Tải bản đầy đủ (.docx) (55 trang)

Đề cương lí luận nhà nước và pháp luật

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (261.65 KB, 55 trang )

1. Khái niệm nhà nước. Nguồn gốc ra đời của Nhà nước. Các phương thức
xuất hiện điển hình Nhà nước.
1.1. Một số quan điểm về khái niệm Nhà nước:
Nhà nước là hiện tượng xã hội rất đa dạng và phức tạp, được nhiều ngành khoa học
nghiên cứu ở nhiều góc độ, phạm vi khác nhau. Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng
đã quan tâm nghiên cứu và đã có những luận giải khác nhau về khái niệm nhà nước.
Trải qua các thời đại khác nhau, nhận thức, quan điểm về vấn đề này ngày càng thêm
phong phú. Tuy nhiên, do xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, năng lực
nhận thức khác nhau, lại bị chi phối bởi yếu tố lợi ích, quan điểm chính trị..., vì vậy có
nhiều quan niệm khác nhau về nhà nước.
Aristote, nhà tư tưởng vĩ đại thời kì cổ đại, cho rằng, nhà nước là sự kết hợp của các
gia đình. Đồ cập nhà nước trong mối tương quan với quốc gia, một số tác giả cho rằng,
nhà nước là một đơn vị chính trị độc lập, có một vùng lãnh thổ được cơng nhận là dưới
quyền thống trị của nó.1 Cùng quan điểm trên, một số tác giả khác cho rằng nhà nước
là:
“tổ chức quyền lực chính trị của xã hội có giai cấp, có lãnh thổ, dân cư
và chỉnh quyền độc lập, có khả năng đặt ra và thực thi pháp luật nhằm
thiết lập trật tự xã hội nhất định trong phạm vi lãnh thổ của mình”.
Tiếp cận nhà nước từ quan niệm về pháp luật và trật tự pháp luật, I. Kant cho rằng:
“Nhà nước là sự liên kết của nhiều người phục tùng pháp luật”; “Nhà
nước là trong tư tưởng là cái gì đó phải phù hợp với các nguyên tắc của
pháp luật”)
Cùng cách tiếp cận này, một số tác giả khác cho rằng:
“Nhà nước hiểu theo nghĩa rộng là một tập họp các thế chế nắm giữ
những phương tiện cưỡng chế hợp pháp, thi hành trên một vùng lãnh thể
được xác định và người dân sổng trên lãnh thổ đó được đề cập như một
xã hội”.
Ăngghen khi nghiên cứu về nguồn gốc của nhà nước đã đề xuất một số quan niệm về
nhà nước. Ông cho rằng, nhà nước là sản phẩm của xã hội đã phát triển đến giai đoạn
nhất định, khi xã hội đã phân chia thành giai cấp và mâu thuẫn giai cấp là khơng thể
điều hồ được, nhà nước là lực lượng:


“nảy sinh từ xã hội nhưng lại đứng trên xã hội ”, “có nhiệm vụ làm dịu
bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó trong vịng “trật tự”).
Phát triển quan điểm của Ăngghen, nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc duy trì
sự thống trị giai cấp, Lênin quan niệm:


“Nhà nước bao giờ cũng là một bộ máy nhẩt định, nó tự tách ra từ xã hội
và gồm một nhóm người chỉ chuyên hay gần như chỉ chuyên, hay chủ yếu
chỉ chuyên làm công việc cai trị”).
Theo Lênin, nhà nước sinh ra để thực hiện sự thống trị giai cấp:
“Nhà nước là bộ máy dùng đế duy trì sự thong trị của giai cấp này đối
với giai cấp khác”.
Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, ơng cịn nhấn mạnh:
“Nhà nước theo đủng nghĩa của nó, là bộ mảy trấn áp đặc biệt của giai
cấp này đối với giai cấp khác ”.
Tóm lại, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nhà nước, mỗi cách tiếp cận
xây dựng nên khái niệm nhà nước với ý nghĩa riêng, phục vụ mục tiêu, nhiệm vụ
nghiên cứu riêng. Điều này cũng chứng tỏ, nhà nước là một hiện tượng đa dạng, phức
tạp, khái niệm nhà nước có nội hàm phong phù, có tính đa diện, đa chiều.
Là một hình thức tổ chức của con người, nhà nước không đồng nhất với xã hội, nó chỉ
là một bộ phận của xã hội. Nhà nước bao gồm những người không tham gia vào hoạt
động sản xuất trực tiếp, nó được tổ chức ra để quản lí xã hội, điều hành mọi hoạt động
của xã hội. Sự ra đời, tồn tại của nhà nước trong đời sống xã hội là tất yếu trước nhu
cầu phối hợp hoạt động chung, duy trì trật tự chung, phịng chống ngoại xâm, thiên tai,
bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng. Nhà nước được xem như cơ quan quyền lực tối
cao của xã hội nhưng lại bị chi phối bởi những kẻ mạnh, lực lượng này dùng nhà nước
vừa thực hiện việc điều hành các hoạt động chung của xã hội, vừa làm lợi riêng cho
giai cấp mình.
Nhà nước cũng khơng hồn tồn đồng nhất với quốc gia, nó chỉ là một trong ba yếu tố
hợp thành quốc gia. Mặc dù nhà nước và pháp luật có sự gắn bó hết sức chặt chẽ với

nhau, tuy nhiên đó là hai hiện tượng khác nhau, do vậy về mặt nhận thức, không thể
đồng nhất nhà nước và pháp luật.
1.2. Định nghĩa Nhà nước
Từ những phân tích nêu trên, có thể định nghĩa: Nhà nước là tổ chức quyển lực đặc
biệt của xã hội, bao gồm một lớp người được tách ra từ xã hội để chuyên thực thi
quyền lực, nhằm tổ chức và quản lỉ xã hội, phục vụ lợi ích chung của tồn xã hội cũng
như lợi ích của lực lượng cầm quyền trong xã hội.
- Là tổ chức quyền lực cơng đặc biệt
- Có pháp luật và bộ máy chuyên thực thi quyền lực
- Nắm giữ và thực hiện quyền quốc gia
- Tham gia các quan hệ quốc tế một cách độc lập
- Tổ chức và quản lí xã hội nhắm thiết lập trật tự XH


- Thực hiện mục đích của lực lượng cầm quyền
1.3. Nguồn gốc ra đời của nhà nước:
Nguồn gốc nhà nước là vấn đề cơ bản của Lí luận chung về nhà nước và pháp
luật. Muốn giải thích đúng đắn bản chất, chức năng, vai trò của nhà nước... đều
phải xuất phát từ vấn đề nguồn gốc của nhà nước. Mặc dù đã được nghiên cứu
từ thời cổ đại, tuy nhiên, cho đến ngày nay, vấn đề nguồn gốc nhà nước vẫn cịn
khơng ít tranh luận. Xuất phát từ quan niệm khác nhau về nhà nước, dẫn đến các
cách giải thích khác nhau về nguồn gốc nhà nước.
Các nhà tư tưởng theo thuyết thần học cho rằng, nhà nước là do thượng đế sáng
tạo ra. Thượng đế sáng tạo ra con người, sáng tạo ra thế giới, đồng thời sáng tạo
ra nhà nước để cai quản con người. Quyền lực nhà nước là do thượng đế ban
cho, nhà vua là thiên tử, là sứ giả của thần linh, là cái bóng của thượng đế, nhận
quyền lực từ thượng đế, để “thế thiên hành đạo ”, thay mặt cho thượng đế cai
quản xã hội. Người đề xướng thuyết này là Agustin, nhà thần học thời trung cổ
người Anh. Ở phương Đông, mặc dù khơng có một học thuyết hồn chỉnh về
nguồn gốc thần thánh của nhà nước, nhưng qua thực tế tổ chức và hoạt động của

nhà nước đều phản ánh rõ nét tư tưởng nhà nước bắt nguồn từ thượng đế.
Các nhà tư tưởng theo thuyết gia trưởng mà tiêu biểu là Platon, Aristote và
Philmơ coi nhà nước là kết quả của sự phát triển tự nhiên của gia đình, nhà nước
có trong mọi xã hội. Các tác giả theo trường phái này quan niệm, xã hội như một
gia đình mở rộng, “nhà chỉnh là cáỉ nước nhỏ, nước tức là cái nhà to” Trong mỗi
gia đình đều có người gia trưởng đứng đầu làm nhiệm vụ cai quản gia đình, nhà
nước được xem như người đứng đầu xã hội, thực hiện việc cai quản xã hội.
Quyền lực nhà nước là sự phát triển tiếp tục quyền lực của người gia trưởng và
về bản chất cũng giống như quyền lực của người gia trưởng.


Thuyết khế ước xã hội giải thích nguồn gốc nhà nước bắt đầu từ xã hội. Các nhà
tư tưởng của thuyết này mà đại biểu là G. Grotius, B. Sponoza, Thomas Hober,
J. Loke, J. J. Rousseau, A. Radisep... cho rằng xã hội vốn trong trạng thái khơng
có nhà nước, ở đó con người là hồn tồn tự do, ai cũng có các quyền tự nhiên
của mình như quyền sống, quyền tự do, quyền sở hữu tài sản..., mọi người tự
bảo vệ lấy các quyền tự do của minh. Tuy nhiên, vì khả năng cũng như cách
thức bảo vệ của mỗi người là khác nhau nên khi mỗi người đều tự bảo vệ lấy các
quyền tự do của mình thì có thể dẫn xã hội đến trạng thái hỗn loạn. Trong điều
kiện đó, cộng đồng xã hội đã họp nhau lại, soạn thảo một khế ước chung, trong
đó thoả thuận thành lập nên nhà nựớc, trao cho nhà nước các quyền vốn là của
mọi người để nó thay mặt mọi người bảo vệ các quyền, tự do của họ. Một khi
nhà nước khơng hồn thành sứ mệnh được giao phó, các quyền tự nhiên của con
người bị vi phạm, xã hội có thể hủy bỏ khế ước cũ, soạn thảo khế ước mới để
thành lập nhà nước mới.
Thuyết bạo lực mà đại diện là Gumplovic, E. During giải thích nhà nước là sản
phẩm cuộc chiến tranh giữa các thị tộc. Trong thời đại nguyên thủy, các thị tộc
thường gây chiến với nhau nhằm mở rộng địa bàn cư trú, tìm kiếm thức ăn,
nguồn nước... Ket quả của các cuộc chiến đó là thị tộc chiến thắng cần có cơng
cụ để nơ dịch kẻ bại trận, vì vậy họ đã thiết lập ra hệ thống cơ quan bạo lực đặc

biệt, đó chính là nhà nước.
Bằng phương pháp duy vật biện chứng, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin đã xây dựng luận thuyết mới về nguồn gốc của nhà nước. Nội dung của
luận thuyết này được trình bày một cách tồn diện, sâu sắc và có hệ thống trong
tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”ỵ của
Ph. Àngghen và tác phẩm “Nhà nước và cách mạng’’của V. I. Lênin. Trong các
cơng trình nghiên cứu của mình, Ph. Ăngghen và V. I. Lênin khẳng định rằng,
nhà nước là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, nó xuất hiện một cách


khách quan, là sản phẩm của đời sống xã hội khi xã hội đã phát triển đến một
giai đoạn nhất định, trong xã hội xuất hiện chế độ tư hữu và phân chia thành các
giai cấp đối kháng.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chế độ cộng sản ngun thủy là
thời kì chưa có nhà nước. Khi mới thoát thai khỏi động vật, con người tụ tập
thành từng bầy gọi là bầy người nguyên thủy. Trải qua quá trình phát triển lâu
dài, dưới tác động của nhiều yếu tố, con người dần dần liên kết thành tổ chức thị
tộc, bộ lạc... Thị tộc bao gồm những người cùng huyết thống, cùng sinh sống ở
một nơi, trong thị tộc duy trì chế độ sở hữu chung, lao động chung và phân phối
bình qn. Trong thị tộc khơng có kẻ giàu, người nghèo, quan hệ giữa người với
người là bình đẳng, tự do. Quyền lực công cộng trong thị tộc thuộc về tồn thể
thị tộc, bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng. Để thực thi quyền lực, thị tộc
khơng có bộ máy chun nghiệp mà dựa trên sức mạnh của hội đồng thị tộc kết
họp với uy tín của người đứng đầu thị tộc. Tù trưởng, tộc trưởng, thủ lĩnh quân
sự là người đứng đâu thị tộc, do hội đồng thị tộc bầu, bãi miễn, họ khơng có đặc
quyền, đặc lợi gì, cùng chung sống, lao động và hưởng thụ như mọi thành viên
khác trong thị tộc. Nhiều thị tộc có quan hệ dịng máu xa gần hợp thành một bộ
lạc, mỗi bộ lạc có tên gọi, nơi ở, rừng, ruộng đất... riêng. Các thành viên của bộ
lạc cùng nói một ngơn ngữ, cùng theo một tín ngưỡng và thực hiện những nghi
thức tôn giáo riêng. Cách thức tổ chức quyền lực trong bộ lạc tương tự như
trong thị tộc nhưng bước đàu đã thể hiện sự tập trung cao hơn.

Tổ chức thị tộc, bộ lạc tồn tại trong một thời kì lịch sử nhất định, dần dần, do tác
động của nhiều yếu tố, nó thối hố và tan rã dần từng bước, nhường chỗ cho
một hình thức tổ chức mới, đó là nhà nước. Theo Ăngghen, có hai nguyên nhân
cơ bản làm cho tổ chức thị tộc, bộ lạc tan rã, nhà nước xuất hiện đó là nguyên
nhân kinh tế và nguyên nhân xã hội.


Sự phát triển của công cụ lao động làm cho năng suất lao động ngày càng được
nâng cao, dần dần đủ cho tiêu dùng và có dư thừa, chính nhu cầu quản lí số của
cải dư thừa đã làm nảy sinh mâm mống của chế độ tư hữu. Mặt khác, sự phát
triển của lực lượng sản xuất đã dẫn đến các cuộc phân công lao động trên quy
mô lớn, chăn nuôi, thủ công nghiệp, thương nghiệp dần dần tách ra khỏi trồng
trọt, trở thành những ngành kinh tế độc lập. Khi sản xuất được chun mơn hố
thì nó lại càng có điều kiện phát triển hơn trước, của cải làm ra ngày càng nhiều
càng góp phần củng cố tư tưởng tư hữu. Cũng do sự phát triển của công cụ lao
động đã làm cho sản xuất có thể tiến hành riêng mà không cần phải tiên hành
chung theo cả cộng đồng. Do vậy, tư liệu sản xuất của cộng đồng dần dần được
chia nhỏ để tiến hành sản xuất riêng theo mỗi gia đình, mới đầu chỉ là tạm chia,
người ta vẫn định kì chia lại. Tuy nhiên, một khi sản xuất được tiến hành riêng
thì đồng thời sự khác biệt giàu nghèo cũng từng bước xuất hiện, làm cho con
người ý thức ngày một sâu sắc hơn về tư hữu. Việc định kì chia lại tư liệu sản
xuất vì vậy mà trở nên thưa dần và cuối cùng thì mất hẳn. Tư liệu sản xuất thuộc
sở hữu chung của cả cộng đồng dần dần trở thành sở hữu riêng trong các gia
đình, họ có thể đem bán, trao đổi hay để lại cho con cháu kế thừa.
Sản xuất phát triển dẫn đến nhu cầu sức lao động ngày càng tăng, tù binh trong
các cuộc xung đột giữa các thị tộc trước kia thường bị giết, giờ đây được giữ lại
làm nơ lệ. Mới đầu số nơ lệ cịn lẻ tẻ, địa vị của họ chưa đến mức quá thấp kém.
về sau, số lượng nô lệ ngày một đông đảo, nơ lệ trở thành sở hữu trong các gia
đình như các loại tài sản khác. Khi phân hoá giàu nghèo trở nên rõ nét, sự tương
trợ giữa các gia đình mất dần, thay vào đó là cho vay nặng lãi và cầm cố tài

sản... Tất cả những yếu tố đó làm cho của cải ngày càng tích tụ và tập trung vào
trong tay một số ít người, đồng thời thúc đẩy sự bần cùng hố cùa số đơng người
khác. Xã hội thị tộc dần dần bị phân hoá thành các giai cấp, tầng lớp khác nhau,
những người giàu có hợp thành tầng lớp quý tộc, chiếm hữu nhiều ruộng đất,
của cải..., những người nghèo khổ chiếm số đông trong xã hội do mất dần của


cải và tư liệu sản xuất, cuối cùng rơi vào tình trạng bị lệ thuộc tầng lớp ứên và bị
tầng lớp này áp bức, bóc lột nặng nề. Mâu thuẫn giai cấp, đấu tranh giai cấp vì
thế đã xuất hiện và ngày càng trở nên sâu sắc. Khi sự phân hố giàu nghèo ngày
càng rõ nét thì quan hệ huyết tộc trở nên phai nhạt, lỏng lẻo, nó khơng cịn đủ
sức để ràng buộc những người cùng huyết tộc phải làm ăn sinh sống ở một nơi.
Người nghèo vì thế có thể tìm đến nơi có điều kiện thuận lợi hơn để sinh sống.
Mặt khác, do hoạt động thương nghiệp, do sự thay đổi nghề nghiệp đòi hỏi phải
di động và thay đổi chỗ ở. Tình trạng đó dẫn đến trên một địa vực vốn là lãnh
thổ của một thị tộc, bộ lạc và chỉ những người thuộc thị tộc, bộ lạc đó sinh sống
thì nay đã gồm những người thuộc các thị tộc khác nhau cùng làm ăn sinh sống,
mất đi điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của chế độ thị tộc.
Sự phân hoá xã hội làm cho cơ quan quyền lực chung của thị tộc, bộ lạc dần
chuyển thành cơ quan riêng của tầng lớp quý tộc. Chức vụ thủ lĩnh vốn khơng
có đặc quyền dần dần mất hết ý nghĩa ban đầu của nó, lợi dụng uy tín và địa vị,
họ tìm cách thâu tóm quyền lực vào trong tay mình. Càng ngày, chức vụ đó càng
khơng cịn đại biểu cho lợi ích của tất cả các thành viên, nó khơng cịn được bầu
ra từ những người có uy tín mà được chọn trong giới quý tộc, hoặc từ tập quán
bầu những người trong một gia đình dần dần trở thành quyền thế tập đương
nhiên của những gia đình ấy, trở thành chức vụ chuyên mơn quản lí điều hành
cơng việc hàng ngày của xã hội. Mâu thuẫn xã hội ngày càng gia tăng, đấu tranh
giai cấp ngày càng gay gắt, tổ chức thị tộc, bộ lạc ngày càng trở nên bất lực,
không thể đảm nhiệm vai trị tổ chức và quản lý các cơng việc chung của cộng
đồng. Trong khi đó, một hình thức tổ chức mới với những cơ quan mới hoàn

toàn xa lạ với tổ chức thị tộc, bộ lạc đang từng bước hình thành, tổ chức đó được
gọi là nhà nước. Nhà nước xuất hiện để tổ chức và quản lý các công việc chung
của đời sống cộng đồng, những công việc mà trước đây tổ chức thị tộc, bộ lạc
phải đảm nhiệm. Đồng thời, nhà nước xuất hiện còn để làm dịu bớt sự xung đột
giai cấp, giữ cho sự xung đột đó trong vịng “trật tự”, làm cho “những giai cấp


có quyền lợi đối lập nhau đó khơng đi đến chỗ tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt
luôn cả xã hội”. Nhà nước xuất hiện bởi nhu cầu khách quan của đời sống xã
hội, nhu cầu tổ chức đời sống chung, đảm bảo trật tự chung. Tuy nhiên, “nhà
nước ra đời từ yêu cầu phải kiềm chế những đoi kháng giai cấp, nhưng vì nhà
nước đồng thời cũng ra đời giữa cuộc xung đột giữa các giai cẩp ẩy, cho nên
theo lệ thường, nó là nhà nước của giai cấp có thế lực nhất, của giai cấp thống trị
về kỉnh tế và giai cấp này nhờ có nhà nước, mà trở thành giai cấp thong trị về
mặt chỉnh trị và do đó có thêm những thủ đoạn mới để trấn áp và bóc lột giai
cẩp bị áp bức”.
Nói tóm lại:
- Ng.nhân sâu xa: (Sự xuất hiện của quan hệ sở hữu tư nhân về TLSX  gai cấp
xuất hiện
Sự phát triển của LLSX  kinh tế phát triển, phân công lao động  xuất hiện
của cải dư thừa  tư hữu  giai cấp, mâu thuẫn giai cấp
- Ng.nhân trực tiếp: Đấu tranh giai cấp
 Khi các điều kiện kinh tế để xuất hiện xã hội mới đã phân chia xã hội đó
thành các giai cấp đối lập nhau, ln luôn mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt với nhau để
bảo vệ lợi ích của giai cấp mình thì tổ chức thị tộc trở nên khơng cịn phù hợp nữa, cần
có tổ chức mới đủ sức mạnh để dập tắt xung đột => Nhà nước.
1.4. Các phương thức xuất hiện điển hình nhà nước:
Theo Ăngghen, có ba hình thức (dạng) xuất hiện điển hình của nhà nước đó là:
- Hình thức xuất hiện nhà nước Athen. Đây là hình thức thuần túy và cổ điển
nhất. Nhà nước Athen nảy sinh chủ yếu và trực tiếp từ sự đối lập giai cấp phát

triển ngay trong nội bộ xã hội thị tộc.
- Hình thức xuất hiện nhà nước Roma. So với Athen, sự xuất hiện nhà nước
Roma có nhiều điểm khác, nhà nước Roma ra đời dựa trên thắng lợi của giới
bình dân chống lại giới quý tộc thị tộc Roma.


- Hình thức xuất hiện nhà nước của người Giecman. Các nhà nước của người
Giecman xuất hiện dựa trên kết quả chinh phục của các tộc người Giecman đối
với đế chế Roma khi đế chế này đang trong quá trình tan rã.
Có thể nói, cho đến nay, tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu
và của nhà nước ” của Ăngghen vẫn là cơng trình nghiên cứu có giá trị lớn về
nguồn gốc của nhà nước. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu chưa bao quát hết
các khu vực trên thế giới, cùng với những hạn chế của thời đại..., bởi vậy, những
luận điểm của Ăngghen cần phải được bổ sung, hoàn thiện thêm. Sau này, nhờ
thành tựu của nhiều ngành khoa học như sử học, khảo cổ học, dân tộc học..., các
nhà khoa học maxit đã bổ sung, làm phong phú và sâu sắc hơn các quan điểm
của Ăngghen, góp phần hồn thiện hệ thống quan điểm khoa học của chủ nghĩa
Mác - Lênin về nguồn gốc nhà nước.
Xuất phát từ quan niệm nhà nước là tổ chức quyền lực chung của toàn xã hội, có
sứ mệnh tổ chức và quản lý các mặt trong đời sống chung của cộng đồng, các
nhà khoa học ngày nay cho rằng, nhà nước có thể xuất hiện do sự tác động của
nhiều nguyên nhân khác nhau, đó có thể là những nhân tố nội tại, nảy sinh trong
lòng xã hội, cũng có thể là sự tác động bởi những yếu tố bên ngoài như thiên tai,
ngoại xâm... Thực tiễn lịch sử cho thấy, các nhà nước ở phương Đông ra đời
tương đối sớm, trong điều kiện chế độ tư hữu phát triển rất chậm chạp và yếu ớt,
sự phân hoá xã hội diễn ra chưa thật sâu sắc. Đặc điểm chung của các nước
phương Đông là hầu hết các nhà nước đều hình thành trên lưu vực các con sông
lớn. Tuy nhiên, “điểu kiện thiên nhiên đã chứa đựng sẵn trong đó hai mặt đối
lập: ưu đãi và thử thách”. Chính vì vậy, đối với các cộng đồng dân cư ở khu vực
này, trị thủy và tự vệ là những vấn đề có tầm quan trọng sống cịn. Những cơng

việc đó địi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều người và phải có sự tổ chức, chỉ
huy tốt. Tình hình đó buộc các thị tộc phải sớm liên kết với nhau thành bộ lạc,


liên minh bộ lạc, thiết lập ra một cơ quan quản lí chung thay cho cơ quan quản lí
mỗi bộ lạc. Do tính chất thường xuyên của hoạt động trị thuỷ cũng như chống
giặc ngoại xâm, cơ quan quyền lực chung của cộng đồng dần trở thành cơ quan
thường trực, chuyên đảm nhiệm chức năng tổ chức và quản lí các mặt của đời
sống xã hội. Nó ngày càng có xu hướng thoát ly, tách dần khỏi hoạt động sản
xuất trực tiếp, trở thành những cơ quan chỉ chuyên thực thi quyền lực, nhà nước
như vậy là từng bước được hình thành.
Như vậy, nhà nước xuất hiện một cách khách quan, là sản phẩm của sự phát
triển tự nhiên của đời sống xã hội, khi tổ chức thị tộc, bộ lạc tỏ ra bất lực, không
đáp ứng được những yêu cầu, địi hỏi của cuộc sống. Có thể nói, trên phạm vi
toàn thế giới, cho dù xuất hiện bởi nguyên nhân nào thì sự tồn tại của nhà nước
cũng là nhằm giải quyết những vấn đề chung của đời sống xã hội, giữ gìn ổn
định trật tự xã hội, tổ chức đời sống chung, quản lí, điều hành các hoạt động
chung của cộng đồng...
Sự xuất hiện nhà nước là cả một quá trình lâu dài, gắn liền sự biến đổi mọi mặt
của đời sống xã hội, trong q trình đó, những yếu tố của tổ chức thị tộc, bộ lạc
dần dần mất đi, đồng thời từng bước hình thành những yếu tố của một tổ chức
mới mà chúng ta gọi là nhà nước. Đúng như Ăngghen nói "xã hội mỗi ngày một
vượt quá phạm vi của chế độ thị tộc”, “trong lúc đó thì nhà nước phát triển một
cách lặng lẽ”. Giữa xã hội khơng có nhà nước và xã hội có nhà nước khơng có
một ranh giới rõ rệt, một mốc thời gian xác định cụ thể mà là cả một thời kì, thời
kì quá độ chuyển từ xã hội này sang xã hội khác. Thời kì quá độ lâu hay chóng,
dài hay ngắn là phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng khu vực.
Tóm tắt:
a) Nhà nước Athens
- Đây là hình thức nhà nước thuần túy cổ điển nhất



- Ra đời trên cơ sở sự đối lập giai cấp đã phát triển ngay trong nội bộ xã hội thị
tộc
b) Nhà nước ở các nước phương Đông cổ đại
- Các nhà nước ra đời sớm nhất (khoảng trên dưới 3000 năm TCN)
- Khi chế độ tư hữ và phân chia giai cấp trong xã hội chưa ở mức cao
- Ng.nhân trực tiếp chủ yếu là do nhu cầu trị thủy và chống giặc ngoại xâm.
c) Nhà nước La Mã
- Điều kiện kinh tế xã hội tương tự như nhà nước Athens
- Lý do trực tiếp là kết quả của cuộc đấu tranh giữa giới bình dân chống lại giới
quý tộc với chiến thắng của giới bình dân
d) Nhà nước Germany
- Ra đời do nhu cầu thay thế Nhà nước La Mã
- Để quản lý những vùng đất mà Germany giành lại được và chiếm được của
người Lã Mã
2. Các kiểu Nhà nước trong lịch sử. Bản chất các kiểu nhà nước.
2.1. Khái niệm kiểu nhà nước và bản chất của nhà nước
 KN kiểu nhà nước: Là một dạng thức hay một loại nhà nước ra đời, tồn tại và
phát triển trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và chịu sự lãnh đạo của một
lực lượng xã hội (giai cấp) nào đó.
Căn cứ phân loại kiểu nhà nước:
- Hình thái KT-XH mà NN đó ra đời
- Tính chất giai cấp của NN
 KN bản chất của nhà nước: Là những phương diện cơ bản quy định sự tồn tại
và phát triển của NN, thể hiện ở 2 phương diện: giai cấp và xã hội.
- Tính giai cấp: NN là công cụ, là bộ máy đặc biệt nằm trong tay lực lượng cầm
quyền
+ để bảo vệ lợi ích kinh tế



+ để thực hiện sự thống trị về chính trị
+ thực hiện sự tác động về tư tưởng của nó đối với tồn xã hội.
- Tính xã hội: NN là bộ máy
+ để tổ chức, điều hành và quản lí XH nhằm thiết lập, củng cố và giữ gìn trật tự,
sự ổn định của XH
+ để bảo vệ lợi ích chung của cả cộng đồng, vì sự phát triển chung của XH
2.2. Các kiểu nhà nước và bản chất
4 QUY LUẬT THAY THẾ KIỂU NHÀ NƯỚC
-

Quy luật 1: tính tất yếu khách quan của quy luật
Đây là 1 biểu hiện quan trọng của quy luật phát triển và thay thế các hình thái kinh
tế xã hội trong thượng tầng chính trị pháp lý. Xét theo quan điểm của chủ nghĩa MácLênin trong phép duy vật biện chứng thì 1 hình thái kinh tế xã hội là 1 sự vật khách
quan còn lực lượng sản xuất là mặt nội dung và quan hệ sản xuất là hình thức của hình
thái kinh tế xã hội.Quan hệ sản xuất biến đổi chậm hơn,lúc đầu quan hệ sản xuất cịn là
thích hợp cho lực lượng sản xuất. Nhưng do lực lượng sản xuất biến đổi nhanh hơn
nên sẽ đến lúc quan hệ sản xuất lạc hậu hơn so với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất và sẽ trở thành yếu tố kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển.Để mở dường
cho lực lượng sản xuất phát triển, con người phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ bằng
quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lượng sản xuất. Sự thay đổi của phương thức
sản xuất là 1 điều khách quan bởi bản thân quan hệ sản xuất là 1 sự vật,mang tính tất
yếu là do sự phát triển của lực lượng sản xuất là không ngừng,con người ngày càng
phát triển và nhận thứcsâu sắc hơn về thế giới khách quan.
1. Nhà nước chủ nô
Nhà nước chủ nô là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử. trong xã hội này Quan
hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ được xây dựng dựa trên cơ sở chế độ chiếm hữu
của chủ nô đối với tồn bộ tư liệu sản xuất và người nơ lệ. Nơ lệ khơng có tư
liệu sản xuất, họ bị bóc lột rất tàn nhẫn và phải phục tùng vơ điều kiện những ý
muốn của chủ nô. =>> mâu thuẫn =>> đấu tranh. Mặt khác,giai cấp chủ nô

cũng nhận thấy khơng thể duy trì quan hệ sản xuất cũ. Họ giải phóng nơ lệ, giao
đất canh tác cho họ và thu thuế trên những vùng đất đó. Chính điều đó đã dẫn
đến sự chuyển hoá dần từ phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ sang phương


thức sản xuất phong kiến.Nhà nước chiếm hữu nô lệ dần bị diệt vong và thay
vào đó là nhà nước phong kiến.
2. Nhà nước phong kiến
Cơ sở kinh tế của nhà nước phong kiến là quan hệ sản xuất phong kiến đặc
trưng bằng chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất và 1
phần sức lao động của nông dân. Nông dân không có ruộng đất,phải làm th
cho địa chủ và nộp tơ thuế. Sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất và các cuộc phát
kiến địa lí đem lại nguồn của cải lớn về Châu Âu. Trên cơ sở đó,cơng cuộc tích
luỹ tư bản được tiến hành, hình thành 2 giai cấp mới tư sản và vơ sản.Giai cấp
tư sản đang lên,có vị thế kinh tế nhưng lại bị chế độ phong kiến và giáo hội
cùng quan hệ sản xuất phong kiến kìm hãm. Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và
chế độ phong kiến ngày càng gay gắt,họ đứng lên đấu tranh.hình thái kinh tế xã
hội phong kiến dần bị thay thế bởi hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa
và nhà nước tư sản ra dời thay thế nhà nước phong kiến.
3. Nhà nước tư sản
Cơ sở kinh tế của nhà nước tư sản là các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa,chủ
yếu dựa trên chế độ tư hữu về tư kiệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư.người
nông dân, công nhân vẫn tự do,và về hình thức vẫn bình đẳng với chủ. Tuy
nhiên,do khơng có tư liệu sản xuất,người cơng nhân phải làm th và kết quả,họ
vẫn lệ thuộc vào nhà tư sản. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ở thời kì đầu là
những quan hệ sản xuất tiến bộ so với quan hệ sản xuất phong kiến, tạo ra điều
kiện thuận lợi cho sự phát triển lực lượng sản xuất. Nhưng do được xây dựng
dựa trên cơ sở tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư,
khi chủ nghĩa tư bản phát triển đến giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, những quan hệ
đó đã trở nên mâu thuẫn,khơng cịn phù hợp với lực lượng sản xuất đã phát triển

đến 1 trình độ xã hội hố rất cao. Mâu thuẫn này ngày càng gay gắt,địi hỏi phải
có 1 cuộc cách mạng để xố bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, thiết lập 1
quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Đó
là kiểu quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất.cuộc cách mạng về quan hệ sản xuất sẽ dẫn đến sự thay thế hình thái
kinh tế xã hội chủ nghĩa tư bản sang xã hội chủ nghĩa và sự thay thế kiểu nhà
nước tư sản bằng kiểu nhà nước xã hội chủ nghĩa.


a) Nhà nước chủ nô
- Cơ sở kinh tế: là chế độ tư hữu của chủ nô đối với TLSX và nô lẹ
- Cơ sở xã hội: bao gồm hai giai cấp chính là chủ nơ và nơ lệ
- Tính giai cấp: NN chủ nơ là bộ máy chun chính của giai cấp chủ nô, là
công cụ chủ yếu để bảo vệ quyền lực kinh tế, thực hiện quyền lực chính trị
và thực hiện sự tác động về tư tưởng của giai cấp chủ nơ đối với tồn XH
- Tính xã hội: NN chủ nô là công cụ để điều hành và quản lí XH, nhằm thiết
lập và giữ gìn trật tự XH chiếm hữu nô lệ.
b) Nhà nước phong kiến
- Cơ sở kinh tế: là sự sở hữu tư nhân về TLSX, chủ yếu là ruộng đất
- Cơ sở xã hội: có hai giai cấp chính là địa chủ, q tộc phong kiến và nơng
dân
- Tính giai cấp: NNPK là bộ máy chuyên chính của giai cấp địa chủ PK, là
công cụ để thực hiện và bảo vệ lợi ích, quyền và địa vị thống trị của giai cấp
địa chủ PK trong XH trên cả 3 lĩnh vực: KT, CT, TT
- Tính xã hội: Là bộ máy để điều hành và quản lí XH nhằm thiết lập và giữ
gìn trật tự XHPK.
c) Nhà nước tư sản
- Cơ sở kinh tế: chế độ sở hữu tư nhân về TLSX và sự bóc lột GTTD
- Cơ sở xã hội: có hai giai cấp chính là tư sản và cơng nhân
- Tính giai cấp: là bộ máy chuyên chính tư sản, là cơng cụ để thực hiện và

bảo vệ lợi ích, quyền và địa vị thống trị của giai cấp tư sản trong XH
- Tính xã hội: là bộ máy để quản lí và điều hành XH nhằm thiết lập và giữ gìn
trật tự và sự ổn định của XH TBCN
d) Nhà nước XHCN
- Cơ sở kinh tế: chế độ công hữu về TLSX chủ yếu
- Cơ sở xã hội: các giai cấp, tầng lớp liên minh với nhau


- Tính giai cấp: bộ máy chun chính vơ sản là cơng cụ để thực hiện và bảo
vệ lợi ích, quyền và đại vị thống trị của giai cấp công nhân và những người
lao động khác dưới sự lãnh đạo của đảng của giai cấp cơng nhân
- Tính xã hội: bố máy để tổ chức quản lí và phụ vụ XH nhằm thiết lập và giữ
gìn trật tự XH và nhằm xây dựng thành công CNXH
3. Sự khác nhau giữa bản chất NNXHCN với bản chất các kiểu NN khác; Bản
chất NN Việt Nam

 Phân biệt: dựa vào câu 2
 Bản chất NN Việt Nam
Điều 2- HP 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.”
- Tính giai cấp: NN ta mang tính chất giai cấp cơng nhân, tính giai cấp của NN ta
gắn liền hữu cơ với tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc, trong đó, biểu hiện của tính
dân tộc, tính nhân dân trội hơn so với tính giai cấp.
- Tính xã hội: NN ta đang phấn đấu để từng bước đạt được mục tiêu trở thành NN
thực sự là của ND, do ND và vì ND, là NN có tính xã hội rộng rãi và sâu sắc.

 Là NN của dân,do dân và vì dân:
+NN của dân: Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân và nhân sử dụng quyền
lực NN thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp.
+NN do dân: là NN do giai cấp công nhân ,nông dân,đội ngũ tri thức và

những người lao động khác tổ chức thành cơ quan quyền lực chính trị.
+NN vì dân: Là NN vì nhân dân,nghĩa la mọi chính sách, PL, hoạt động của
NN,mọi cố gắng của NN đều vì lợi ích của nhân dân,phục vuh ND VN.

 -Là NN thể hiện tính XH rộng lớn:
+NN CHXH VN không chỉ là tổ chức chính trị chủa ND mà cịn là tổ chức
kinh tế, văn hóa,xã hội…


+ NN đã và đang phát huy không ngừng quyền làm chủ về mọi mặt của
ND,nghiêm trị mọi hành động xâm phạm đến lợi ích của tổ quốc,của ND,xây
dựng đất nước giàu mạnh,xóa bỏ áp bức bóc lột bất cơng,làm cho mọi người
có cuộc sống ấm no,hạnh phúc hơn.

4. Đặc trưng của NN
Đặc trưng nhà nước cho phép phân biệt nhà nước với tổ chức chính trị xã hội
khác, thể hiện vai trị, vị trí trung tâm của nhà nước trong hệ thống chính trị.
5 đặc trưng:
 NN là tổ chức quyền lực công đặc biệt
 NN phân chia và quản lí dân cư theo các đơn vị hành chính, lãnh thổ
 NN nắm giữ và thực hiện chủ quyền quốc gia
 NN ban hành PL và sử dụng PL để quản lí XH
 NN quy định và thực hiện việc thu thuế, có quyền phát hành tiền
5. Chức năng của các kiểu nhà nước; Mối quan hệ giữa chức năng đối nội và
chức năng đối ngoại của NN
 Chức năng của NN:
- Là hoạt động chủ yếu nhất, quan trọng nhất của nhà nước
- Mang tính thường xuyên, liên tục, ổn định tương đối, trực tiếp xuất phát và
thể hiện đầy đủ nhất, tập trung nhất bản chất, cơ sở kinh tế - xã hội, nhiệm
vụ chiến lược, mục tiêu cơ bản của NN

 Các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng của NN:
- Bản chất NN sẽ quyết định chức năng của NN
- Chức năng của NN sẽ thể hiện bản chất của NN đó
- Nhiệm vụ chiến lược của NN là cơ sở để xác định số lượng, nội dung, hình
thức và phương pháp thực hiện chức năng của NN
- Chức năng của NN là “phương thức” thực hiện nhiệm vụ chiến lược của
NN


 Chức năng của các kiểu NN:
 Nhà nước chủ nô:
- Chức năng đối nội:
+ bảo vệ và củng cố chế độ sở hữu của chủ nô đối với TLSX, nô lệ và sản phẩm
lao động xã hội
+ đàn áp sự phản kháng của nô lệ và những người lao động khác bằng bạo lưc
+ đàn áp nô lẹ và những người lao động khác về tư tưởng
- Chức năng đối ngoại:
+ phịng thủ, chống xâm lược từ bên ngồi
+ tiến hành chiến tranh xâm lược nhằm cướp bóc của cải, chiếm ddaotj lãnh thổ
của các quốc gia khác và bắt tù binh về làm nơ lên
+ ngồi ra, nhà nước chủ nơ cịn có những hoạt động giao bang, hữu hảo với các
quốc gia khác.
 Nhà nước phong kiến:
- Chức năng đối nội:
+ bảo vệ, củng cố và phát triển chế độ sở hữu của giai cấp địa chủ phong kiến đối
với TLSX (mà chủ yếu là ruộng đất) và sản phẩm lao động xã hơi; duy trì bóc lột
đối với giai cấp nông dân và các tầng lớp lao động khác
+ đàn áp nông dân và các tầng lớp lao động khác khi học nổi dậy chống lại chính
quyền khi học nổi dậy chống lại nhà nước phong kiến
+ đàn áp nông dân và những người lao động khác về tư tưởng

- Chức năng đối ngoại:
+ phòng thủ, chống sự xâm lược từ bên ngoài, gây chiến tranh xâm lược nước
khác
+ ngồi ra cũng có những hoạt động đối ngoại hịa bình, hữu hảo với các quốc gia
khác trong một số lĩnh vực kinh tế, thương mại, văn hóa…
 Nhà nước tư sản
- Chức năng đối nội:


+ bảo vệ, củng cố quyền sở hữu tư nhân TBCN đối với TLSX và sản phẩm lao
động xã hội
+ bảo vệ an ninh, trật tự, ATXH
+ bảo vệ và truyền bá hệ tư tưởng tư sản
+ tổ chức và quản lí kinh tế
+ tổ chức và quản lí văn hóa, giáo dục, khoa học
- Chức năng đối ngoại:
+ bảo vệ đất nước khỏi sự xâm lược từ bên ngoài
+ quan hệ, hợp tác với các nước trên thế giới
 Nhà nước XHCN
- Chức năng đối nội:
+ bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội
+ tổ chức và quản lí kinh tế
+ chức năng xã hội (giải quyết các vấn đề văn hóa, giáo dục, y tế, lao động và
việc làm, cứ trợ XH, xóa đói giảm nghèo,…)
+ bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích cơ bản của
công dân
- Chức năng đối ngoại:
+ bảo vệ tổ quốc XHCN, chống sự xâm lược từ bên ngoài
+ chức năng mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế và khu
vực

+ tham gia vào các hoạt động quốc tế vì lợi ích chung của cộng đồng và vì mục
đích nhân đạo
 Chức năng Nhà nước CHXHCNVN
- Chức năng đối nội:
+ tổ chức quản lý nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế
thị trường, định hướng XHCN
+ tổ chức và quản lý nền VH, GD, KH- CN
+ chức năng xã hội


+ giữ vững an ninh chính trị, TT-ATXH
+ cơng nhận, tôn trọng , bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích
hợp pháp của cơng dân
+ bảo đản cho PL được tôn trọng và thực hiện một cách nghiêm minh, đầy đủ và
thống nhất
- Chức năng đối ngoại:
+ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN
+ quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và
xã hội khác nhau
+ tham gia vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hịa bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội
6. Mối quan hệ giữa chức năng với nhiệm vụ của NN, giữa chức năng với bản
chất của NN, giữa chức năng với bộ máy NN
 Chức năng vs bản chất
 Bản chất NN quyết định đến chức năng NN
 Chức năng của NN sẽ thể hiện đến bản chất của NN đó
 Dựa vào câu 2 và 5 để lấy ví dụ
 Chức năng vs nhiệm vụ
 Nhiệm vụ chiến lược của NN là cư sở để xác định số lượng, nội dung, hình
thức, phương pháp thực hiện chức năng của NN

 Chức năng của NN là phương thức thực hiện nhiệm vụ chiến lược của NN
 Ví dụ: Hai nhiệm vụ chiến lược của NN Việt Nam hiện nay là xây dựng thành
công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN quyết định nội dung, hình
thức, phương pháp thực hiện các chức năng đối nội, đối ngoại của NN ta
 Chức năng vs bộ máy NN
 Chức năng NN quyết định việc tổ chức bộ máy nhà nước sao cho phù hơn
 BMNN là công cụ, phương tiện để thực hiện chức năng NN


7. Cơ cấu của bộ máy NN; Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy
NN
 Khái niệm BMNN: là hệ thống các cơ quan NN từ TW đến địa phương
được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung thống nhất nhằm thực hiện
nhiệm vụ và chức năng của NN, vì lợi ích của giai cấp thống trị
- Là cơng cụ chun chính giai cấp
- Bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị
- Nắm giữ quyền lực kinh tế, quyền lực chính trị, quyền lực tư tưởng
- Sử dụng PL để quản lí XH
- Áp dụng 2 phương pháp cơ bản để quản lí XH: giáo dục thuyết phục và cưỡng
chế
 Cơ quan NN: là bộ phận cấu thành nên BMNN, mang tính quyền lực
NN, được thành lập trên cơ sở PL và được giao những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định
để thực hiện nhiệm vụ và chức năng của NN
- Được thành lập theo luật định
- Mỗi cơ quan có vị trí, vai trị, quyền hạn khác nhau
- Nhân danh NN thực thi quyền lực NN
- Ban hành văn bản quy phạm PL, văn bản áp dụng PL
- Quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế
 Cơ cấu BMNN:
 Hệ thống cơ quan quyền lực (nghị viện, quốc hội)

 Hệ thống cơ quan hành chính (chính phủ, UBND các cấp)
 Cơ quan xét xử (tịa án)
 Cơ quan công tố (viện kiểm sát)
 Nguyên thủ quốc gia (vua, nữ hoàng, quân vương, tổng thống, chủ tích nước...)
 Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy NN
 Nguyên tắc tập quyền:
- Tập trung quyền lực NN vào một các nhân hay một cơ quan dược bầu ra theo
nhiệm kì ở trung ương



×