thay đổi mối quan hệ nhân thân giữa các
thành viên trong gia đình.
Cần lưu ý rằng, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm ảnh
hưởng đến chế độ tài sản chung của vợ chồng, không làm chấm dứt chế độ tài sản
của vợ chồng theo luật định30. Tài sản nào đã chia sẽ thuộc sở hữu riêng của mỗi bên
vợ, chồng, ngược lại, tài sản nào chưa chia thì vẫn thuộc sở hữu chung hợp nhất của
29
30
Điều 39 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Khoản 1 Điều 14 Nghị định 126/2014/NĐ-CP.
18
vợ chồng và cả hai có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt
khối tài sản chung này.
Khi vợ chồng đã chia tài sản chung thì hoa lợi, lợi tức trên phần tài sản được
chia cũng như trên các loại tài sản riêng khác thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng trừ
khi họ có thỏa thuận khác. Vậy quy định về tài sản có được từ thu nhập do lao động,
hoạt động sản xuất, kinh doanh và các khoản thu nhập hợp pháp khác có được trong
thời kỳ hôn nhân nhưng sau khi chia tài sản chung không được minh định rõ nét. Song
theo hướng dẫn tại Điều 12 NĐ 126/2014, nhà làm luật nêu rõ “từ thời điểm việc chia
tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu tài sản có được từ việc khai thác tài sản
riêng của vợ, chồng mà không xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động
sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng
đó thì thuộc sở hữu chung của vợ chồng”.
Dựa vào nguyên tắc suy đốn pháp lý thì nếu khơng có chứng cứ chứng minh
tài sản mà vợ, chồng đang tranh chấp là tài sản riêng thì được xác định là tài sản
chung của vợ chồng hay trong trường hợp khối tài sản có sự lẫn lộn giữa tài sản chung
và riêng thì tài sản nào khơng đủ tiêu chí để xác định là tài sản riêng thì đương nhiên
xem là tài sản chung. Sẽ có nhiều người thật sự bất ngờ nếu biết rằng sau khi chia tài
sản chung để trả một món nợ riêng thì tiền lương, thu nhập do lao động của mình
khơng cịn là tài sản chung nữa mà là tài sản riêng do quy định của pháp luật31. Khối
tài sản chung được ưu tiên và coi trọng hơn cả, dù đã phân chia tài sản nhưng nguyên
tắc suy đoán pháp lý vẫn được áp dụng nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của các bên,
đặc biệt là lợi ích chung của gia đình. Đối với giao dịch liên quan đến người thứ ba
cũng khơng vì sự kiện chia tài sản chung của vợ chồng mà thay đổi.
Dù việc tách riêng tài sản chung được thực hiện với mục đích gì thì vợ chồng
vẫn phải có nghĩa vụ đóng góp chăm lo cho đời sống chung của gia đình. Trong
trường hợp một bên vợ hoặc chồng khơng cịn tài sản sau khi chia tài sản thì người
vợ hoặc chồng cịn lại phải thanh tốn tất cả các chi phí liên quan đến đời sống chung
của gia đình.
Chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân
Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hơn nhân, vợ chồng có quyền thỏa
thuận chấm dứt hiệu lực việc chia tài sản chung đồng thời khuyến khích các bên tái
thiết lập khối tài sản chung, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Nhưng quyền
định đoạt cũng phải trong khuôn khổ mà pháp luật cho phép và văn bản thỏa thuận
chấm dứt hiệu lực phải được công chứng, chứng thực theo thỏa thuận của vợ chồng
hoặc theo quy định của pháp luật. Kể từ ngày thỏa thuận chấm dứt có hiệu lực thì tài
sản của vợ chồng sẽ khôi phục như trước khi chia tài sản chung, việc xác định tài sản
chung, tài sản riêng thực hiện theo quy định của Điều 33 và 43 Luật HNGĐ hiện
hành. Đối với trường hợp việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được thực
Nguyễn Ngọc Điện (2004), Bình luận khoa học Luật Hơn nhân và gia đình Việt Nam (Tập II: Các quan hệ
tài sản giữa vợ chồng), NXB. Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 207.
31
19
hiện theo bản án, quyết định của Tịa án thì thỏa thuận việc chấm dứt hiệu lực chia
tài sản chung phải được sự cơng nhận của Tịa án32. Phần tài sản mà hai bên đã chia
vẫn sẽ thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ khi họ có thỏa thuận khác.
Tương tự như pháp luật Việt Nam, Điều 1492 BLDS và Thương mại Thái Lan:
“Trong trường hợp chia "Sin Somros" theo lệnh của Tịa án thì việc hủy bỏ sự phân
chia đó sẽ được thực hiện theo yêu cầu của người vợ hoặc người chồng và Tòa án sẽ
ra quyết định công nhận việc này. Nếu vợ hoặc chồng phản đối u cầu này thì Tịa
án khơng được ra quyết định hủy bỏ việc chia "Sin Somros" trừ khi lý do chia "Sin
Somros" đã chấm dứt”.
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị vô hiệu
Nhằm đảm bảo quyền lợi của gia đình, con cái hay người thứ ba ngay tình
trong giao dịch dân sự đồng thời ngăn chặn việc phân chia tài sản chung nhằm trốn
tránh các nghĩa vụ về tài sản thì pháp luật có quy định một số trường hợp việc phân
chia được xem là vô hiệu như sau:
Theo Điều 42 Luật HNGĐ năm 2014 quy định: “Việc phân chia tài sản chung
của vợ chồng nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản không được pháp luật
công nhận”. Phân chia tài sản chung khi hơn nhân vẫn cịn tồn tại làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình, quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành
niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc khơng có khả năng lao động
và khơng có tài sản để tự ni mình thì thỏa thuận này sẽ bị vô hiệu.
Trước đây, Luật HNGĐ năm 2000 không dự liệu được vấn đề mà thực tế cũng
phổ biến là tình trạng vợ chồng sau khi chia tài sản chung cũng có xu hướng phân
chia ln trách nhiệm với gia đình như cấp dưỡng, ni dưỡng con cái. Đến Luật
HNGĐ hiện hành có giới hạn đến trách nhiệm này để vợ chồng đặt lợi ích của gia
đình lên trên hết, khơng nên vì lợi ích cá nhân dẫn tới phá tán khối tài sản chung mà
nên bảo vệ nó, thực hiện nghĩa vụ đương nhiên của họ.
Hay trường hợp chia tài sản chung để trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ: bồi
thường thiệt hại, thanh tốn khi bị Tịa án tuyên bố phá sản, nghĩa vụ trả nợ cho cá
nhân, tổ chức, nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước,
nghĩa vụ khác đối với tài sản mà pháp luật có quy định khác. Dù pháp luật thừa nhận
quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của vợ, chồng
và dành cho họ quyền tự thỏa thuận nhưng thực tế lại khó kiểm sốt việc phân chia
của vợ chồng, nhất là các trường hợp nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản
của một bên. Cơ chế giám sát hiệu quả nhất là từ phía người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan nhưng người này cũng khó có thể nào biết việc vợ chồng có chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân hay không và phân chia như thế nào.
Mặt khác, nhiều trường hợp dẫn đến quyền lợi của chủ nợ nhất là chủ nợ riêng
của một bên vợ hoặc chồng sẽ bị ảnh hưởng lớn. Chẳng hạn như người vợ nợ số tiền
32
Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
20
riêng quá lớn, sau đó vợ chồng có thỏa thuận phân chia tài sản chung và người chồng
nắm hết toàn bộ tài sản. Ơng chồng bán tồn bộ tài sản đó đi và đến khi chủ nợ địi
và biết được, khởi kiện ra Tòa án, Tòa tuyên bố thỏa thuận đó là vơ hiệu. Vậy việc
khơi phục tài sản chung trong trường hợp này như nào và kiểm soát ra sao? Làm sao
để chủ nợ đòi được khoản nợ ấy. Đây là điểm bất cập của Luật HNGĐ hiện hành.
Chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân chấm dứt
Theo quy định của pháp luật HNGĐ hiện hành, quan hệ hôn nhân chấm dứt khi thuộc
một trong hai căn cứ, gồm: ly hôn và sự kiện một bên vợ hoặc chồng chết. Tùy thuộc
vào căn cứ chấm dứt hôn nhân, pháp luật thực định ghi nhận cơ chế pháp lý tương
thích giải quyết tài sản chung của vợ chồng.
Đối với trường hợp hôn nhân chấm dứt do vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án
tuyên bố là đã chết: Điều 66 Luật HNGĐ năm 2014 quy định một bên vợ hoặc chồng
chết, nếu có u cầu thì tài sản chung của vợ chồng được đem chia, phần tài sản của
người đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế33. Về cơ chế phân
chia, khoản 2 Điều 66 ghi nhận cụ thể nếu vợ chồng không có thỏa thuận về chế độ
tài sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi.
Đối với trường hợp hôn nhân chấm dứt do ly hôn: cơ chế pháp lý điều chỉnh
việc phân chia tài sản chung của vợ chồng. Trong trường hợp này được định liệu tại
Điều 59 Luật HNGĐ năm 2014. Nếu vợ, chồng không thống nhất được việc phân
chia và có u cầu Tịa án giải quyết, tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được
chia đôi. Tuy vậy, nhằm đảm bảo sự công bằng giữa các bên, pháp luật đặt ra các căn
cứ nhằm xác định phần sở hữu của mỗi bên. Theo đó, khoản 2 Điều 59 thừa nhận 04
căn cứ phân chia tài sản chung của vợ chồng, bao gồm: Hoàn cảnh của gia đình và
của vợ, chồng; Cơng sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát
triển khối tài sản chung; Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh
doanh và nghề nghiệp; Yếu tố lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân
thân và tài sản của vợ chồng.
1.3.1.3. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng
Nghĩa vụ chung của vợ chồng là nghĩa vụ được đảm bảo thực hiện bằng tài
sản chung của vợ chồng. Theo Điều 37 Luật HNGĐ 2014, nghĩa vụ chung của vợ
chồng phát sinh trong các trường hợp sau đây:
Một là, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ hoặc chồng thực hiện
Theo Điều 29 Luật HNGĐ năm 2014 “vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều
kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình”. Về nguyên tắc, khi một trong hai
bên vợ, chồng thực hiện bất kỳ một giao dịch nào liên quan đến tài sản chung thì cần
sự đồng ý của người còn lại. Đáp ứng kịp thời quyền lợi cho thành viên trong gia
đình, pháp luật cho phép vợ hoặc chồng có thể thực hiện giao dịch liên quan tài sản
33
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2022), tlđd (20), tr.416.
21