Tải bản đầy đủ (.pdf) (150 trang)

Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo pháp luật tố tụng dân sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.53 MB, 150 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ NINH GIANG

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 NĂM 2023


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Người thực hiện: NGUYỄN THỊ NINH GIANG

ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn: ThS. HUỲNH QUANG THUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – THÁNG 6 NĂM 2023


LỜI CAM ĐOAN
Tơi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của tôi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Huỳnh Quang Thuận, đảm bảo
tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo.
Tơi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.


Tác giả

Nguyễn Thị Ninh Giang


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT

CHỮ VIẾT TẮT

NỘI DUNG

1

ADBPKCTT

Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

2

BPKCTT

Biện pháp khẩn cấp tạm thời

3

BLTTDS

Bộ luật Tố tụng dân sự


4

HĐXX

Hội đồng xét xử

5

PLTTDS

Pháp luật tố tụng dân sự

6

TTDS

Tố tụng dân sự

7

TAND

Toà án nhân dân

8

VVDS

Vụ việc dân sự


9

VDS

Việc dân sự

10

VADS

Vụ án dân sự

11

VKS

Viện kiểm sát


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM
THỜI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM .............................6
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của biện pháp khẩn cấp tạm thời theo pháp
luật tố tụng dân sự Việt Nam ................................................................................6
1.1.1.

Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời .................................................6

1.1.2.


Đặc điểm của biện pháp khẩn cấp tạm thời ...........................................9

1.1.3.

Ý nghĩa của biện pháp khẩn cấp tạm thời ............................................12

1.2. Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời ................................................................................................14
1.2.1.

Yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời ..............................14

1.2.2.

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân

sự 2015 …………………………………………………………………………………16
1.2.3.

Thời điểm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời .................................24

1.2.4.

Trách nhiệm do áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời không

đúng……………………………………………………………………………………..26
1.2.5.

Thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời ...............................27


KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................29
CHƯƠNG 2. BẤT CẬP VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI ........30
2.1. Phân loại các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật tố tụng dân sự
...............................................................................................................................30
2.2. Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ..............................34
2.3. Thời điểm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời .....................................39
2.4. Thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ..........................................43
2.5. Trách nhiệm của các chủ thể khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
không đúng ...........................................................................................................47


2.5.1. Trách nhiệm của người đã đưa ra yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời không đúng ...........................................................................................47
2.5.2. Trách nhiệm của Tòa án khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không
đúng ....................................................................................................................49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................53
KẾT LUẬN CHUNG ..............................................................................................54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ra đời, đây là đạo
luật gốc, là cơ sở để ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm quyền
con người và quyền công dân. Bên cạnh việc ghi nhận, bảo vệ quyền và lợi ích hợp

pháp cho cơng dân, Nhà nước cịn tạo điều kiện thuận lợi cho cơng dân có thể thực
hiện các quyền đó thông qua các cơ chế giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân.
Việc các chủ thể yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp được thực hiện theo trình tự
của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tòa án nắm giữ vai trò là cơ quan tư pháp, là nơi
bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong suốt quá trình giải quyết vụ việc dân sự, ngay
cả trước khi Tòa án thụ lý hoặc ra bản án, quyết định. Điều này được thể hiện qua
việc Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cho phép Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời để bảo vệ kịp thời các quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố
tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự.
Việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được các nhà lập pháp ghi
nhận trong các văn bản pháp luật qua từng thời kỳ như: Pháp lệnh của Hội đồng Nhà
nước số 27-LCT/HĐNN ngày 07 tháng 12 năm 1989 về Thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự, Pháp lệnh số 48-L/CTN ngày 11 tháng 4 năm 1996 về Thủ tục giải quyết các
tranh chấp lao động, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã quy định chi tiết và cụ thể
các biện pháp khẩn cấp tạm thời, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã kế thừa các quy
định về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và ghi nhận tại Chương VIII, gồm 28
Điều luật có sửa đổi, bổ sung. Lịch sử ghi nhận biện pháp khẩn cấp tạm thời của Việt
Nam cho thấy sự cần thiết của các biện pháp này trong quá trình giải quyết vụ việc
dân sự. Tuy nhiên, quá trình áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời đã nảy sinh
những khó khăn, vướng mắc và bất cập nhất định. Cụ thể như, các biện pháp khẩn
cấp tạm thời tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 còn trùng lặp, chồng chéo
nhau; Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của đương sự trong việc
dân sự cịn nhiều thiếu sót; Thời điểm yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
cần được thay đổi để phù hợp với xu thế chung của thể giới và đảm bảo quyền lợi của
đương sự; Thủ tục cung cấp chứng cứ kèm theo đơn yêu cầu chứng minh cịn mơ hồ,
khó áp dụng; Trách nhiệm của các chủ thể đưa ra yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời cần được điều chỉnh để đảm bảo ngun tắc “Tịa án có trách nhiệm bảo


2


đảm nguyên tắc bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ
chức, cá nhân trong tố tụng dân sự”.
Vì lẽ trên, tác giả chọn thực hiện đề tài: “Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Qua q trình tìm hiểu, hiện nay đã có nhiều tác giả công bố những bài nghiên
cứu về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong pháp luật tố tụng dân sự. Các bài viết này
được xuất bản dưới nhiều hình thức như bài báo khoa học, luận văn, luận án và sách
chuyên khảo. Tác giả đề cập đến một số tài liệu liên quan đến cơng trình này như sau:
Các sách tham khảo có đề cập đến biện pháp khẩn cấp tạm thời như: Vụ Công
tác lập pháp (2004), Những vấn đề cơ bản của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nhà xuất bản
Hà Nội; Lê Thu Hà (2006), Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng
dân sự và thực tiễn áp dụng, Nhà xuất bản Tư pháp; Trần Phương Thảo (2018), Biện
pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự, Nhà xuất bản Lao động có đề cập đến
biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 và 2015, có ý nghĩa
trong việc đối chiếu, so sánh giữa các quy định pháp luật trong các thời kỳ.
Các sách chuyên ngành đã xuất bản như: Trường Đại học Luật thành phố Hồ
Chí Minh (2022), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn Thị Hoài
Phương, Nhà xuất bản Hồng Đức; Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Nguyễn Thị Hồng
Nhung, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia; Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo
trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn Cơng Bình, Nhà xuất bản Cơng an nhân
dân,... đều có đề cập đến các biện pháp khẩn cấp tạm thời, tuy nhiên chỉ dừng lại ở
mức độ khái quát, giới thiệu chung chung về các khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của
biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự mà không đi sâu vào nghiên cứu cụ
thể.
Trần Phương Thảo (2012), Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự
Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Tác giả đã trình
bày được những vấn đề lý luận cơ bản, cũng như thực tiễn áp dụng biện pháp khẩn

cấp tạm thời trong tố tụng dân sự. Từ đây, tác giả đã có những kiến nghị hồn thiện
pháp luật mang giá trị khoa học, làm nền tảng cho các cơng trình về sau. Đây được


3

đánh giá là cơng trình nghiên cứu tổng qt và đầy đủ nhất về biện pháp khẩn cấp
tạm thời trong tố tụng dân sự tính đến thời điểm hiện tại.
Nguyễn Văn Hải (2016), Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo pháp
luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Đây là cơng trình tập trung nghiên cứu các vấn đề về biện pháp khẩn cấp tạm thời
được áp dụng ở giai đoạn tiền tố tụng, trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn giải quyết.
Luận văn có giá trị tham khảo cao trong việc đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật tố tụng dân sự về biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Nguyễn Phương Anh (2015), “Thực trạng áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời và kiến nghị sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự”, Tạp chí Luật học, số
08/2015. Bài viết làm rõ một số hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng
dân sự hiện hành về áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời và những vướng mắc
trong quá trình thực hiện. Đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy
định của pháp luật về áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Nguyễn Trần Bảo Uyên (2020), “Áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
trong phần quyết định của bản án sơ thẩm”, Tạp chí Tịa án Nhân dân. Bài viết nêu
ra thực tiễn về việc có tiếp tục duy trì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã
được áp dụng trong những giai đoạn tố tụng trước đó trong phần quyết định của Bản
án sơ thẩm hay không? Trong trường hợp nội dung phần quyết định của Bản án sơ
thẩm có ghi nhận việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì nội dung này có phải
là đối tượng của thủ tục kháng cáo hay khơng?
Các cơng trình nghiên cứu kể trên tiếp cận biện pháp khẩn cấp tạm thời dưới
các góc độ khác nhau, vì vậy, cơng trình nghiên cứu của khóa luận này sẽ kế thừa và
phát triển các cơng trình nghiên cứu trước đó, đồng thời tiếp cận nghiên cứu về thực

tiễn áp dụng và đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
2015 và quy định có liên quan về biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự.
3.2. Phạm vi nghiên cứu


4

Trong phạm vi của khóa luận tốt nghiệp, cơng trình chỉ tập trung nghiên cứu
trong phạm vi sau:
Thứ nhất, phạm vi nội dung. Khóa luận nghiên cứu trong phạm vi về các biện
pháp khẩn cấp tạm thời, quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm
thời, thời điểm áp dụng, trách nhiệm của các chủ thể do áp dụng các biện pháp khẩn
cấp tạm thời không đúng và thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Các
vấn đề khác liên quan được đề cập đến trong khóa luận chỉ nhằm mục đích cung cấp
thơng tin cho cơng trình nghiên cứu.
Thứ hai, phạm vi thời gian. Khoá luận tập trung nghiên cứu các quy định hiện
hành, chủ yếu là Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP
ngày 24 tháng 09 năm 2020 Hướng dẫn áp dụng quy định về biện pháp khẩn cấp tạm
thời của Bộ luật Tố tụng dân sự do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban
hành. Ngồi ra, cơng trình cũng đề cập đến Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 nhằm mục
đích phân tích, so sánh điểm khác biệt so với Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Thứ ba, phạm vi không gian. Bên cạnh việc nghiên cứu quy định pháp luật và
thực tiễn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tác
giả còn nghiên cứu cách thức điều chỉnh của pháp luật một số quốc gia như Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa, Liên bang Nga, Anh, Pháp... về biện pháp khẩn cấp tạm thời để
kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm được nội dung và mục đích nghiên cứu của cơng trình, tác giả chủ
yếu sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích
bản án, vụ việc, cụ thể:
Thứ nhất, phương pháp phân tích và tổng hợp. Đây là hai phương pháp chính
và được sử dụng xun suốt cả cơng trình. Theo đó, phương pháp phân tích và tổng
hợp là phương pháp thích hợp để tìm hiểu, đánh giá và tổng kết các quy định và dữ
liệu liên quan đến biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự. Nó cho phép tác
giả nghiên cứu một cách tồn diện các quy định, nguyên tắc, và văn bản pháp luật
liên quan đến vấn đề này, từ đó tổng hợp được các yếu tố quan trọng để đi đến kết
luận và giải pháp. Ngoài ra, với phạm vi nghiên cứu đã đề cập trước đó, khóa luận
nghiên cứu về biện pháp khẩn cấp tạm thời ở nhiều khía cạnh khác nhau với nhiều


5

quy định pháp luật của một số quốc gia khác, phương pháp này đảm bảo được cơng
trình có thể được nhìn nhận một cách đầy đủ và chính xác.
Thứ hai, phương pháp so sánh. Được sử dụng để so sánh Bộ luật Tố tụng dân
sự 2015 với Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, được sửa đổi bổ sung năm 2011 để đưa ra
bình luận và đánh giá. Hơn nữa, phương pháp này được sử dụng để so sánh và đối
chiếu với các quy định của pháp luật Việt Nam với các quy định của một số quốc gia
khác, như Liên bang Nga, Cộng hòa nhân dân Trung hoa, Pháp, Mỹ, Anh,... Qua đó,
thấy được điểm tương đồng và đưa ra sự tham khảo, học hỏi những quy định tiến bộ
nhằm kiến nghị và gợi mở hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Phương pháp này được sử
dụng chủ yếu ở Chương 2 của khóa luận.
Thứ ba, phương pháp phân tích bản án, vụ việc. Phương pháp này cho phép
tác giả hiểu rõ thực tiễn bằng cách phân tích các bản án, vụ việc thực tế cùng các số
liệu được cung cấp bởi các nguồn chính thống. Nó cung cấp cơ sở để đánh giá tác
động của biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với các bên liên quan trong quá trình tố
tụng. Đồng thời, phương pháp phân tích bản án, vụ việc giúp người đọc có một cái

nhìn chi tiết và đa chiều về các vấn đề đã xảy ra trên thực tiễn, để từ đó, tác giả đề
xuất các giải pháp, kiến nghị phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.
Phương pháp này được sử dụng ở Chương 2 của khóa luận.
5. Kết cấu đề tài
Đề tài khóa luận gồm có hai chương, gồm:
Chương 1. Những vấn đề chung về biện pháp khẩn cấp tạm thời theo pháp
luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Chương 2. Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
về biện pháp khẩn cấp tạm thời.


6

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM
THỜI THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của biện pháp khẩn cấp tạm thời theo pháp
luật tố tụng dân sự Việt Nam
1.1.1. Khái niệm biện pháp khẩn cấp tạm thời
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có bất kỳ văn bản nào đưa ra khái niệm về
BPKCTT. Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu và giảng dạy, định nghĩa BPKCTT
được hiểu và lý giải ở nhiều góc độ khác nhau.
Dưới góc độ ngơn ngữ học, BPKCTT được cấu tạo bởi ba từ ghép vào nhau:
“Biện pháp”, “khẩn cấp” và “tạm thời”. Theo đó, “biện pháp” là một danh từ chỉ
cách làm, cách thức tiến hành, cách giải quyết một vấn đề cụ thể1, “khẩn cấp” là một
tính từ chỉ sự gấp gáp, cần kíp, phải giải quyết ngay, khơng thể trì hỗn được 2, và
“tạm thời” là một tính từ, có nghĩa là tạm trong một thời gian ngắn trước mắt, khơng
có tính lâu dài, ổn định3. Như vậy, khi kết hợp nghĩa các từ lại với nhau, có thể hiểu
“BPKCTT là cách thức giải quyết, tiến hành tạm thời một vấn đề nào đó một cách
nhanh chóng, khẩn trương, khơng thể trì hỗn”.
Trong nghiên cứu khoa học pháp lý, khái niệm BPKCTT trong TTDS đã được

các nhà nghiên cứu nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau và đều dựa trên những lý
giải cơ bản, khái quát về thuật ngữ TTDS. Trên cơ sở đó, khái niệm BPKCTT trong
TTDS cũng cần được nhìn nhận dưới phương diện PLTTDS và hoạt động TTDS. Cụ
thể là ở các góc độ là các biện pháp cụ thể, là một thủ tục TTDS hay một chế định
pháp luật trong hệ thống PLTTDS.
Thứ nhất, dưới góc độ là các biện pháp cụ thể. BPKCTT trong TTDS được
nhìn nhận từ góc độ đáp ứng u cầu giải quyết VVDS của Tòa án, nhằm đảm bảo
nguyên tắc giải quyết kịp thời để từ đó bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
Điều này địi hỏi việc ưu tiên xử lý các trường hợp khẩn cấp, bảo vệ chứng cứ và tài
sản liên quan để đảm bảo khả năng thực thi pháp lý và bảo vệ quyền lợi tạm thời của
các bên trong VADS. Ngay cả khi Tòa án chưa đưa ra quyết định cuối cùng, quyết

Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1998), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hố Thơng tin, tr.161.
Viện ngôn ngữ học (1994), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, tr.447.
3
Nguyễn Như Ý, tlđd (1), tr. 1489.
1
2


7

định tạm thời có thể được Tịa án ban hành để giải quyết tình hình khẩn cấp ngay lập
tức. Đây được gọi là BPKCTT trong TTDS dưới phạm trù hình thức.
Xét từ phương diện nội dung, Thẩm phán Tưởng Duy Lượng khi nghiên cứu
về BPKCTT trong TTDS đã khẳng định: “BPKCTT thực ra chỉ là một giải pháp tình
thế”4. Đây là một biện pháp tình thế được sử dụng để giải quyết tình trạng khẩn cấp
trong VVDS, và chỉ được xem là BPKCTT trong TTDS khi nó được quy định bởi
pháp luật và áp dụng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền (thường là Tịa án)5.
Theo đó, cách thức giải quyết này mang tính đặc biệt và khơng giống với cách thức

giải quyết các VVDS thông thường, mà chỉ áp dụng cho những VVDS đặt ra tình
huống khẩn cấp và cần thiết, và chỉ khi Tòa án quyết định ADBPKCTT thì nó mới
được áp dụng.
Theo nhà nghiên cứu Lê Tài Triển, tiêu chí để nhận định sự khẩn cấp của
VVDS là “đương sự sẽ bị thiệt hại một cách khơng chính đáng nếu việc giải quyết
u cầu khẩn cấp của đương sự bị kéo dài với thủ tục thường tụng, hay nói cách khác
thủ tục thường tụng khơng thích ứng vì q trì chậm để ngăn chặn thiệt hại khơng
chính đáng”6. Về vấn đề này, Chánh án Tịa sơ thẩm quyền rộng Paris Jean - Marie
Coulon cũng từng phát biểu: “Có những vụ việc phải đi theo một tiến trình chậm để
bảo vệ quyền lợi của những người khiếu kiện và đảm bảo tốt công tác tư pháp, giảm
bớt gánh nặng cho Tịa án. Có những vụ việc địi hỏi phải giải quyết nhanh chóng,
nếu khơng Thẩm phán sẽ bị coi là từ chối xét xử”7.
Trong khi biện pháp tố tụng thông thường được sử dụng để giải quyết các
VVDS theo trình tự tuần tự, qua các giai đoạn tố tụng để cuối cùng đưa ra quyết định
về tồn bộ nội dung của VVDS, thì các BPKCTT chỉ áp dụng cho một số VVDS đặc
biệt, mà Tòa án phải can thiệp và xử lý ngay để đảm bảo sự bảo vệ hoặc tránh thiệt
hại cho đương sự. Do đó, BPKCTT trong tố tụng được coi là một phương thức tố

Trường cán bộ Tòa án - Tòa án nhân dân tối cao (2004), Tài liệu tập huấn Bộ luật Tố tụng Dân sự, tr. 54.
Theo quy định của một số quốc giả (trong đó có Việt Nam), BPKCTT cịn có thể do cơ quan trọng tài thương
mại ra quyết định áp dụng. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của khóa luận chỉ tập trung nghiên cứu về
BPKCTT trong TTDS tại Tịa án mà khơng đi sâu nghiên cứu về BPKCTT trong tố tụng trọng tài nên thẩm
quyền quyết định áp dụng BPKCTT trong TTDS tại Toà là của TAND.
6
Lê Tài Triển (1968), Nhiệm vụ của Chánh thẩm tòa hộ, Nhoảm nghiên cứu và dự hoạch, Sài Gòn, tr. 110.
7
Trường Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia, tr. 11.
4
5



8

tụng đặc biệt, không được áp dụng để giải quyết toàn bộ nội dung của VVDS, mà chỉ
để giải quyết tình trạng khẩn cấp trong VVDS.
Thứ hai, dưới góc độ là một thủ tục TTDS. Ngoài cách tiếp cận trực tiếp và
cụ thể đã đề cập, một số nhà nghiên cứu khác cũng có quan điểm khác nhau. Đơn cử
như Thẩm phán Jean - Marie Coulon đã từng chỉ ra rằng: “Mục đích cuối cùng của
một phiên tịa là tìm ra được giải pháp cuối cùng để giải quyết tranh chấp, vì thế cần
phải xem xét đến tiến trình của vụ việc. Có những vụ việc phải được giải quyết theo
tiến trình bình thường, có những vụ việc địi hỏi phải được giải quyết nhanh chóng
để tìm ra biện pháp tối ưu”8. Khía cạnh “tiến trình” được đề cập ở đây có thể hiểu là
q trình, thủ tục giải quyết VVDS. Đối với các vụ việc có tính cấp bách, địi hỏi ứng
phó ngay lập tức do tình hình tại thời điểm đó, cần phải tìm ra một giải pháp tạm thời
để áp dụng trước, sau đó mới có thể tìm ra giải pháp cuối cùng để giải quyết tồn bộ
vụ việc. Từ góc nhìn này, khi nhắc đến BPKCTT trong thủ tục giải quyết VVDS,
chúng ta đề cập đến việc ADBPKCTT trong quá trình giải quyết VVDS, và cũng
đồng nghĩa với việc thực hiện một quy trình thủ tục TTDS do Tòa án tiến hành, nhằm
đưa ra quyết định về việc ADBPKCTT để giải quyết nhu cầu cấp bách của các bên
liên quan, nhằm bảo vệ chứng cứ, tài sản và đảm bảo sự thi hành án.
Tương tự quan điểm trên, PGS. TS Phạm Duy Nghĩa cũng một lần nữa khẳng
định “BPKCTT là một công đoạn tố tụng trong quy trình giải quyết VVDS nói chung,
nhưng thực chất BPKCTT là một trình tự quy định về quyền yêu cầu, thẩm quyền xem
xét và ban hành các quyết định tố tụng, các đảm bảo, quyền khiếu nại và đơn yêu cầu
đền bù thiệt hại nếu có. Quy trình này là một phần phụ, phái sinh, có tính chất chuẩn
bị, hỗ trợ cho thủ tục tố tụng chính đang được cơ quan tài phán thụ lý”9.
Thứ ba, dưới góc độ là các quy định của PLTTDS về BPKCTT. Theo lý luận
chung về Nhà nước và pháp luật, “Chế định pháp luật bao gồm một số quy phạm có
đặc điểm chung giống nhau nhằm điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội tương ứng”10.

Do đó, các BPKCTT cụ thể hoặc thủ tục ADBPKCTT đã được đề cập ở trên chỉ là
một phần trong chế định về BPKCTT trong PLTTDS. Để có một định nghĩa chính
Nhà pháp luật Việt - Pháp (2001), Nội dung trao đổi về một số điểm của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tài liệu
tham khảo hội thảo tổ chức ngày 27/06/2001, Hà Nội, tr. 33.
9
Phạm Duy Nghĩa (2003), “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng trọng tài”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp,
số 23, tr. 77.
10
Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản
Công an nhân dân, tr. 394.
8


9

xác về khái niệm BPKCTT trong PLTTDS, chúng ta cần nhìn nhận BPKCTT là một
quy định trong PLTTDS. Bởi lẽ, dù được nhìn nhận dưới góc độ nào đi chăng nữa,
thì BPKCTT cũng cần được quy định một cách chi tiết để Tịa án có cơ sở áp dụng
một cách hợp lý, chính xác.
Tóm lại, từ các cách giải thích và nhìn nhận trên, với góc độ là một chế định
pháp luật, BPKCTT có thể hiểu là “các biện pháp do pháp luật quy định, được Tòa
án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết VVDS nhằm bảo vệ kịp thời, hiệu
quả quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong quá trình TTDS”. Hướng nghiên
cứu này sẽ cho một cái nhìn tồn diện, tổng quan nhất, đồng thời sẽ giúp cho người
đọc tiếp cận vấn đề một cách rộng nhất. Đây sẽ là cơ sở để phân biệt chế định
BPKCTT với các chế định khác trong TTDS, không chỉ bảo vệ kịp thời quyền, lợi
ích của đương sự, mà còn đảm bảo được vai trò tất yếu của cơ quan Nhà nước trong
việc ổn định trật tự xã hội trong lĩnh vực dân sự nói chung.
Từ những phân tích tích, theo quan điểm của tác giả, có thể định nghĩa
BPKCTT như sau: “BPKCTT là thủ tục tố tụng đặc biệt được Tòa án áp dụng nhằm

tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài
sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo vệ tình trạng hiện có hoặc tránh gây
thiệt hại không thể khắc phục được, bảo đảm cho việc giải quyết nhanh chóng tình
thế khẩn cấp của VVDS”.
1.1.2. Đặc điểm của biện pháp khẩn cấp tạm thời
Thứ nhất, BPKCTT có tính khẩn cấp.
BPKCTT được áp dụng đối với những VVDS có tình thế khẩn cấp.
Đối với những quốc gia theo hệ thống luật án lệ (Mỹ là ví dụ điển hình), Giáo
sư James Clause khẳng định: “Tịa án Mỹ khơng thể tiến hành BPKCTT nếu như
khơng có nguyên đơn yêu cầu”11. Trong khi đó, với những quốc gia theo hệ thống
luật dân sự lại cho rằng: “Có trong tay hồ sơ vụ án, họ biết rõ đương sự đã nói gì, họ
đã nghiên cứu hồ sơ vụ việc”12, vì vậy mà Tịa án hồn tồn có thể nhận biết được
tình thế khẩn cấp của đương sự. Tại Việt Nam, pháp luật tuân theo hệ thống luật dân
Star-Việt Nam (2004), Các bài bình luận của Star Kèm theo bình luận về từng điều khoản của Star về Dự
thảo Bộ luật Tố tụng dân sự trình Tịa án nhân dân tối cao ngày 12/4/2004, tr. 20.
12
Viện nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (1994), Phân tích so sánh hai hệ thống luật Mỹ và Pháp,
Thông tin khoa học pháp lý Bộ Tư pháp tháng 10 năm 1994, tr.11.
11


10

sự và BPKCTT chỉ được áp dụng khi VVDS có sự khẩn cấp và được xác định bởi
yêu cầu của đương sự hoặc Tòa án. Khoản 1 Điều 111 BLTTDS 2015 cho phép đương
sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện
vụ án có quyền u cầu Tịa án đang giải quyết vụ án áp dụng một hay nhiều
BPKCTT, đây được xem là quyền của những chủ thể này trong quá trình Tịa án giải
quyết VADS. Tuy nhiên, quyền này khơng được áp dụng trong mọi trường hợp và sự
khẩn cấp được các định dựa trên yêu cầu của đương sự hoặc quyết định của Tòa án.

Nếu đương sự yêu cầu Tịa án ADBPKCTT, Tịa án sẽ thơng qua hồ sơ vụ án để xác
định yêu cầu ADBPKCTT có thực sự khẩn cấp hay không, nếu thực sự “nhu cầu áp
dụng biện pháp này là rất cấp bách”13, Tòa án mới xem xét để ra quyết định
ADBPKCTT.
BPKCTT được ban hành, áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ, thực hiện một cách nhanh
chóng, gấp rút.
Trong những tình huống khẩn cấp, cấp bách, Tịa án buộc phải ADBPKCTT
một cách nhanh chóng và gấp rút để bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự, tránh huỷ
hoại chứng cứ và tài sản thi hành án không bị tẩu tán. Theo đó, các cơ quan có thẩm
quyền cần quyết định ADBPKCTT ngay, không thể chậm trễ hay trì hỗn để nghiên
cứu, phân tích, đánh giá u cầu như trong các VVDS thông thường.
Tuy nhiên, xoay quanh vấn đề này cũng có nhiều ý kiến trái chiều. Theo đó,
có quan điểm cho rằng, chỉ cần đương sự cho rằng có tình thế khẩn cấp, u cầu Tịa
án can thiệp bằng BPKCTT thì Tịa án cần nhanh chóng ra quyết định ADBPKCTT14.
Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, mặc dù đương sự có u cầu khẩn cấp nhưng
Tịa án cũng chỉ quyết định ADBPKCTT sau khi đã có thời gian cần thiết để xem xét
kỹ các yêu cầu của đương sự theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật chứ không đơn
thuần là theo ý kiến đương sự15. Theo quan điểm của tác giả, Tòa án nên dành thời
gian để xem xét, đánh giá và phân tích yêu cầu ADBPKCTT nhằm hạn chế lạm dụng
quyền của đương sự. Tuy nhiên, thời gian xem xét, đánh giá và phân tích cần nhanh
chóng và gấp rút để giải quyết kịp thời tình thế khẩn cấp của vụ việc.

Nguyễn Bích Thảo (2008), “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu
trí tuệ tại Tịa án”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tr. 52.
14
Lê Tài Triển (1986), tlđd (6), tr. 111.
15
Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư pháp, tr. 282.
13



11

BPKCTT được thi hành rất khẩn trương, nhanh chóng.
Khác với bản án, quyết định giải quyết vụ án thông thường cần phải có thời
gian để Tịa án xem xét, quyết định áp dụng các BPKCTT nếu không được áp dụng
ngay có thể gây những thiệt hại khơng thể khắc phục được. Vì thế, khoản 1 Điều 139
BLTTDS 2015 đã quy định quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ BPKCTT phải có
hiệu lực thi hành ngay.
Thứ hai, BPKCTT có tính tạm thời.
Thực chất, BPKCTT chỉ là một biện pháp tạm thời để đối phó với tình trạng
khẩn cấp của VVDS “trong khi phiên tranh tụng chính chưa kết thúc”16. Do đó mà
quyết định ADBPKCTT của Tịa án cũng chỉ là tạm thời, khơng phải là quyết định
chính thức để giải quyết tồn bộ nội dung của VVDS. Khi tình trạng khẩn cấp đã qua
đi, BPKCTT sẽ khơng cịn cần thiết và quyết định ADBPKCTT sẽ được thay thế bằng
một quyết định chính thức để giải quyết tồn bộ nội dung VVDS. Quyền và nghĩa vụ
của các bên liên quan có thể thay đổi theo quyết định chính thức đó.
Sự tạm thời của BPKCTT trong TTDS còn được thể hiện qua việc, BPKCTT
đã được quyết định áp dụng sẽ khơng cịn hiệu lực khi có quyết định huỷ bỏ, thay đổi
BPKCTT. Điều này có nghĩa là khơng phải mọi quyết định huỷ bỏ hoặc thay đổi
BPKCTT sẽ chỉ có hiệu lực cho đến khi Tòa án đưa ra bản án hoặc quyết định chính
thức để giải quyết nội dung VVDS. Thay vào đó, có trường hợp quyết định
ADBPKCTT sẽ hết hiệu lực khi có quyết định huỷ bỏ hoặc thay đổi BPKCTT, trong
khi vẫn chưa có bản án hoặc quyết định chính thức để giải quyết VVDS đã được áp
dụng từ Tòa án.
PLTTDS Việt Nam trong vấn đề này mang nhiều nét tương đồng với Pháp.
Theo đó, BLTTDS Pháp cho rằng, đương sự có u cầu khẩn cấp thì việc giải quyết
yêu cầu khẩn cấp phải được thực hiện bằng một thủ tục độc lập (thủ tục phúc thẩm),
quyết định về BPKCTT cũng là một phán quyết cần được tuyên bố tại Tòa án. Phiên
tòa này sẽ chỉ tập trung xét xử về yêu cầu ADBPKCTT của đương sự, nhằm đưa ra

các giải pháp trước mắt, tạm thời, đáp ứng nhu cầu hiện có, thay vì xét xử nội dung

Nhà pháp luật Việt - Pháp (2008), Tài liệu tham khảo Hội thảo về đổi mới tổ chức hệ thống Tòa án, tổ chức
tại Hà Nội ngày 23 và 30/11/2008, tr. 78.
16


12

vụ kiện như các phiên tồ thơng thường khác17. Tuy nhiên, điểm khác biệt dễ thấy
nhất giữa hệ thống PLTTDS Việt Nam và Pháp chính là quyết định ADBPKCTT
khơng được thực hiện bởi một thủ tục tố tụng độc lập mà chỉ là quyết định tạm thời
của Tòa án để giải quyết tình thế cấp bách trước mắt.
Có thể khẳng định, các BPKCTT thường do một bên yêu cầu (thường là
ngun đơn), cịn Tịa án rất ít và dường như rất hiếm khi ra quyết định ADBPKCTT,
trừ một số trường hợp nhất định vì lý do nhân đạo, nhằm giải quyết tính cấp bách của
đương sự hoặc bảo tồn cho tài sản đang tranh chấp hoặc chứng cứ. Theo quy định
hiện hành, chỉ có Thẩm phán hoặc HĐXX sơ thẩm được quyền ADBPKCTT trong
quá trình giải quyết các VADS trong giai đoạn sơ thẩm và việc áp dụng đó phải phải
nhanh chóng, kịp thời nhưng vẫn phải đảm bảo tuân theo các điều kiện, trình tự thủ
tục do pháp luật quy định. Đặc điểm này được hình thành dựa trên nguyên tắc quyền
tự định đoạt của đương sự, việc ADBPKCTT trong việc giải quyết các VADS được
thực hiện dựa trên yêu cầu của đương sự là chủ yếu. Trên cơ sở quyền tự định đoạt
của đương sự, Tòa án sẽ ra quyết định thay đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ BPKCTT nếu
thấy BPKCTT đang được áp dụng là không phù hợp hoặc khơng cịn cần thiết.
Như vậy, tính tạm thời được thể hiện qua các dấu hiệu: (1) Chỉ là giải pháp,
cách xử lý tạm thời của Tòa án đưa ra trong một VVDS mang tính cấp bách, khẩn
cấp; (2) Khơng phải là quyết định chính thức, cuối cùng cho VVDS mà chỉ là quyết
định tạm thời; (3) Có thể bị thay đổi, huỷ bỏ bởi quyết định chính thức, cuối cùng khi
giải quyết VVDS.

Tóm lại, BPKCTT có hai đặc điểm cơ bản và quan trọng nhất, là tính khẩn cấp
và tính tạm thời. Hai thuộc tính này tồn tại song song, bổ trợ cho nhau, nhằm hạn chế
các hậu quả khơng đáng có trong q trình ADBPKCTT khơng chính xác, đồng thời
tạo sự cơng bằng, bình đẳng trong q trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các
đương sự.
1.1.3. Ý nghĩa của biện pháp khẩn cấp tạm thời
ADBPKCTT khơng chỉ có ý nghĩa pháp lý mà cịn có vai trò quan trọng trong
đời sống xã hội. Song, ý nghĩa cuối cùng mà BPKCTT hướng đến là nhằm đảm bảo

Nhà pháp luật Việt - Pháp (1998), Tài liệu tham khảo Hội thảo pháp luật tố tụng dân sự, tổ chức tại Hà Nội
ngày 7, 8/9/1998, tr. 34.
17


13

cho việc bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong VVDS. Theo
Luật sư Trần Hồng Phong, BPKCTT có ý nghĩa “bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
cho đương sự trong trường hợp khẩn cấp”18 và có ý nghĩa trong việc “góp phần đảm
bảo tính thực tế, thiết thực cho việc giải quyết vụ án”19. Điều này đã được đề cập đến
trong Điều 111 BLTTDS 2015, và được thể hiện dưới các góc độ như sau:
Thứ nhất, có ý nghĩa trong việc đảm bảo cho chứng cứ dùng để giải quyết
VVDS được bảo vệ và đảm bảo khả năng thi hành án.
BLTTDS 2015 quy định 16 BPKCTT cụ thể và 01 BPKCTT “mở”, và mỗi
BPKCTT được áp dụng lại thể hiện một khía cạnh ý nghĩa khác nhau. Có những
BPKCTT được áp dụng nhằm bảo quản hoặc xác lập chứng cứ20, có những BPKCTT
lại được áp dụng nhằm bảo toàn tài sản để phán quyết của Tịa án có khả năng được
thi hành trên thực tế21. Các biện pháp này rất quan trọng, bởi muốn bảo vệ được
quyền, lợi ích của đương sự thì vấn đề đầu tiên cần giải quyết là phải có chứng cứ
xác thực để chứng minh cho yêu cầu của đương sự. Nếu khơng có chứng cứ thì khơng

thể có căn cứ bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự. Trong quan niệm của nhiều quốc
gia, trong đó có Việt Nam, thì một trong những “đích đến” quan trọng của các
BPKCTT là nhằm bảo vệ chứng cứ, bảo đảm cho việc bảo quản hoặc xác lập chứng
cứ22. Nếu thực hiện tốt điều này, thì khả năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
đương sự trong VVDS mới được đạt được ở mức độ cao nhất.
Đồng thời, việc ADBPKCTT đúng đắn, chính xác và kịp thời cịn giúp bảo
tồn tài sản để phán quyết của Tòa án được thi hành. Bởi lẽ, thực tế có khơng ít những
vụ tranh chấp về tài sản, dù phán quyết của Tồ có đúng và chính xác đi chăng nữa,
nhưng tài sản để thi hành đã bị tẩu tán, huỷ hoại thì cũng khơng mang lại bất kỳ ý
nghĩa thực tế nào. Do đó, bên cạnh việc đảm bảo cho chứng cứ dùng trong VVDS nói
trên, thì việc đảm bảo thi hành phán quyết của Tịa án trên thực tế để bảo vệ quyền,
lợi ích của đương sự cũng cần được nhấn mạnh. Ví dụ như, trong pháp luật Trung
Quốc, có hai loại biện pháp được sử dụng là các biện pháp bảo toàn tài sản và các
Trần Hồng Phong, “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong vụ án kinh tế - dân sự”,
truy cập ngày 17/05/2023.
19
Lê Thu Hà (2006), Một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng, Nhà xuất bản Tư pháp,
tr. 116.
20
Ví dụ như biện pháp “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ”.
21
Ví dụ như biện pháp “Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong
tỏa tài sản ở nơi gửi giữ”.
22
Bộ luật Tố tụng dân sự Cộng hoà Pháp (1998), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, tr. 40.
18


14


BPKCTT. Theo đó, các biện pháp bảo tồn tài sản là nhằm tránh tình trạng khơng thể
hoặc khó thi hành án dân sự.
Thứ hai, có ý nghĩa trong việc đáp ứng ngay nhu cầu cấp bách của đương
sự để tránh những thiệt hại khơng đáng có về sức khỏe, tính mạng của đương sự.
Trong các khách thể được pháp luật bảo vệ, thì tính mạng, sức khoẻ của con
người ln là đối tượng được pháp luật đặt lên hàng đầu, bảo vệ nghiêm ngặt nhất,
do đó mà các BPKCTT cũng phải đảm bảo được điều này trong ý nghĩa của nó. Các
BPKCTT có thể can thiệp, bảo vệ ngay lập tức quyền, lợi ích cho một bên đương sự.
Trong đó có thể kể đến các biện pháp như: Buộc phải thực hiện trước một phần nghĩa
vụ cấp dưỡng, Buộc phải thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường về tính mạng,
sức khoẻ,... Các biện pháp này đã góp phần bảo vệ được tính mạng, sức khoẻ của con
người, nhằm ngăn chặn được các sự cố, thiệt hại không đáng có.
Như vậy, BPKCTT là một biện pháp do Tịa án quyết định áp dụng nhằm giải
quyết các nhu cầu cấp bách của đương sự, nhằm bảo vệ chứng cứ, bảo vệ toàn vẹn
hiện trạng của tài sản hoặc bảo đảm cho việc thi hành án mà mục đích cuối cùng là
hướng đến việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, mặc dù quyết định
ADBPKCTT chỉ là quyết định tạm thời. Qua đó có thể thấy, việc áp dụng các
BPKCTT một cách kịp thời, hợp lý có thể khắc phục được hậu quả, thiệt hại do hành
vi trái pháp luật gây ra, đồng thời có thể ngăn chặn được hành vi cố tình huỷ hoại
bằng chứng, nhằm làm gián đoạn, ngăn chặn việc thực thi pháp luật trên thực tế. Mặt
khác, nó cịn có tác dụng ngăn chặn kịp thời hành vi tẩu tán tài sản và bảo đảm thi
hành bản án, quyết định của Tòa án.
1.2. Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời
1.2.1. Yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
Thứ nhất, nhóm chủ thể có quyền u cầu Tịa án áp dụng các BPKCTT.
Căn cứ khoản 1 Điều 111 BLTTDS 2015, có thể chia chủ thể có quyền u
cầu Tịa án áp dụng các BPKCTT thành 03 nhóm như sau: (1) Đương sự; (2) Người
đại diện hợp pháp của đương sự; (3) Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy
định tại Điều 187 BLTTDS 2015.



15

So với BLTTDS 2004, các chủ thể có quyền yêu cầu Tịa án ADBPKCTT cơ
bản khơng có gì thay đổi về mặt bản chất, điểm khác biệt duy nhất là quy định cụ thể,
từ “đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, xã hội đã
khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức,
xã hội đã khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” thành
“đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, xã hội đã khởi
kiện vụ án quy định tại Điều 187 BLTTDS 2015”.
Như vậy, đương sự vẫn là chủ thể đầu tiên được ghi nhận quyền yêu cầu
ADBPKCTT. Theo khoản 1 Điều 68 BLTTDS 2015, đương sự trong VADS là cơ
quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan. Như vậy, đương sự (khơng phân biệt bị đơn có u cầu phản tố, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có u cầu độc lập hay khơng) đều có quyền u cầu
ADBPKCTT kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án. Tuy nhiên, với ghi nhận “trong quá trình
giải quyết vụ án” sẽ dễ dẫn đến cách hiểu là đương sự có quyền yêu cầu ADBPKCTT
chỉ có đương sự trong VADS. Vấn đề này sẽ được phân tích kỹ hơn trong Chương
tiếp theo của khóa luận.
Tiếp theo, cùng với đương sự trong VADS, Điều luật trên còn ghi nhận quyền
yêu cầu Tòa án ADBPKCTT của người đại diện hợp pháp của đương sự. Người đại
diện hợp pháp của đương sự trong TTDS có thể là người đại diện theo pháp luật hoặc
là người đại diện theo uỷ quyền, hoặc cũng có thể là người đại diện do Tòa án chỉ
định. Quy định này xuất phát từ đặc điểm của người đại diện là người thay đương sự
thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự. Nên nếu đương sự có quyền
u cầu Tịa án ADBPKCTT thì người đại diện hợp pháp của đương sự cũng có quyền
yêu cầu ADBPKCTT.
Cuối cùng, BLTTDS 2015 đã mở rộng và chi tiết hơn quyền yêu cầu Tòa án
ADBPKCTT cho cả cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187.

Theo đó, nhóm chủ thể này được ghi nhận xuất phát từ quy định tại Điều 187
BLTTDS 2015 trong việc ghi nhận quyền khởi kiện của một số tổ chức, cá nhân đặc
biệt, và họ có quyền như một đương sự. Quy định này nhằm giải quyết vấn đề giải
quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, để bảo vệ bằng chứng, bảo vệ tình trạng hiện
có hoặc để đảm bảo thi hành án.


16

Thứ hai, trường hợp đặc biệt Tòa án được tự mình ra quyết định
ADBPKCTT.
Về ngun tắc, Tịa án chỉ được quyết định ADBPKCTT khi có yêu cầu từ
người có quyền yêu cầu ADBPKCTT. Tuy nhiên, trong một số trường hợp do yêu
cầu của việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, Tịa án cũng có quyền
tự mình quyết định áp dụng các BPKCTT tại khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 114 BLTTDS
2015. Bao gồm: Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,
người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông
nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp
dưỡng; Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng,
sức khỏe bị xâm phạm; Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo
hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động
hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề
nghiệp cho người lao động; Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.
Nếu như trước đây, Điều 41 Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8 của Hội đồng Nhà
nước ngày 27 tháng 12 năm 1989 về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định Tịa
án có quyền tự mình áp dụng bất kỳ BPKCTT nào mà Tòa án thấy cần thiết, thì với
quy định như hiện nay đã giới hạn rõ quyền tự mình ADBPKCTT của Tịa án. Theo
đó, Tịa án chỉ có quyền tự mình áp dụng một số BPKCTT nêu trên. Việc giới hạn
phạm vi như vậy nhằm đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự và đồng thời hạn

chế khả năng lạm quyền của Tòa án trong việc ADBPKCTT.
1.2.2. Các biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
2015
Điều 114 BLTTDS 2015 liệt kê 16 BPKCTT, hơn nữa, khoản 17 Điều này liệt
kê một điều khoản mở về các BPKCTT khác mà luật có quy định. Trong các BPKCTT
khác đó có những biện pháp đã được quy định trong BLTTDS 2015, nhưng có những
biện pháp chưa được quy định cụ thể như biện pháp niêm phong, cấm di chuyển ra
khỏi một khu vực nhất định. Việc quy định tại khoản 17 Điều 114 tạo ra sự linh hoạt
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.


17

Biện pháp giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự,
người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trơng
nom, ni dưỡng, chăm sóc, giáo dục (khoản 1 Điều 114 BLTTDS 2015).
Nếu như trong BLTTDS 2004 chỉ quy định áp dụng đối với người chưa thành
niên, thì tại BLTTDS 2015 đã khắc phục hạn chế này bằng cách quy định bao quát
hơn, bổ sung thêm đối tượng được ADBPKCTT này bao gồm người mất năng lực
hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành vi. Biện pháp này
chỉ được áp dụng khi có yêu cầu của người có quyền yêu cầu hoặc do chính Tịa án
tự mình quyết định áp dụng trong trường hợp việc giải quyết vụ án có liên quan đến
những người nêu trên mà họ chưa có người giám hộ. Riêng đối với người chưa thành
niên từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người đó.
Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng (khoản 2 Điều 114
BLTTDS 2015).
So với quy định tại BLTTDS 2004, điều luật này khơng có gì thay đổi. Điều
kiện để được áp dụng biện pháp này là dựa trên cơ sở có u cầu hoặc do chính Tịa
án tự mình quyết định áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu cấp
dưỡng và yêu cầu đó là có căn cứ, nếu khơng thực hiện ngay thì sẽ ảnh hưởng đến

sức khoẻ, đời sống của người được cấp dưỡng.
Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng,
sức khỏe bị xâm phạm (khoản 3 Điều 114 BLTTDS 2015).
So với quy định tại BLTTDS 2004, điều luật này khơng có gì thay đổi. Biện
pháp này được áp dụng trên cơ sở có u cầu hoặc do chính Tịa án tự mình quyết
định áp dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu đòi bồi thường thiệt
hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm.
Buộc sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp,
tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động
(khoản 4 Điều 114 BLTTDS 2015).
Tại BLTTDS 2004, biện pháp này chỉ buộc người sử dụng lao động tạm ứng
tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp
cho người lao động. Đến BLTTDS 2015, biện pháp này đã bổ sung thêm đối với tiền


18

bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao
động hoặc bệnh nghề nghiệp. Biện pháp này được áp dụng trên cơ sở có u cầu hoặc
do chính Tịa án tự mình quyết định áp dụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
người lao động về tiền lương, tiền bảo hiểm, tiền bồi thường, tiền trợ cấp, chăm sóc
sức khỏe theo quy định của pháp luật.
Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động,
quyết định sa thải người lao động (khoản 5 Điều 114 BLTTDS 2015).
Ở BLTTDS 2004, biện pháp này chỉ được áp dụng đối với quyết định tạm đình
chỉ thi hành quyết định sa thải người lao động. Đến BLTTDS 2015, biện pháp này đã
được áp dụng cho cả quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Biện pháp
này được áp dụng trên cơ sở có yêu cầu hoặc do chính Tịa án tự mình quyết định áp
dụng nếu việc giải quyết vụ án có liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng lao

động, sa thải người lao động thuộc trường hợp người sử dụng lao động không được
thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc không được xử lý kỷ
luật sa thải đối với người lao động theo quy định của pháp luật về lao động.
Kê biên tài sản đang tranh chấp (khoản 6 Điều 114 BLTTDS 2015).
So với BLTTDS 2004, biện pháp này về cơ bản thì khơng có gì thay đổi. Biện
pháp này chỉ được áp dụng trên cơ sở có u cầu hoặc do chính Tịa án tự mình quyết
định áp dụng đối với tài sản có tranh chấp. Theo đó, Tịa án ra quyết định
ADBPKCTT kê biên đang tranh chấp khi có đủ các căn cứ sau:
+ Tài sản đang tranh chấp là đối tượng của quan hệ tranh chấp mà Tịa án đang
thụ lý giải quyết;
+ Có tài liệu, chứng cứ chứng minh người giữ tài sản đang tranh chấp có hành
vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản đó23.
Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp (khoản 7
Điều 114 BLTTDS 2015).
So với BLTTDS 2004, biện pháp này khơng có gì thay đổi. Đối với biện pháp
này, Tịa án khơng được tự mình áp dụng mà chỉ được áp dụng khi có yêu cầu của
Điều 7 Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP, Hướng dẫn áp dụng một số quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm
thời của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
23


19

người có quyền yêu cầu. Đồng thời, biện pháp này cũng được áp dụng đối với tài sản
đang tranh chấp. Trong khi biện pháp Kê biên tài sản đang tranh chấp phải thực hiện
hai công việc là (i) Thống kê, kê ra những tài sản của chủ thể và (ii) Tuyên bố cấm
chuyển dịch quyền đối với những tài sản đã kê đó, thì biện pháp Cấm dịch chuyển
chỉ thực hiện một công việc là tuyên bố cấm dịch chuyển quyền đối với tài sản của
một chủ thể xác định trước đó. Việc này sẽ được ghi nhận qua các giấy tờ, văn bản
cụ thể, không cần thiết phải kê khai ra, cũng như xác định chính xác tài sản đó là gì.

Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp (khoản 8 Điều 114 BLTTDS
2015).
Tương tự như hai biện pháp trên, so với BLTTDS 2004, biện pháp này cũng
khơng có gì thay đổi ở BLTTDS 2015, đồng nghĩa với việc, biện pháp này chỉ được
áp dụng khi có yêu cầu của người có quyền yêu cầu. Sự khác nhau ở biện pháp Cấm
thay đổi hiện trạng và biện pháp Cấm chuyển dịch là nằm ở chỗ, biện pháp Cấm
chuyển dịch là cấm thay đổi hiện trạng pháp lý bên ngồi của tài sản đang có tranh
chấp, cịn biện pháp Cấm thay đổi hiện trạng bên ngoài hướng tới việc cấm thay đổi
hiện trạng bên ngoài của tài sản đang tranh chấp. Nghĩa là, hiện trạng bên ngoài của
tài sản có thể bị tăng hoặc giảm giá trị nếu bị thay đổi. Do đó, Tịa án hồn tồn có
thể áp dụng biện pháp này thay cho biện pháp Cấm chuyển dịch tài sản đang tranh
chấp để bảo tồn tình trạng hiện có của tài sản đó.
Điều kiện áp dụng của biện pháp này là trong quá trình giải quyết vụ án có căn
cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo
gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó.
Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hoá khác (khoản 9
Điều 114 BLTTDS 2015).
Biện pháp này vốn dĩ được quy định lần đầu tiên tại Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự với tên gọi là “Biện pháp cho thu hoạch và bảo quản sản vật
liên quan đến việc tranh chấp”. Đến BLTTDS 2004 thì được sửa đổi cho phù hợp
hơn, và được giữ nguyên tại BLTTDS 2015. Biện pháp này được quy định là nhằm
đảm bảo khả năng thi hành án, cũng như tránh tình trạng hư hỏng, khơng cịn giá trị,
gây lãng phí của tài sản tranh chấp, tài sản có liên quan. Biện pháp này được áp dụng
nếu trong quá trình giải quyết vụ án có yêu cầu của người có quyền yêu cầu
ADBPKCTT này và tài sản tranh chấp trong vụ án là hoa màu hoặc liên quan đến tài


×