BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VŨ THỊ LAN
ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM
QUYỀN TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TỊA
DÂN SỰ SƠ THẨM
KHĨA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người thực hiện: VŨ THỊ LAN
ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN TRANH TỤNG TẠI
PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM
Giảng viên hướng dẫn: ThS. PHAN NGUYỄN BẢO NGỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 NĂM 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật với đề tài: “Áp dụng
nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm" thuộc môn Luật
tố tụng dân sự, Khoa Luật Dân sự là cơng trình nghiên cứu do chính tơi thực hiện
dưới sự hướng dẫn của ThS. Phan Nguyễn Bảo Ngọc. Các số liệu, dữ liệu và kết quả
trình bày trong khóa luận này là trung thực, khoa học và chưa từng được cơng bố
trong bất kỳ các cơng trình, luận văn, khóa luận, luận án và bài viết nào trước đây.
Khóa luận của tơi có kế thừa một cách có chọn lọc các tác phẩm, kết quả nghiên cứu
từ những tác giả trước đây. Các thông tin tham khảo trong khóa luận đều được tơi
trích dẫn một cách đầy đủ và cẩn thận, đảm bảo tính khoa học, sáng tạo của khóa
luận.
Sinh viên ký tên
VŨ THỊ LAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VIẾT THƯỜNG
STT
VIẾT TẮT
1
Bộ luật Tố tụng dân sự số 24/2004/QH11 ngày 15 tháng BLTTDS 2004
06 năm 2004 do Quốc hội ban hành
2
Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng BLTTDS 2015
11 năm 2015 do Quốc hội ban hành
3
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13 ngày Luật Tổ chức
24 tháng 11 năm 2014
4
TAND 2014
Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC ngày 28 tháng 07 Thông
tư
số
năm 2017 của Tòa án nhân dân tối cao quy định về phịng 01/2017/TTxử án
TANDTC
5
Thơng tư liên tịch số 05/2021/TTLT-TANDTC- TTLT
số
VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 15 tháng 12 năm 2021
của TAND tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ
Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành tổ chức phiên tòa trực tuyến
05/2021/TTLTTANDTCVKSNDTCBCA-BQP-BTP
6
Bộ luật Tố tụng dân sự
BLTTDS
7
Tố tụng dân sự
TTDS
8
Tòa án nhân dân
TAND
9
Tòa án nhân dân tối cao
TANDTC
10
Vụ án dân sự
VADS
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM
QUYỀN TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM .......................6
1.1. Khái niệm áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng tại phiên tòa
dân sự sơ thẩm .......................................................................................................6
1.1.1. Khái niệm áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng trong tố tụng
dân sự ...................................................................................................................6
1.1.2. Khái niệm áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng tại phiên tòa dân
sự sơ thẩm .............................................................................................................8
1.2. Cơ sở áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự
sơ thẩm ....................................................................................................................9
1.2.1. Cơ sở thực tiễn của áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại
phiên tòa dân sự sơ thẩm......................................................................................9
1.2.2. Cơ sở pháp lý của áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên
tòa dân sự sơ thẩm .............................................................................................13
1.3. Ý nghĩa áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tịa dân
sự sơ thẩm .............................................................................................................20
1.3.1. Bảo đảm tính hợp pháp, công bằng cho phán quyết cuối cùng tại phiên tòa
dân sự sơ thẩm....................................................................................................20
1.3.2. Bảo vệ quyền con người, quyền dân sự tại phiên tòa dân sự sơ thẩm .....20
1.3.3. Bảo đảm tính dân chủ, cơng khai, minh bạch của hoạt động tố tụng dân sự
tại phiên tòa dân sự sơ thẩm ..............................................................................21
1.3.4. Đẩy mạnh vai trò của đương sự trong quá trình xác định sự thật khách
quan của vụ án tại phiên tòa dân sự sơ thẩm .....................................................21
1.4. Các yếu tố đảm bảo việc áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng
tại phiên tòa dân sự sơ thẩm ...............................................................................22
1.4.1. Hành lang pháp lý về áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại
phiên tòa dân sự sơ thẩm....................................................................................22
1.4.2. Trách nhiệm và nghĩa vụ áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng
tại phiên tòa dân sự sơ thẩm của Tòa án ...........................................................22
1.4.3. Khả năng áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân
sự sơ thẩm của đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự ........................................................................................................................23
1.4.4. Cơ chế giám sát việc áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại
phiên tòa dân sự sơ thẩm....................................................................................24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN
TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM ....................................26
2.1. Về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm
trong hoạt động lập pháp ....................................................................................26
2.1.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng
tại phiên tòa dân sự sơ thẩm ..............................................................................26
2.1.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về áp dụng nguyên tắc bảo đảm
quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm ..................................................32
2.2. Về áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ
thẩm trong thực tiễn ............................................................................................33
2.2.1. Thực tiễn áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa
dân sự sơ thẩm....................................................................................................33
2.2.2.
Kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh
tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm ......................................................................44
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................49
KẾT LUẬN CHUNG ..............................................................................................50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo đảm quyền tranh tụng là nguyên tắc có nguồn gốc, nền tảng từ quyền con
người. Quyền con người là một trong những quyền thể hiện tư tưởng cấp tiến của loài
người trong lịch sử, được ghi nhận trong văn kiện nổi tiếng Tuyên ngôn quốc tế về
nhân quyền ra đời năm 1948. Cụ thể, tại Điều 7 Bản tuyên ngôn quy định: “Mọi người
đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng khơng kỳ thị”.
Hay tại Điều 10 cũng ghi nhận: “Ai cũng có quyền, trên căn bản hồn tồn bình đẳng,
được một Tịa án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán
xử về những quyền lợi và nghĩa vụ của mình, [...]”. Như vậy, có thể thấy quyền được
bảo đảm tranh tụng trong xét xử là nguyên tắc được chi tiết hóa từ quyền con người
và nhằm để đảm bảo quyền con người. Theo tinh thần của Bản tuyên ngôn, quyền
con người là một quyền phổ quát, cơ bản khơng thể tách rời. Điều đó đồng nghĩa với
việc quyền tranh tụng phải được đảm bảo là một quyền đương nhiên, bất kỳ ai cũng
đều được hưởng mà không cần phải thực hiện bất kỳ nghĩa vụ nào tương ứng, và
không một Nhà nước nào được từ chối thực hiện. Việc triển khai và thực thi chi tiết
các quy định liên quan về quyền tranh tụng không chỉ có thể khẳng định sự tiến bộ,
bình đẳng, cơng bằng, dân chủ của hệ thống pháp luật Việt Nam mà cịn góp phần
giúp cho hoạt động tố tụng dân sự tại Việt Nam tiến gần hơn với chuẩn mực quốc tế1.
Tại Việt Nam, quyền tranh tụng phải được đảm bảo là nguyên tắc vô cùng
quan trọng được ghi nhận bởi các văn bản pháp luật. Cụ thể, Khoản 5 Điều 103 Hiến
pháp 2013 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Trên cơ
sở đó, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã được ban hành, thay thế cho Bộ luật Tố tụng
dân sự 2004 ghi nhận nguyên tắc “bảo đảm tranh tụng trong xét xử” tại Điều 24. Đây
cũng là Bộ luật Tố tụng dân sự đầu tiên của Việt Nam ghi nhận điều này2. Thứ nhất
là để đảm bảo tuân thủ thống nhất và giữ vững tinh thần của đạo luật tối cao của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thứ hai là để thực hiện đúng quan điểm và
triển khai đúng nhiệm vụ của Đảng về cải cách tư pháp trong thời đại mới3. Ngoài ra,
Nguyễn Thanh Tâm (2020), Nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng trong TTDS Việt Nam, Luận văn thạc sĩ,
Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.23.
2
Nguyễn Thanh Tâm (2020), tlđd (1), tr.1
3
Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về một
số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.
1
2
việc ghi nhận này cũng có mục đích đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng tranh tụng
tại phiên tòa trong quá trình xét xử trên thực tế của nhân dân.
Bên cạnh đó, xã hội phát triển khiến các quan hệ dân sự ngày càng trở nên đa
dạng, kéo theo là các tranh chấp dân sự có xu hướng gia tăng mạnh mẽ theo thời gian.
Để đáp ứng nhu cầu được xét xử và đảm bảo quyền lợi của người dân, hệ thống tư
pháp nói chung và Tịa án nói riêng có trách nhiệm đảm bảo chất lượng tranh tụng để
xử lý các tranh chấp phát sinh một cách thỏa đáng nhất. Về nguyên tắc, khi xét xử,
Tòa án phải căn cứ vào các chứng cứ thu thập được và chủ yếu dựa trên kết quả tranh
tụng để ra phán quyết4. Như vậy, chất lượng tranh tụng phụ thuộc một nửa vào q
trình tranh tụng tại phiên tịa. Vì thế, cần phải đảm bảo các điều kiện để thực thi chúng
hiệu quả. Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng nguyên tắc này ở Việt Nam chưa thực
sự thuận lợi, các chủ thể cịn gặp nhiều khó khăn, hạn chế và chưa đạt được thực chất
khi chúng chưa được triển khai đầy đủ và hướng dẫn cụ thể, đồng bộ, thống nhất5.
Tất cả những lý do đề cập trên cho thấy việc tiến hành nghiên các khía cạnh
cụ thể, chi tiết của nguyên tắc quyền tranh tụng phải được đảm bảo là một điều cấp
thiết trong hoàn cảnh nước ta ở thời điểm hiện tại. Ý thức được điều đó, tác giả lựa
chọn nghiên cứu đề tài “Áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa
dân sự” để làm rõ các quy định của pháp luật có liên quan, từ đó đưa ra những giải
pháp, kiến nghị phù hợp nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu về pháp luật của xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Các cơng trình nghiên cứu
(i) Các bài viết tạp chí chun ngành:
Đặng Quang Dũng (2021), “Bàn về vấn đề tố tụng trong tố tụng dân sự”, Tạp
chí Nhân lực khoa học xã hội, Số 4-2021, tr. 23-32. Bài viết phân tích khái niệm, đặc
điểm, ý nghĩa và cơ sở khoa học của tranh tụng trong tố tụng dân sự nói chung.
Đặng Quang Dũng (2021), “Các yếu tố đảm bảo tranh tụng trong tố tụng dân
sự”, Tạp chí cơng thương, Số 1 - Tháng 1/2021, tr. 22-26. Bài viết đề cập đến quá
Điểm c Khoản 1 Mục B Phần II Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị, Ban chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.
5
Nguyễn Thanh Tâm (2020), tlđd (1), tr.3.
4
3
trình thực hiện tranh trụng cũng như phân tích các yếu tố đảm bảo thực hiện tranh
tụng trong tố tụng dân sự tại Việt Nam.
(ii) Các Các cơng trình được thực hiện ở quy mơ khóa luận và đề tài nghiên
cứu khoa học:
Phùng Đức Chính (2020), Nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng trong tố tụng
dân sự và thực tiễn thực hiện tại các Tòa án nhân dân ở Tỉnh Lạng Sơn, Luận văn
thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội. Nghiên cứu khái quát về nguyên tắc bảo đảm
quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự, phân tích pháp luật Việt Nam và tập trung vào
thực tiễn áp dụng tại Tỉnh Lạng Sơn để đề xuất kiến nghị phù hợp với địa phương.
Nguyễn Thanh Tâm (2020), Nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng trong tố
tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn phân
tích về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự nói chung bao gồm
lý luận cơ bản, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Từ đó kiến nghị
giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc này tại Việt Nam.
Phạm Hải Bình (2020), Quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội. Nghiên cứu khái quát về
quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự. Phân tích những bất cập trong
thực tiễn áp dụng. Từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về vấn đề này.
Phan Thị Thu Hà (2023), Tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận án
tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội. Công trình phân tích cơ sở lý luận, thực trạng
pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật tranh tụng trong tố tụng dân sự Việt
Nam. Từ đó đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả tranh
tụng ở từng giai đoạn của quá trình tố tụng dân sự.
2.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng
trong tố tụng dân sự, tuy nhiên lại có chưa nhiều cơng trình độc lập làm rõ việc áp
dụng nguyên tắc này tại phiên tòa dân sự sơ thẩm. Tác giả cho rằng, một hệ thống
nghiên cứu toàn diện phải là một hệ thống nghiên cứu đi từ cái chung đến cái riêng.
Vì vậy, các cơng trình nghiên cứu về nguyên tắc này không nên chỉ dừng lại ở những
vấn đề mang tính tổng thể mà cịn cần thiết đi sâu nghiên cứu trong từng giai đoạn cụ
4
thể của quá trình tố tụng dân sự. Vì vậy, cần bổ sung vào hệ thống nghiên cứu những
cơng trình độc lập về áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tịa dân
sự sơ thẩm để có cái nhìn tồn diện và sâu sắc về vấn đề. Qua đó góp phần làm phong
phú nguồn tài liệu tham khảo cũng như có những kiến nghị lập pháp thiết thực hơn.
3. Mục đích nghiên cứu
Tác giả thực hiện nghiên cứu pháp luật về áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền
tranh tụng tại phiên tòa dân sự với những mục đích sau đây:
Thứ nhất, tìm hiểu cơ sở tồn tại, vai trò, ý nghĩa và mức độ tác động của việc
áp dụng nguyên tắc này đến chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự để
làm rõ vị trí của chúng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Đánh giá thực tiễn áp
dụng tại Việt Nam, từ đó có góc nhìn sâu sắc, tồn diện nhằm đề ra những phương
hướng, giải pháp khả thi giúp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc
bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự trong tương lai.
Thứ hai, khẳng định vai trò của áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng
và góp phần nâng cao trình độ áp dụng nguyên tắc này trong hệ thống tư pháp Việt
Nam nói chung và tại các phiên tịa dân sự sơ thẩm nói riêng. Từ đó thúc đẩy sự phát
triển pháp luật tố tụng dân sự tại Việt Nam thông qua việc nâng cao hoạt động áp
dụng nguyên tắc trên thực tiễn và tiến gần hơn với chuẩn mực pháp luật quốc tế.
Thứ ba, góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo đối với áp
dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng tại phiên tịa dân sự. Thơng qua đó góp
một phần nhỏ vào cơng cuộc cải cách, hồn thiện pháp luật ở Việt Nam.
4. Đối tượng nghiên cứu
Trong khn khổ của một khóa luận, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu các quy
định về áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nhằm làm sáng tỏ thêm các khía cạnh
quy định của pháp luật trong nước một cách ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đảm bảo việc nghiên cứu diễn ra hiệu quả, hoàn thành nội dung và mục
tiêu tiểu luận đặt ra, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, phân tích, tổng hợp
lý thuyết, phân loại và so sánh luật học, cụ thể như sau:
5
Phương pháp lịch sử được sử dụng trong chương một để tìm hiểu về nền tảng
tồn tại của nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự. Trên
cơ sở hiểu rõ bản chất, ý nghĩa và vai trị của ngun tắc này, tác giả có những đánh
giá khách quan và đầy đủ hơn về vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng ở cả hai chương nhằm phân
tích các quy định của pháp luật cũng như các các tài liệu nghiên cứu và thực tiễn áp
dụng pháp luật liên quan đến chủ đề khóa luận. Trên cơ sở đó, tác giả tổng hợp thành
hệ thống lý thuyết làm cơ sở kiến nghị giải pháp hoàn thiện cơ chế áp dụng nguyên
tắc đảm bảo quyền tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự tại Việt Nam.
Phương pháp phân loại được sử dụng trong chương một để phân loại tài liệu
khoa học thành hai nguồn cơ bản: sơ cấp và thứ cấp. Sau đó, tác giả sắp xếp các tài
liệu có cùng dấu hiệu bản chất, phương hướng phát triển hay tồn tại trong cùng giai
đoạn cụ thể thành từng cụm nhằm tìm hiểu sâu sắc mọi khía cạnh của vấn đề.
Phương pháp so sánh luật học được vận dụng ở chương hai giúp so sánh, đối
chiếu những quy định về áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng tại phiên tòa
sơ thẩm dân sự ở Việt Nam và quốc tế. Từ đó, tác giả có cái nhìn tổng qt về những
điểm giống và khác nhau trong các hệ thống pháp luật, là tiền đề để đúc kết kinh
nghiệm, hoàn thiện cơ chế pháp lý của Việt Nam liên quan đến đề tài nghiên cứu.
6. Ý nghĩa nghiên cứu
Kết quả của cơng trình sẽ góp phần làm rõ cơ sở lý luận cho áp dụng nguyên
tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm tại Việt Nam. Ngồi ra,
việc nghiên cứu kết hợp đánh giá tình hình thực tiễn xét xử cũng sẽ phần nào hạn chế
được tính lý thuyết hóa, tăng khả năng ứng dụng của đề tài trong thực tiễn và trở
thành nguồn tham khảo có giá trị trong cơng tác pháp luật.
7. Bố cục khóa luận
Ngồi phần danh mục từ viết tắt, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung của tiểu luận gồm hai chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng tại
phiên tòa sơ thẩm dân sự
Chương 2: Thực trạng về áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng tại
phiên tòa sơ thẩm dân sự
6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM
QUYỀN TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA DÂN SỰ SƠ THẨM
1.1. Khái niệm áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng tại phiên tòa dân
sự sơ thẩm
1.1.1. Khái niệm áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng trong tố tụng dân
sự
Theo từ điển tiếng Việt, tranh tụng nghĩa là kiện tụng, chỉ sự kiện cáo lẫn
nhau6. Xét về lịch sử ra đời, tranh tụng trong Tiếng Anh là “Adversarial” có nghĩa là
đối kháng, đương đầu7. Theo Hán - Việt tự điển thì tranh tụng được ghép từ hai từ
“tranh luận” và “tố tụng”8. Như vậy, xét về mặt ngữ nghĩa, chúng ta có thể hiểu tranh
tụng là hoạt động tranh luận trong quá trình tố tụng (thưa kiện) tại Tịa án.
Tại Từ điển luật học thì tranh tụng được hiểu như sau: “Tranh tụng là hoạt
động tố tụng được thực hiện bởi các bên tham gia tố tụng, có quyền bình đẳng với
nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của
mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập”9.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, có nhiều quan điểm về khái niệm thuật ngữ
tranh tụng. Tuy nhiên, nhìn chung thì bản chất của tranh tụng là đi tìm sự thật khách
quan của sự việc bị tranh chấp, kiện tụng thông qua sự hỏi đáp, biện luận, chứng minh
của các chủ thể có liên quan mà trong đó, đương sự đóng vai trị quyết định.
Như vậy, có thể hiểu tranh tụng là “một chuỗi các hoạt động lập luận, đối đáp
của các chủ thể có liên quan trong vụ án với nhau về các yêu cầu, các chứng cứ và
chứng minh để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo những trình tự,
thủ tục quy định trong pháp luật tố tụng”.
Để làm rõ hơn vấn đề, cần phải phân biệt tranh tụng với tranh luận và tố tụng.
Chiếu theo từ điển tiếng Việt, tranh luận nghĩa là bàn cãi để tìm ra lẽ phải10.
Viện ngơn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr.1024.
Hoàng Văn Thành (2015), Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tịa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo
u cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tr.25.
8
Đặng Quang Dũng (2021), “Bàn về vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Nhân lực khoa học xã
hội, Số 04/2021, tr.24.
9
Bộ Tư Pháp – Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nhà xuất bản Tư pháp, tr.635.
10
Viện ngôn ngữ học (2003), tlđd (6), tr.1024.
6
7
7
Tranh tụng là một quá trình liên tục kể từ khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện vụ
án cho đến khi có phán quyết cuối cùng về việc giải quyết vụ án đó, là nguyên tắc cơ
bản phải được tuân thủ trong mọi giai đoạn của hoạt động tố tụng. Trong khi đó, tranh
luận chỉ là một giai đoạn tố tụng tại phiên tịa, nó là sự biểu hiện tập trung nhất của
nguyên tắc tranh tụng11. Trong phần tranh luận, những người tham gia tố tụng chỉ tập
trung vào việc trình bày lý lẽ để bảo vệ quyền lợi của mình, chứ khơng nhắc lại những
tài liệu, sự kiện đã được xác minh, xem xét ở các giai đoạn tố tụng trước đó. Hay nói
cách khác dễ hiểu hơn đó là tranh tụng có nội hàm rộng hơn tranh luận, tranh tụng
bao gồm tranh luận.
Ngoài ra, cần phải phân biệt thêm giữa khái niệm tranh tụng và khái niệm tố
tụng. Về cơ bản, hoạt động tố tụng được phân loại thành 2 mơ hình: tố tụng tranh
tụng và tố tụng thẩm vấn12. Tuy nhiên, không thể xem tranh tụng là một loại hình tố
tụng bởi lẽ tranh tụng là một yếu tố tồn tại khách quan, luôn hiện diện trong q trình
xét xử VADS dù việc xét xử đó tn theo mơ hình tố tụng nào, điểm khác biệt nằm ở
chỗ tùy vào từng loại hình tố tụng mà mức độ hiện diện của yếu tố tranh tụng là khác
nhau. Như vậy, có thể xem tranh tụng là một yếu tố tồn tại bên trong tố tụng.
Theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh: "tố tụng" là việc thưa kiện (procès),
"tố tụng pháp lý" là việc pháp luật quy định những thủ tục về cách tố tụng (code
deprocédure)"13. Lê Gia, trong sách Tiếng nói nơm na cho rằng: "tố tụng" là vạch tội
và đưa ra cửa công để phân giải phải trái do chữ "tố" là vạch tội; chữ "tụng" là thưa
kiện ở cửa công để xin phân phải trái"14. Hiểu một cách đơn giản: "Tố tụng" là việc
thưa kiện ở Tịa án. TTDS là trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự, các VADS
tại Tịa án; trình tự, thủ tục thi hành án dân sự15.
Trong TTDS, nguyên tắc tranh tụng được thực hiện xuyên suốt q trình Tịa
án giải quyết VADS, kể từ lúc Tòa án thụ lý đơn khởi kiện cho tới khi Tòa án ra quyết
Trần Lệnh Hà (2018), Bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và
thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội,
tr.7-8.
12
“Tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi”, truy
cập ngày 05/04/2023.
13
Đào Duy Anh (1957), Từ điển Hán Việt, Nhà xuất bản Trường Thi, Sài Gịn, tr.302.
14
Lê Gia (1999), Tiếng nói nơm na, Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, tr.1027-1028.
15
Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương (2013), “Pháp luật về tố tụng dân sự”, Đặc san
tuyên truyền pháp luật, Số 04/2013, tr.3.
11
8
định, bản án giải quyết vụ án đó16. Như vậy, tác giả cho rằng, áp dụng nguyên tắc
đảm bảo quyền tranh tụng trong TTDS có nghĩa là “áp dụng một hệ thống các biện
pháp, cách thức, nguyên lý để đảm bảo cho các chủ thể có liên quan trong VADS có
quyền được lập luận, đối đáp với nhau về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh
trong VADS để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình kể từ lúc Tịa án thụ
lý đơn khởi kiện VADS cho đến khi Tòa án ra quyết định, bản án giải quyết vụ việc
đó theo những trình tự, thủ tục quy định trong pháp luật TTDS”.
1.1.2. Khái niệm áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng tại phiên tòa dân
sự sơ thẩm
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định rõ ràng cho khái niệm “phiên
tịa dân sự sơ thẩm” hay “phiên tòa xét xử sơ thẩm VADS”.
Căn cứ theo pháp luật TTDS hiện hành, việc xét xử VADS phải được tiến
hành tuân theo nguyên tắc hai cấp xét xử (cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc
thẩm). Phiên tòa dân sự sơ thẩm là một trong những hoạt động tố tụng của cấp xét xử
sơ thẩm, cũng là cấp xét xử thứ nhất. Như vậy, có thể hiểu “phiên tịa dân sự sơ thẩm
là một giai đoạn tố tụng trong cấp xét xử đầu tiên nhằm giải quyết tất cả vấn đề liên
quan trong VADS theo trình tự, thủ tục của pháp luật TTDS”. Khác với phiên tòa dân
sự phúc thẩm là một giai đoạn tố tụng trong cấp xét xử thứ hai nhằm nhằm khắc phục,
sửa chữa những sai lầm có thể có trong những bản án, quyết định chưa có hiệu lực
pháp luật của Tịa án cấp sơ thẩm17.
Q trình giải quyết VADS ở cấp xét xử sơ thẩm sẽ bao gồm các thủ tục kể từ
khi Tòa án thụ lý cho đến khi có quyết định, bản án giải quyết VADS, bao gồm cả
giai đoạn xét xử tại phiên tòa sơ thẩm mà cụ thể tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, Tòa án
sẽ tiến hành lần lượt các thủ tục như sau:
Thủ tục bắt đầu phiên tịa, trong đó bao gồm quy định về: Khai mạc phiên tòa;
Giải quyết yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch; Xem xét, quyết định hỗn phiên tịa khi có người vắng mặt; Bảo đảm tính khách
quan của người làm chứng.
Ủy ban thường vụ Quốc hội (2015), Báo cáo số 965/BC-UBTVQH13 ngày 23/10/2015 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội về Giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội về dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi), tr.12.
Đặng Quang Dũng (2021), tlđd (8), tr.24.
17
Lương Huy Hùng (2012), Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học
Quốc gia Hà Nội, tr.4.
16
9
Thủ tục hỏi tại phiên tịa, trong đó bao gồm quy định về: Hỏi đương sự về thay
đổi, bổ sung, rút yêu cầu và công nhận sự thỏa thuận của họ về giải quyết vụ án; Nghe
đương sự trình bày về vụ án; Việc tiến hành hỏi tại phiên tòa.
Thủ tục tranh luận tại phiên tịa, trong đó bao gồm quy định về: Những người
tham gia tranh luận; Nội dung tranh luận; Căn cứ tranh luận; Trình tự tranh luận; Phát
biểu của Kiểm sát viên; Trở lại việc hỏi.
Ngoài ra cịn có thủ tục nghị án, thủ tục tun án và cuối cùng là các quy định
về biên bản phiên tòa cũng như bản án sơ thẩm.
Như vậy, áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự
sơ thẩm có nghĩa là “áp dụng một hệ thống các biện pháp, cách thức, nguyên lý để
đảm bảo cho các chủ thể có liên quan trong VADS có quyền được lập luận, đối đáp
với nhau về các yêu cầu, các chứng cứ và chứng minh trong VADS để bảo vệ cho
quyền và lợi ích hợp pháp của mình kể từ lúc Tòa bắt đầu phiên tòa sơ thẩm đối với
VADS cho đến khi Tòa án ra quyết định, bản án giải quyết vụ việc đó theo những
trình tự, thủ tục quy định trong pháp luật TTDS”.
Phiên tòa sơ thẩm là hoạt động tố tụng của cấp xét xử thứ nhất, là phiên xử lần
đầu hoặc là phiên xét xử lại theo bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền trong
hoạt động tố tụng phiên tịa nhằm xem xét một cách toàn diện các yêu cầu của đương
sự, có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết VADS. Do đó, TAND phải tiến hành
phiên tịa một cách nghiêm túc thì việc xét xử mới bảo đảm dân chủ và quyết định
của Tòa án mới được sự đồng tình của quần chúng nhân dân18. Việc áp dụng nguyên
tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm sẽ là cơ sở vô cùng quan
trọng cho các bên liên quan trong VADS vận dụng hết khả năng để bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình trước Tịa án.
1.2. Cơ sở áp dụng ngun tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự
sơ thẩm
1.2.1. Cơ sở thực tiễn của áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên
tòa dân sự sơ thẩm
1.2.1.1. Nhu cầu bảo vệ quyền con người và tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về quyền
con người
18
Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trung ương (2013), tlđd (15), tr.37.
10
Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc thì: “Quyền con người
là những bảo đảm pháp lý phổ quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân và nhóm chống
lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được
phép và tự do cơ bản của con người”19.
Bàn về nguồn gốc của quyền con người, học thuyết về quyền tự nhiên (natural
rights) cho rằng con người ngay từ khi sinh ra đã có quyền con người, bất kể quyền
này có được ghi nhận bằng các văn kiện pháp lý hay không. Tuyên ngôn quốc tế về
nhân quyền của Đại hội đồng Liên Hợp quốc năm 1948 hay Tuyên ngôn độc lập của
Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 cũng đã khẳng định quyền con người là quyền
được tạo hóa ban cho và khơng ai có thể xâm phạm được 20. Việc quyền con người
được ghi nhận vào các văn kiện pháp lý không phải là cơ sở để phát sinh quyền mà
chỉ là một phương thức nhằm thể hiện quyền con người khơng chỉ là một quyền tự
nhiên vốn có mà nó cịn là một quyền pháp lý phải được bảo đảm thực hiện. Ngồi
ra, việc ghi nhận đó cũng là một phương pháp, cách thức để quyền con người được
bảo vệ khỏi sự xâm phạm của bất kỳ cá nhân, tổ chức hay quốc gia nào.
Tuy nhiên, lịch sử cho thấy việc đảm bảo thực thi quyền con người lại khơng
hề song hành với tiến trình ra đời của chúng. Sự xâm phạm, chà đạp thô bạo lên quyền
con người của những chủ thể, Nhà nước trong lịch sử đã khiến vấn đề về quyền con
người nổi lên như một vấn đề mang tính chính trị quan trọng cũng như nhu cầu được
bảo đảm thực thi các quyền con người bắt đầu xuất hiện và lan rộng một cách mạnh
mẽ. Theo lý luận của nhà luật học Karel Vasak người Czech thì lịch sử phát triển
quyền con người có thể chia thành ba thế hệ (generations of human rights). Trong đó,
các quyền dân sự, chính trị là các quyền thuộc thế hệ đầu tiên, gắn liền với các cuộc
đấu tranh của giai cấp tư sản nhằm hạn chế, ngăn chặn sự lạm quyền và sự tùy tiện
xâm hại đến cuộc sống tự do của cá nhân con người từ phía các quan chức và cơ quan
nhà nước21. Một trong số đó là quyền được xét xử cơng bằng (right to a fair trial) vẫn
cịn được duy trì, tiếp nối cho đến ngày nay. Việc quyền được xét xử công bằng thuộc
thế hệ đấu tranh cho quyền con người đầu tiên cũng đã phần nào cho thấy được tính
19
United Nations (2006), Human Rights: Questions and Answers, New York and Geneva, p.4.
Những tuyên bố này về sau một lần nữa được khẳng định trong Bản tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền
năm 1789 của nước Pháp và Bản tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Việt Nam.
21
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2009), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nhà xuất
bản Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.58.
20
11
quan trọng, cấp thiết của nó và cho thấy việc triển khai những nguyên tắc và các quy
định pháp lý cụ thể nhằm bảo đảm quyền này là vô cùng quan trọng.
Quyền được xét xử công bằng là một tập hợp các quyền về mặt tố tụng, trong
đó có quyền được đảm bảo tranh tụng trong xét xử. Như vậy, xét về nguồn gốc, áp
dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm là một khía
cạnh của quyền được xét xử cơng bằng mà thơng qua đó có thể góp phần đảm bảo
việc thực thi và áp dụng quyền con người trên thực tiễn.
Như vậy, pháp luật TTDS nói chung cũng như pháp luật về áp dụng nguyên
tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tịa dân sự sơ thẩm nói riêng là phương thức
hiện thực hóa luật nội dung, quyền con người nói chung và các quyền dân sự nói
riêng22. Ngồi ra, việc ghi nhận và cụ thể hóa các quy định pháp lý về áp dụng nguyên
tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm cũng một phần nhằm tiến
gần hơn với chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người khi ngày càng có nhiều
quốc gia trên thế giới ghi nhận, thực hiện và tuân thủ các quy định liên quan đến việc
bảo vệ quyền con người, thể hiện được tư tưởng dân chủ, tiến bộ và sự phát triển của
nền văn minh nhân loại.
1.2.1.2. Nhu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan trong
vụ án dân sự
Quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan trong VADS là những
quyền và lợi ích phù hợp với quy định của pháp luật và được pháp luật ghi nhận. Khác
với quyền con người là một quyền tự nhiên, có tính bẩm sinh và khơng phụ thuộc vào
ý chí của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào (bao gồm cả Nhà nước), quyền dân sự là
những quyền pháp lý, sự tồn tại của chúng phụ thuộc vào sự ghi nhận của Nhà nước
đối với công dân được hưởng quyền.
Việc pháp luật ghi nhận rằng các chủ thể có liên quan trong VADS được hưởng
các quyền và lợi ích nhất định khơng đương nhiên đảm bảo được khả năng thực thi
chúng trên thực tế. Trong thực tiễn, các quan hệ dân sự rất dễ và rất thường xuyên
xảy ra những tranh chấp, mâu thuẫn về quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Việc
thừa nhận các quyền và lợi ích của các chủ thể nhưng khơng đi kèm với các thiết chế
để bảo vệ chúng sẽ dẫn đến hệ quả là khi tranh chấp nảy sinh, các chủ thể sẽ ln có
Nguyễn Thị Thúy Hằng (2019), Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự, Luận án tiến sĩ,
Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.33.
22
12
xu hướng tìm cách để bảo vệ quyền lợi của bản thân một cách thái quá dẫn đến xâm
phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và ngược lại. Khi đó, chủ thể nào có
những điều kiện tự thân thấp hơn sẽ phải phục tùng chủ thể có điều kiện tự thân cao
hơn mặc dù điều đó đang vi phạm nghiêm trọng đến những quyền và lợi ích của họ
được pháp luật cơng nhận. Lúc này, có thể kết luận rằng việc ghi nhận các quyền và
lợi ích của các chủ thể của pháp luật sẽ khơng có ý nghĩa gì khi các quyền và lợi ích
đó khơng thể thực hiện được trên thực tế. Tự bản thân sự vận hành của xã hội đã
chứng minh việc Nhà nước chỉ quy định về quyền lợi của các chủ thể là chưa đủ mà
cần phải cung cấp thêm cho các chủ thể có liên quan trong VADS những thiết chế để
thực thi và bảo vệ những quyền lợi đó, đặc biệt là các chủ thể yếu thế hơn trong xã
hội nhằm tránh sự xâm phạm về quyền lợi của nhau. Như tác giả Nguyễn Văn Đông
nhận định: “Bất cứ quyền công dân nào cũng phải là quyền thực tế, nếu khơng, nó sẽ
trở nên khơng tưởng, vơ nghĩa và bảo đảm pháp lý cho quyền công dân cũng phải
mang tính hiện thực, nếu khơng, quyền đó chỉ dừng lại ở mức tun ngơn”23.
Từ căn ngun đó, các quy định về thủ tục và nguyên tắc tố tụng đã được ra
đời, trong đó bao gồm cả nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng và các quy định tố
tụng liên quan đến áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân
sự sơ thẩm nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
có liên quan trong VADS.
1.2.1.3. Nhu cầu phát huy vai trị của đương sự nhằm đảm bảo tính chất dân chủ,
công bằng và minh bạch trong hoạt động tố tụng dân sự tại Tịa án
Khi có tranh chấp xảy ra, các bên đương sự chính là những người có hiểu biết
rõ nhất về tình tiết liên quan đến vụ án. Chính vì vậy, điểm mấu chốt phải tiến hành
khi xác định sự thật khách quan của vụ án đó là đặt đương sự vào thế chủ động, phát
huy tối đa vai trị của họ trong q trình xét xử. Điều đó đồng nghĩa với việc phải trao
cho đương sự quyền được bảo đảm các điều kiện để tranh luận, đối đáp nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đặc biệt là tại phiên tịa dân sự sơ thẩm bởi đây
là giai đoạn mà nguyên tắc tranh tụng được áp dụng một cách đầy đủ và triệt để nhất.
Khi đó, tại phiên tịa sơ thẩm, các chủ thể sẽ tự thẩm vấn chéo lẫn nhau và liên tục
Nguyễn Văn Đông (2004), Các quyền hiến định về xã hội của công dân ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản
Tư pháp Hà Nội, tr.91.
23
13
đưa ra các bằng chứng mới có liên quan để Tịa án căn cứ xét xử, đảm bảo sự cơng
bằng và tính khách quan cho các bên.
Đảm bảo tính chất dân chủ, công bằng và minh bạch trong hoạt động TTDS
tại Tịa án là một trong những ngun tắc ln được nhấn mạnh trong việc xây dựng
pháp luật cũng như luôn được đề cập trong các chủ trương, đường lối của đảng về cải
cách tư pháp qua nhiều thời kỳ. Lịch sử đã chứng minh, muốn đạt đến sự dân chủ,
công bằng, vô tư và khách quan trong TTDS tất yếu sẽ phải trải qua con đường tranh
tụng24. Chính vì vậy, việc cụ thể hóa áp dụng nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng
tại phiên tòa dân sự nhằm đảm bảo được tính dân chủ, cơng bằng và minh bạch trong
hoạt động TTDS tại Tòa án là một trong những nội dung vô cùng quan trọng cần phải
thực hiện, thậm chí càng trở nên cấp thiết hơn trong thời kỳ đổi mới hiện nay.
1.2.2. Cơ sở pháp lý của áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên
tòa dân sự sơ thẩm
1.2.2.1. Các văn kiện pháp lý quốc tế về áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh
tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm
Như đã đề cập ở mục 1.2.1 của khóa luận, các quy định pháp lý liên quan về
áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm là một
trong những nội dung của đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư pháp. Vì vậy,
những quy định liên quan về áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên
tòa dân sự sơ thẩm xuất hiện sớm nhất ở các văn kiện pháp lý ghi nhận về quyền con
người. Một trong những văn kiện pháp lý quốc tế đầu tiên và tiêu biểu nhất đó chính
là Tun ngơn tồn thế giới về quyền con người ra đời năm 1948. Về tính chất, mặc
dù khơng phải là một điều ước quốc tế, song văn kiện này có sức nặng “luân lý” to
lớn và được xem là cấu thành trung tâm của luật tập quán quốc tế (international
customary law) về quyền con người, tức là có hiệu lực bắt buộc với mọi quốc gia trên
thế giới25. Cụ thể, liên quan đến các quy định về áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền
tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm, nội dung Điều 10 của Bản tuyên ngôn cho
rằng: “Ai cũng có quyền, trên căn bản hồn tồn bình đẳng, được một Tịa án độc
lập và vơ tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi
và nghĩa vụ của mình, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc”.
24
25
Nguyễn Thanh Tâm (2020), tlđd (1), tr.23.
Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2009), tlđd (21), tr.133.
14
Như vậy, có thể thấy sự ghi nhận pháp lý về áp dụng nguyên tắc bảo đảm
quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm từ lâu đã được thể hiện ẩn trong các
quy định liên quan về quyền con người, cụ thể là quyền được xét xử công bằng. Tại
phiên tòa sơ thẩm dân sự, các chủ thể liên quan có quyền được phán xử một cách
cơng bằng và được đảm bảo các điều kiện cần thiết để biện hộ (hay còn gọi là quyền
tranh tụng). Dựa trên cơ sở đó, đồng thời căn cứ vào những đặc điểm riêng biệt về
tâm lý, văn hóa, truyền thống dân tộc, điều kiện kinh tế xã hội, các quốc gia đã tiếp
thu và phát triển một hệ thống các quy định cụ thể về nguyên tắc quyền tranh tụng
được đảm bảo nói chung và các quy định về áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh
tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm nói riêng nhằm nội luật hóa các quy định quốc tế
một cách phù hợp và thích ứng với đời sống của công dân từng nước26.
1.2.2.2. Các quy định của pháp luật Việt Nam về áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền
tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm
Một trong những văn bản pháp lý sơ khai nhất về về áp dụng nguyên tắc bảo
đảm quyền tranh tụng tại phiên tịa dân sự sơ thẩm đó là Sắc lệnh số 13 ngày
24/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hịa. Theo đó,
tại Điều thứ 81 của Sắc lệnh quy định: “Các Thẩm phán khơng được tự đặt ra luật lệ
mà xử đốn”. Hay cụ thể hơn, tại Điều thứ 26 Sắc lệnh số 51 ngày 17/04/1946 của
Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa về việc ấn định thẩm quyền các Tịa
án và sự phân cơng giữa các nhân viên trong Tòa án cũng ghi rõ: “Khi ra phiên tòa
bên bị cùng bên dân sự nguyên cáo có quyền yêu cầu Tòa án thi hành phương pháp
cần thiết để chứng tỏ sự thật”. Như vậy, theo tinh thần của cả hai sắc lệnh, các bên
đương sự có quyền và phải được đảm bảo được thực hiện các biện pháp cần thiết để
làm rõ sự thật khách quan, thơng qua đó bảo vệ quyền và lợi ích của mình tại phiên
tịa dân sự.
Vào các lần sửa đổi Hiến pháp tiếp theo, Nhà nước cũng đã ban hành những
văn bản pháp luật liên quan đến nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa
dân sự sơ thẩm để quy định và hướng dẫn thủ tục xét xử và thủ tục tranh luận tại
phiên tòa, các quyền về nghĩa vụ của chủ thể trong VADS. Đặc biệt, Pháp lệnh số 27LCT/HĐNN8 ngày 07/12/1989 của Hội đồng Nhà nước về thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự đã đánh dấu bước phát triển của pháp luật TTDS về việc áp dụng nguyên
Trần Anh Tuấn (2009), “Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế”, Pháp luật
Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr.428.
26
15
tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm khi quy định cụ thể về
tranh luận tại phiên tịa ở Điều 51. Theo đó, tại phiên tòa xét xử sơ thẩm VADS, pháp
lệnh cho phép và yêu cầu đương sự trình bày lý lẽ, tranh luận đối đáp một cách liên
tục và lặp lại thủ tục này cho đến khi xem xét được toàn diện về chứng cứ nhằm làm
sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án và bảo vệ quyền lợi của các bên có liên quan.
Tuy nhiên, ở các thời kỳ trước, nếu các quy định về áp dụng nguyên tắc bảo
đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm mới chỉ dừng lại ở các văn bản
dưới luật thì đến Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân của Quốc hội
số 2/L-CTN ngày 06/10/1992 đã bước đầu ghi nhận nguyên tắc này ở cấp độ Luật,
mặc dù chưa đề cập trực tiếp nhưng cũng đã gián tiếp quy định nội dung nguyên tắc
tranh tụng và những vấn đề liên quan đến xây dựng pháp luật tranh tụng tại Việt Nam.
Năm 2004, lần đầu tiên Việt Nam ban hành BLTTDS để quy định một cách
có hệ thống tổng thể các nguyên tắc, thủ tục TTDS và cụ thể hóa chúng. Mặc dù chưa
trực tiếp đề cập đến nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng nhưng Bộ luật cũng đã hệ
thống được các quy định về vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích của các thể có liên quan
trong VADS. Đặc biệt, việc quy định thủ tục tranh luận tại phiên tịa theo hướng Tịa
án khơng được hạn chế thời gian tranh luận của các đương sự mà phải tạo điều kiện
cho người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến của họ đã góp phần bảo đảm cho
tranh tụng trong TTDS có sơ sở thực hiện27. Đây là một sự tiến bộ đáng kể cần phải
ghi nhận trong quá trình phát triển của pháp luật tố tụng tại Việt Nam.
Giai đoạn sau, tức sau mười năm ban hành và áp dụng trên thực tế, BLTTDS
2015 được ra đời trên cơ sở đồng bộ hóa với Hiến pháp mới (2013) và trên cơ sở
nhằm khắc phục những thiếu sót của BLTTDS 2004. Cụ thể, liên quan đến quyền
tranh tụng của đương sự, Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định rất rõ rằng:
“Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Trên cơ sở đó, BLTTDS 2015
với mục tiêu trở thành “công cụ pháp lý để cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình”28 đã một lần nữa khẳng định lại nguyên tắc đó tại Điều 24 và
đây cũng trở thành một trong những nguyên tắc xương sống trong pháp luật TTDS
của Việt Nam, được áp dụng xuyên suốt quá trình giải quyết VADS, trong đó có giai
đoạn xét xử tại phiên tòa dân sự sơ thẩm. Quy định như vậy có thể coi là tương tự
Phùng Đức Chính (2020), Nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng trong tố tụng dân sự và thực tiễn thực hiện
tại các Tòa án nhân dân ở Tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.19.
28
Tòa án nhân dân tối cao (2013), Tờ trình Quốc hội về Dự án Bộ luật Tố tụng dân sự, Hà Nội, tr.3.
27
16
như pháp luật của Cộng hòa Pháp khi nước Pháp cũng ghi nhận nguyên tắc tranh tụng
là nguyên tắc hiến định và cụ thể hóa chúng tại Điều 16 BLTTDS Pháp sửa đổi ngày
30/09/2005: “Trong mọi trường hợp, Thẩm phán phải tôn trọng nguyên tắc đối
nghịch và giám sát việc tôn trọng nguyên tắc đối nghịch”. Lý thuyết làm nền tảng
cho nguyên tắc tranh tụng (hay nguyên tắc đối nghịch) này đó là người ta lập luận
rằng: “Sự thật sẽ được sáng tỏ nếu mỗi bên có được cơ hội không hạn chế để đưa ra
đầy đủ bằng chứng, dữ kiện và lập luận trước một Thẩm phán (và bồi thẩm đoàn)
trung lập và chu đáo”29.
Căn cứ theo pháp luật hiện hành, cơ sở pháp lý cho việc áp dụng nguyên tắc
đảm bảo quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm ngồi Điều 24 BLTTDS 2015
ra thì cịn được quy định cụ thể và chi tiết hơn từ Điều 239 đến Điều 267 BLTTDS
2015, tức kể từ thời điểm khai mạc phiên tịa cho đến khi có quyết định, bản án cuối
cùng về VADS. Phân tích các quy định liên quan tại BLTTDS 2015, có thể thấy
nguyên tắc đảm bảo quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm ở Việt Nam hiện
đang được áp dụng như sau:
Thứ nhất, Tòa án là cơ quan điều phối việc tranh tụng, có trách nhiệm bảo đảm
các điều kiện để quyền tranh tụng của các chủ thể có liên quan có thể được áp dụng
tại phiên tịa xét xử sơ thẩm VADS.
Trước hết, Tịa án có trách nhiệm đảm bảo các điều kiện cần thiết để việc áp
dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm diễn ra hiệu
quả, bao gồm điều kiện về cơ sở vật chất và nhân sự tại phiên tòa.
Về điều kiện cơ sở vật chất tại nơi diễn ra phiên tịa dân sự sơ thẩm, việc bố
trí phịng xử án cần phải thể hiện được sự trang nghiêm và quan trọng hơn là tạo được
cho đương sự cảm giác họ có sự bình đẳng với nhau, ai cũng được xem xét với góc
nhìn cơng bằng và khách quan nhất. Điển hình là quy định ở Khoản 2 Mục 2 Phụ lục
số 01 Thông tư số 01/2017/TT-TANDTC, các bên đương sự trong VADS được sắp
xếp ở hai khu vực riêng biệt và có vị trí ngang hàng với nhau. Ngun tắc bảo đảm
quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm được áp dụng một phần thông qua quy
định này bởi chúng tạo cho các bên đương sự cảm giác được đối xử bình đẳng, tự tin,
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (2004), “Khái quát hệ thống pháp luật Hoa Kỳ”, Ấn phẩm của Chương trình Thơng
tin Quốc tế, tr.54.
29
17
khơng bị lép vế trước đối phương. Từ đó, tạo nền tảng cho đương sự thuận lợi thực
hiện các quyền hợp pháp để bảo vệ lợi ích của chính mình.
Về điều kiện nhân sự, tức yếu tố con người tại phiên tịa dân sự sơ thẩm, trong
đó bao gồm chủ thể tham gia tố tụng và chủ thể tiến hành tố tụng. Đối với chủ thể
tham gia tố tụng, Tòa án có trách nhiệm đảm bảo sự có mặt của các bên tham gia tố
tụng và người tham gia tố tụng khác, đặc biệt là đương sự nhằm đảm bảo cho đương
sự có thể trực tiếp đứng ra thực hiện quyền tự bảo vệ của họ. Trong trường hợp đương
sự khơng thể có mặt, Tịa án khơng được tự ý quyết định mà phải tiến hành thủ tục
hỗn phiên tịa hoặc xét xử vắng mặt theo trình tự quy định tại BLTTDS 2015. Đối
với chủ thể tiến hành tố tụng, Tịa án cần phải đảm bảo về sự có mặt và chất lượng
của người tiến hành tố tụng về cả khả năng chuyên môn lẫn phẩm chất đạo đức cá
nhân. Bởi lẽ, xét cho cùng thì chất lượng xét xử của Tòa án sẽ được quyết định bởi
những cá nhân cấu thành nên cơ quan này, hay còn gọi là người tiến hành tố tụng,
đặc biệt là Thẩm phán. Như Tơ Văn Hịa nhận định: “xét cho cùng thì các chức năng
xét xử của Tòa án cũng được thực hiện bởi cá nhân các Thẩm phán, cho dù là họ
ngồi một mình hay trong hội đồng”30. Cũng vì lẽ đó, BLTTDS 2015 đã quy định rất
rõ về nhiệm vụ và quyền hạn của thành viên Hội đồng xét xử. Ngoài ra, tại phiên tòa
xét xử sơ thẩm, người tiến hành tố tụng sẽ bị từ chối hoặc thay đổi nếu như thuộc các
trường hợp quy định tại Điều 52 BLTTDS 2015. Các quy định này nhằm đảm bảo áp
dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân sự sơ thẩm ở khía cạnh
đảm bảo tính độc lập, vơ tư, khách quan khi xét xử và khơng có sự tác động tiêu cực
đến từ phía chủ thể tiến hành tố tụng vào quá trình tìm kiếm sự thật khách quan.
Bên cạnh việc đảm bảo các điều kiện nền tảng cho việc tổ chức phiên tịa, Tịa
án cịn có trách nhiệm điều phối việc tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm VADS
sao cho nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng được áp dụng xuyên suốt phiên xét xử.
Điều 247 BLTTDS 2015 quy định việc tranh tụng tại phiên tịa sơ thẩm bao gồm việc
trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá
chứng cứ, tình tiết của VADS, quan hệ pháp luật tranh chấp và pháp luật áp dụng để
giải quyết yêu cầu của các đương sự trong vụ án được tiến hành theo sự điều khiển
của chủ tọa phiên tịa. Ngồi ra, để đảm bảo thời lượng cũng như chất lượng phiên
tòa xét xử sơ thẩm, trong q trình tranh tụng tại phiên tịa, Tịa án có quyền ra quyết
30
Tơ Văn Hịa (2007), Tính độc lập của Tòa án, Nhà xuất bản Lao động, tr.124.
18
định cưỡng chế, xử phạt hành chính hoặc thậm chí là khởi tố vụ án hình sự đối với
những chủ thể có hành vi cản trở hoạt động tố tụng tại phiên tòa31.
Thứ hai, đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
đóng vai trị chủ đạo và có tính chủ động trong q trình xét xử tại phiên tịa dân sự
sơ thẩm.
Trong bất kỳ VADS nào, nguyên đơn và bị đơn luôn là những người ở vị thế
đối trọng nhau về lợi ích, đồng thời họ cũng chính là người làm phát sinh VADS nên
họ sẽ là người hiểu rõ nhất về tình tiết vụ án, cũng chính là yếu tố quan trọng nhất để
xác định sự thật khách quan của vụ án cũng như ban hành một phán quyết cơng bằng.
Chính vì vậy, cần thiết phải đặt họ vào vị thế chủ động trong tranh tụng nhằm khai
thác triệt để các tình tiết liên quan cũng như thúc đẩy tiến độ của q trình tố tụng mà
vẫn đảm bảo được tính minh bạch, khách quan, cơng bằng.
Phân tích quy định liên quan đến đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự trong pháp luật TTDS Việt Nam cho thấy pháp luật TTDS
Việt Nam đang được xây dựng theo hướng đưa các chủ thể làm phát sinh VADS vào
vị trí chủ động trong q trình xác minh sự thật của VADS. Theo quy định của
BLTTDS 2015, chủ thể có trách nhiệm thu thập chứng cứ là đương sự trong VADS.
Tòa án hay các chủ thể tham gia cũng như tiến hành tố tụng khác chỉ có trách nhiệm
hỗ trợ và cung cấp các tài liệu, chứng cứ mình đang lưu giữ khi có u cầu (Điều 6,
Điều 7). Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm VADS, đương sự hay người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của họ sẽ là chủ thể trình bày trước tiên (Điều 248). Điều đó có nghĩa
là đương sự phải là người chủ động đưa ra các minh chứng cho các u cầu của mình
làm căn cứ để Tịa án phân xử cũng như để các chủ thể khác theo dõi và đánh giá vụ
án. Sau khi trình bày, chủ tọa phiên tòa sẽ tiến hành hỏi và đương sự cũng là người
đầu tiên trong danh sách về thứ tự hỏi cho thấy vai trò chủ đạo của đương sự trong
quá trình tranh tụng tại phiên tịa sơ thẩm của VADS (Điều 249). Chứng cứ cũng như
lập luận của đương sự chính là yếu tố nền tảng và quan trọng nhất mà Tòa án xem xét
để đi đến quyết định cuối cùng về vụ việc. Ngoài ra, trong phần tranh luận tại phiên
tịa dân sự sơ thẩm, ngồi quy định về thứ tự trình bày của đương sự thì pháp luật cịn
quy định chủ tọa phiên tịa khơng được hạn chế thời gian tranh tụng tại phiên tòa
Chương XL BLTTDS 2015, Điều 391 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015, Điều 5 Pháp
lệnh số 02/2020/UBTVQH15 ngày 18/08/2022 về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi cản trở hoạt
động tố tụng.
31
19
nhằm đảm bảo mọi tình tiết, chứng cứ liên quan đến vụ án sẽ được bộc lộ một cách
đầy đủ và tồn diện nhất. Trong q trình phát biểu, tranh luận, đối đáp qua lại của
đương sự, Tịa án khơng được can thiệp quá sâu và chỉ có quyền yêu cầu họ dừng
trình bày nếu sự trình bày đó khơng có liên quan đến VADS (Điều 247). Quy định
này cho thấy vai trò tương đối rạch ròi giữa Tòa án và đương sự tại phiên tịa dân sự
sơ thẩm. Có thể thấy mặc dù cả hai đều hướng đến mục tiêu làm rõ sự thật khách
quan nhưng một bên là chủ thể điều hành đóng vai trị phân xử, điều phối việc tranh
tụng cịn một bên là chủ thể chính của vụ án có vai trị thực hiện tranh tụng, cung cấp
mọi chứng cứ, lập luận, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tại phiên tịa xét xử sơ thẩm VADS, việc đặt các chủ thể có sự đối trọng về
lợi ích vào vị thế bình đẳng và chủ động sẽ kích thích sự phản biện lẫn nhau. Thơng
qua q trình tranh luận, hai bên sẽ có sự thẩm tra chéo đối với đối phương để thỏa
mãn nhu cầu bảo vệ tối đa quyền lợi của chính mình. Điều này giúp giảm tải áp lực
cho hệ thống tư pháp bởi Tịa án khơng cần phải ơm đồm quá nhiều trách nhiệm và
nghĩa vụ trong quá trình xác định sự thật. Đồng thời nâng cao chất lượng tranh tụng
bởi pháp luật đã và đang đặt trách nhiệm lên đúng chủ thể giúp tiết kiệm thời gian,
công sức cũng như nâng cao chất lượng của các chứng cứ, lý lẽ được trình bày.
Thứ ba, phiên tịa dân sự sơ thẩm phải được tiến hành theo nguyên tắc công
khai, trực tiếp và bằng lời nói. Điều 225 BLTTDS 2015 quy định về hình thức xét xử
phải được tiến hành trực tiếp tại phịng xử án và bằng lời nói. Điều này nhằm đảm
bảo tính chân thực của các tài liệu, chứng cứ được thu thập và trình bày, đảm bảo sự
thật khách quan của VADS. Ngoài ra, nguyên tắc xét xử cơng khai được áp dụng
nhằm đảm bảo tính cơng bằng, minh bạch của q trình tranh tụng cũng như phán
quyết, quyết định cuối cùng của Tòa án đối với VADS tại phiên tòa xét xử sơ thẩm.
Thứ tư, việc áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa dân
sự sơ thẩm phải được tiến hành dưới sự giám sát của Viện kiểm sát và người dân cũng
như các cơ quan công luận. Điều 21 BLTTDS 2015 quy định phiên tòa xét xử sơ thẩm
VADS phải có sự tham gia của Viện kiểm sát nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của các chủ thể có liên quan đến vụ án tại phiên tòa dân sự sơ thẩm. Ngoài ra, trừ các
trường hợp đặc biệt quy định tại Khoản 2 Điều 109 BLTTDS 2015 thì việc xét xử và
đánh giá các chứng cứ tại phiên tòa sơ thẩm dân sự phải được tiến hành công khai.
Thông qua đó, người dân cũng như các cơ quan ngơn luận như báo chí có thể cùng
theo dõi, giám sát tính đúng đắn của hoạt động áp dụng nguyên tắc bảo đảm quyền