Tải bản đầy đủ (.pdf) (79 trang)

Áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân s

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.53 MB, 79 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TRỊNH CƠNG BẰNG

ÁP DỤNG PHƯƠNG THỨC XÉT XỬ
TRỰC TUYẾN TRONG TỐ TỤNG DÂN
SỰ

KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ

TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 NĂM 2023

TP HỒ CHÍ MINH- (THÁNG)- (NĂM)


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TRỊNH CƠNG BẰNG

ÁP DỤNG PHƯƠNG THỨC XÉT XỬ TRỰC TUYẾN TRONG TỐ
TỤNG DÂN SỰ

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. NGUYỄN THỊ HỒI TRÂM

TP HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 NĂM 2023


LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Trịnh Công Bằng – Sinh viên Khoa Luật Dân sự, Trường Đại học


Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Khóa 44 (2019 –2023), là tác giả của Khóa luận tốt
nghiệp Cử nhân Luật – Chuyên ngành Luật Dân sự - Đề tài: “Áp dụng phương
thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự” được trình bày trong tài liệu này (sau
đây gọi là “Khóa luận”).
Tơi xin cam đoan tất cả nội dung trong Khóa luận này hồn tồn được hình
thành và phát triển từ những quan điểm cá nhân của tôi, dưới sự hướng dẫn khoa
học của ThS. Nguyễn Thị Hoài Trâm – Giảng viên khoa Luật Dân sự, Trường Đại
học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Khóa luận có trích dẫn, sử dụng một số ý kiến,
quan điểm khoa học của một số tác giả. Sự trích dẫn này tuân thủ các quy định của
pháp luật về sở hữu trí tuệ. Tơi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả

Trịnh Công Bằng


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS

Bộ luật Tố tụng dân sự

BLDS

Bộ luật Dân sự

CNTT

Công nghệ thông tin

EFS


Hệ thống nộp hồ sơ điện tử

TANDTC

Tịa án nhân dân tối cao

TTLT

Thơng tư liên tịch


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu ....................................................................................... 2
3. Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 6
5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................. 6
6. Cơ cấu đề tài .................................................................................................... 7
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHƯƠNG THỨC
XÉT XỬ TRỰC TUYẾN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ ..................................... 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng
dân sự................................................................................................................... 8
1.1.1. Khái niệm ................................................................................................ 8
1.1.2. Đặc điểm ............................................................................................... 12
1.2. Cơ sở áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự ............. 15
1.2.1. Cơ sở lý luận ......................................................................................... 15
1.2.2. Cơ sở pháp lý ........................................................................................ 18
1.2.3. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................... 18
1.3. Khó khăn và lợi ích của áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng

dân sự................................................................................................................. 22
1.3.1. Khó khăn ............................................................................................... 22
1.3.2. Lợi ích ................................................................................................... 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................... 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA
MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ VIỆC ÁP DỤNG PHƯƠNG THỨC XÉT XỬ TRỰC
TUYẾN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ - KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM .. 31
2.1. Về phạm vi xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự ...................................... 31
2.1.1. Phạm vi xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự theo quy định của pháp
luật một số quốc gia ........................................................................................ 31
2.1.2. Thực tiễn phạm vi xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự theo quy định
của một số quốc gia ........................................................................................ 33
2.1.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ........................................................ 35


2.2. Về cách thức tham gia phiên tòa tố tụng dân sự trực tuyến .......................... 38
2.2.1. Cách thức tham gia phiên tòa tố tụng dân sự trực tuyến theo quy định
của một số quốc gia ........................................................................................ 38
2.2.2. Cách thức tham gia phiên tòa tố tụng dân sự trực tuyến theo từ thực tiễn
của một số quốc gia ........................................................................................ 41
2.2.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ........................................................ 44
2.3. Về việc thực hiện tranh tụng trực tuyến trong tố tụng dân sự ....................... 49
2.3.1. Tranh tụng trực tuyến theo quy định của một số quốc gia...................... 49
2.3.2. Thực tiễn triển khai tranh tụng trực tuyến theo quy định của một số quốc
gia .................................................................................................................. 52
2.3.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ........................................................ 53
2.4. Về việc xác định, sử dụng chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự ................ 57
2.4.1. Quy định pháp luật đề xác định, sử dụng chứng cứ điện tử trong tố tụng
dân sự ............................................................................................................. 57
2.4.2. Thực tiễn vấn đề xác định, sử dụng chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự

theo quy định một số quốc gia ......................................................................... 60
2.4.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam ........................................................ 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................... 66
KẾT LUẬN CHUNG........................................................................................... 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kể từ khi xã hội lồi người phát triển, trải qua các hình thái kinh tế - xã hội
khác nhau và cho đến hiện tại thì việc duy trì sự ổn định của nhà nước và xã hội là
điều hết sức quan trọng. Để góp phần đảm bảo sự ổn định của xã hội thì Tịa án
chính là nơi để các bên giải quyết các mâu thuẫn, nếu như tố tụng hình sự Tịa án
đóng vai trị là cơ quan xét xử các chủ thể xâm phạm đến những quan hệ xã hội
được Nhà nước bảo vệ thì tố tụng dân sự Tịa án là nơi để các bên giải quyết tranh
chấp, góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.
Với sự phát triển của khoa học, công nghệ và những thành tựu của cuộc cách
mạng cơng nghệ 4.0 thì các tranh chấp của các chủ thể ngày một nhiều và phức tạp,
mặt khác các quốc gia trên thế giới đã quan tâm, xây dựng và áp dụng phương thức
xét xử trực tuyến từ lâu. Vấn đề xét xử trực tuyến mới chỉ được quan tâm nhiều ở
Việt Nam kể từ khi đại dịch Covid-19 xảy ra và lây lan khiến cho việc xét xử theo
phương thức truyền thống trở nên gián đoạn, khó khăn. Mặc dù dịch Covid-19 đã
khơng cịn là vấn đề lớn và nước ta đã trở lại tình trạng bình thường nhưng có thể
thấy những tác động của Covid-19 đối với nền kinh tế, xã hội là rất lớn đồng thời
ngành tịa án cũng khơng tránh khỏi khi gặp khó khăn trong việc xét xử, bảo vệ
công lý.
Hiện nay xét xử trực tuyến đã có Nghị quyết số: 33/2021/QH15 ngày 12
tháng 11 năm 2021 về tổ chức phiên tòa trực tuyến; Thông tư liên tịch số:

05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BCA-BQP-BTP ngày 15 tháng 12 năm
2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tổ chức phiên tòa trực tuyến. Trong
Báo cáo tổng kết công tác năm 2022 và phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cơng
tác năm 2023 của Tịa án nhân dân tối cao thì cả nước xét xử trực tuyến với tổng
cộng 3.614 vụ án tính đến năm 20221. Con số trên là tín hiệu tích cực nhưng cũng
khá khiêm tốn đối với xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự khi đa số các vụ án
được xét xử trực tuyến là vụ án hình sự. Mặc dù đã có cơ sở pháp lý quy định
nhưng thực tế việc triển khai xét xử trực tuyến trong lĩnh vực tố tụng dân sự cịn
khá ít và chưa được đẩy mạnh. Trên cơ sở đó tác giả chọn đề tài “Áp dụng phương
thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự” nhằm hồn thiện các quy định của
1

Tịa án nhân dân tối cao, “Báo cáo tóm tắt tổng kết cơng tác năm 2022 và phương hướng, nhiệm vụ trọng
tâm công tác năm 2023 của các tòa án”, truy cập ngày 01/4/2023.


2

pháp luật, góp phần đẩy mạnh xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự để hướng đến
mục tiêu xây dựng Tịa án điện tử vào năm 2030.
2. Tình hình nghiên cứu
Đề tài “Áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự” là
một đề tài mang tính mới cao, hiện nay đã có một số cơng trình, bài viết nghiên cứu,
đánh giá liên quan đến xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự nhưng số lượng rất
hạn chế. Để hoàn thiện đề tài một cách tốt nhất, tác giả nghiên cứu các cơng trình
liên quan đến phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự và một số cơng
trình khác có liên quan, cụ thể như sau:
Khóa luận tốt nghiệp “Áp dụng phương thức trực tuyến trong khởi kiện và
thụ lý vụ án dân sự” của tác giả Phan Võ Kiều Oanh (Đại học Luật Thành phố Hồ
Chí Minh, 2021). Khóa luận là một trong những cơng trình đặt nền móng cho việc

áp dụng xét xử trực tuyến, cơng trình đã đưa ra được những khái niệm cơ bản liên
quan đến việc khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trực tuyến. Đồng thời cơng trình
cũng đã trình bày được những quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành liên
quan đến khởi kiện và thụ lý vụ án trực tuyến và tham khảo, phân tích quy định của
pháp luật nước ngoài liên quan đến vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trực
tuyến để từ đó đề xuất một số kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật tố tụng dân
sự về khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trực tuyến. Tuy nhiên khóa luận chỉ phân tích
khía cạnh liên quan đến khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự trực tuyến là một vấn đề
nhỏ mà đề tài sẽ tham khảo, nghiên cứu chứ khơng phải là tồn bộ các vấn đề liên
quan đến áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự. Ngoài ra các
kiến nghị hoàn thiện của khóa luận chỉ dừng lại ở việc nêu lên vấn đề và kiến nghị
một cách chung nhất, chưa có những kiến nghị mang tính cụ thể, chi tiết.
Luận văn “Giải quyết vụ án dân sự bằng phương thức trực tuyến: kinh
nghiệm của một số quốc gia đối với Việt Nam” của tác giả Lê Thị Minh Ngọc (Đại
học Luật TP HCM, 2021). Luận văn đã làm rõ được các vấn đề cơ bản của việc giải
quyết vụ án dân sự bằng phương thức trực tuyến góp phần hồn thiện pháp luật tố
tụng dân sự về xét xử trực tuyến. Luận văn đã trình bày, phân tích đánh giá quy
định của một số quốc gia về một số vấn đề cụ thể trong việc giải quyết vụ án dân sự
bằng phương thức trực tuyến và đưa ra được bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
liên quan đến các vấn đề cụ thể mà luận văn phân tích. Luận văn sẽ là một nguồn tài
liệu hữu ích, quan trọng trong việc hồn thiện khóa luận của tác giả, tuy nhiên luận
văn chỉ phân tích một số vấn đề nhất định chứ không phải là mọi vấn đề trong việc


3

giải quyết vụ án dân sự bằng phương thức trực tuyến. Luận văn tập trung phân tích
nhiều về pháp luật Trung Quốc cho nên các hệ thống pháp luật khác chưa được
phân tích, khai thác hiệu quả.
Luận văn “Chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự” của tác giả Lê Thị Hòa

(Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2021). Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận
và thực tiễn về chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự và góp phần hồn thiện các
quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về chứng cứ điện tử. Luận văn cũng
phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự
đồng thời phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về chứng cứ điện tử và thực tiễn
sử dụng chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự Việt Nam, so sánh với pháp luật và
thực tiễn sử dụng chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự một số quốc gia trên thế
giới để đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về
chứng cứ điện tử. Luận văn tuy chỉ phân tích về vấn đề chứng cứ điện tử nhưng sẽ
là một nguồn tài liệu quan trọng trong việc hoàn thiện đề tài áp dụng phương thức
xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự của tác giả.
Khóa luận “Xét xử trực tuyến các vụ án hình sự tại Việt Nam” của tác giả
Trương Thế Khoa (Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, 2022). Khóa luận trình
bày được những vấn đề cơ bản về xét xử trực tuyến trong tố tụng hình sự, quy định
của pháp luật nước ngồi về xét xử trực tuyến trong tố tụng hình sự và một số kiến
nghị cho Việt Nam. Khóa luận tuy trình bày về vấn đề xét xử trực tuyến trong tố
tụng hình sự nhưng cũng có những giá trị nhất định phục vụ cho việc nghiên cứu
của cơng trình khóa luận của tác giả liên quan đến áp dụng phương thức xét xử trực
tuyến trong tố tụng dân sự.
Bài viết “Cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến của liên minh Châu âu và
kinh nghiệm cho Việt Nam”, của tác giả Trần Phương Anh tại Kỷ yếu hội thảo khoa
học cấp Bộ, (Trường ĐH Luật Hà Nội, 2020). Bài viết trình bày các vấn đề liên
quan đến quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp trực tuyến, phân
tích cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến của Liên minh Châu âu và đưa ra một
số vấn đề liên quan đến khả năng áp dụng phương thức giải quyết tranh chấp trực
tuyến cho Việt Nam dựa trên những số liệu khoa học đồng thời đối chiếu đánh giá
quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên bài viết chỉ phân tích và đưa ra cơ chế
giải quyết tranh chấp là những tranh chấp ngồi Tịa án, trong khi đó vấn đề mà tác
giả đang nghiên cứu là áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự.
Ngoài ra vấn đề mà bài viết hướng đến nhiều là giải quyết tranh chấp trực tuyến



4

trong lĩnh vực thương mại điện tử, trong khi đó tranh chấp hiện nay không chỉ liên
quan đến lĩnh vực thương mại điện tử mà còn rất nhiều lĩnh vực khác nhau và gọi
chung là lĩnh vực “dân sự” có thể được giải quyết thông qua phương thức trực
tuyến.
Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật tố tụng dân sự
Việt Nam, Nguyễn Cơng Bình, Nxb. Cơng an nhân dân; Trường Đại học Luật
Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn
Thị Hoài Phương, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam chỉ nghiên cứu khái
quát về các nội dung liên quan đến tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 và những văn bản pháp luật liên quan, chưa đề cập đến việc áp
dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự bởi vì nội dung này chỉ
mới được quan tâm và có sự điều chỉnh trong thời gian gần đây.
Bài viết “Hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự trước thách thức của cuộc
cách mạng công nghiệp 4.0” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà tại Kỷ yếu hội thảo
khoa học cấp Bộ (Trường ĐH Luật Hà Nội, 2020). Bài viết đã nêu ra được hai vấn
đề cơ bản trước thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối với pháp luật tố
tụng dân sự đó là: Chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự và Tòa án điện tử. Đối với
chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự, tác giả đã phần nào khái quát và đưa ra khái
niệm về chứng cứ điện tử, thuộc tính của chứng cứ điện tử và hoạt động thu thập
chứng cứ điện tử để từ đó đưa ra một số kiến nghị có liên quan. Đối với vấn đề Tòa
án điện tử, tác giả đã đưa ra được vai trò của Tòa án điện tử cũng như một số vấn đề
quan trọng trong việc xây dựng Tòa án ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên bài viết chỉ
dừng lại ở việc đưa ra vấn đề một cách cơ bản, chưa có sự phân tích chun sâu liên
quan đến các vấn đề mà bài viết đề cập.
Bài viết “Xét xử trực tuyến trong công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta” của
tác giả Mai Xuân Thành được đăng trên tạp chí Tịa án nhân dân trình bày về vấn đề

tổ chức xét xử trực tuyến tại Tòa án nhân dân cấp cao tại tại Đà Nẵng, tác giả trình
bày ưu điểm, khó khăn vướng mắc đồng thời đưa ra một số kiến nghị về thực trạng
xét xử trực tuyến ở nước ta. Bài viết đã trình bày được những vấn đề cơ bản, trọng
tâm hiện nay nhằm tạo cơ sở để xây dựng và áp dụng hiệu quả việc xét xử trực
tuyến trong tương lai. Tuy nhiên bài viết chỉ dừng lại ở việc nên ra một số vấn đề cơ
bản, chưa có sự phân tích một cách chun sâu. Ngồi ra bài viết mới chỉ phân tích
ưu điểm, những khó khăn vướng mắc và đưa ra một số kiến nghị, tuy nhiên các kiến
nghị chỉ dừng lại ở việc khái quát mà chưa có giải pháp chi tiết.


5

Bài viết “Xét xử trực tuyến - một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện” của các
tác giả Phạm Hồi Ngân, Ngơ Thị Tuyết Thanh bài viết đã trình bày được một số
kinh nghiệm xét xử trực tuyến của các quốc gia trên thế giới, quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành và một số vướng mắc, hạn chế để từ đó đưa ra những kiến nghị
phù hợp. Tuy nhiên bài viết chỉ có những phân tích và đánh giá chung đối với vấn
đề xét xử trực tuyến ở Việt Nam hiện nay, trong khi đó xét xử trực tuyến trong từng
lĩnh vực tố tụng khác nhau sẽ có những đặc thù khác nhau.
Bài viết “Tịa án trực tuyến và quyền xét xử công bằng: kinh nghiệm quốc tế
và triển vọng ở Việt Nam” của các tác giả Bùi Tiến Đạt, Nguyễn Bích Thảo, Trần
Thị Trinh (được đăng trên tạp chí nghiên cứu lập pháp số 20 (444), tháng 10/2021).
Bài viết khái quát việc nhận diện một số biểu hiện của Tịa án trực tuyến, những lợi
ích của Tòa án trực tuyến và ảnh hưởng của Tòa án trực tuyến đến xét xử công bằng
trên thế giới và ở Việt Nam từ đó đưa ra một số định hướng cho việc xây dựng và
phát triển vấn đề xét xử trực tuyến ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên bài viết dừng lại
ở việc đưa ra vấn đề và đánh giá chung trong việc xét xử trực tuyến chứ khơng phải
là phân tích dành riêng cho tố tụng dân sự trực tuyến. Thêm vào đó bài viết chỉ đưa
ra những ưu điểm và triển vọng cho việc xây dựng và phát triển xét xử trực tuyến ở
Việt Nam chứ chưa có những giải pháp, phân tích, kiến nghị cụ thể.

Từ tình hình nghiên cứu được nêu có thể thấy đề tài “Áp dụng phương thức
xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự” là đề tài mang tính mới cao. Các cơng trình
nghiên cứu nêu trên chỉ phân tích một vài vấn đề hay thậm chí chỉ phân tích một
khía cạnh nhỏ liên quan đến xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự. Do đó khóa luận
sẽ là một cơng trình mang tính khái qt, tập hợp các vấn đề một cách cơ bản nhất
liên quan đến việc áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự.
Cơng trình sẽ là một nguồn tài liệu hữu ích để các tác giả, nhà nghiên cứu tham
khảo để có cái nhìn bao qt hơn về xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự cũng như
là nguồn tài liệu hữu ích trong việc nghiên cứu và hồn thiện việc áp dụng pháp luật
trong lĩnh vực tố tụng dân sự.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của Khóa luận trước hết là đưa ra được khái niệm “Áp
dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự”, bên cạnh khái niệm thì
cũng phải chỉ ra được đặc điểm của việc áp dụng phương thức xét xử trực tuyến
trong tố tụng dân sự. Khóa luận phân tích các cơ sở, những thuận lợi và khó khăn
khi áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự.


6

Khóa luận cũng đưa ra một số quy định của pháp luật liên quan đến xét xử
trực tuyến trong tố tụng dân sự và phân tích, làm rõ một số quy định cịn gây khó
khăn, bất cập khi áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự.
Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu quy định pháp luật của một số quốc gia về
áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự, khóa luận phân tích,
đối chiếu với pháp luật Việt Nam và đúc kết một số kinh nghiệm nhằm hoàn thiện
vấn đề xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự ở Việt Nam.
Tóm lại mục tiêu của đề tài là nhằm phân tích, đánh giá và chỉ ra được tầm
quan trọng của việc áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự
bằng việc phân tích, đánh giá dưới góc độ lý luận và thực tiễn. Bên cạnh đó cần

phải phân tích, đánh giá quy định của pháp luật nước ngoài và rút ra được bài học
kinh nghiệm cho Việt Nam nhằm hoàn thiện vấn đề xét xử trực tuyến nói chung và
xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là quy định của Nghị quyết số:
33/2021/QH15 và Thông tư liên tịch số: 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTCBCA-BQP-BTP. Bên cạnh đó khóa luận cũng nghiên cứu, phân tích một số vấn đề
được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Ngoài ra đề tài cũng phân tích,
đánh giá quy định của pháp luật một số quốc gia liên quan đến vấn đề áp dụng
phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự để có góc nhìn đa chiều, đồng
thời cũng là kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam nhằm hoàn thiện vấn đề xét xử trực
tuyến để hướng đến xây dựng Tòa án điện tử.
- Phạm vi nghiên cứu: Trước hết đề tài tập trung làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở
thực tiễn và cơ sở pháp lý của việc áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố
tụng dân sự. Tiếp đến đề tài phân tích, làm rõ một số vấn đề khi áp dụng phương
thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự như: phạm vi xét xử trực tuyến, cách
thức tham gia vào phiên tòa trực tuyến, tranh tụng trực tuyến và cuối cùng là việc
xem xét, đánh giá chứng cứ điện tử thông qua quy định và thực tiễn triển khai của
một số quốc gia từ đó rút ra được bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đề tài có thể được triển khai đúng hướng và đạt được những giá trị nhất
định thì cần phải có những phương pháp nghiên cứu đúng đắn, phương pháp nghiên
cứu góp phần không nhỏ vào sự thành công của đề tài. Tùy theo từng chương mà


7

tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu có sự thay đổi và khác nhau nhất định như
sau:
- Chương 1: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, kết hợp lịch sử, lý luận
và thực tiễn nhằm làm rõ khái niệm và đặc điểm của việc áp dụng phương thức xét

xử trực tuyến trong tố tụng dân sự. Đối với cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, cơ sở
pháp lý, thuận lợi và khó khăn của việc áp dụng phương thức xét xử trực tuyến
trong tố tụng dân sự tác giả sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp so
sánh, phương pháp tổng hợp, phân tích đồng thời kết hợp lý luận và thực tiễn.
- Chương 2: Tác giả sử dụng phương pháp so sánh, phân tích, lý luận kết hợp
với thực tiễn nhằm làm rõ về cách thức mà các quốc gia trên thế giới đã quy định và
vận dụng pháp luật vào thực tiễn. Bên cạnh đó, việc sử dụng phương pháp tổng hợp
giúp tác giả tổng hợp những quy định của pháp luật, quan điểm của các nhà
nghiên cứu về việc áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự.
6. Cơ cấu đề tài
Cơ cấu của Khóa luận bao gồm các phần: Phần mở đầu, Phần nội dung và
cuối cùng là phần Kết luận. Trong đó phần nội dung được trình bày với 02 chương:
Chương 1. Những vấn đề chung về áp dụng phương thức xét xử trực tuyến
trong tố tụng dân sự
Chương 2. Thực trạng áp dụng quy định pháp luật của một số quốc gia về
việc áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự - Kinh nghiệm cho
Việt Nam


8

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHƯƠNG
THỨC XÉT XỬ TRỰC TUYẾN TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng
dân sự
1.1.1. Khái niệm
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thắng lợi đã đưa Việt Nam bước qua một
trang sử mới, làm cơ sở chính trị quan trọng cho nước ta có điều kiện để xây dựng
và phát triển đất nước. Cũng từ đây xây dựng hệ thống pháp luật là vấn đề được
Chính phủ, Quốc hội lúc bấy giờ quan tâm cùng với việc củng cố chính quyền mới

còn non trẻ. Từ năm 1945 cho đến trước năm 1989, hàng loạt văn bản quy định liên
quan đến tố tụng dân sự đã được ban hành, tuy nhiên các văn bản quy định về tố
tụng dân sự trong thời gian này còn rời rạc và chỉ hướng dẫn đối với một số vấn đề
nhất định do nhiều điều kiện hoàn cảnh khác nhau mà lịch sử đất nước trong thời
gian này trải qua.
Năm 1989 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự được ban hành và
có hiệu lực từ ngày 01/01/1990. Đây là văn bản pháp luật tố tụng dân sự có hiệu lực
cao nhất từ năm 1945 đến thời điểm này. Pháp lệnh đã hệ thống hóa và phát triển
tồn bộ các quy định về tố tụng dân sự trong các văn bản tản mạn của giai đoạn
trước đó, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tố tụng giải quyết các vụ án dân sự
tại Tòa án nhân dân.2 Ngày 15/6/2004, Quốc hội nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa XI đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự đầu tiên của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỳ họp thứ 5 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004. Bộ
luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2005. Sau một thời gian thi hành cho thấy nhiều
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 vẫn cịn bất cập. Để khắc phục tình
trạng này, ngày 29/03/2011 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XII đã thơng qua Luật sửa đổi bổ sung bộ luật tố tụng dân sự và có hiệu lực từ
ngày 01/01/2012. Đến năm 2015, để nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ việc dân
sự, phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, ngày 25/11/2015 Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thơng qua Bộ luật tố tụng
dân sự mới - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 103/2015/QH13
ngày 25/11/2015 về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự.

2

Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn Thị
Hoài Phương, Nxb Hồng Đức, trg. 15.


9


Tố tụng dân sự là một lĩnh vực đã tồn tại và phát triển từ lâu, tuy nhiên theo
tiến trình của lịch sử thì mỗi một quốc gia dân tộc hay quy định của pháp luật phải
có sự thay đổi, tiếp thu để tồn tại và phát triển cao hơn nếu không quy định của
pháp luật sẽ bị lỗi thời hay rộng hơn là quốc gia, dân tộc sẽ trở nên lạc hậu và kém
phát triển bởi sự yếu kém của hệ thống pháp luật trong việc điều chỉnh các mối
quan hệ xã hội mới với những điều kiện hoàn cảnh mới. Chế định tố tụng dân sự là
một chế định quan trọng, đã tồn tại từ lâu nhưng xét xử trực tuyến trong tố tụng dân
sự hiện nay vẫn còn là một khái niệm khá xa lạ đối với nhiều người, do đó việc hình
thành khái niệm mới liên quan đến xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự là điều
cần phải được quan tâm và xây dựng trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Áp dụng
phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự là khái niệm tương đối mới, do
đó việc phân tích cũng như xây dựng khái niệm góp phần quan trọng trong việc
phát triển đề tài được hoàn thiện hơn. Tác giả phân tích khái niệm này dựa trên bốn
khái niệm chính là “áp dụng”, “phương thức” “xét xử trực tuyến” và “tố tụng dân
sự”. Trong đó trọng tâm là nghiên cứu khái niệm “xét xử trực tuyến” và đây cũng là
vấn đề được trình bày và phân tích xun suốt trong khóa luận này.
Theo từ điển Tiếng Việt “Áp dụng” là đem dùng trong thực tế điều đã nhận
thức được.3 Áp dụng là một động từ, theo định nghĩa trên thì điều đã nhận thức
được ở đây chính là vấn đề xét xử trực tuyến. Phương thức có thể hiểu là cách thức
và phương pháp tiến hành một vấn đề nào đó, ở đây chính là cách thức và phương
pháp tiến hành hoạt động xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự.
Theo từ điển Luật học “Xét xử4” là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất của
vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó
nhân danh Nhà nước đưa ra một số phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái
hay không trái pháp luật của vụ việc (xét xử vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh
thương mại, lao động, hành chính…). Tác giả Đào Trí Úc, Nguyễn Thu Trang cho
rằng xét xử là hoạt động phán quyết của cơ quan thay mặt Nhà nước nhằm khơi
phục trật tự nếu nó bị xâm phạm, hoặc nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp và chính đáng
của cơng dân, của tập thể, của quốc gia và xã hội.5

“Xét xử trực tuyến” hiện nay đã có một số cơng trình, bài viết định nghĩa liên
quan đến khái niệm xét xử trực tuyến. Trước hết theo quy định tại khoản 2 Điều 1
3

Thành Yến (2021), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Dân trí, trg. 15.
Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản tư pháp, trg. 869.
5
Đào Trí Úc, Nguyễn Thu Trang (2014), “Vai trị của hoạt động xét xử của tịa án trong q trình phát triển
hệ thống pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 18, trg. 274.
4


10

Nghị quyết số: 33/2021/QH15 ngày 12 tháng 11 năm 2021 (Nghị quyết số:
33/2021/QH15) về tổ chức phiên tòa trực tuyến quy định về phiên tòa trực tuyến:
“Phiên tòa trực tuyến là phiên tòa được tổ chức tại phòng xử án, có sử dụng các
thiết bị điện tử kết nối với nhau thông qua môi trường mạng, cho phép bị cáo, bị
hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tham gia phiên tịa tại địa điểm ngồi
phịng xử án do Tòa án quyết định nhưng vẫn bảo đảm trực tiếp theo dõi đầy đủ
hình ảnh, âm thanh và tham gia các trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tịa bằng lời
nói, hành vi tố tụng liên tục, cơng khai, vào cùng một thời điểm.”.
Hàn Quốc là một trong những quốc gia đi đầu trong việc xét xử trực tuyến và
cũng là quốc gia có nhiều sự tương đồng với Việt Nam cho nên việc tham khảo và
nghiên cứu khái niệm xét xử trực tuyến góp phần trong việc hình thành khái niệm
áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự. Theo Quy tắc xử lý
nghiệp vụ xét xử trực tuyến số 1753 của Hàn Quốc, có hiệu lực từ ngày 22/7/2020,
“Xét xử trực tuyến là việc tiến hành xét xử mà một phần hoặc toàn bộ các bên liên
quan trong vụ án không trực tiếp đến phòng xét xử mà tham gia phiên tòa tại địa
điểm từ xa được trang bị thiết bị truyền dẫn đồng thời tín hiệu hình ảnh và âm

thanh cùng lúc”.
Theo hướng dẫn của Tòa án tối cao bang Victoria (Australia), “Xét xử trực
tuyến được hiểu là phiên xét xử được tổ chức bởi các phương tiện nghe nhìn mà
khơng cần sự có mặt trực tiếp của người tham dự”. Khái niệm này tuy có sự diễn
đạt ngắn gọn nhưng nội hàm của nó cũng khá tương đồng với khái niệm xét xử trực
tuyến trong pháp luật Hàn Quốc mà tác giả đã phân tích ở trên.6
Vào ngày 16 tháng 6 năm năm 2021, Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc
(TANDTC) đã ban hành “Quy tắc tố tụng trực tuyến cho Tòa án nhân dân” (“Quy
tắc tố tụng trực tuyến”, 人民法院 在线 诉讼 规则). Đây là lần đầu tiên Trung Quốc
ban hành một bộ quy tắc tố tụng trực tuyến có hệ thống, áp dụng cho tất cả các vụ
án và thủ tục tố tụng của các Tòa án trên tồn quốc. Theo đó tại Điều 1 của quy tắc
quy định “Tòa án nhân dân, các bên và những người tham gia tố tụng khác có thể
dựa vào nền tảng tố tụng điện tử (sau đây gọi là “nền tảng tố tụng”) để hoàn thành
tất cả hoặc nộp đơn trực tuyến, hòa giải, trao đổi chứng cứ, điều tra, xét xử, tống

6

Trương Thế Khoa (2022), Xét xử trực tuyến các vụ án hình sự theo pháp luật Việt Nam, Khóa luận tốt
nghiệp cử nhân, Trường Đại học Luật Thành phố HCM, trg. 7.


11

đạt, v.v. thông qua Internet hoặc mạng chuyên dụng. Hoạt động tố tụng trực tuyến
có hiệu lực pháp lý như hoạt động tố tụng ngoại tuyến.”7
Cũng có tác giả cho rằng: “Xét xử trực tuyến là hình thức thực hiện công tác
xét xử mà các bên tham gia tố tụng khơng cùng lúc có mặt tại phịng xử án trong
thời gian diễn ra phiên tòa, mà tham gia vào phiên tịa tại địa điểm từ xa thơng qua
các thiết bị điện tử, các phương tiện truyền dẫn âm thanh, hình ảnh có thể kết nối
với nhau qua mơi trường mạng. Những người tham gia xét xử đảm bảo được trực

tiếp theo dõi hình ảnh, âm thanh diễn ra tại phiên tịa và thực hiện đầy đủ các trình
tự, thủ tục tố tụng của phiên tịa bằng lời nói, hành vi tố tụng liên tục, công khai
vào cùng một thời điểm.” Bản chất của xét xử trực tuyến là chuyển một phần hoặc
tồn bộ hoạt động xét xử từ khơng gian thực lên khơng gian số. Trong đó cốt lõi là
việc tiến hành, tối ưu và phát triển trên nền tảng số một số hoạt động như: quản lý
nội bộ Tòa án; cơng khai hoạt động của Tịa án; tiến hành các hoạt động tố tụng
điện tử; hỗ trợ nâng cao hiệu quả của các chức danh tư pháp.8
“Tố tụng dân sự”9 được từ điển luật học giải thích là trình tự hoạt động do
pháp luật quy định cho việc xem xét, giải quyết vụ án dân sự và thi hành án dân sự.
Tố tụng dân sự bao gồm: Khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự;
thụ lí vụ việc dân sự; giải quyết vụ việc dân sự theo trình tự sơ thẩm, phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm và thi hành án dân sự.
Các khái niệm liên quan đến xét xử trực tuyến được trình bày nêu trên đều có
điểm chung là các bên tham gia tố tụng khơng cùng có mặt tại Tịa án mà tham gia
giải quyết vụ việc thông qua các công cụ, phương tiện hỗ trợ có kết nối vào mạng
internet nhưng vẫn đảm bảo sự có mặt của các bên một cách đầy đủ, cùng một thời
điểm. Tuy nhiên các khái niệm nêu trên liên quan đến xét xử trực tuyến đa phần đều
hướng đến phiên tòa trực tuyến. Theo tác giả giữa phiên tòa trực tuyến và xét xử
trực tuyến vẫn có độ chênh nhất định trong cách hiểu và tác giả theo hướng xét xử
trực tuyến có bản chất là xét xử với trọng tâm là phiên tòa trực tuyến bên cạnh
phiên tòa trực tuyến còn các hoạt động trực tuyến khác trong quá trình giải quyết vụ
việc dân sự.
7

Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc, Quy chế tố tụng trực tuyến của Tòa án nhân dân (人民法院在线诉讼
规则), truy cập ngày 01/4/2023.
8
Nguyễn Thị Hồng Anh, Tô Hồng Yến Nhi, Nguyễn Vũ Trang Nhung (2022), Mơ hình xét xử trực tuyến ở
một số nước trên thế giới và kiến nghị cho Việt Nam, Đề tài nghiên cứu Khoa học cấp trường, Trường ĐH
Luật Hà Nội, trg. 9.

9
Viện khoa học pháp lý, Từ điển Luật học (2006), Nhà xuất bản tư pháp, trg. 785.


12

Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm về áp dụng phương thức
xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự như sau: “Áp dụng phương thức xét xử trực
tuyến trong tố tụng dân sự là khả năng tổ chức xét xử trực tuyến mà không cần có
sự tham gia đầy đủ của các bên tham gia tố tụng dân sự tại Tòa án trong thời gian
diễn ra phiên tịa, thay vào đó các bên tham gia tố tụng tham gia phiên tòa tại địa
điểm từ xa thông qua các thiết bị điện tử, các phương tiện truyền dẫn âm thanh,
hình ảnh có thể kết nối với nhau qua môi trường mạng cùng lúc.”
1.1.2. Đặc điểm
Xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự về bản chất vẫn là hoạt động xét xử,
vẫn đảm bảo thành phần, sự uy nghiêm và đảm bảo các quy định của một phiên tòa
theo phương thức truyền thống. Tuy nhiên so với xét xử theo phương thức truyền
thống, xét xử trực tuyến có nhiều điểm mới, mang bản chất riêng của mình. Đây
cũng có thể coi là điểm dùng để phân biệt xét xử trực tuyến so với xét xử theo
phương thức truyền thống trong tố tụng dân sự khi áp dụng phương thức xét xử trực
tuyến trong tố tụng dân sự.
Thứ nhất, có sự hỗ trợ của cơng cụ, phương tiện điện tử và thực hiện trên
không gian mạng. Về cơ bản, việc áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố
tụng dân sự là việc áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành và
các văn bản hướng dẫn liên quan đến xét xử trực tuyến kết hợp với công cụ, phương
tiện điện tử hỗ trợ trong q trình diễn ra phiên tịa. Cụ thể theo quy định tại khoản
1, khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số: 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTCBCA-BQP-BTP ngày 15 tháng 12 năm 2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành tổ chức phiên tịa trực tuyến (Thơng tư liên tịch số 05/2021/TTLT) quy định
các trang thiết bị đối với phòng xử án: Phòng xử án trang bị các thiết bị phục vụ
phiên tòa trực tuyến như sau: Hệ thống chiếu sáng; hệ thống đường truyền và thiết

bị mạng; hệ thống âm thanh (loa, micro, tăng âm, bộ trộn âm thanh); thiết bị hiển thị
hình ảnh tại điểm cầu trung tâm và các điểm cầu thành phần phiên tòa trực tuyến;
thiết bị giải mã tín hiệu truyền hình, phần mềm truyền hình trực tuyến; thiết bị
camera ghi hình tồn bộ diễn biến phiên tòa; thiết bị lưu trữ dữ liệu; máy chiếu vật
thể dùng để trình chiếu tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa; thiết bị lưu điện. Đối với
điểm cầu trong vụ án dân sự thì: phải bảo đảm không gian tại điểm cầu lịch sự,
nghiêm túc, yên tĩnh; ánh sáng phù hợp không gian, tránh ngược sáng, màu sắc
phản cảm; bảo đảm hình ảnh, khơng gian xung quanh người tham gia được hiển thị


13

đầy đủ trên màn hình trình chiếu; các thiết bị điện tử phù hợp bảo đảm việc truyền
âm thanh và hình ảnh tại phiên tịa được thực hiện rõ nét, khơng gián đoạn.
Thứ hai, sự khơng có mặt của đương sự, người tham gia tố tụng khác hoặc
một trong các bên đương sự, người tham gia tố tụng khác tại Tòa án. Đây là một
trong những đặc điểm quan trọng dùng để phân biệt phiên tòa trực tuyến và phiên
tòa tổ chức theo phương thức truyền thống trong tố tụng dân sự. Hiện nay sự có mặt
của đương sự tại phiên tòa được BLTTDS 2015 quy định tại Điều 22710, có thể thấy
nếu xét xử theo phương thức truyền thống thì sự có mặt của đương sự là một yếu tố
hết sức quan trọng và ảnh hưởng đến việc Tòa án tiếp tục xét xử, hỗn hay đình chỉ
giải quyết vụ án đối với trường hợp đương sự làm phát sinh vụ án nhưng khơng có
mặt tại phiên tịa khi Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Trong khi đó, theo quy định
tại khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số: 33/2021/QH1511 thì cho phép đương sự, người
tham gia tố tụng khác tham gia phiên tòa tại địa điểm ngồi phịng xử án do Tịa án
quyết định vẫn bảo đảm trực tiếp theo dõi đầy đủ hình ảnh, âm thanh và tham gia
các trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tịa bằng lời nói, hành vi tố tụng liên tục, công
khai, vào cùng một thời điểm.
Thứ ba, không có khoảng cách về địa lý khi áp dụng phương thức xét xử trực
tuyến trong tố tụng dân sự. Ngày nay các quan hệ pháp luật dân sự phát sinh giữa

các chủ thể diễn ra hàng ngày, hàng giờ, bên cạnh những thành cơng mang lại góp
phần phát triển kinh tế, xã hội đất nước thì những tranh chấp theo đó cũng phát sinh
ngày một nhiều và phức tạp. Nếu xét xử theo phương thức truyền thống, đối với các
quan hệ tố tụng dân sự có yếu tố nước ngồi mà một trong các bên đương sự ở nước
ngồi thì việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục thơng thường sẽ tương đối khó
10

Điều 227. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự
1. Tịa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tịa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hỗn phiên
tịa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tịa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;

11
Điều 1. Phiên tòa trực tuyến

2. Phiên tòa trực tuyến là phiên tòa được tổ chức tại phòng xử án, có sử dụng các thiết bị điện tử kết nối với
nhau thông qua môi trường mạng, cho phép bị cáo, bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tham gia
phiên tịa tại địa điểm ngồi phịng xử án do Tòa án quyết định nhưng vẫn bảo đảm trực tiếp theo dõi đầy đủ
hình ảnh, âm thanh và tham gia các trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tịa bằng lời nói, hành vi tố tụng liên
tục, công khai, vào cùng một thời điểm.



14

khăn, gây tốn kém cho các bên. Đồng thời khiến cho việc giải quyết vụ án dân sự có

yếu tố nước ngồi sẽ kéo dài và rất có thể đương sự ở nước ngồi khơng tham gia
được hoặc khơng có mặt trực tiếp tại phịng xét xử vì nhiều yếu tố khác nhau trong
đó có sự cách trở về mặt địa lý khiến cho quyền lợi của các bên không được đảm
bảo tuyệt đối.
Đối với các vụ án dân sự có yếu tố nước ngồi đa số là phức tạp, nhưng các
đương sự lại không thể ở liên tục tại Việt Nam để tham gia trong suốt quá trình giải
quyết vụ án. Đối với các vụ án tranh chấp thừa kế có đương sự ở nước ngồi, trong
q trình giải quyết vụ án do sợ ảnh hưởng đến quyền lợi của mình nên các đương
sự trong nước thường cố tình không cung cấp địa chỉ, hoặc cung cấp địa chỉ không
rõ ràng dẫn đến việc phải ủy thác tư pháp nhiều lần làm cho việc giải quyết vụ án
kéo dài cũng như gây khó khăn cho những người tiến hành tố tụng.12
Ngồi ra đối với cơng tác xét xử các vụ án dân sự ở vùng sâu vùng xa, biên
giới, hải đảo hoặc trong điều kiện thiên tai, dịch bệnh hay trong một điều kiện bất
ngờ xảy ra thì việc tham gia trực tiếp tại phiên tịa là điều vơ cùng khó khăn cho các
đương sự khi phải có mặt trực tiếp tại phiên tịa. Do đó đối với đương sự ở nước
ngoài hay ở vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc trong điều kiện thiên tai, dịch
bệnh cũng đều tham gia phiên tòa trực tuyến một cách tốt khi chuẩn bị các điều kiện
cơ bản nhất là có các thiết bị kết nối vào mạng và có hỗ trợ hình ảnh, âm thanh rõ
ràng, có kết nối internet mà khơng có bất kỳ sự khó khăn nào về mặt địa lý. Tuy
nhiên, đôi khi đặc điểm này chỉ mang tính chất tương đối do có một số quốc gia sử
dụng “tường lửa” để hạn chế hoặc cấm sử dụng một số phần mềm, truy cập một số
website nhất định.13
Thứ tư, việc áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự phụ
thuộc vào năng lực của các chủ thể. Các tranh chấp về dân sự diễn ra đối với các
chủ thể ở nhiều độ tuổi khác nhau, mà việc sử dụng các ứng dụng cơng nghệ của
các chủ thể cũng theo đó mà khác nhau, nhất là đối với những người lớn tuổi thì vấn
đề này lại khó khăn hơn. Việc điều hành một phiên tòa theo thủ tục tố tụng dân sự
trực tiếp tại phòng xử án đã đòi hỏi nhiều vấn đề, hơn thế là việc tổ chức và điều
hành phiên tòa trực tuyến lại càng khó khi đây là vấn đề mới đối với các thẩm phán
12


“Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự có yếu tố nước ngồi”,
truy cập ngày 02/04/2023.
13
Lê Thị Minh Ngọc (2021), Giải quyết vụ án dân sự bằng phương thức trực tuyến: kinh nghiệm của một số
quốc gia đối với Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Thành phố HCM, trg. 16.


15

được phân cơng chủ tọa phiên tịa và những người tham gia tố tụng hay cả đương
sự. Khi phát sinh những vấn đề khác nhau, thậm chí là có những vấn đề phát sinh
khơng thể lường trước được bởi vì xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự là vấn đề
mới nên đòi hỏi những người tiến hành tố tụng đặc biệt là thẩm phán chủ tọa phiên
tịa ngồi năng lực xét xử, nghiệp vụ xét xử thì khi xét xử trực tuyến trong tố tụng
dân sự đòi hỏi phải có năng lực ứng dụng cơng nghệ thơng tin trong xét xử và giải
quyết các vấn đề phát sinh trong q trình diễn ra phiên tịa.
Theo tác giả ngay cả trong một tương lai gần khi mà xét xử trực tuyến trong
tố tụng dân sự ngày càng được ứng dụng rộng rãi thì vai trị của những người tham
gia tố tụng dân sự cũng không thể thay đổi đặc biệt là thẩm phán chủ tọa phiên tòa
là nhân vật trung tâm, điều khiển quá trình xét xử cũng như quyết định việc mở
phiên tịa. Phiên tịa có thật sự chất lượng, hiệu quả hay không một phần phụ thuộc
vào năng lực của thẩm phán chủ tọa phiên tòa và những người tham gia tố tụng
khác, bên cạnh đó khơng thể thiếu vai trò của đương sự trong việc tham gia phiên
tịa trực tuyến thơng qua mạng internet với các công cụ, phương tiện hỗ trợ.
1.2. Cơ sở áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự
1.2.1. Cơ sở lý luận
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác Lê-nin, pháp luật ra đời cùng với sự ra đời
của Nhà nước. Những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước cũng chính là
những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật. Việt Nam luận giải nguồn gốc

pháp luật dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Theo đó, pháp luật là hiện
tượng thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội có giai cấp, pháp luật chỉ phát sinh,
tồn tại và phát triển khi xã hội đạt đến một trình độ phát triển nhất định. Sự thay đổi
của xã hội thể hiện trong sự phát triển về mặt kinh tế (chăn nuôi, trồng trọt thay cho
săn bắn hái lượm, kinh nghiệm trong sản xuất được tích lũy, công cụ sản xuất được
cải tiến, phân công lao động xã hội phát triển) về mặt xã hội (hình thành các giai
cấp và các quan hệ xã hội mới) dẫn đến nhu cầu thiết lập một trật tự mới mà những
quy tắc tập qn, tơn giáo khơng cịn phù hợp. Vì vậy pháp luật ra đời điều chỉnh
các quan hệ xã hội, giữ gìn trật tự xã hội.
Dựa trên lý luận về sự ra đời của pháp luật thì khi kinh tế, xã hội phát triển
đến một mức độ nhất định thì cần phải có sự ra đời của pháp luật mới để điều chỉnh
các mối quan hệ xã hội mới. Ngày nay với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
và tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, hội nhập quốc tế sâu rộng địi hỏi
đất nước ta phải có những giải pháp phù hợp nhằm tiếp thu thành tựu khoa học,


16

cơng nghệ thế giới. Mặc khác địi hỏi nước ta cần phải xây dựng nền tư pháp phát
triển, hiện tại nhằm kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển trong điều
kiện, hồn cảnh mới, góp phần phát triển kinh tế, xã hội đất nước.
Để xây dựng một nền tư pháp hiện đại, phát triển phù hợp với tình hình trong
nước và thế giới thì vấn đề cải cách tư pháp được đặt ra. Cải cách tư pháp đang là
xu thế phổ biến của thế giới, nếu không tiếp tục cải cách tư pháp thì sẽ trở nên lạc
hậu, nhất là trong xu hướng hội nhập, phát triển khoa học như hiện nay. Chiến lược
cải cách tư pháp được tiến hành từ Nghị quyết 49/NQ-TW năm 2005. Cải cách tư
pháp đáp ứng sự thay đổi của tình hình mới như: “…đặt ra yêu cầu cao với tư pháp;
nền kinh tế số, kinh tế chia sẻ đòi hỏi sự thay đổi trong tư pháp; phải đưa vào và áp
dụng các nguyên tắc tư pháp tiến bộ của thế giới; tăng cường ứng dụng công nghệ
thông tin tạo thuận lợi cho người dân, tăng cường minh bạch, nâng cao năng lực

Tòa án; chuẩn bị các khung khổ pháp lý, đào tạo cán bộ tư pháp đáp ứng giải quyết
các tranh chấp quốc tế.”14 Xây dựng pháp luật là vấn đề quan trọng của cải cách tư
pháp, tuy nhiên xây dựng pháp luật mà không thể áp dụng vào thực tế thì việc xây
dựng pháp luật trở nên lãng phí, khơng đáp ứng được mục đích của xây dựng pháp
luật và rộng hơn là cải cách tư pháp trong bối cảnh tình hình mới. Do đó vấn đề áp
dụng pháp luật cũng là vấn đề cần quan tâm bên cạnh cải cách tư pháp trong bối
cảnh, điều kiện mới.
Việc tổ chức phiên tòa trực tuyến là thực hiện chủ trương, định hướng của
Đảng tại Nghị quyết số 48/NQ-TW và Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị
về cải cách tư pháp; Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về
chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ưu tiên chuyển giao và
ứng dụng mạnh mẽ công nghệ mới trong các ngành, lĩnh vực; Nghị quyết Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XIII về “…đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng
tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là những thành tựu của cuộc
cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thực hiện chuyển đổi số quốc gia…” trong thời
gian tới. Đây là cơ sở chính trị quan trọng để Tịa án nhân dân tối cao xây dựng Tòa
án điện tử và tổ chức xét xử trực tuyến. Đó cũng là bước đi cần thiết cho việc xây
dựng Tòa án điện tử, Tòa án số, tiến tới xây dựng Tòa án thông minh theo tinh thần
các văn kiện của Đảng về cải cách tư pháp và ứng dụng công nghệ thông tin.

14

Cảnh Dinh, “Cải cách tư pháp là xu hướng tất yếu hiện nay”, truy cập ngày 04/4/2023.


17

Tổ chức phiên tòa xét xử trực tuyến đánh dấu bước đột phá trong cải cách tư
pháp của hệ thống Tịa án, giúp người dân dễ dàng tiếp cận cơng lý và đảm bảo các
hoạt động xét xử được tổ chức đúng thời hạn luật định, tiết kiệm chi phí và thời

gian.15 Bên cạnh việc tổ chức phiên tịa hình sự, phiên tịa hành chính trực tuyến thì
việc tổ chức phiên tòa trực tuyến trong lĩnh vực dân sự cũng là điều tất yếu, cần
phải triển khai rộng bởi vì so với lĩnh vực hình sự, hành chính thì lĩnh vực dân sự
các tranh chấp diễn ra hàng ngày, hàng giờ, việc giải quyết các tranh chấp dân sự
bằng phương thức trực tuyến mang lại nhiều lợi ích, ý nghĩa khác nhau đối với Nhà
nước cũng như đương sự. Áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân
sự là sự cụ thể hóa việc tổ chức phiên tòa trực tuyến trong lĩnh vực tố tụng dân sự,
việc tổ chức phiên tịa trực tuyến thành cơng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của
công cuộc cải cách tư pháp, bên cạnh đó góp phần hướng đến mục tiêu chung của
ngành Tòa án trong thời gian tới là xây dựng Tịa án điện tử.
Ngồi ra việc áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự là
phù hợp với quy luật của nguyên lý về sự phát triển, phù hợp với lý luận về sự ra
đời của pháp luật. Theo đó, phát triển là sự vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn
thiện đến hoàn thiện hơn, từ chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn. Tùy theo từng
lĩnh vực khác nhau mà sự vận động có thể là vận động từ thấp đến cao, vận động từ
đơn giản đến phức tạp và vận động từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Đặc
điểm chung của sự phát triển là tính tiến lên theo đường xốy ốc, có kế thừa, có sự
dường như lặp lại sự vật, hiện tượng cũ trên cơ sở cao hơn.16 Áp dụng phương thức
xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự là phù hợp với nguyên lý của sự phát triển thể
hiện ở sự kế thừa và vận động phát triển, sự kế thừa thể hiện ở việc áp dụng phương
thức xét trong tố tụng dân sự vẫn có bản chất là hoạt động xét xử, xét xử vẫn đảm
bảo sự uy nghiêm, tính pháp lý của một phiên tòa theo phương thức truyền thống
với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Như vậy, với những vấn đề nêu trên, áp dụng phương thức trực tuyến trong
tố tụng dân sự ra đời là sự tất yếu trong quá trình hình thành và phát triển pháp luật,
áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự thành cơng góp phần
15

“Xét xử trực tuyến: Bước đột phá trong cải cách tư pháp của hệ thống Tòa án”,
truy cập ngày 04/04/2023.

16
Bộ giáo dục và đào tạo, “Giáo trình Triết học Mác-Lê nin”,
/>BA%A7n%20Tri%E1%BA%BFt%20h%E1%BB%8Dc%20MLN%20(K)%20Tr%2060%20-Tr130.pdf, truy
cập ngày 04/04/2023, trg. 107.


18

trong việc xây dựng Tịa án điện tử, tạo mơi trường pháp lý lành mạnh góp phần
phát triển kinh tế, xã hội đất nước, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế.
1.2.2. Cơ sở pháp lý
Ngày 12/11/2021, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số
33/2021/QH15 quy định về tổ chức phiên tòa trực tuyến. Nghị quyết này có hiệu lực
kể từ ngày 01/01/2022, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Tòa án tổ chức phiên tịa
trực tuyến. Theo đó, Tịa án nhân dân được tổ chức phiên tòa trực tuyến để xét xử
sơ thẩm, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, dân sự, hành chính có tình tiết, tính chất
đơn giản; tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án rõ ràng, trừ các trường hợp: vụ án
hình sự, dân sự, hành chính liên quan đến bí mật nhà nước; vụ án hình sự về một
trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII của Bộ luật
Hình sự; vụ án hình sự về một trong các tội phá hoại hịa bình, chống lồi người và
tội phạm chiến tranh quy định tại Chương XXVI của Bộ luật Hình sự. Để cụ thể hóa
việc tổ chức phiên tịa trực tuyến, giúp cho Tịa án có cơ sở tổ chức phiên tịa trực
tuyến một cách cụ thể, chi tiết thì 15 tháng 12 năm 2021 Thông tư liên tịch số:
05/2021/TTLT quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành tổ chức phiên tịa trực tuyến
được ban hành có hiệu lực vào ngày 01 tháng 02 năm 2022.
Hiện nay vấn đề áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự
chưa được quy định ở BLTTDS 2015. Nghị quyết số 33/2021/QH15 và Thông tư
liên tịch số 05/2021/TTLT là hai cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức phiên
tịa trực tuyến và cũng chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc áp dụng phương
thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự. Áp dụng phương thức xét xử trực tuyến

trong tố tụng dân sự ngồi việc tn thủ trình tự, thủ tục do BLTTDS quy định thì
cịn phải đảm bảo các điều kiện được quy định tại Nghị quyết số 33/2021/QH15 và
Thông tư liên tịch số 05/2021/TTLT. Như vậy nước ta đã có cơ sở pháp lý trong
việc áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự, mặc dù đây mới
chỉ là những cơ sở pháp lý đầu tiên nhưng cũng là nền tảng quan trọng cho Tòa án
áp trong việc áp dụng phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự.
1.2.3. Cơ sở thực tiễn
Năm 2020 và năm 2021 là năm đáng nhớ đối với thế giới và Việt Nam khi
phải chịu nhiều hậu quả nặng nề của đại dịch COVID-19 do virus SARS-CoV-2 gây
ra. Covid-19 đã gây ra nhiều thiệt hại khác nhau đối với thế giới và Việt Nam từ
kinh tế, xã hội và nặng nề nhất là thiệt hại về con người, thiệt hại này khơng bao giờ
có thể bù đắp lại được. Đối với ngành tư pháp, thời gian đại dịch Covid-19 xảy ra,


19

công tác xét xử, đảm bảo công lý gặp rất nhiều khó khăn trong việc mở các phiên
tịa, trong khi đó các tranh chấp trong lĩnh vực dân sự vẫn diễn ra. Ngày 11 tháng 5
năm 2021 Tòa án nhân dân tối cao ban hành công văn số: 125/TANDTC-VP về
việc tiếp tục phòng chống dịch bệnh Covid-19, một trong những nội dung của công
văn là việc tạm ngừng xét xử đối với các khu vực thực hiện việc cách ly xã hội theo
Chỉ thị số 16/CT-TTg từ 0 giờ 00 ngày 12/5/2021 đến 24 giờ 00 ngày 31/5/2021.
Tuy nhiên đây chỉ là giải pháp tạm thời, cần phải có những giải pháp lâu dài trong
thời gian tiếp theo. Bởi vì một mặt theo quy định tại Điều 259 BLTTDS 201517 về
tạm ngừng phiên tịa thì khơng có căn cứ rõ ràng trong việc tạm ngừng phiên tòa do
Covid-19, một trong những căn cứ tại Điều 259 BLTTDS 2015 về việc tạm ngừng
phiên tịa là trở ngại khách quan thì BLTTDS 2015 lại khơng có quy định. Trở ngại
khách quan được quy định tại Điều 156 BLDS 2015: “Trở ngại khách quan là
những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa
vụ dân sự khơng thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm

hoặc khơng thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình;”. Tuy nhiên liệu
rằng trở ngại khách quan theo quy định của BLDS 2015 có áp dụng được cho quy
định của BLTTDS 2015 hay không vẫn cần những hướng dẫn, phân tích cụ thể từ
cơ quan có thẩm quyền. Mặt khác lúc bấy giờ đại dịch Covid-19 diễn ra vơ cùng
phức tạp, tính mạng sức khỏe của con người là vấn đề được ưu tiên lên hàng đầu so
với vấn đề xét xử cho nên việc xét xử theo phương thức truyền thống yêu cầu các
bên phải có mặt tại phịng xử án là khơng khả thi.
Có thể thấy Covid-19 là một trong những cơ sở thực tiễn quan trọng giúp
Nhà nước ta ban hành văn bản liên quan đến xét xử trực tuyến và việc áp dụng
phương thức xét xử trực tuyến trong tố tụng dân sự. Áp dụng phương thức xét xử
trực tuyến trong tố tụng dân sự sẽ là một giải pháp, một bước đột phá quan trọng
17

Điều 259. Tạm ngừng phiên tịa
1. Trong q trình xét xử, Hội đồng xét xử có quyền quyết định tạm ngừng phiên tịa khi có một trong các
căn cứ sau đây:
a) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố
tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay thế được người tiến hành tố tụng;
b) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tham gia tố
tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa, trừ trường hợp người tham gia tố tụng có yêu cầu xét xử vắng
mặt;
c) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà nếu khơng thực hiện thì khơng thể giải quyết
được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa;
d) Chờ kết quả giám định bổ sung, giám định lại;
đ) Các đương sự thống nhất đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để họ tự hòa giải;
e) Cần phải báo cáo Chánh án Tòa án để đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật
theo quy định tại Điều 221 của Bộ luật này.



×