BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGƠ THỊ KHÁNH HỊA
CẤP DƯỠNG CHO CON THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC
TIỄN ÁP DỤNG
KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 - NĂM 2023
ii 2:
Mẫu trang
phụ bìa
(Khổ
x 297
BỘ GIÁO
DỤC
VÀ210
ĐÀO
TẠOmm)
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
NGƠ THỊ KHÁNH HỊA
CẤP DƯỠNG CHO CON THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS. NGƠ KHÁNH TÙNG
TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 - NĂM 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tơi là Ngơ Thị Khánh Hịa, xin cam đoan rằng Khóa luận tốt nghiệp là kết
quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc
sĩ Ngô Khánh Tùng – Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ
Chí Minh. Việc nghiên cứu đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về
trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo. Những phân tích, so sánh, bình luận và kiến
nghị trong cơng trình là kết quả của q trình tiếp cận, học hỏi, đầu tư nghiên cứu
một cách nghiêm túc của tác giả. Tơi xin chịu hồn tồn trách nhiệm về lời cam
đoan này.
Tác giả Khóa luận
Ngơ Thị Khánh Hòa
LỜI CẢM ƠN
Để có thể hồn thành tốt khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của
bản thân, tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, ủng hộ từ quý Thầy/Cô và các bạn.
Đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô khoa Luật
Dân sự trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ tác giả trong q
trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp. Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
Thầy Ngô Khánh Tùng – Giảng viên trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
Mặc dù rất bận rộn với cơng việc giảng dạy cũng như nghiên cứu khoa học nhưng
Thầy luôn tận tình hướng dẫn cũng như động viên tác giả trong suốt q trình
nghiên cứu để hồn thành khóa luận.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn
bên cạnh giúp đỡ, động viên tác giả trong thời gian vừa qua.
Mặc dù đã rất cố gắng để hồn thành tốt khóa luận nhưng do năng lực và thời
gian có hạn nên khóa luận khơng thể tránh khỏi những sai sót. Tác giả mong nhận
được sự góp ý từ phía Thầy/Cơ và bạn bè.
Trân trọng và biết ơn!
Tác giả Khóa luận
Ngơ Thị Khánh Hịa
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
VIẾT TẮT
TỪ
1
BLDS
Bộ luật Dân sự
2
BLTTDS
Bộ luật Tố tụng dân sự
3
HNGĐ
Hơn nhân và gia đình
4
TAND
Tịa án nhân dân
5
THADS
Thi hành án dân sự
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP của Chính
6
NĐ 70/2001
phủ ngày 02/02/2001 quy định chi tiết thi
hành Luật Hôn nhân và gia đình
7
8
NĐ 02/2013
Nghị định 02/2013/NĐ-CP của Chính phủ
ngày 03/01/2013 quy định về cơng tác gia
đình
NĐ 126/2014
Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của Chính
phủ ngày 31/12/2014 quy định chi tiết
một số điều và biện pháp thi hành Luật
Hôn nhân và gia đình
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 ............................................................................................................. 8
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẤP DƯỠNG CHO CON .............................. 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm của cấp dưỡng cho con ............................................ 8
1.1.1. Khái niệm cấp dưỡng cho con ................................................................ 8
1.1.2. Đặc điểm của cấp dưỡng cho con ......................................................... 12
1.2. Ý nghĩa của quy định về cấp dưỡng cho con ........................................... 14
1.3. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cấp dưỡng cho con.... 16
1.3.1. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng cho con ..................................... 16
1.3.2. Quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con ........................ 19
1.3.3. Mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng cho con ........................... 21
1.3.4. Thay đổi, tạm ngừng và chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng cho con .......... 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ................................................................................. 29
2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng cho con và kiến nghị hoàn thiện .......................................................... 30
2.1.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về thời điểm cấp dưỡng cho con ............. 30
2.1.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng cho con ................................................................................................. 36
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về mức cấp dưỡng cho con và kiến nghị
hoàn thiện .......................................................................................................... 37
2.2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về mức cấp dưỡng cho con ..................... 37
2.2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về mức cấp dưỡng cho con ................. 41
2.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về phương thức cấp dưỡng cho con và
kiến nghị hoàn thiện ......................................................................................... 43
2.3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về phương thức cấp dưỡng cho con........ 43
2.3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phương thức cấp dưỡng cho con ... 45
2.4. Thực tiễn áp dụng pháp luật về chấm dứt thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng cho con và kiến nghị hoàn thiện .......................................................... 47
2.4.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về chấm dứt thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
cho con ............................................................................................................ 47
2.4.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chấm dứt thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng cho con ................................................................................................. 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ................................................................................. 51
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 52
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 53
PHỤ LỤC .............................................................................................................. 57
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, gồm tập hợp người cùng chung sống, được
hình thành bởi quan hệ hơn nhân, huyết thống hoặc ni dưỡng. Do đó, xây dựng
một gia đình hạnh phúc đồng nghĩa với việc tạo nền tảng để xây dựng một xã hội
hạnh phúc. Thế nhưng không phải mối quan hệ nào trong gia đình cũng bền vững,
đặc biệt trong xã hội ngày nay với sự biến đổi không ngừng của đời sống kinh tế, xã
hội, nhiều quan niệm khác nhau về hơn nhân, gia đình và nuôi dạy con cái cũng dần
xuất hiện. Đây là cơ sở để mỗi gia đình, cha, mẹ có những cách chăm sóc, ni dạy
con khác nhau, điều này dẫn đến việc cha, mẹ có thể có những hành vi vi phạm
quyền và nghĩa vụ của mình đối với con. Từ đây, các quy định của pháp luật hôn
nhân và gia đình dường như đã tạo hành lang pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi
ích của thành viên trong gia đình, trong đó phải kể đến là các quy định mang tính
nhân văn về việc cấp dưỡng cho con – vấn đề được tác giả nghiên cứu trong khóa
luận này.
Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, chế định cấp dưỡng được ghi nhận trong
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 dường như đã khắc phục được những hạn chế
khuyết điểm của các văn bản trước đây về vấn đề cấp dưỡng giữa các thành viên
trong gia đình nói chung và cấp dưỡng cho con nói riêng, góp phần quan trọng
trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên chủ thể.
Tuy nhiên, nhìn từ góc độ thực tiễn vận dụng các cơ chế pháp lý về chế định
cấp dưỡng cho con, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn bộc lộ những vướng
mắc, chưa thực sự phù hợp và thiếu tính khả thi nhất định. Việc đưa ra các phán
quyết về cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con đơi khi khơng có sự thống nhất hay vấn
đề thi hành án về cấp dưỡng trên thực tế cịn nhiều khó khăn. Điều này khiến cho
các bên trong quan hệ cấp dưỡng không thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách
hữu hiệu, cũng như gây khó khăn, khơng thống nhất trong q trình áp dụng pháp
luật tại các cơ quan thi hành án trong quá trình thi hành các phán quyết liên quan
đến cấp dưỡng cho con. Trước thực tiễn đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu
hoàn thiện các quy định của pháp luật Hơn nhân và gia đình Việt Nam về cấp
dưỡng cho con nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của các bên trong quan hệ cấp dưỡng.
Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài “Cấp dưỡng cho con theo pháp luật
2
Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp cử
nhân của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Cấp dưỡng nói chung và cấp dưỡng cho con nói riêng là đề tài được khá
nhiều học giả trong và ngồi nước quan tâm. Trên thực tế, có khá nhiều bài viết,
cơng trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này.
2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Giáo trình, sách chuyên khảo:
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2022), Giáo trình Luật Hơn
nhân và gia đình Việt Nam (tái bản lần thứ nhất, có sửa chữa, bổ sung), Nxb. Hồng
Đức. Các tác giả đưa ra các quy định về cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia
đình nói chung và nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nói riêng. Từ đó, đưa ra các nhận xét
cũng như quan điểm của các tác giả về chế định cấp dưỡng trong pháp luật Hơn
nhân và gia đình.
Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật Hơn nhân và gia đình
Việt Nam, Nxb. Cơng an nhân dân. Trình bày các vấn đề liên quan đến cấp dưỡng
giữa các thành viên trong gia đình. Đưa ra những quan điểm, kiến nghị về vấn đề
cấp dưỡng, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật. Đây là cơ sở lý luận cho các
cơng trình nghiên cứu về chế định cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình có
mối quan hệ gắn bó với nhau.
Khóa luận, luận văn:
Trương Thị Thu Thảo (2015), Cấp dưỡng trong pháp luật Hơn nhân và gia
đình – Thực trạng và giải pháp, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành
phố Hồ Chí Minh. Trong khóa luận này, tác giả đã kiến nghị giải pháp hoàn thiện
cơ chế pháp lý: Quy định mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận nhưng khơng thấp
hơn ½ mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm cấp dưỡng; bổ sung
thời điểm bắt đầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng trong trường hợp quyết định thỏa
thuận ly hôn, trường hợp các bên không thỏa thuận được về việc cấp dưỡng cho
con; cấp dưỡng cho con trong trường hợp con ngoài giá thú hoặc sinh ra trong một
khoảng thời gian sau đó mới có yêu cầu xác định cha, mẹ con.
3
Trần Phương Mai (2018), Cấp dưỡng theo quy định của pháp luật Việt Nam
và thực tiễn thi hành, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội. Trong luận
văn này, tác giả tập trung nghiên cứu nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong
gia đình. Bên cạnh đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những bất
cập trong quy định của pháp luật cũng như quá trình thực thi pháp luật về nghĩa vụ
cấp dưỡng như: Làm rõ các khái niệm liên quan đến chủ thể được cấp dưỡng; quy
định mức cấp dưỡng; đề xuất việc xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc nghĩa vụ
cấp dưỡng; kiến nghị phương thức cấp dưỡng một lần; cùng các biện pháp tổ chức
thực hiện và áp dụng pháp luật đối với Tòa án, cơ quan thi hành và các cơ quan
khác có liên quan.
Võ Thị Oanh (2019), Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con theo pháp
luật Việt Nam, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh. Trong khóa luận này, thông qua các kiến thức tổng quan về nghĩa vụ cấp
dưỡng qua các thời kỳ và thực trạng áp dụng pháp luật. Tác giả kiến nghị những
giải pháp giải quyết các vấn đề còn vướng mắc như làm sáng tỏ các khái niệm
“khơng có tài sản”, “vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng”; quy định thời điểm bắt đầu
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Ngoài ra, đề tài cũng đưa ra các giải pháp đảm bảo
cho việc xác định mức cấp dưỡng, bảo đảm cho hoạt động thi hành án về cấp dưỡng
với những chế tài về hành chính và hình sự.
Đào Thị Thúy Hằng (2020), Cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình
theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội. Bên cạnh
việc trình bày một số vấn đề chung về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên
trong gia đình cũng như thực tiễn áp dụng, tác giả còn chỉ ra các vướng mắc, bất
cập, từ đó kiến nghị một số giải pháp đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
giữa các thành viên trong gia đình như bổ sung quy định thời điểm bắt đầu và kết
thúc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; quy định cụ thể về phương thức cấp dưỡng một
lần, cấp dưỡng hàng quý, hàng năm để thay thế cấp dưỡng hàng tháng; quy định cụ
thể về thời gian tối thiểu có thể thay đổi mức cấp dưỡng; quy định biện pháp chế tài
đối với người quản lý khoản tiền cấp dưỡng một lần trong trường hợp sử dụng
khoản tiền cấp dưỡng cho mục đích cá nhân.
Bài viết tạp chí:
Ngơ Thị Anh Vân (2018), “Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con”,
4
Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 16. Tác giả bài viết trình bày nghĩa vụ cấp dưỡng
khi cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên, theo đó quan hệ cấp
dưỡng sẽ chính thức đặt ra khi có quyết định hạn chế quyền của Tịa án. Ngồi ra,
trong bài viết, tác giả cịn bàn về các vấn đề liên quan đến quan hệ cấp dưỡng khi
cha, mẹ không tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp. Về mức cấp dưỡng, tác giả bài
viết cho rằng việc sử dụng các khoản thu nhập của cha mẹ để xác định mức cấp
dưỡng cho con là điều hợp lý, các khoản tiền trợ cấp của cha, mẹ vẫn có thể được
sử dụng để cấp dưỡng cho con nếu các nhu cầu thiết yếu của cha, mẹ đã được đáp
ứng. Ngồi ra, tác giả cịn kiến nghị mức cấp dưỡng khơng nên thấp hơn ¾ mức
lương cơ sở do Nhà nước quy định. Về chấm dứt việc thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng, khi con đủ 18 tuổi vẫn có thể được đặt ra như trường hợp con đang tham gia
chương trình đào tạo tồn thời gian.
Lê Vĩnh Châu (2022), “Xác định thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
cho con khi cha, mẹ ly hơn”, Tạp chí Tịa án nhân dân, số 17. Trong bài viết này,
tác giả trình bày quan điểm của một số học giả, từ đó đưa ra quan điểm của mình và
trình bày những bất cập trong thực tế mà các quan điểm khác đã đưa ra. Bên cạnh
đó, tác giả cịn trình bày và phân tích những bản án trong thực tiễn liên quan đến
vấn đề xác định thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con để người đọc có
cái nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này.
2.2. Tình hình nghiên cứu ngồi nước
Alan B. Morrison (1998), Fundamentals of American law, Oxford University
Press. Cơng trình trình bày các ngun tắc cơ bản của hệ thống pháp luật Hoa Kỳ,
trong đó có pháp luật gia đình và cụ thể là vấn đề cấp dưỡng của cha, mẹ đối với
con. Bên cạnh đó, tác giả còn khái quát pháp luật của các tiểu bang cũng như pháp
luật liên bang Hoa Kỳ về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con và nhấn
mạnh quyền cấp dưỡng là quyền của người con, bao gồm cả con trong giá thú và
con ngoài giá thú. Bài viết cịn trình bày về việc xác định độ tuổi tối đa mà người
con có quyền nhận cấp dưỡng từ cha, mẹ; các nguyên tắc xác định mức cấp dưỡng
cho con cũng như các vấn đề pháp lý liên quan khác đến nghĩa vụ cấp dưỡng.
Me Rodgers (2004), Understanding Family law, Carolina Academic Press.
Trong phần 6 của cuốn sách này, tác giả trình bày các quy định trong Đạo luật hỗ
trợ trẻ em (CSA) về người được cấp dưỡng không phụ thuộc vào tình trạng hơn
5
nhân của cha, mẹ; cơ quan hỗ trợ trẻ em (cơ quan đảm bảo vấn đề cấp dưỡng của trẻ
em); điều kiện của đối tượng được cấp dưỡng; về cách tính mức cấp dưỡng.
Jonathan Herring (2013), Famiy law, Oxford University Press. Với các nội
dung về cấp dưỡng được trình bày đan xen trong phần “Những vấn đề tài chính khi
ly hôn và hủy bỏ hôn nhân”, tác giả cho thấy các đạo luật của Vương quốc Anh về
nghĩa vụ cấp dưỡng và các phán quyết của Tịa án có liên quan. Các phương thức để
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng trong pháp luật Vương quốc Anh bao gồm cấp dưỡng
định kỳ, cấp dưỡng một lần, lệnh về tài sản cho con, việc cấp dưỡng định kỳ cho
con riêng hay người con khơng phải là con đẻ; cách tính mức cấp dưỡng theo C –
MEC (cách tính này cũng được áp dụng theo thỏa thuận khi cha mẹ ly thân). Bên
cạnh đó, cơng trình cịn phân tích về pháp luật và thực tiễn khi xác định nghĩa vụ
cấp dưỡng cho con riêng của cha mẹ kế, cha mẹ nuôi trong việc cấp dưỡng cho con.
Các cơng trình nghiên cứu trên đã phân tích cũng như đánh giá về vấn đề cấp
dưỡng cho con. Tuy nhiên, ở góc độ nhất định các đề tài trên chỉ mới dừng lại ở
việc cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con khi cha, mẹ ly hơn. Cịn các vấn đề về cấp
dưỡng của cha, mẹ nuôi đối với con nuôi, vấn đề cấp dưỡng cho con khi cha, mẹ
không tồn tại quan hệ hôn nhân rất ít tác giả tiếp cận nghiên cứu chuyên sâu mặc dù
giữa họ có tồn tại quan hệ cấp dưỡng. Chính vì vậy, trong phạm vi khóa luận của
mình, tác giả sẽ tập trung phân tích và làm rõ vấn đề cấp dưỡng theo pháp luật hiện
hành và những trường hợp cha, mẹ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Trong khóa luận này, tác giả phân tích những vấn đề lý luận cũng như thực
tiễn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nhằm mục đích làm rõ các quy định của
pháp luật Việt Nam hiện hành về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con, cũng
như thực tiễn áp dụng pháp luật, từ đó nhận diện những vướng mắc, khó khăn mà
các cơ quan thực thi pháp luật gặp phải trong quá trình giải quyết các tranh chấp
liên quan đến vấn đề cấp dưỡng cho con và đề ra giải pháp tháo gỡ.
Với mục đích trên, trong khố luận này, tác giả tập trung giải quyết các
nhiệm vụ sau đây:
Thứ nhất, làm sáng tỏ những vấn đề chung về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
như khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa pháp lý của việc cấp dưỡng cho con.
6
Thứ hai, phân tích, đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về nghĩa vụ
cấp dưỡng cho con.
Thứ ba, phân tích các tình huống, vụ việc thực tế (thơng qua quyết định, bản
án cũng như việc thực thi phán quyết của Tòa án về cấp dưỡng của cha, mẹ đối với
con) trên cơ sở có đối chiếu pháp luật hiện hành cũng như so sánh các vụ việc cụ
thể có tình tiết tương tự nhằm chỉ ra các vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp
luật.
Thứ tư, trên cơ sở lý luận và thực tiễn, kết hợp dẫn chiếu kinh nghiệm lập
pháp, án lệ nước ngoài để đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng
cao hiệu quả cơ chế thực thi pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu vấn đề cấp dưỡng cho
con trong quan hệ hơn nhân và gia đình giữa các chủ thể là công dân Việt Nam mà
không đề cập vấn đề cấp dưỡng cho con trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngồi.
Về giới hạn cơ chế pháp lý nghiên cứu, tác giả chú trọng tiếp cận pháp luật
hơn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành. Các chế tài xử lý vi phạm dân sự khi vi
phạm nghĩa vụ cấp dưỡng không được tác giả nghiên cứu sâu trong phạm vi khóa
luận này mà chỉ dừng lại ở mức độ tiếp cận vấn đề mang tính ngun tắc.
Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận “Cấp dưỡng cho con theo pháp luật Việt
Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng” nghiên cứu những vấn đề lý luận về cấp
dưỡng cho con; quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành cũng như pháp luật, án
lệ một số quốc gia về cấp dưỡng cho con; những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn
áp dụng pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trong phạm vi khóa luận này, tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau đây:
Phương pháp phân tích được tác giả sử dụng trong cả hai chương của khóa
luận nhằm phân tích những quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
cũng như của một số quốc gia liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng cho con của cha,
mẹ.
7
Phương pháp bình luận án được tác giả sử dụng chủ yếu trong chương 2 của
khóa luận nhằm bình luận một số bản án, quyết định về cấp dưỡng cho con. Từ đó,
tác giả đưa ra cơ sở thực tiễn hướng tới việc hoàn thiện pháp luật về cấp dưỡng cho
con.
Phương pháp so sánh được tác giả vận dụng trong cả hai chương của khoá
luận nhằm chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam và
pháp luật một số quốc gia trên thế giới.
Phương pháp tổng hợp được tác giả sử dụng nhằm tổng hợp các quy định của
pháp luật và các bản án, quyết định trong thực tiễn xét xử để đưa ra những kết luận,
giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành. Phương pháp này được sử
dụng chủ yếu trong phần kết luận từng chương và kết luận chung của khóa luận.
6. Kết cấu của khóa luận
Khóa luận gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Trong phần nội dung, khóa luận được chia làm 02 chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cấp dưỡng cho con
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về cấp dưỡng cho con và kiến nghị
hoàn thiện
8
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CẤP DƯỠNG CHO CON
1.1. Khái niệm, đặc điểm của cấp dưỡng cho con
1.1.1. Khái niệm cấp dưỡng cho con
Trong khoa học pháp lý, chế định cấp dưỡng đã có lịch sử tồn tại lâu đời và
xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong Luật La Mã cổ, nhà luật học Ul-pian
đã cho rằng trẻ em khơng sống cùng cha mẹ thì cha mẹ phải chu cấp chi phí để ni
các em. Ngược lại, khi cha mẹ đã già yếu, con đã lớn phải lo lắng chu cấp cho cha
mẹ1. Như vậy, có thể thấy, nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con được đặt ra
từ rất sớm. Có thể thấy, từ thời La Mã thì luật La Mã đã đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng
giữa cha mẹ và con cái và ngược lại. Hay thậm chí tại Điều 137 Bộ luật Hammurabi
của Nhà nước Lưỡng Hà cổ đại đã quy định: “Nếu người chồng muốn bỏ người đàn
bà hay người vợ đã sinh con cho y, anh ta phải trả lại cho cơ ta tồn bộ của hồi
mơn (cheriqtou), và giao cho cô ta quyền thu hoa lợi từ cánh đồng vườn cây ăn quả
cũng như từ các thứ tài sản khác để cơ ta ni con...”2. Theo đó, nếu khi hai vợ
chồng khơng cịn muốn chung sống với nhau, giữa hai người khơng cịn tồn tại quan
hệ hơn nhân thì việc ni con sẽ được giao cho vợ và người chồng sẽ có nghĩa vụ
cấp dưỡng cho con. Lúc này nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ được đặt ra và tài sản mà người
chồng cấp dưỡng được thông qua việc giao quyền thu hoa lợi cho vợ. Ở Việt Nam,
trong các văn bản luật cổ đã thể hiện rõ tư tưởng về cấp dưỡng, theo Sách Hồng
Đức thiện chính thư ghi lại các luật lệ được ban hành dưới triều Lê (1428 - 1788) đã
quy định: “Làm người phải coi trọng sự giáo dưỡng, cha hiền con hiếu làm đầu.
Làm cha mẹ người ta, phải cấp dưỡng cho cơm áo khơng nên vì đứa con một buổi
sớm dỗi khơng ăn, mà cha mẹ giận đổ bỏ đi”3. Như vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng đã
được đặt ra từ rất sớm với hầu hết các quốc gia và trong từng thời kỳ.
Thực tế, hiện nay có khá nhiều tài liệu đưa ra khái niệm về cấp dưỡng. Từ
điển Luật học Oxford (Vương quốc Anh) định nghĩa cấp dưỡng là “cung cấp thức
ăn, quần áo và những thứ cần thiết khác của cuộc sống. Theo đó, vợ chồng cấp
dưỡng cho nhau; cha, mẹ cấp dưỡng cho con chưa thành niên chưa kể cha, mẹ có
Đ. Uixtiniana (1997), Luật dân sự La Mã, Matsxcơva, Nxb. Tiến bộ, tr. 565.
Nguyễn Anh Tuấn (2008), Khảo lược Bộ luật Hammurabi của Nhà nước Lưỡng Hà cổ đại, Nxb. Chính trị
quốc gia, tr.82.
3
Trường Luật khoa Đại học (1959), Hồng Đức Thiện chính thư, Nxb. Nam Hà, tr. 26.
1
2
9
kết hôn hay chưa kết hôn”4. Theo Từ điển tiếng Việt “cấp dưỡng là cung cấp cho
người già hoặc yếu những thứ cần thiết cho đời sống”5.
Trong khoa học pháp lý, khái niệm cấp dưỡng đã được làm rõ trong nhiều
cơng trình nghiên cứu. Chẳng hạn, có tác giả nhận định cấp dưỡng có thể được hiểu
như “việc một người chuyển giao khơng có đền bù một số tài sản của mình cho một
người khác đang sống trong cảnh thiếu thốn, để người này có thể sử dụng, định đoạt
các tài sản ấy nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống của mình”6. Với
khái niệm này có thể hiểu rằng cấp dưỡng là sự chuyển giao tài sản từ người này
sang người khác nhằm đáp ứng các điều kiện, nhu cầu thiết yếu của người được cấp
dưỡng và họ khơng có nghĩa vụ hồn trả lại số tài sản đó cho người cấp dưỡng (đền
bù). Tuy nhiên, khái niệm này chưa xác định được phạm vi chủ thể tham gia quan
hệ cấp dưỡng. Nếu theo cách hiểu của khái niệm này thì có thể xác định chủ thể của
quan hệ cấp dưỡng là toàn bộ mối quan hệ giữa người và người mà không yêu cầu,
ràng buộc rằng họ có phải là người thân thích, có mối quan hệ hơn nhân, huyết
thống trong gia đình hay khơng. Theo nghĩa đó, cấp dưỡng đã mở rộng đến cả các
hoạt động mang tính xã hội giữa các cá nhân, tổ chức đối với những người cần được
hỗ trợ. Tuy nhiên, khi nhìn nhận cấp dưỡng là một nghĩa vụ pháp lý thì khơng thể
mở rộng phạm vi chủ thể đến tất cả mọi thành viên trong xã hội. Sự mở rộng như
vậy có lẽ khơng phù hợp với phạm vi điều chỉnh của Luật HNGĐ. Hơn nữa, khái
niệm này cũng chưa thể hiện được sự ràng buộc pháp lý trong quan hệ cấp dưỡng.
Bàn về khái niệm cấp dưỡng, có quan điểm cho rằng “cấp dưỡng là một thuật
ngữ pháp lý thể hiện mối quan hệ ràng buộc về quyền và nghĩa vụ giữa những
người không sống chung với nhau nhưng đang có hoặc đã có quan hệ gia đình trong
việc bảo đảm cuộc sống cho những người chưa thành niên, người đã thành niên
nhưng khơng có khả năng lao động và khơng có tài sản hoặc tuy có nhưng khơng đủ
để bảo đảm cuộc sống của mình. Cấp dưỡng cịn là biện pháp chế tài đối với người
có hành vi trốn tránh thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng”7. Với khái niệm này chủ thể
của quan hệ cấp dưỡng đã được bó hẹp lại cho phù hợp với phạm vi điều chỉnh của
Luật HNGĐ, đó là mối quan hệ giữa những người có quan hệ gia đình với nhau mà
4
Oxford University press (1892), Dictionary of law (third edition), tr.239.
Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr.71.
6
Nguyễn Ngọc Điện (2002), Bình luận khoa học Luật hơn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ
Chí Minh, tr. 32.
7
Ngơ Thị Hường (2005), Chế định cấp dưỡng trong luật hôn nhân và gia đình vấn đề lý luận và thực tiễn,
Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 32.
5
10
hiện tại họ khơng cịn chung sống với nhau hoặc sống chung nhưng vi phạm nghĩa
vụ nuôi dưỡng.
Bên cạnh những quan điểm học thuật cũng như sự làm rõ về mặt ngữ nghĩa
trong các tài liệu ngôn ngữ. Luật HNGĐ năm 2014 cũng làm rõ khái niệm về cấp
dưỡng tại khoản 24 Điều 3. Theo đó, cấp dưỡng là “việc một người có nghĩa vụ
đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người khơng sống
chung với mình mà có quan hệ hơn nhân, huyết thống hoặc ni dưỡng trong
trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có
khả năng lao động và khơng có tài sản để tự ni mình hoặc người gặp khó khăn,
túng thiếu theo quy định của Luật HNGĐ”8. Theo khái niệm này, thành viên trong
gia đình – người có đủ khả năng, phải có nghĩa vụ đảm bảo cho người có quan hệ
hơn nhân, huyết thống hoặc quan hệ ni dưỡng với mình sự chu cấp mang yếu tố
tài sản trên cơ sở tuân thủ các điều kiện được pháp luật quy định9.
Cũng giống như Luật HNGĐ Việt Nam, trong Bộ luật gia đình Philipines
cũng ghi nhận khái niệm cấp dưỡng một cách khá rõ nét. Theo Điều 194 Bộ luật
Gia đình Philipines năm 1987 thì “cấp dưỡng bao gồm những thứ khơng thể thiếu
đó là thức ăn, chỗ ở, quần áo, chăm sóc y tế, giáo dục và giao thơng vận tải, phù
hợp với khả năng tài chính của gia đình. Sự giáo dục của người được cấp dưỡng
được quy định trong điều này bao gồm việc học tập và đào tạo một số ngành nghề,
kinh tế, nghề nghiệp thậm chí cho tới tuổi trưởng thành. Giao thông vận tải bao gồm
các chi phí trong việc đi đến trường và về nhà, hoặc đến và đi từ nơi làm việc”. Đối
sánh với Luật HNGĐ năm 2014 thì khái niệm cấp dưỡng của Việt Nam đã xác định
rõ được chủ thể, điều kiện cũng như mục đích của cấp dưỡng hơn so với điều luật
trên của Bộ luật gia đình Philipines.
Nghĩa vụ cấp dưỡng dưới góc độ pháp lý có thể phát sinh giữa các chủ thể là
thành viên trong gia đình, trong đó điển hình là nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối
với con. Thuật ngữ “con” được dùng trong mối quan hệ với “cha, mẹ”. Cấp dưỡng
của cha, mẹ đối với con cũng là một loại nghĩa vụ dân sự, nhưng nghĩa vụ này mang
tính nhân văn sâu sắc, gắn liền với nhân thân và phát sinh giữa những chủ thể có
quan hệ vơ cùng đặc biệt: Những cá nhân là thành viên trong gia đình gắn bó bởi
Khoản 24 Điều 3 Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014.
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2022), Giáo trình Luật Hơn nhân và gia đình Việt Nam (tái
bản lần thứ nhất, có sửa chữa, bổ sung), Nxb. Hồng Đức, tr. 371.
8
9
11
yếu tố huyết thống hoặc ni dưỡng. Do đó, loại nghĩa vụ này không thể chuyển
giao, thay thế hay bù trừ giống như các loại nghĩa vụ dân sự thông thường khác.
Trong quan hệ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con, bên thụ hưởng quyền (được cấp
dưỡng) là những đối tượng đặc biệt – người chưa thành niên hoặc người đã thành
niên mà khơng có khả năng lao động và khơng có tài sản để tự ni mình.
Bên cạnh đó, nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con cũng thuộc các
trường hợp cấp dưỡng được quy định tại khoản 1 Điều 107 Luật HNGĐ năm 2014.
Theo đó, cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành
niên khơng có khả năng lao động và khơng có tài sản để tự ni mình trong trường
hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ
nuôi dưỡng con. Về mặt đạo đức cũng như pháp luật, cha mẹ phải quan tâm, u
thương, chăm sóc, ni dưỡng, giáo dục con cái. Tuy nhiên, có thể vì nhiều ngun
nhân khác nhau mà cha mẹ không thể thực hiện nghĩa vụ và quyền này đối với con.
Đảm bảo trách nhiệm của cha, mẹ đối với con cũng như bảo vệ quyền lợi của con,
pháp luật dự liệu hàng loạt cơ chế pháp lý nhằm đảm bảo quyền được cấp dưỡng
của con. Chẳng hạn, khi cha mẹ ly hôn, pháp luật quy định cha, mẹ khơng trực tiếp
ni con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con10. Bên cạnh đó, nghĩa vụ cấp dưỡng này
cịn được đặt ra khi cha, mẹ bị Tồ án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên11.
Mặt khác, khi người cha, mẹ có nghĩa vụ ni dưỡng con trốn tránh nghĩa vụ thì
theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được pháp luật quy định, Toà án buộc
người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.
Từ những phân tích và luận giải nói trên, có thể hiểu cấp dưỡng cho con là
việc cha, mẹ có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết
yếu của con là người chưa thành niên hoặc người đã thành niên khơng có khả năng
lao động và khơng có tài sản để tự ni mình trong trường hợp cha mẹ ly hơn; giữa
cha, mẹ không tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp và người con đó sống cùng với
cha hoặc mẹ; giữa cha, mẹ có tồn tại quan hệ hơn nhân hợp pháp nhưng họ không
sống chung với nhau; cha, mẹ là người có nghĩa vụ ni dưỡng con nhưng họ trốn
tránh nghĩa vụ đó thì cho dù họ sống chung với con nhưng theo yêu cầu của cá
nhân, cơ quan, tổ chức được pháp luật quy định thì người đó phải thực hiện nghĩa
vụ cấp dưỡng cho con. Hay nói cách khác, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con được đặt ra
10
11
Khoản 2 Điều 82 Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014.
Khoản 3 Điều 87 Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014.
12
khi cha hoặc mẹ không sống chung với con của mình hoặc sống chung với con
nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
1.1.2. Đặc điểm của cấp dưỡng cho con
Dựa trên khái niệm cấp dưỡng cho con đã được phân tích và trình bày ở nội
dung trên, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của việc cấp dưỡng cho con, cụ thể
như sau:
Thứ nhất, cấp dưỡng cho con mang những đặc điểm của nghĩa vụ cấp dưỡng
nói chung
Cũng giống như nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng hay cấp dưỡng giữa
anh, chị, em... Cấp dưỡng cho con là quan hệ mang tính tài sản và quan hệ tài sản
trong nghĩa vụ cấp dưỡng khơng mang tính đền bù, ngang giá. Quan hệ cấp dưỡng
là quan hệ tài sản bởi nó gắn liền với yếu tố tài sản – đó là việc cha (mẹ) đóng góp
tiền hoặc tài sản khác cho người được cấp dưỡng là con trên cơ sở lợi ích tốt nhất
của con. Tài sản chuyển giao có thể là tiền hoặc những tài sản khác nhằm đảm bảo
việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho con theo thỏa thuận của các bên hoặc theo phán
quyết của Tịa án. Theo đó, người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người
đó nhận tiền hoặc tài sản từ người có nghĩa vụ cấp dưỡng để duy trì cuộc sống của
họ, họ khơng có nghĩa vụ phải trả lại tiền hoặc các tài sản khác trên nền tảng giá trị
tương ứng. “Tiền hoặc hiện vật cấp dưỡng được giao tại nơi cư trú của người được
cấp dưỡng, trừ trường hợp có thoả thuận khác giữa các bên, áp dụng luật chung về
địa điểm thực hiện nghĩa vụ”12. Do đó, có thể thấy, khơng giống như các quan hệ tài
sản khác trong lĩnh vực dân sự như quan hệ mua bán, cho thuê... là quan hệ mang
tính chất hàng hóa – tiền tệ, cấp dưỡng cho con khơng mang tính đền bù và ngang
giá.
Bên cạnh đó, nghĩa vụ cấp dưỡng mang tính cụ thể và riêng biệt, khơng thể
chuyển giao và không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác. Khi cha (mẹ) là người có
nghĩa vụ cấp dưỡng cho con thì họ phải thực hiện nghĩa vụ của mình mà khơng thể
chuyển nghĩa vụ đó cho một người nào khác. Trong trường hợp cha, mẹ khơng có
hoặc khơng cịn khả năng cấp dưỡng thì họ được tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ nói
trên. Tương tự như vậy, con có quyền và nghĩa vụ nhận tài sản từ cha, mẹ để đảm
Nguyễn Ngọc Điện (2022), Giáo trình Luật Hơn nhân và gia đình (Tập 1: Các quan hệ nhân thân về gia
đình), Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 265.
12
13
bảo các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của mình mà khơng thể nhường quyền
được cấp dưỡng cho người khác. Tuy nhiên, việc không chuyển giao, không thay
thế trong nghĩa vụ cấp dưỡng khơng có nghĩa là quan hệ này chỉ xảy ra giữa hai
người là người cấp dưỡng (cha hoặc mẹ) và người được cấp dưỡng (con) mà cịn có
thể thơng qua một người thứ ba khi chủ thể trong quan hệ này không đủ điều kiện
để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của mình13. Và ngược lại, người được cấp dưỡng
cũng có thể thực hiện quyền của mình thơng qua người thứ ba khi bản thân họ
khơng thể trực tiếp nhận khoản cấp dưỡng để chi tiêu cho bản thân mình14.
Thứ hai, cấp dưỡng cho con phát sinh trên cơ sở quan hệ huyết thống hoặc
nuôi dưỡng
Khác với cấp dưỡng giữa vợ và chồng thì cấp dưỡng cho con phát sinh trên
cơ sở quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Bởi lẽ quan hệ huyết thống là gốc rễ
hình thành nên mối quan hệ gắn bó, khăng khít giữa cha, mẹ và con. Khi cha, mẹ
khơng thể trực tiếp chăm sóc, ni dưỡng con thì họ thực hiện nghĩa vụ đó thơng
qua việc cấp dưỡng. Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng trước hết xuất phát từ ý thức,
trách nhiệm của cha, mẹ đối với con, là cơ sở cho sự hình thành và phát triển của
gia đình, trong khi đó giữa cha, mẹ và con có mối quan hệ gắn bó, gần gũi với nhau,
cấp dưỡng cho con là quyền và nghĩa vụ vừa mang tính chất đạo đức, vừa mang
tính chất pháp lý. Bên cạnh đó, khi cha, mẹ có nghĩa vụ ni dưỡng con nhưng nay
họ khơng thực hiện trách nhiệm đó thì cấp dưỡng được đặt ra như một giải pháp
pháp lý cho việc bảo đảm quyền lợi của con được thực hiện một cách tốt nhất. Như
vậy, trên cơ sở huyết thống hoặc ni dưỡng thì quan hệ cấp dưỡng của cha, mẹ đối
với con mới phát sinh và được bảo vệ.
Thứ ba, cấp dưỡng cho con đặt ra ngay cả khi cha, mẹ sống chung với con
nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con
Nếu như cấp dưỡng giữa anh, chị, em chỉ được đặt ra trong trường hợp
khơng cịn cha mẹ hoặc cha mẹ khơng có khả năng lao động và khơng có tài sản để
cấp dưỡng cho con thì anh, chị đã thành niên khơng sống chung với em có nghĩa vụ
cấp dưỡng cho em. Hay vợ, chồng được cấp dưỡng trong trường hợp ly hơn mà một
Ví dụ khi ly hơn, đứa con được mẹ ni, cha có nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ cho con hàng tháng, nhưng
hiện tại người cha đang sinh sống và làm việc ở nước ngồi thì có thể gửi tiền về cho một người thứ ba để
người này cấp dưỡng hàng tháng cho con mình.
14
Ngơ Thị Hường (2005), tlđd (7), tr. 36.
13
14
bên vợ hoặc chồng khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng và có lý do chính
đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình. Như vậy, nhìn
chung khác với các quan hệ cấp dưỡng khác như cấp dưỡng giữa vợ, chồng hay cấp
dưỡng giữa anh, chị, em..., nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ được đặt ra khi người cấp dưỡng
và người được cấp dưỡng khơng sống chung với nhau thì nghĩa vụ cấp dưỡng của
cha, mẹ đối với con có thể xảy ra ngay cả khi cha, mẹ sống cùng con nhưng vi
phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
Như vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con cũng là một chế định
của cấp dưỡng nói chung. Do đó, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con cũng mang những
đặc điểm cơ bản của nghĩa vụ cấp dưỡng nói chung. Tuy nhiên, như đã phân tích,
có thể thấy, cấp dưỡng cho con cũng mang những đặc điểm riêng của nó, đây là cơ
sở để phân biệt cấp dưỡng cho con với các nghĩa vụ cấp dưỡng khác, là tiền đề để
pháp luật quy định các căn cứ cụ thể nhằm bảo vệ tối đa lợi ích của những chủ thể
trong quan hệ cấp dưỡng, đặc biệt là sự phát triển tốt nhất của con chưa thành niên,
hoặc con đã thành niên khơng có khả năng lao động và khơng có tài sản để tự ni
mình.
1.2. Ý nghĩa của quy định về cấp dưỡng cho con
Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con trong các trường hợp luật định như
cấp dưỡng cho con khi cha mẹ ly hôn, cấp dưỡng cho con khi cha mẹ không tồn tại
hôn nhân hợp pháp hoặc tồn tại hôn nhân nhưng không sống chung với nhau hoặc
sống chung nhưng một trong hai cha, mẹ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
Tuy nhiên, dù là cấp dưỡng trong bất cứ trường hợp nào thì quy định về nghĩa vụ
cấp dưỡng cho con cũng mang lại những ý nghĩa quan trọng trong đời sống của con
trẻ, của cha (mẹ) trực tiếp nuôi dưỡng con cũng như đối với cơ quan xét xử và rộng
hơn là đối với sự ổn định xã hội.
Thứ nhất, quy định về cấp dưỡng cho con góp phần bảo đảm các nhu cầu
thiết yếu của con
Chế định cấp dưỡng trong Luật HNGĐ góp phần củng cố chức năng chăm
sóc, ni dưỡng của cha, mẹ đối với con là người chưa thành niên hoặc người đã
thành niên nhưng khơng có khả năng lao động và khơng có tài sản để tự ni mình,
là cơ sở pháp lý cần thiết để đảm bảo cho con cái được nuôi dạy tốt nhất cả trong
những hoàn cảnh đặc biệt như: Cha mẹ ly hôn, cha, mẹ không sống chung với
15
nhau... Trường hợp khi cha, mẹ vì những nguyên nhân, hồn cảnh nào đó mà khơng
đủ điều kiện để ni dưỡng con thì thơng qua nghĩa vụ cấp dưỡng họ vẫn có thể
thực hiện được trách nhiệm, bổn phận của mình đối với con mà các quy phạm pháp
luật lẫn quy phạm đạo đức đặt ra. Đặc biệt, hiện nay tỷ lệ ly hôn, cha mẹ không
sống chung với nhau tăng nhanh tới mức báo động. Theo thống kê của Viện nghiên
cứu Gia đình và Giới vào năm 2018, trung bình cả nước có trên 60.000 vụ ly hơn
mỗi năm, chiếm tỷ lệ 30% tổng số cặp đôi. Điều này đồng nghĩa với việc cứ 10 cặp
đơi kết hơn thì có đến 3 cặp ly hơn15. Trước thực trạng đó, những quy định về cấp
dưỡng là rất cần thiết bởi lẽ có rất nhiều đứa trẻ chỉ được sống với cha hoặc mẹ và
lúc này việc cấp dưỡng của người còn lại đối với con sẽ là cơ sở pháp lý nhằm gắn
kết các thành viên trong gia đình lại với nhau, nâng cao ý thức trách nhiệm của họ
đối với con cái.
Bên cạnh đó, nghĩa vụ cấp dưỡng được đặt ra như một hình thức thay thế cho
việc ni dưỡng vì lúc này một hoặc cả hai bên cha, mẹ khơng có điều kiện để gần
gũi, chăm sóc, ni dưỡng con. Khi cha mẹ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, họ
chuyển giao cho con một khoản tiền hay tài sản khác. Đây không chỉ đơn thuần là
sự hỗ trợ về vật chất mà còn là sự hỗ trợ về mặt tinh thần cho con được cấp dưỡng.
Việc ghi nhận nghĩa vụ cấp dưỡng của cha mẹ đối với con đã góp phần nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần cũng như bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của
con. Từ đây, chế định cấp dưỡng đã có những đóng góp đáng kể vào việc củng cố
các chức năng xã hội cơ bản của gia đình, giúp cho cha, mẹ khi khơng có điều kiện
ni dưỡng con trong những hồn cảnh nhất định nhưng thơng qua cấp dưỡng thì
vẫn có thể hồn thành trách nhiệm cao cả của mình đối với con.
Hơn thế nữa, quy định cấp dưỡng cho con góp phần làm giảm gánh nặng về
mặt tài chính đối với bên đang trực tiếp ni dưỡng con. Đặc biệt, trong xu thế hội
nhập và phát triển như hiện nay, bên cạnh những nhu cầu thiết yếu về việc ăn mặc,
học tập, thì trẻ em cũng cần được vui chơi, giải trí. Đặc biệt, ở những thành phố lớn
thì chi phí này là rất cao. Do đó, việc cha (mẹ) bên không nuôi dưỡng con thực hiện
nghĩa vụ cấp dưỡng là cực kỳ cần thiết. Đây là khoản chi phí để hỗ trợ người trực
tiếp ni con, giúp họ giảm bớt gánh nặng về kinh tế.
Thứ hai, quy định về cấp dưỡng cho con tạo cơ sở pháp lý cho Tịa án trong
Từ Thắng, “Gia đình trẻ Việt ngày càng thiếu sự gắn bó và bền vững”, truy cập ngày 10/5/2023.
15
16
giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc cấp dưỡng cho con
Về nguyên tắc, khi giải quyết yêu cầu của đương sự, cơ quan tài phán phải
tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật. Hơn nữa, yêu cầu được cấp
dưỡng của con ngày một trở nên phổ biến khi thực trạng ly hôn ngày một gia tăng.
Do đó, việc quy định nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con theo pháp luật
hiện hành là cơ sở pháp lý vững chắc để Toà án áp dụng trong quá trình giải quyết
yêu cầu, tranh chấp của các chủ thể có liên quan trong quan hệ cấp dưỡng.
Thứ ba, quy định về cấp dưỡng cho con góp phần đảm bảo ổn định xã hội
Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con khơng chỉ có ý nghĩa to lớn đối
với người cấp dưỡng, người trực tiếp ni con và con được cấp dưỡng mà nó cịn có
ý nghĩa đối với tồn xã hội. Sự quan tâm, hỗ trợ của cha, mẹ đối với con thông qua
nghĩa vụ cấp dưỡng giúp con có đủ điều kiện về vật chất, tinh thần để phát triển. Đó
là việc con cảm nhận đủ tình yêu thương của cả cha và mẹ chứ không phải chỉ duy
nhất từ người đang trực tiếp ni dưỡng mình, từ đó giúp con khơng cảm thấy thiếu
thốn tình cảm, vật chất mà thực hiện những hành vi xấu, vi phạm pháp luật, ảnh
hưởng tới gia đình và xã hội.
Như vậy, các quy định về cấp dưỡng trong Luật HNGĐ có ý nghĩa quan
trọng trên nhiều phương diện. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con đã góp
phần nâng cao trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã
thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và
khơng có tài sản để tự ni mình. Đồng thời, là cơ sở cần thiết để đảm bảo cho con
cái được nuôi dạy tốt trong những hồn cảnh đặc biệt mà cha, mẹ khơng thể trực
tiếp nuôi dưỡng con.
1.3. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về cấp dưỡng cho con
1.3.1. Căn cứ phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng cho con
Theo Điều 110 Luật HNGĐ năm 2014, “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho
con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và khơng có tài
sản để tự ni mình trong trường hợp khơng sống chung với con hoặc sống chung
với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con”. Theo quy định này, nghĩa vụ cấp
dưỡng của cha, mẹ đối với con không đương nhiên phát sinh mà nó chỉ phát sinh
khi thoả mãn các căn cứ vừa nêu, cụ thể:
17
Thứ nhất, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên khơng có khả năng
lao động và khơng có tài sản để tự ni mình
(i) Con chưa thành niên
Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi16. Như vậy, có thể
hiểu, con chưa thành niên là trẻ chưa đủ 18 tuổi, ở lứa tuổi này, con chưa có sự
trưởng thành về mặt thể chất và tâm lý, không có khả năng lao động, do đó cần
được chăm sóc, ni dưỡng, giáo dục bởi cha mẹ. Vì thế, khi cha (mẹ) khơng trực
tiếp ni dưỡng, chăm sóc con thì có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con để bù đắp tổn thất
tinh thần và đảm bảo những nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống của con.
Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên là nghĩa vụ có
thời hạn. Về mặt nguyên tắc, khi con được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng
lao động hoặc có tài sản để tự ni mình thì nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối
với con chấm dứt.
Tương tự như pháp luật Việt Nam, pháp luật một số quốc gia cũng quy định
về nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên. Luật gia đình của
Cộng hồ Cuba quy định người có quyền địi các khoản cấp dưỡng là người chưa
thành niên17. Luật Gia đình của Cộng hồ Liên bang Đức quy định con chưa thành
niên chưa lập gia đình có quyền được cha mẹ cấp dưỡng 18. Bộ luật Dân sự và
Thương mại Thái Lan quy định cha mẹ có trách nhiệm ni dưỡng con cái khi
chúng chưa thành niên hoặc tuy đã thành niên nhưng bị tàn tật và không thể tự kiếm
sống19. Như vậy, xuất phát từ đặc điểm về thể chất, người chưa thành niên có quyền
được thụ hưởng sự chăm sóc, ni dưỡng hoặc cấp dưỡng từ cha mẹ và những
người thân khi thoả mãn các điều kiện nhất định.
(ii) Con đã thành niên khơng có khả năng lao động và khơng có tài sản để tự
ni mình
Con đã thành niên khơng có khả năng lao động có thể hiểu là con đã từ đủ 18
tuổi trở lên nhưng bị khiếm khuyết về thể chất hoặc nhận thức nên khơng có khả
năng lao động để tự ni mình và con cần được sự cấp dưỡng từ cha, mẹ. Trên thực
tế, để xem xét một người có khả năng lao động hay khơng thì cơ quan chức năng
Khoản 1 Điều 21 Bộ luật dân sự năm 2015.
Điều 122 Luật Gia đình Cu Ba.
18
Điều 1602 Luật Gia đình Cộng hịa Liên bang Đức.
19
Điều 1564 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan.
16
17
18
thường sẽ dựa vào kết quả kiểm tra dưới góc độ y học về mức độ khuyết tật, khả
năng lao động tạo ra thu nhập của họ. Như vậy, có thể hiểu con đã thành niên
“khơng có khả năng lao động” bao gồm trường hợp con đã thành niên bị khuyết tật
mà khơng có khả năng lao động hoặc con bị bệnh tâm thần hoặc bệnh lý khác mà
mất hoặc bị hạn chế khả năng lao động. Do đó, khi cha, mẹ không sống chung với
những người con nêu trên và con khơng có tài sản tự ni mình thì cha, mẹ phải có
nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
Có thể hiểu, con đã thành niên khơng có tài sản để tự ni mình là con đã
thành niên nhưng lâm vào tình trạng khơng đủ phương tiện vật chất (tiền, tài sản
khác) để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của bản thân. Cách hiểu này bao qt cả trường
hợp người được cấp dưỡng khơng có bất cứ tài sản nào và cả trường hợp mặc dù có
tài sản nhưng khơng đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống.
Thứ hai, cha, mẹ không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng
vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
(i) Cha, mẹ không sống chung với con
Khi cha, mẹ và con sống chung với nhau thì cũng đồng nghĩa với việc cha,
mẹ đang trực tiếp chăm sóc, ni dưỡng con, do đó nghĩa vụ cấp dưỡng không
được đặt ra. Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh khi người có nghĩa vụ ni dưỡng
vì những hồn cảnh nhất định mà khơng thể trực tiếp ni dưỡng con, vì thế họ
phải chu cấp một khoản tiền hoặc tài sản nhất định để đáp ứng những nhu cầu
thiết yếu cho con.
(ii) Cha, mẹ sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con
Đây là trường hợp cha, mẹ có nghĩa vụ ni dưỡng con tuy sống chung
nhưng có hành vi trốn tránh việc ni dưỡng con. Trong những trường hợp như
vậy, theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 Luật
HNGĐ năm 2014, Tòa án buộc người cha, mẹ đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng cho con theo quy định của pháp luật. Như vậy, nghĩa vụ cấp dưỡng trong
trường hợp này như một biện pháp chế tài đối với việc cha, mẹ không thực hiện
nghĩa vụ ni dưỡng của mình đối với con.
Như vậy, có thể thấy, ni dưỡng và cấp dưỡng có mối liên hệ mật thiết
với nhau. Trong khi nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ là việc cha, mẹ đưa cho con một