Tai Lieu Chat Luong
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
QUỐC HỘI
VIỆT NAM
NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHÁP
HÀ NỘI - 2005
LỜI GIỚI THIỆU
Thiết thực chào mừng Kỷ niệm 60 năm Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1946 -2006) và kỷ niệm 5 năm ngày
thành lập Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (2000-2005), dưới sự chỉ đạo
của Văn phịng Quốc hội Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp biên soạn và
xuất bản cuốn sách “Quốc hội Việt Nam – những vấn đề lý luận và
thực tiễn”.
Là diễn đàn về nhà nước, pháp luật và chính sách, Tạp chí Nghiên
cứu Lập pháp đã hướng trọng tâm hoạt động vào nghiên cứu, thông
tin những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của Quốc hội. 5
năm qua – khoảng thời gian chưa phải là dài đối với một tạp chí khoa
học, nhưng trên các số ra hàng tháng và các số chuyên đề đã có tới
hàng trăm bài, với hàng ngàn trang viết về Quốc hội của các tác giả là
những nhà lãnh đạo Đảng, lãnh đạo Nhà nước, các nhà khoa học, nhà
quản lý, luật gia và những người làm cơng tác thực tiễn. Có thể tự hào
rằng, đây là kết quả mà khơng nhiều tạp chí có được. Điều này góp
phần làm nên bản sắc, diện mạo riêng của Tạp chí Nghiên cứu Lập
pháp.
Những bài viết về Quốc hội trên Tạp chí trong 5 năm qua ln bám
sát q trình phát triển của Quốc hội Việt Nam, đưa ra nhiều luận
điểm khoa học và bài học thực tiễn, góp phần vào q trình đổi mới
của Quốc hội, nhất là trong những dịp sửa đổi Hiến pháp năm 1992,
ban hành Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 và các Nghị quyết của
Quốc hội về quy chế hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc
2
hội. Những bài viết này được các đại biểu Quốc hội, các đồng chí
lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học quan tâm và đánh giá
cao. Nhiều vấn đề được nêu trong các bài viết đã đi vào cuộc sống,
được chấp nhận và được hiện thực hóa bằng những mơ hình tổ chức
và quy trình hoạt động mới của Quốc hội. Nhiều vấn đề đã và đang
tiếp tục được nghiên cứu để vận dụng vào quá trình xây dựng, hoàn
thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội.
Ngoài ra, những bài viết này cũng góp phần vào quá trình hồn
thiện lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và
phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học chính trị - pháp lý.
Vì vậy, việc tập hợp có hệ thống và chọn lọc những bài viết về
Quốc hội đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp trong 5 năm qua
vào cuốn sách Quốc hội Việt Nam – những vấn đề lý luận và thực
tiễn là một việc làm cần thiết. Cuốn sách sẽ như một cơng trình khoa
học về Quốc hội Việt Nam. Chúng tơi hy vọng cuốn sách sẽ được các
đồng chí lãnh đạo, các đại biểu Quốc hội, những người làm công tác
thực tiễn cũng như các nhà nghiên cứu, cán bộ giảng dạy và mọi đối
tượng quan tâm đến Quốc hội đón nhận như một tài liệu tham khảo
hữu ích.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Hà Nội, tháng 12 năm 2005
TS. Bùi Ngọc Thanh
ỦY VIÊN ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
CHỦ NHIỆM VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
3
MỤC LỤC
Lời giới thiệu
2
Phần I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUỐC HỘI
VÀ LỊCH SỬ QUỐC HỘI
Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội ở nước ta
hiện nay
11
Trần Ngọc Đường
Quyền lực của Quốc hội
23
Phạm Văn Hùng
“Quyết” ở Quốc hội
35
Nguyễn Sĩ Dũng
Tư tưởng Hồ Chí Minh về việc tổ chức và xây dựng Quốc hội thực hiện
quyền lực của nhân dân
39
Phạm Văn Hùng
Bàn về tính đại diện nhân dân của Quốc hội
61
Nguyễn Quang Minh
4
Những bước đổi mới Quốc hội trong lịch sử lập hiến Việt Nam và vấn đề
tăng cường tổ chức, hoạt động của Quốc hội ở nước ta hiện nay
71
Lê Minh Thơng
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đối với việc tổ chức cơ
quan lập hiến và sự ra đời của Quốc hội đầu tiên ở Việt Nam
93
1
Trần Duy Khang
Đồng chí Nguyễn Văn Linh với đổi mới hoạt động của Quốc hội
118
Nguyễn Như Du
Đồng chí Võ Chí Công với đổi mới hoạt động của Quốc hội
125
Nguyễn Như Du
Đổi mới - từ những việc cụ thể
131
Trần Ngọc Vừng
Phần II
ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
VÀ TỔ CHỨC BỘ MÁY QUỐC HỘI
Đại biểu Quốc hội chuyên trách hay chuyên nghiệp?
136
Nguyễn Sĩ Dũng
Đại biểu Quốc hội chuyên trách: Một số suy nghĩ về tăng cường năng lực
hoạt động
141
Ngô Đức Mạnh
5
1
Lời hứa trang trọng của đại biểu quốc hội trước nhân dân
150
Nguyễn Vân Bình
Chương trình hành động đại biểu Quốc hội
154
Nguyễn Đình Tập
Một số yếu tố tác động tới hiệu quả hoạt động của Đại biểu Quốc hội
160
Đặng Đình Luyến
Đại biểu Quốc hội với việc sử dụng thông tin tư vấn
168
Vũ Minh Hồng
Quốc hội và Chính phủ - một số luận điểm về tổ chức
175
Ngơ Huy Cương
Kiện tồn tổ chức bộ máy quốc hội
187
Trịnh Đức Thảo
Hoàn thiện tổ chức và đổi mới nội dung hoạt động của các cơ quan chun
mơn của Quốc hội
193
Bùi Ngọc Thanh
Vị trí, vai trị và chức năng của đoàn đại biểu Quốc hội
204
Nguyễn Hoài Nam
Về mơ hình cơ quan giúp cơng tác xây dựng luật, pháp lệnh
216
Nguyễn Văn Thuận
6
Phần III
HOẠT ĐỘNG QUỐC HỘI
Nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội
228
Mai Hồng Quỳ
Để tiến tới chuyên nghiệp
240
Nguyễn Đức Lam
Quốc hội khóa X: 5 năm - cái nhìn của những người trong cuộc
257
NCLP
Thủ tục làm việc của Quốc hội: những yêu cầu và nguyên tắc chung
272
Nguyễn Đức Lam
Dân chủ - từ một kỳ họp
287
Khánh Vân
Quốc hội Việt Nam với các diễn đàn nghị viện đa phương
293
Nguyễn Chí Dũng
Đổi mới các công đoạn làm luật và đưa luật vào cuộc sống
303
Nguyễn Văn An
Một số vấn đề về nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội 309
Nguyễn Văn Yểu
Tăng cường hoạt động lập pháp của Quốc hội
320
Nguyễn Đình Quyền
7
Một số suy nghĩ về đổi mới quy trình lập pháp của Quốc hội
332
Ngô Đức Mạnh
Một số vấn đề về sáng kiến lập pháp
343
Ngô Trung Thành
Tăng sự cẩn trọng trong hoạt động lập pháp của Quốc hội
356
Nguyễn Đăng Dung
Thẩm quyền của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về việc giải thích Hiến pháp,
luật, pháp lệnh
363
Hồng Văn Tú
Trao đổi về quy trình quyết định các vấn đề quan trọngtrong hoạt động của
Quốc hội
378
Nguyễn Quốc Thắng
Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, bảo đảm quyền quyết định tài
chính - ngân sách của Quốc hội
383
Đặng Văn Thanh
Quyền giám sát tối cao của Quốc hội và quyền giám sát của các cơ quan
của Quốc hội
391
Trần Ngọc Đường
Về giám sát của quốc hội
408
Nguyễn Thái Phúc
Hoạt động giám sát của quốc hội các nước và ở nước ta
418
Lê Thanh Vân
8
Trao đổi về hoạt động giám sát của Quốc hội
432
Hoàng Duy – Hoàng Minh Hiếu
Hoạt động giám sát của Quốc hội đối với văn bản pháp luật
442
Bùi Xuân Đức
Giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách
452
Nguyễn Chí Dũng
Một vài suy nghĩ về hoạt động chất vấn của Quốc hội
467
Trần Tuyết Mai
Hoạt động chất vấn - Nhìn từ thực tế một kỳ họp Quốc hội
473
Nguyên Thành
Bỏ phiếu tín nhiệm - Bàn về thủ tục khả thi
480
Vũ Văn Nhiêm
9
Phần I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ
QUỐC HỘI VÀ LỊCH SỬ QUỐC HỘI
10
Phần I
Lý luận chung về Quốc hội và lịch sử Quốc hội
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
ĐỐI VỚI QUỐC HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY ∗
PGS, TS. Trần Ngọc Đường **
Phó Chủ nhiệm Văn phịng Quốc hội
Phó Trưởng Ban Công tác lập pháp
của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
1. Đặc trưng cơ bản về sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
1.1 Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội là sự lãnh đạo đối với cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân
dân
Theo Hiến pháp, Quốc hội có vị trí đặc biệt quan trọng. Vị trí đặc biệt đó
thể hiện sâu sắc hai tính chất sau đây:
- Một là, Quốc hội là cơ quan cao nhất của nhân dân.
- Hai là, Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất.
Ở nước ta, “tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân”. Như vậy,
nhân dân là chủ thể mang quyền lực Nhà nước. Tuy nhiên, muốn sử dụng
∗
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 2/2005.
Hiện là Giáo sư, Phó Chủ nhiệm Văn phịng Quốc hội, Phó Trưởng Ban Cơng tác lập
pháp của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Văn
phòng Quốc hội.
**
11
Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Quốc hội ở nước ta hiện nay
quyền lực Nhà nước của mình, nhân dân phải được tổ chức lại dưới hình
thức Nhà nước. Quốc hội chính là cơ quan Nhà nước cao nhất, thơng qua
đó nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước của mình. Thơng qua Quốc hội, ý
chí của nhân dân trở thành ý chí của Nhà nước thể hiện bằng các đạo luật
mang tính bắt buộc chung. Cũng thông qua Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước,
thành lập Chính phủ, bầu ra Chánh án Tịa án nhân dân tối cao và Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Các cơ quan này tổ chức và hoạt
động theo chức năng, nhiệm vụ do Hiến pháp quy định, chịu trách nhiệm và
báo cáo công tác trước Quốc hội. Quốc hội giám sát toàn bộ mọi hoạt động
của bộ máy Nhà nước.
Với vị trí đặc biệt nói trên của Quốc hội trong bộ máy Nhà nước ta, đòi
hỏi phương thức lãnh đạo của Đảng phải phù hợp với vị trí đó, bảo đảm
phát huy được vai trị là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cơ quan đại
biểu cao nhất của nhân dân, bảo đảm cho ý chí của Đảng và lòng dân do
Quốc hội đại diện là thống nhất với nhau, Quốc hội mạnh và thực quyền
chính là Đảng mạnh.
1.2 Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội là sự lãnh đạo đối với một thể
chế tạo lập nền tảng chính trị - pháp lý cho sự tồn tại và phát triển của
Nhà nước và xã hội ta
Quốc hội nước ta ra đời và tồn tại trước hết là để tạo lập nền tảng chính
trị - pháp lý cho sự tồn tại và phát triển của Nhà nước và xã hội. Nhờ vai trị
này mà tồn bộ tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước được xây dựng,
củng cố và hoàn thiện dựa trên nền tảng chính trị - pháp lý vững chắc.
Hơn nửa thế kỷ qua với 11 khóa Quốc hội, ở nước ta đã có bốn bản Hiến
pháp và nhiều đạo luật, pháp lệnh, trong đó có những bộ luật lớn như Bộ
luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân
sự, … làm nền tảng chính trị - pháp lý khơng những cho tổ chức và hoạt
động của bộ máy Nhà nước mà còn là cơ sở pháp lý cho sự tồn tại và phát
triển các quan hệ kinh tế hiện nay. Chỉ tính riêng Quốc hội các khóa trong
12
Phần I
Lý luận chung về Quốc hội và lịch sử Quốc hội
thời kỳ đổi mới đã thông qua được 93 bộ luật và đạo luật và Uỷ ban thường
vụ Quốc hội thông qua 124 pháp lệnh.
Như vậy, thực tiễn chỉ ra rằng, muốn xây dựng và củng cố vững chắc
nền tảng chính trị - pháp lý của đất nước khơng thể không ngừng chăm lo
xây dựng và củng cố Quốc hội, phát huy vai trò của Quốc hội trong việc
thực hiện các chức năng lập hiến và lập pháp; quyết định những vấn đề
trọng đại của đất nước, giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Để giữ vững vai trị đó, địi hỏi khơng ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng để Quốc hội phát huy được đầy đủ vai trị nói trên.
1.3 Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội là sự lãnh đạo đối với một thể
chế vừa là Nhà nước vừa là nhân dân
Khác với các cơ quan nhà nước khác, Quốc hội có hai tư cách: Quốc hội
vừa có tư cách nhân dân vừa có tư cách nhà nước. Với tư cách là nhân dân,
trong quá trình hoạt động của mình, Quốc hội ln thể hiện ý chí, nguyện
vọng của nhân dân, nói tiếng nói của nhân dân trong mối quan hệ với các
cơ quan Nhà nước khác. Đồng thời, thông qua Quốc hội, nhân dân lại có
điều kiện tham gia trực tiếp một cách rộng rãi, có hiệu lực và có hiệu quả
vào các hoạt động của Nhà nước.
Với tư cách là Nhà nước, Quốc hội chính là nhân dân được thống nhất
lại dưới hình thức Nhà nước, được nhân dân ủy quyền thực hiện quyền lực
Nhà nước trong mối quan hệ với các cơ quan Nhà nước khác và với chính
mình. Vì thế, có thể nói, Quốc hội vừa là nơi thực hiện và thể hiện chế độ
dân chủ đại diện (dân chủ thông qua ủy quyền) và vừa là nơi thể hiện và
thực hiện dân chủ trực tiếp (thông qua Quốc hội, nhân dân thể hiện trực tiếp
ý chí của mình). Sự kết hợp giữa dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, một
mặt được thể hiện và thực hiện thông qua hoạt động của người đại biểu
nhân dân trong và ngồi kỳ họp, mặt khác cịn thơng qua tính tích cực của
nhân dân trong việc tham gia các hoạt động của Quốc hội. Quốc hội cũng là
nơi để nhân dân lao động “học” và “tập làm” dân chủ. Vì thế, xây dựng và
phát huy vai trị của Quốc hội phải được coi là một quy luật phát triển của
13
Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Quốc hội ở nước ta hiện nay
Nhà nước dân chủ. Đúng như V.I.Lênin đã nói, khơng thể quan niệm một
nền dân chủ mà lại khơng có cơ quan đại diện 1 .
Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng phải phù hợp với
tính nhân dân và tính nhà nước kết tinh trong tổ chức và hoạt động của
Quốc hội, bảo đảm cho hoạt động của Quốc hội thể hiện mạnh mẽ quyền
lực nhà nước thuộc về nhân dân, vừa thể hiện ngày càng sâu sắc nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa. Tổ chức và hoạt động của Quốc hội phù hợp với ý chí
và nguyện vọng của nhân dân chính là nơi nhân dân thừa nhận và đánh giá
sự lãnh đạo của Đảng.
1.4 Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội là sự lãnh đạo đối với một tổ
chức thể hiện sinh động hình ảnh “nhân dân thu nhỏ” 2 và hiện thân của
sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân được thống nhất lại
dưới hình thức Nhà nước
Sở dĩ Quốc hội kết tinh được những tinh hoa đó, bởi vì từ khi ra đời cho
đến nay, Quốc hội được xây dựng, củng cố và phát triển dựa trên cơ sở xã
hội rất rộng lớn, bao gồm các giai cấp, các tầng lớp trong cộng đồng nhân
dân và dân tộc Việt Nam.
Với quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân và chế độ bầu cử tự do, tiến
bộ, thành phần đại biểu được bầu vào Quốc hội qua các khóa ngày càng thể
hiện chân thực hình ảnh “nhân dân thu nhỏ”. Ngồi đại biểu của các giai
cấp công nhân và nông dân; nhiều nhân sĩ trí thức, nhiều nhà hoạt động tơn
giáo, nhiều người thuộc tầng lớp trên đã được bầu vào Quốc hội. Điều đó
nói lên Quốc hội nước ta khơng chỉ là cơ quan quyền lực Nhà nước cao
nhất của riêng giai cấp cơng nhân, nơng dân và tầng lớp trí thức mà còn là
của cả cộng đồng nhân dân với các giai cấp tầng lớp khác nhau trong xã
hội, thể hiện sâu sắc bản chất nhân dân của Nhà nước ta. Đúng như Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: “Đó là một truyền thống quý báu của
1
2
V.I. Lênin: Tuyển tập, tập 33, tr. 57.
Lời nói đầu Hiến pháp năm 1946.
14
Phần I
Lý luận chung về Quốc hội và lịch sử Quốc hội
Quốc hội ta, một ưu điểm cơ bản của chế độ ta”. Từ đó có thể khẳng định
rằng, phát huy vai trị của khối đại đồn kết dân tộc, sức mạnh của nhân
dân, không thể không đề cao và phát huy vai trò của Quốc hội. Ngược lại,
coi thường và hạ thấp vị trí và vai trị của Quốc hội chính là xem thường và
hạ thấp vai trị của nhân dân trong tổ chức và thực thi quyền lực Nhà nước,
trong việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị của đất nước dưới sự lãnh
đạo của Đảng, đồng thời làm cho bộ máy Nhà nước xa rời bản chất của
nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Vì vậy, đổi mới nội dung và
phương thức lãnh đạo của Đảng sao cho phát huy và tăng cường tính nhân
dân trong tổ chức cũng như hoạt động của Quốc hội. Để làm điều đó, trước
hết cần đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trên các vấn đề liên quan đến bầu cử,
ứng cử, vấn đề về nhân sự cấp cao trong bộ máy Nhà nước thuộc thẩm
quyền của Quốc hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc chuyển Quốc
hội từ hoạt động hình thức sang hoạt động thực quyền.
2. Tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
2.1 Các quan điểm tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo
của Đảng đối với Quốc hội
Quan điểm chung là Đảng phải tiếp tục đổi mới về nội dung và phương
thức lãnh đạo, phải đi đầu trong đổi mới với những bước đi thích hợp, phù
hợp với đặc điểm của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước.
- Đảng ta là Đảng cầm quyền, là Đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và
xã hội. Vì vậy, khi đặt vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với Quốc hội phải được xem xét trong mối quan hệ Đảng không chỉ lãnh
đạo Quốc hội mà lãnh đạo tất cả bộ máy Nhà nước và xã hội. Vì vậy, nội
dung và phương thức lãnh đạo của Đảng không thể tách rời với nội dung và
phương thức lãnh đạo bộ máy Nhà nước và xã hội nói chung. Tuy nhiên, tổ
chức và hoạt động của Quốc hội có những đặc trưng khác so với các cơ
quan trong bộ máy Nhà nước nên nội dung và phương thức lãnh đạo của
15
Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Quốc hội ở nước ta hiện nay
Đảng đối với Quốc hội có những nét đặc thù riêng biệt. Khơng thể rập
khn, máy móc sử dụng một phương thức lãnh đạo giống nhau cho các cơ
quan Nhà nước khác nhau.
- Đảng lãnh đạo Quốc hội, do nhân dân bầu ra, các vị đại biểu Quốc hội
đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân lao động cả nước. Vì thế,
Đảng lãnh đạo vừa luôn luôn phải tôn trọng và phát huy vai trị của Quốc
hội, khơng xem mình đứng trên Quốc hội, áp đặt nội dung lãnh đạo của
mình, lại vừa phải là lực lượng tiên phong hướng dẫn, định hướng nội dung
và phương thức hoạt động của Quốc hội. Phải chỉ rõ phạm vi và nội dung
lãnh đạo, bao gồm những vấn đề gì và đến mức độ nào.
- Đảng lãnh đạo, chứ Đảng không chỉ đạo công việc cụ thể của Quốc
hội. Đảng lãnh đạo nhưng phải thực sự tôn trọng Quốc hội với tư cách là cơ
quan dân cử, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Phải thừa nhận về
phương diện chính trị và pháp lý rằng, Quốc hội chính là cơ quan được
nhân dân chính thức giao quyền lực Nhà nước và nhân dân thực hiện quyền
lực Nhà nước thông qua Quốc hội.
- Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
phải bảo đảm cho nền tảng chính trị - pháp lý của quốc gia phát triển bền
vững, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Quốc hội và nhân
dân.
Bất cứ đảng cầm quyền nào cũng khơng muốn mất đi quyền lãnh đạo
của mình hay rơi vào nguy cơ mất quyền lãnh đạo. Việc mất quyền lãnh
đạo có thể xảy ra một khi chính trị khơng ổn định. Quốc hội là nền tảng
chính trị - pháp lý cho một quốc gia. Nền tảng đó khơng vững chắc chính là
nơi nảy sinh mất ổn định.
Vì thế, đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
Quốc hội sao cho Quốc hội ngày càng thực hiện tốt các chức năng lập hiến,
lập pháp; giám sát tối cao và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước,
góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nhân dân phấn khởi, hăng say
16
Phần I
Lý luận chung về Quốc hội và lịch sử Quốc hội
và an tâm lao động, đầu tư và mở rộng sản xuất kinh doanh, ngày càng
đồn kết, gắn bó, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Quốc
hội.
2.2 Tiếp tục đổi mới nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
Đảng lãnh đạo Nhà nước nói chung và Quốc hội nói riêng là nguyên tắc
hiến định, song nội dung lãnh đạo bao gồm những vấn đề gì và bằng
phương thức nào ln là vấn đề đặc biệt quan trọng mà Đảng phải tìm tịi
sáng tạo và sử dụng hợp lý phù hợp với từng thời kỳ cách mạng. Việc xác
định nội dung lãnh đạo bao gồm những gì và việc sử dụng những phương
thức nào để đạt hiệu quả cao nhất luôn luôn là hai vấn đề liên quan mật
thiết với nhau. Mỗi nội dung lãnh đạo cần phải được chuyển tải bằng những
phương thức tương thích với nó. Về hoạt động lập pháp, sự lãnh đạo của
Đảng bao gồm một số nội dung cơ bản sau:
a. Lãnh đạo, định hướng hoạt động lập hiến, lập pháp
Trước hết, cần phải khẳng định rằng, đường lối chính sách của Đảng thể
hiện trong các nghị quyết, quyết định của Đảng là nguồn của pháp luật
nước ta. Do đó, đường lối chính sách của Đảng là định hướng nội dung và
là cơ sở chính trị của pháp luật. Pháp luật là sự thể chế hoá đường lối, chủ
trương của Đảng thành các quy tắc có tính bắt buộc chung.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đường lối không thể chế hố thành
pháp luật thì sự lãnh đạo khơng trở thành sức mạnh vật chất, sức mạnh có
tính bắt buộc chung đối với xã hội. Như vậy, Đảng không thể lãnh đạo
được đối với Nhà nước và xã hội. Điều đó cho thấy rằng, nếu chủ trương,
đường lối của Đảng càng hoàn thiện, càng cụ thể, minh bạch, phù hợp với
thực tiễn khách quan của đất nước thì việc thể chế hố thành pháp luật là
đúng đắn, càng có khả năng điều chỉnh các quan hệ xã hội, do vậy, sự lãnh
đạo của Đảng càng được tăng cường.
17
Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Quốc hội ở nước ta hiện nay
Trên cơ sở các nội dung thể hiện đường lối của Đảng trong từng thời kỳ,
Quốc hội với chức năng lập hiến và lập pháp của mình thể chế hóa thành
các văn bản quy phạm pháp luật tương ứng.
Sự lãnh đạo mang tính định hướng của Đảng đối với hoạt động lập pháp
trước hết là sự chỉ đạo trong việc xây dựng kế hoạch, chương trình lập
pháp. Cùng với điều đó, nghị quyết của Đảng cần định hướng một số nội
dung thuộc về quan điểm như chính sách về đất đai, về kinh tế thị trường
nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, về cải cách tư pháp xây
dựng nhà nước pháp quyền…
b. Lãnh đạo việc xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ cho công tác lập pháp
Đây là một nội dung lãnh đạo quan trọng để nâng cao chất lượng của
hoạt động lập pháp. Hoạt động lập pháp do nhiều người, nhiều chủ thể khác
nhau tham gia. Sản phẩm của nó là sự kết tinh trí tuệ của nhiều cơ quan, tổ
chức và cá nhân. Vì thế lãnh đạo cơng tác tổ chức và nhân sự là một nội
dung quan trọng về sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội. Cần coi trọng
nội dung lãnh đạo này để sớm hình thành tổ chức bộ máy và đội ngũ cán
bộ, chuyên gia giỏi phục vụ hoạt động lập pháp đáp ứng đòi hỏi tăng nhanh
về số lượng, cao về chất lượng các dự án luật và pháp lệnh phục vụ nhiệm
vụ phát triển, hội nhập và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
c. Lãnh đạo việc ban hành các đạo luật và pháp lệnh cụ thể
Như phần đầu của mục này đã trình bày, Đảng thơng qua các nghị quyết
của mình để lãnh đạo, định hướng hoạt động lập pháp về nội dung và
chương trình kế hoạch. Lãnh đạo bằng cách đó, mang tính chỉ đạo chung.
Cùng với điều đó, Đảng cịn lãnh đạo một cách cụ thể hơn bằng định hướng
nội dung đối với từng đạo luật, pháp lệnh cụ thể.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với từng đạo luật, pháp lệnh cụ thể là cần
thiết, tuy nhiên, để đẩy nhanh tiến độ xây dựng luật và pháp lệnh đồng thời
không sa vào công việc cụ thể của Nhà nước cũng cần phải đổi mới nội
dung lãnh đạo của Đảng theo hướng đề cao trách nhiệm của Đảng đoàn
18
Phần I
Lý luận chung về Quốc hội và lịch sử Quốc hội
Quốc hội và Ban cán sự Đảng Chính phủ, của cá nhân và cơ quan có thẩm
quyền trong các giai đoạn của quy trình lập pháp.
d. Lãnh đạo Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước
Quốc hội theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật Tổ chức Quốc hội
hiện hành có nhiệm vụ và quyền hạn: quyết định kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội, chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, quyết định chính sách dân
tộc, tơn giáo, quyết định tổ chức, nhân sự bộ máy Nhà nước…
Để các quyết định lãnh đạo của mình được thực hiện, phù hợp với ý chí
và nguyện vọng của nhân dân thơng qua việc ủy thác cho các Đại biểu
Quốc hội cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng sao cho ý
Đảng lòng dân thống nhất là một theo một quy trình dân chủ, cởi mở, minh
bạch, khơng gị bó, áp đặt, lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhau.
đ. Lãnh đạo Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao toàn bộ hoạt
động của Nhà nước
Nội dung cơ bản của lãnh đạo Quốc hội thực hiện chức năng giám sát đó
là lãnh đạo, chỉ đạo việc khắc phục những thiếu sót của quản lý nhà nước
do giám sát phát hiện ra. Giám sát tối cao của Quốc hội chủ yếu tập trung
giám sát ở tầng cao nhất của bộ máy nhà nước, nhất là giám sát Chính phủ.
Vì thế, giám sát tối cao muốn nâng cao hiệu lực và hiệu quả, thì hậu quả
pháp lý của nó phải là các nghị quyết trong đó xác định trách nhiệm của tổ
chức và cá nhân là một nội dung quan trọng. Những cá nhân thuộc đối
tượng giám sát tối cao của Quốc hội là những người nắm giữ những trọng
trách cao nhất trong bộ máy nhà nước. Vì thế, sự lãnh đạo của Đảng trong
việc xác định trách nhiệm cá nhân - hậu quả pháp lý của giám sát tối cao
phải được xem là một nội dung quan trọng trong sự lãnh đạo của Đảng đối
với Quốc hội. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã mở rộng thẩm quyền cho
Quốc hội trong việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người do Quốc hội
bầu hoặc phê chuẩn, thì sự lãnh đạo của Đảng cũng phải được mở rộng để
Quốc hội có điều kiện thực hiện thẩm quyền này.
19
Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Quốc hội ở nước ta hiện nay
2.3 Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng với Quốc hội
Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội là cách thức, quy
trình, phương pháp mà Đảng sử dụng để lãnh đạo Quốc hội thực hiện
những nội dung lãnh đạo của mình.
Các phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và
Quốc hội nói riêng đã được Đảng tổng kết và được thực hiện trong thực
tiễn. Đối với những phương thức lãnh đạo này cần tiếp tục hoàn thiện và
nâng cao chất lượng, phù hợp với đặc thù về tổ chức và hoạt động của Quốc
hội.
- Về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội bằng đường lối,
quan điểm, các nghị quyết, các quyết định, chỉ thị, các nguyên tắc về các
vấn đề hệ trọng của đất nước.
Cần tiếp tục nâng cao chất lượng của các nghị quyết, quyết định, chỉ thị
của Đảng. Các nghị quyết hay quyết định càng đi sâu vào từng lĩnh vực của
đời sống xã hội, càng ổn định lâu dài, càng rõ ràng, minh bạch thì Quốc hội
càng chuyển tải đầy đủ, chính xác trong q trình thể chế hố Hiến pháp,
luật và pháp lệnh.
- Về phương thức lãnh đạo, thơng qua Đảng đồn Quốc hội, các Đảng
viên là Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Đại biểu Quốc hội.
Trong điều kiện đổi mới hiện nay, để ý Đảng và lịng dân là một, việc
tiếp tục hồn thiện và nâng cao chất lượng của phương thức lãnh đạo này
đòi hỏi các quyết định lãnh đạo của Đảng phải mềm dẻo, linh hoạt; tránh áp
đặt cứng nhắc. Đặc biệt trong việc lãnh đạo về tổ chức nhân sự, Đảng phải
cung cấp đầy đủ thông tin để Quốc hội quyết định một cách thực chất; tránh
cung cấp thông tin một chiều, mang ý nghĩa chính trị chung chung và xem
nhẹ các thông tin về kinh tế, xã hội. Đồng thời không ấn định một chiều chỉ
đơn điệu một phương án, để từ đó thơng qua Đảng đồn Quốc hội thuyết
phục đại biểu thơng qua một phương án đó. Làm như thế sẽ dẫn Quốc hội
20
Phần I
Lý luận chung về Quốc hội và lịch sử Quốc hội
đến hoạt động hình thức, thụ động, khơng thể hiện được đầy đủ ý chí và
nguyện vọng của nhân dân.
- Đảng lãnh đạo bằng phương thức kiểm tra, giám sát các hoạt động của
Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội.
Đây cũng là phương thức lãnh đạo có tính truyền thống nhưng thực ra
hiệu lực và hiệu quả cịn hạn chế. Vì thế, cần xây dựng một cơ chế kiểm tra,
giám sát một cách hữu hiệu. Cơ chế đó về phương diện Nhà nước, chưa có
cơ quan tổ chức nào có thẩm quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của Quốc
hội và các cơ quan của Quốc hội. Nên chăng, cần thành lập Tồ án Hiến
pháp để thơng qua đó Đảng thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động của
Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và tăng cường giám sát của nhân dân
thông qua Mặt trận Tổ quốc các cấp.
Ngoài những phương thức lãnh đạo truyền thống nói trên cần tiếp tục
tìm tịi các phương thức lãnh đạo khác phù hợp. Theo chúng tơi, có một số
phương thức lãnh đạo mới sau đây:
- Phương thức lãnh đạo thơng qua cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm đối với
những người do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn theo quy định mới của Hiến
pháp và Luật Tổ chức Quốc hội. Đây là phương thức lãnh đạo mới cần
được Trung ương và Bộ Chính trị sử dụng để góp phần nâng cao trách
nhiệm và năng lực của những người được Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
Bằng phương thức này mà vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng được nâng
cao, nhân dân ngày càng tin tưởng vào các cơ quan nhà nước. Không nên
quá thận trọng hoặc cường điệu việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với các bộ
trưởng. Làm tốt phương thức lãnh đạo mới này chẳng những phát huy được
vai trò của dân chủ đại diện mà còn là phương thức để Đảng xem xét đánh
giá, sử dụng đảng viên của mình.
Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương về công tác đối với Quốc
hội cần được xem là các định hướng quan trọng nhất để Đảng đoàn Quốc
21
Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng
đối với Quốc hội ở nước ta hiện nay
hội chỉ đạo việc tổ chức thực hiện và tạo điều kiện để Quốc hội chủ động
hơn nữa.
Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội chủ yếu thông qua nghị quyết,
quyết định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị bằng các nội
dung, định hướng với các căn cứ khoa học và thực tiễn xác thực, thật sự
“tâm phục, khẩu phục” thì ý Đảng, lòng dân mới là một trong việc thực
hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội.
Bài học Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu chỉ ra rằng:
“Đảng viên và quần chúng thờ ơ với Đảng, không sẵn sàng và kiên quyết
đứng ra bảo vệ Đảng là do hậu quả của thái độ kiêu ngạo Cộng sản và
khơng có tính thuyết phục của Đảng, coi thường ý kiến của quần chúng,
việc lấy ý kiến mang tính hình thức và mị dân, đến lúc có tai biến người
dân và Đảng viên thường quay lưng lại với Đảng”.
22
Phần I
Lý luận chung về Quốc hội và lịch sử Quốc hội
QUYỀN LỰC CỦA QUỐC HỘI ∗
Phạm Văn Hùng **
Phó Vụ trưởng Vụ Pháp luật
Văn phòng Quốc hội
1. Khái niệm quyền lực
Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, quyền lực là vấn đề được đề cập
rất sớm. Trong các truyền thuyết thần thoại, tôn giáo, các nhà thần học đã
xây dựng nên những nhân vật thần thánh có quyền lực siêu phàm, có khả
năng tạo ra con người và chi phối mọi hoạt động tự nhiên - xã hội.
Nhiều tác phẩm của các nhà triết học thời cổ đại bàn luận về vấn đề
quyền lực. Arixtốt (384- 322 trước công nguyên), người mà theo C.Mác là
"nhà tư tưởng vĩ đại nhất thời cổ đại" đã viết tác phẩm "Chính trị Aten"
trong đó trình bày những đặc điểm cơ bản của quyền lực. Theo ông, quyền
lực không chỉ là cái vốn có của mọi sự vật biết cảm giác, mà của cả giới tự
nhiên vơ cơ. Từ đó đến nay, con người tiếp tục bàn luận về vấn đề quyền
lực song chưa có định nghĩa nào thực sự khoa học được mọi người chấp
nhận.
Nhà nghiên cứu chính trị người Mỹ Robert Dahl cho rằng, "quyền lực là
khả năng bắt buộc mọi người phải làm cái gì đó mà họ khơng thể làm khác
được" 1 .
∗
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp: Đặc san số 1/2001, chuyên đề về Hiến pháp và các luật về
nhà nước với tên gọi là “Quyền lực của Quốc hội và vấn đề sửa đổi Hiến pháp”. Vì Hiến
pháp năm 1992đã được sửa đổi nên chúng tơi xin không đăng phần sau của bài viết bàn về
sửa đổi Hiến pháp (BBT).
**
Hiện là Tiến sĩ.
1
Gareth Morn, Cách nhìn tổ chức từ nhiều góc độ, Nxb, Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội
1994, tr. 169.
23
Phần I
Lý luận chung về Quốc hội và lịch sử Quốc hội
Max Weber (1864- 1920), nhà xã hội học nổi tiếng của Đức quan niệm
quyền lực là "khả năng mà một kẻ hành động trong mối quan hệ xã hội có
một vị trí để thực hiện ý chí mong muốn của mình bất chấp sự chống đối" 1 .
Từ điển Hán - Việt của tác giả Đào Duy Anh giải thích quyền lực là "cái
sức mạnh có thể cưỡng chế người ta phải phục tùng mình" 2 .
Các tác giả của cuốn Bách khoa triết học Xô Viết cho rằng, quyền lực là
khả năng thực hiện ý chí của mình có tác động đến hành vi, phẩm hạnh của
người khác nhờ một phương tiện nào đó như uy tín, quyền hành, nhà nước,
sức mạnh... 3 .
Một phạm trù khác có liên quan chặt chẽ tới khái niệm quyền lực là vấn
đề quyền uy. Trong tác phẩm bàn về quyền uy, Ăng Ghen quan niệm
"quyền uy nói ở đây có nghĩa là ý chí của người khác mà người ta buộc
chúng ta phải tiếp thu. Mặt khác quyền uy lấy sự phục tùng làm tiền đề” 4 .
Hầu hết các tác giả kể trên khi nói tới quyền lực là nói tới sức mạnh.
Tóm lại, chúng ta có thể hiểu quyền lực là khả năng áp đặt ý chí của mình
với người khác, tác động đến khả năng động viên các nguồn lực để đạt
được mục đích của mình.
2. Bản chất quyền lực của Quốc hội
Điều 83 của Hiến pháp năm 1992 quy định: Quốc hội không chỉ là cơ
quan đại diện cao nhất của nhân dân mà còn là cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vậy, bản chất
quyền lực của Quốc hội là gì?
1
GS, TS. Phạm Tất Dong – TS. Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên), Xã hội học, Trường Đại
học khoa học xã hội và nhân văn, Nxb. Giáo dục, 1999, tr. 187.
2
Hán - Việt Từ điển, Đào Duy Anh (Phan Bội Châu hiệu đính), Nxb. thành phố Hồ Chí
Minh 1996, tr. 1970.
3
Chính trị học Mác - Lênin, Học viện hành chính quốc gia, Nxb. Giáo dục 1998, tr. 68.
4
C.Mác và Ph. Ăng Ghen tồn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội 1994, tập 18,
tr. 418.
24