Tải bản đầy đủ (.docx) (93 trang)

Đề cương luật hình sự tội phạm có đáp án

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (452.86 KB, 93 trang )

ĐỀ CƯƠNG ƠN THI MƠN LUẬT HÌNH SỰ PHẦN CÁC TỘI PHẠM
(CÓ ĐÁP ÁN)
I. CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA (14 TỘI)
Điều 3 Luật An ninh quốc gia 2014: “An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế
độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước CHXHCN Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”.
“Hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia là những hành vi xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh
tế, nền văn hóa, an ninh, quốc phịng, đối ngoại, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của
nước CHXHCN Việt Nam”.
 Các tội xâm phạm an ninh quốc gia là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có
NLTNHS thực hiện một cách cố ý xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, an ninh,
quốc phịng, đối ngoại, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước CHXHCN Việt
Nam. Điều 108 – Điều 122.
 Dấu hiệu pháp lý chung
Chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, an ninh, quốc phịng, đối ngoại, độc lập,
Khách thể

chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước CHXHCN Việt Nam.
- Là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực TNHS (Khoản 1 Điều 12).
- Tội phản bội Tổ quốc (Điều 108) và tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài
nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 121): chủ thể phải là công dân Việt Nam

Chủ thể

(trong vụ án đồng phạm chỉ yêu cầu người thực hành phải thỏa mãn các dấu hiệu chủ thể
đặc biệt, những người đồng phạm khác khơng u cầu phải có nhưng phải nhận thức
được người thực hành có dấu hiệu chủ thể đặc biệt).
- Đa số các tội phạm có CTTP hình thức (vì đối với các tội xam phạm an ninh quốc gia,
người phạm tội chỉ cần thực hiện hành vi là bản thân hành vi đó đã có đầy đủ tính chất,

Mặt khách


quan

mức độ nguy hiểm cho xã hội, tội phạm đã hoàn thành). Một số tội có CTTP vật chất
(Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân).
- Các tội phạm này thường được thực hiện dưới hình thức đồng phạm, cao hơn là phạm
tội có tổ chức.
- Lỗi cố ý trực tiếp.
- Mục đích phạm tội: nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, chống chính quyền

Mặt chủ

nhân dân  dấu hiệu bắt buộc trong tất cả các tội xâm phạm ANQG, giúp phân biệt

quan

giữa một tội ở chương XIII với tội phạm có tính chất tương tự ở chương khác. VD. Tội

khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân và Tội khủng bố .
Câu 1. . Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội phản bội tổ quốc theo quy định tại Điều 108
BLHS? Phân biệt tội phản bội tổ quốc với tội gián điệp theo quy định tại Điều 110 BLHS?

1


Xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ xã
Khách thể
Chủ thể

hội chủ nghĩa và Nhà nước CHXHCN Việt Nam, tiềm lực quốc phịng, an ninh.
Cơng dân Việt Nam, đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực TNHS.

MKQ của tội phạm thể hiện ở hành vi của công dân Việt Nam cấu kết với nước ngoài
nhằm xâm phạm an ninh quốc gia.

Mặt khách
quan

Cấu kết với nước ngoài được hiểu là:
- Cùng bàn bạc với nước ngồi về âm mưu chính trị, kế hoạch, hình thức hoạtđộng với
nước ngồi.
- Nhận sự trợ giúp của nước ngồi về tài chính, vũ khí, phương tiện kinh tế… để hoạt
động.
- Hoạt động dựa vào thế lực nước ngoài hoặc tiếp tay cho nước ngoài.
 CTTP hình thức.
- Lỗi cố ý trực tiếp. người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã
hội nhưng vẫn thực hiện hành vi đó.

Mặt chủ

- Mục đích phạm tội: nhằm gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn

quan

lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, tiềm lực quốc phòng, an ninh  cuối cùng là làm thay đổi chế độ chính trị
của đất nước, lật đổ chính quyền nhân dân. Dấu hiệu cttp cơ bản



Lưu ý


- Hành vi khách quan của tội phản bội Tổ quốc đã bao gồm hoạt động nhằm lật đổ chính quyền
nhân dân, có trường hợp cịn hoạt động gián điệp hoặc trốn đi nước ngồi nhằm chống chính quyền
nhân dân  Người phạm tội phản bội Tổ quốc không bị xử lý thêm về các tội đó.
- Cơng dân Việt Nam thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, có bàn
bạc với nhau, tìm cách liên hệ với nước ngoài, nhằm được nước ngoài giúp đỡ, nhưng thực tế chưa liên
hệ được với nước ngoài, chưa coi là câu kết với nước ngồi, thì bị xử lý về tội hoạt động nhằm lật đổ
chính quyền nhân dân (Điều 109).
- Công dân Việt Nam được nước ngoài tổ chức, huấn luyện, gây cơ sở để hoạt động tình báo (điều
tra, thu thập tin tức bí mật của Nhà nước, bí mật quân sự…) cung cấp cho nước ngoài), phá hoại theo
sự chỉ đạo của nước ngoài hoặc thu thập cung cấp tin tức, tài liệu không thuộc bí mật Nhà nước để
nước ngồi sử dụng chống nước CHXHCN Việt Nam, thì bị xử lý về tội gián điệp (Điều 110).
- Công dân Việt Nam trốn đi nước ngoài với mưu đồ dựa vào nước ngoài nhằm chống chính
quyền nhân dân, nhưng trên đường đi đã bị bắt (tức là chưa đến mức câu kết với nước ngồi, thì bị xử
lý về tội trốn đi nước ngồi nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 121).
* Phân biệt tội phản bội tổ quốc với tội gián điệp:
Tội phản bội Tổ quốc
Tội gián điệp
Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn An ninh quốc gia, sự vững mạnh của chính

2


lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ xã hội chủ quyền nhân dân.
Khách thể

nghĩa và Nhà nước CHXHCN Việt Nam,
tiềm lực quốc phịng, an ninh.
Bất kỳ ai, có thể là công dân VN, người

Chủ thể


Công dân Việt Nam đủ 16 tuổi trở lên và nước ngồi, người khơng quốc tịch đủ 16
có năng lực TNHS.

tuổi trở lên và có năng lực TNHS.
- Hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ
sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống

Mặt khách
quan

Có sự câu kết chặt chẽ giữa công dân Việt nước CHXHCN Việt Nam.
Nam với nước ngoài…

- Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá
hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài…
- Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp
tin tức tài liệu để nn sdung chống NN
VNAm
Thám báo: tình báo + hoạt động vũ trang
phá hoại trong chiến tranh
- Lỗi cố ý trực tiếp.

- Lỗi cố ý trực tiếp.
Mặt chủ
quan

- Mục đích phạm tội: nhằm gây nguy hại - Mục đích phạm tội: chống chính quyền
đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn nhân dân, làm suy yếu CQND.
vẹn lãnh thổ tổ quốc, chế độ XHCN và

Nhà nước CHXHCNVN cuối cùng là
làm thay đổi chế độ chính trị của đất nước,

Hình phạt

lật đổ chính quyền nhân dân.
Rất nghiêm khắc
+ K1: 12 năm đền 20 năm, chung thân
hoặc tử hình.
+ K2: 7 năm đền 15 năm( có tình tiết giảm
nhẹ)

Rất nghiêm khắc
K1: 12 năm đến 20 năm, chung thân hoặc
tử hình( TH rất nghiêm trọng và đặc biệt
nghiêm trọng.
K2: Phạm tội trong trường hợp ít nghiêm
trọng thì phạt tù 5 đến 10 năm.
K3: Người chuẩn bị phạm tội từ này thì
phạt tù từ 1 đến 5 năm
K4: Được miễn trách nhiệm hình sự về tội
này.

Câu 2. Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân theo
quy định tại Điều 109 BLHS?
Trường hợp người phạm tội nhận sự giúp đỡ của nước ngoài như tiền, tài sản... để thành
lập hoặc tham gia tổ chức nhằm chống chính quyền nhân dân thì vấn đề định tội được giải quyết
như thế nào? Tại sao?

3



Xâm phạm chế độ XHCN, sự an tồn của chính quyền nhân dân.
Khách thể
Chủ thể

Người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực TNHS.
Hành vi hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân,
cụ thể:
- Hoạt động thành lập tổ chức ≠ thành lập tổ chức: là hành vi cụ thể bất kỳ trong chuỗi
hành vi hướng tới sự ra đời của tổ chức. VD. Hành vi xây dựng kế hoạch chuẩn bị cho
việc ra đời tổ chức, hành vi soạn thảo các văn kiện như chính cương, điều lệ…

Mặt khách

- Hoạt động tham gia tổ chức ≠ tham gia tổ chức: là hành vi cụ thể bất kỳ thể hiện sự sẵn

quan

sàng trở thành thành viên của tổ chức. VD. Hành vi viết, gửi đơn xin gia nhập tổ chức,
hành vi điền, ký tên vào danh sách cam kết tham gia tổ chức, hành vi đóng góp tài chính
cho tổ chức.
 CTTP cắt xén.

Mặt chủ
quan
Hình phạt

Tội phạm hồn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi thành lập tổ chức
nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, khơng phụ thuộc là tổ chức đã hình thành hay chưa

hoặc từ khi tham gia tổ chức, khơng kể đã có hoạt động cụ thể gì hay chưa.
- Lỗi cố ý trực tiếp.
- Mục đích phạm tội: nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Cttp cơ bản
+ Khung 1: tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình( người tổ chức, xúi
giục, hoạt động đắc lực gây hậu quả nghiêm trọng). chú ý: Người hoạt động đắc lực là
người tham gia tích cực trong các hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức phạm tội
nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.Gây hậu quả nghiêm trọng là gây ảnh hưởng xấu đến
an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội
+ Khung 2: người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ 5 năm đến 15 năm. người đồng
phạm bao gồm người giúp sức, người thực hành hoạt động không đắc lực.
+ Khung 3 : Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Lưu ý



Trường hợp người phạm tội nhận sự giúp đỡ của nước ngoài như tiền, tài sản… để thành lập
hoặc tham gia tổ chức nhằm chống chính quyền nhân dân, nếu chứng minh được một cách cụ thể là
nhận tiền, nhận tài sản để thành lập hoặc tham gia tổ chức chống chính quyền nhân dân thì  Thỏa
mãn dấu hiệu câu kết với nước ngoài:
- Cùng bàn bạc với nước ngồi về âm mưu chính trị, kế hoạch, hình thức hoạtđộng với nước
ngồi.
- Nhận sự trợ giúp của nước ngồi về tài chính, vũ khí, phương tiện kinh tế… để hoạt động.
- Hoạt động dựa vào thế lực nước ngoài hoặc tiếp tay cho nước ngoài.)
 Tội phản bội Tổ quốc (Điều 108).
- Công dân Việt Nam thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, có bàn
bạc với nhau, tìm cách liên hệ với nước ngoài, nhằm được nước ngoài giúp đỡ, nhưng thực tế chưa liên
hệ được với nước ngồi, chưa coi là câu kết với nước ngồi, thì bị xử lý về tội hoạt động nhằm lật đổ
chính quyền nhân dân (Điều 109).


4


3. . Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội gián điệp theo quy định tại Điều 110 BLHS?
Trường hợp cơng dân Việt Nam được nước ngồi tổ chức, huấn luyện, gây cơ sở để hoạt động
tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài hoặc thu thập, cung cấp thơng tin tài liệu
khơng thuộc bí mật Nhà nước cho nước ngồi nhằm chống chính quyền nhân dân thì vấn đề
định tội được giải quyết như thế nào? Tại sao?
Khách thể
Chủ thể

An ninh quốc gia, sự vững mạnh của chính quyền nhân dân.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực TNHS.
Thể hiện ở một trong các hành vi:
- Hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống
nước CHXHCN Việt Nam:
+ Hoạt động tình báo thể hiện ở những hành vi: điều tra, thu thập tin tức, tài liệu bất
hợp pháp để sử dụng chống nước CHXHCN Việt Nam như vẽ sơ đồ, quay phim, chụp
ảnh…
+ Hoạt động phá hoại để hoạt động tình báo bao gồm hoạt động phá hoại cơ sở vật
chất – kỹ thuật của nước CHXHCN Việt Nam, phá hoại việc thực hiện các chính sách

Mặt khách
quan

kinh tế, xã hội, phá hoại chính sách đồn kết… để hoạt động tình báo.
+ Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước CHXHCN Việt Nam là hoạt
động gây cơ sở như tuyển lựa, thu hút, lôi kéo, mua chuộc, khống chế người vào trong
mạng lưới, tổ chức gián điệp để tiếp tục thu thập tình báo hoặc phá hoại chống nước
CHXHCN VN.

- Gây cơ sở để hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động
thám báo, chỉ điểm, chứa chấp, dẫn đường hoặc thực hiện hành vi khác giúp người nước
ngồi hoạt động tình báo, phá hoại.
- Cung cấp hoặc thu thập nhằm cung cấp bí mật nhà nước cho nước ngồi; thu thập,
cung cấp tin tức, tài liệu khác nhằm mục đích để nước ngoài sử dụng chống nước

Mặt chủ
quan



CHXHCN VN.
- Lỗi cố ý trực tiếp.
- Mục đích phạm tội: nhằm chống nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Lưu ý

Trường hợp cơng dân Việt Nam được nước ngồi tổ chức, huấn luyện, gây cơ sở để hoạt động tình
báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài hoặc thu thập, cung cấp thơng tin tài liệu khơng thuộc bí
mật nhà nước cho nước ngồi nhằm chống chính quyền nhân dân  Tội gián điệp (Điều 110).



Phân biệt tội phản bội Tổ quốc (Điều 108) với tội gián điệp (Điều 110) như câu 1

5


II. CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƯỜI
Các tội xâm phạm tính mạng của con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có

năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quyền được tôn trọng và
bảo vệ về tính mạng của con người
Điều 123 đến 133, Điều 148, 149.
 Dấu hiệu pháp lý chung
Quyền sống hay quyền được tơn trọng và bảo vệ tính mạng của con người.
Khách thể

 Đối tượng tác động: con người đang sống (được sinh ra và khơng có bộ phận nào
ngừng hoạt động).
- Đa số chủ thể của nhóm tội này là chủ thể thường.
- Một số tội có dấu hiệu của chủ thể đặc biệt: Tội giết người hoặc vứt bỏ con mới đẻ

Chủ thể

(Điều 124), tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127), tội bức tử (Điều
130), tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 149).
- Đa số các tội phạm có CTTP vật chất. Một số tội phạm có CTTP hình thức: Tội đe dọa

Mặt khách
quan

giết người (Điều 133), tội lây truyền HIV cho người khác (Điều 148), tội cố ý truyền
HIV cho người khác (Điều 149).
- Hành vi khách quan: Đều có thể trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra thiệt hại về tính mạng
hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về tính mạng.
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: Đa số các tội phạm có hậu quả bắt buộc là hậu quả
chết người. Một số tội phạm có hậu hảo bắt buộc là làm nạn nhân có hành vi tự sát (chưa
chết): Tội bức tử (Điều 130), Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát (Điều 131).
Đa số các tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý. Một số tội phạm được thực hiện với lỗi


Mặt chủ
quan

vô ý: Tội vô ý làm chết người (Điều 128), Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc
nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 129).

Câu 4. Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội giết người theo quy định tại Điều 123 BLHS?
Phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác trong trường hợp “làm chết người” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134
BLHS?
Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật (từ thực
tiễn xét xử).
-

Cố ý: Mong muốn tước đoạt tính mạng của người khác trái pháp luật, trước khi có hành vi
tước đoạt tính mạng người khác.

Khách thể
Chủ thể

Xâm phạm quyền được tơn trọng và bảo vệ về tính mạng của con người.
 Đối tượng tác động: con người.
Người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực TNHS.

6


- Hành vi khách quan: hành vi giết người (hành vi tước đoạt tính mạng người khác trái
pháp luật).(đọc thêm phần bôi đậm bên dưới).
Mặt khách

quan

- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: nạn nhân chết  có ý nghĩa định tội, xác định thời
điểm hoàn thành tội phạm.
- Mối quan hệ nhân quả: giữa hành vi giết người và hậu quả nạn nhân chết phải có mối
quan hệ nhân quả.

Mặt chủ
quan



Lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp.

Mặt khách quan
- Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác một cách

trái pháp luật.
 Những hành vi không gây ra và cũng khơng có khả năng gây ra cái chết cho người khác hoặc
tuy có khả năng gây ra cái chết cho người khác, nhưng không trái pháp luật (như phịng vệ chính đáng,
hành vi thi hành án tử hình...) thì đều khơng phải là hành vi khách quan của tội giết người.
+ Hành vi tự tước đoạt tính mạng của chính mình cũng khơng phải hành vi khách quan của tội
giết người.
+ Hành vi khách quan của tội giết người có thể được thực hiện dưới dạng hành động phạm tội
hoặc không hành động phạm tội.
Hành vi phạm tội có thể được thực hiện dưới hình thức hành động hoặc không hành động:
. Hành động phạm tội giết người: hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình trạng
bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm – quyền
sống, thông qua việc người phạm tội thực hiện việc mà luật hình sự cấm. Ví dụ như hành vi đâm,
chém, nổ súng, bóp cổ, cho uống thuốc độc…

. Khơng hành động phạm tội giết người: hình thức của hành vi khách quan làm biến đổi tình
trạng bình thường của đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể của tội phạm quyền sống, thông qua việc người phạm tội không thực hiện việc mà pháp luật yêu cầu phải làm mặc
dù có đủ điều kiện để làm. Ví dụ như khơng cho ăn uống đối với người mà mình có trách nhiệm nuôi
dưỡng…
- Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm  Thời điểm hoàn thành của tội giết
người là thời điểm hậu quả chết người xảy ra.
- Mối quan hệ nhân quả: Hành vi khách quan của tội giết người được coi là nguyên nhân gây ra
hậu quả chết người nếu thoả mãn ba điều kiện:
+ Hành vi giết người xảy ra trước hậu quả chết người về mặt thời gian.
+ Hành vi giết người phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả chết người.
+ Ba là hậu quả chết người xảy ra trực tiếp do hành vi giết người gây ra.

7


 Việc xác định đúng mối quan hệ nhân quả làm sáng tỏ vấn đề có hành vi xâm phạm quyền
sống của người khác hay khơng đồng thời có thể kết luận được chủ thể đã thực hiện hành vi đó. Ví dụ:
A dùng dao đâm đâm B một nhát vào vùng bả vai (ít có khả năng gây ra chết người). Sau đó B được
mọi người chở đi bệnh viện để cứu chữa, nhưng trong quá trình sơ cứu bác sĩ tiêm nhầm thuốc, B tử
vong. Pháp y kết luận nạn nhân tử vong do bị sốc thuốc  A có hành vi đâm B và hậu quả chết người
đã xảy ra nhưng A không phạm tội giết người vì hành vi của A khơng có quan hệ nhân quả với cái chết
của B. Nói cách khác hành vi của A không chứa đựng khả năng gây ra chết người  Hậu quả chết
người phải là kết quả của hành vi giết người chứ không phải kết quả của của những nguyên nhân khác.



Tình tiết định khung hình phạt tăng nặng
- Giết 2 người trở lên là trường hợp phạm tội một lần giết 2 người trở lên hoặc phạm tội hai lần

trở lên giết 2 người trở lên và những lần đó chưa bị xử lý hình sự, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS,

được đưa ra truy tố, xét xử cùng một lúc. Hành vi này không yêu cầu phải gây ra hậu quả 2 người trở
lên chết.
- Giết người dưới 16 tuổi là trường hợp giết người mà nạ nhân là người dưới 16 tuổi. Người phạm
tội có thể biết hoặc khơng biết nạn nhân là người dưới 16 tuổi.
- Giết phụ nữ mà biết là có thai là trường hợp giết người mà nạn nhân là người đang có thai và
người phạm tội biết điều đó. Biết là có thai được xác định bằng các chứng cứ chứng minh như người
phạm tội và mọi người đều nhìn thấy được hoặc người phạm tội nghe được, biết được từ các nguồn
thong tin khác nhau về người phụ nữ đang có thai.
- Giết người đang thi hành cơng vụ hoặc vì lý do cơng vụ của nạn nhân
+ Giết người đang thi hành công vụ là trường hợp giết người đang được cơ quan, tổ chức hoặc cá
nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp
luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước và xã hội.
+ Giết người vì lý do cơng vụ của nạn nhân có thể là trường hợp giết người để ngăn cản nạn
nhân thi hành công vụ hoặc giết người để trả thù vì nạn nhân đã thi hành công vụ.
- Giết ông bà, cha mẹ, người nuôi dưỡng, thầy cơ giáo của mình
+ Giết ơng, bà: giết ơng, bà nội hoặc giết ông, bà ngoại.
+ Giết cha, mẹ: giết cha, mẹ đẻ; cha, mẹ vợ/chồng; cha, mẹ nuôi; cha dượng, mẹ kế.
+ Giết người nuôi dưỡng: giết anh, em, cơ, dì, chú, bác, bà con than thích hoặc những người đã
hoặc đang ni dưỡng mình.
+ Giết thầy, cơ giáo của mình: giết người đã hoặc đang làm cơng tác giảng dạy theo biên chế
hoặc theo hợp đồng tại cơ quan, tổ chức có chức năng giáo dục, đào tạo, dạy nghề được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cho phép. Nạn nhân đã hoặc đang làm công tác giảng dạy người phạm tội, không
kể thời gian dài hay ngắn.
- Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng
hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

8


+ Giết người mà liền trước đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc

biệt nghiêm trọng là trường hợp vừa thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng thì đã thực hiện tội giết người sau đó.
Tội phạm rất nghiêm trọng/ đặc biệt nghiêm trọng

ngay sau đó

Tội giết người

+ Giết người mà ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng là trường hợp vừa thực hiện tội giết người thì đã thực hiện ngay sau đó một tội phạm rất
nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Tội giết người

ngay sau đó

Tội phạm rất nghiêm trọng/ đặc biệt nghiêm trọng

Lưu ý: Tội phạm rất nghiêm trọng/ đặc biệt nghiêm trọng khơng phải tội giết người.
Liền trước đó hoặc ngay sau đó có thể là vài giây, vài phút, vài giờ (chưa có văn bản hướng dẫn
cụ thể).
- Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác là trường hợp mà động cơ thúc đẩy người phạm tội
có hành vi giết người là để thực hiện hoặc che giấu một tội phạm khác.
- Để lấy bộ phận cơ thể nạn nhân là trường hợp giết người để chiếm đoạt bộ phận nào đó của cơ
thể nạn nhân như tim, gan, thận… để đem bán, cho người khác hoặc để sử dụng cấy, ghép cho bản
thân người phạm tội.
- Thực hiện tội phạm một cách man rợ là trường hợp giết người đặc biệt tàn ác, dã man, như
dùng những thủ đoạn làm cho nạn nhân đau đớn cao độ, gây khủng khiếp, rung rợn trong xã hội, như
móc mắt, xả thịt, moi gan, chặt người ra từng khúc…
- Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp là trường hợp người phạm tội sử dụng nghề nghiệp của mình
để thực hiện việc giết người. VD. Bác sĩ, y tá lợi dụng nghề nghiệp của mình để tiêm thuốc độc giết

người bệnh…
- Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người là trường hợp người phạm tội đã sử
dụng phương pháp mà trong hồn cảnh cụ thể thì có khả năng làm chết 2 người trở lên. VD. Cho thuốc
độc vào nguồn nước nhiều người cùng sử dụng.
- Thuê giết người hoặc giết người thuê
+ Thuê giết người là trường hợp người phạm tội dùng tiền, lợi ích khác để thuê người khác giết
người.
+ Giết người thuê là trường hợp người phạm tội giết người do được người khác thuê bằng tiền,
lợi ích khác.
- Có tính chất cơn đồ là trường hợp người phạm tội vì những nguyên cớ nhỏ nhặt mà sẵn sàng
dùng vũ lực tấn công người khác, thể hiện tính hung hãn cao, coi thường tính mạng của người khác…
- Có tổ chức là trường hợp đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội
phạm, thể hiện ở các dạng:
+ Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội.

9


+ Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất
trước.
+ Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm
theo một kế hoạch được tính tốn kỹ càng, chu đáo, có chuẩn bị phương tiện hoạt động và có khi cịn
chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm.
- Tái phạm nguy hiểm có thể là trường hợp:
+ Người phạm tội đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được
xóa án tích mà lại phạm tội giết người.
+ Người phạm tội đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội giết người.
- Vì động cơ đê hèn là trường hợp người phạm tội giết người để trả thù, để trốn tránh trách nhiệm
của bản thân, giết người mà mình mang ơn… thể hiện sự bội bạc, phản trắc. VD. Giết người đã có thai
với mình để trốn tránh trách nhiệm; giết nguời đã cho vay, giúp đỡ mình khắc phục khó khan, hoạn

nạn nhằm trốn nợ…



Lưu ý
1) CTTP của tội giết người là CTTP vật chất  Hậu quả chết người là hậu quả bắt buộc.
2) Nếu trên thực tế, hậu quả chết người không xảy ra:
- Nếu tội giết người được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp  Người phạm tội phải chịu TNHS về

tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt hoặc chuẩn bị phạm tội.
- Nếu tội giết người được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp  Người phạm tội phải chịu TNHS về
tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nếu thương tích xảy ra thỏa
mãn dấu hiệu tỉ lệ tổn thương cơ thể được quy định ở Điều 134 là từ 11% trở lên hoặc dưới 11%
nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này
3) Trường hợp tước đoạt tính mạng của người khác do được nạn nhân yêu cầu thì vẫn coi là hành
vi giết người.
4) Trường hợp giết nhầm người:
- Định giết người nhưng lại đâm nhầm vào đối tượng không phải là người  Phải chịu TNHS về
tội giết người (Sai lầm về khách thể).
- Trong khi đi săn đã bắn chết người do nhầm là thú  Không phải chịu TNHS về tội giết người
mà chịu TNHS về tội vô ý làm chết người (Sai lầm về khách thể).
- Định giết A nhưng giết nhầm B vì tưởng B là A  Phải chịu TNHS về tội giết người (giết A)
(Sai lầm về khách thể).
- Nhằm bắn A để giết A nhưng đã bắn chệch vào B làm B chết  Phải chịu TNHS về tội giết
người đối với A và tội vô ý làm chết người đối với B (Sai lầm về quan hệ nhân quả).
- Tưởng súng khơng có đạn nên đã bóp cị và làm chết người  Khơng phải chịu TNHS về tội
giết người nhưng phải chịu TNHS về tội vô ý làm chết người (Sai lầm về công cụ, phương tiện).
- “Giết” người đã chết

10



TH1. A chưa biết B đã chết và đâm B  Phải chịu TNHS về tội giết người ở giai đoạn phạm
tội chưa đạt.
TH2. A biết B đã chết mà vẫn thực hiện hành vi đâm B, chặt xác B  Không phải chịu TNHS
về tội giết người nhưng phải chịu TNHS về tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt.



Phân biệt tội giết người với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác trong trường hợp “làm chết người”
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
Tội giết người

Cơ sở PL
Khách thể

hại cho sức khỏe của người khác trong

trường hợp “làm chết người”
Điều 123.
Điểm a Khoản 4 Điều 134.
Quyền được tôn trọng và bảo vệ tính Quyền được tơn trọng và bảo vệ sức khỏe
mạng của con người.

của con người.

 Đối tượng tác động: con người (con  Đối tượng tác động: con người.
Chủ thể
Hành vi


ngừi đang sống)
Người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực TNHS.
Hành vi giết người (hành vi tước đoạt tính Hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây

KQ
Vị trí tấn

mạng người khác trái pháp luật).
tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Thông thường NPT lựa chọn những vùng NPT không lựa chọn những vị trí xung

cơng trên

xung yếu trên cơ thể (như vùng đầu, cổ, yếu để tấn công mà tấn công vào bất kỳ

cơ thể nạn

ngực, bụng...) để tấn công làm cho nạn vùng nào trên cơ thể nạn nhân nhằm gây

nhân

nhân có thể chết ngay.
thương tích cho họ.
NPT thường sử dụng vũ khí hoặc các loại Thơng thường NPT chỉ sử dụng tay,

Cơng cụ,

hung khí có mức độ nguy hiểm cao, có chân, để đấm, đá hoặc dùng các loại hung


phương

nhiều khả năng gây chết người như súng, khí bất kỳ có mức độ nguy hiểm khơng

tiện

lựu đạn, lưỡi lê, dao nhọn, mã tấu,... để cao để tấn công nạn nhân.
tấn công nạn nhân.
Cường độ tấn công của người phạm tội Cường độ tấn công của người phạm tội

Cường độ

rất cao và quyết liệt để có thể làm cho nạn có mức độ, hậu quả chết người xảy ra là

tấn công

nhân chết ngay (trừ trường hợp lỗi cố ý do những nguyên nhân khách quan

Hậu quả

gián tiếp).
Là tình tiết định tội  CTCB.

khác…
Là tình tiết định khung hình phạt tăng

chết người

nặng  CTTN.
Lỗi cố ý cả về hành vi và hậu quả.

NPT nhận thức rõ hành vi đó có thể dẫn Hỗn hợp lỗi: Lỗi cố ý về hành vi gây

Hình thức
lỗi
Mục đích

đến cái chết cho nạn nhân nhưng vẫn cố thương tích nhưng vơ ý đối với hậu quả
tình thực hiện để mong muốn hoặc bỏ chết người.
mặc hậu quả chết người xảy ra.
Mong muốn nạn nhân chết.

Chỉ gây thương tích hoặc gây tổn hại sức

11


khỏe…
Câu 5. Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội giết người trong trường hợp “giết phụ nữ mà
biết là có thai” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 123 BLHS?
Là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của tội giết người quy định tại điểm c Khoản 1 Điều
123  Trước hết phải thỏa mãn dấu hiệu pháp lý của tội giết người.(nêu lại các dấu hiệu pháp lý)
- Mặt chủ quan: Người phạm tội biết nạn nhân là phụ nữ đang mang thai. Điều này được xác
định bằng các chứng cứ chứng minh như người phạm tội và mọi người đều nhìn thấy được hoặc người
phạm tội nghe được, biết được từ các nguồn thơng tin khác nhau về người phụ nữ đang có thai.
Trong trường hợp thực tế khó nhận biết được người phụ nữ đó đang mang thai hay khơng hoặc
giữa lời khai của người phạm tội và người bị hại về việc này có mâu thuẫn với nhau thì để xác định
người phụ nữ đó có thai hay khơng phải căn cứ vào kết luận của cơ quan chuyên môn y tế hoặc kết
luận giám định.




Phân biệt tội giết người trong trường hợp “giết phụ nữ mà biết là có thai” với tội giết người
có tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội đối với phụ nữ có thai”
(Mục 2 Nghị quyết 01/2006/HĐTP)
- Giết người trong trường hợp “giết phụ nữ mà biết là có thai” là tình tiết định khung hình phạt

tăng nặng của tội giết người quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 123  Người phạm tội biết nạn nhân
là phụ nữ có thai nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội => Cố ý trực tiếp. Điều này được xác
định bằng các bằng chứng chứng minh người phạm tội và mọi người đều nhìn thấy được hoặc người
phạm tội nghe được, biết được từ các nguồn thông tin khác nhau về người phụ nữ đang có thai.
- “Phạm tội đối với phụ nữ có thai” là tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm I Khoản 1
Điều 52  Phạm tội do lỗi cố ý, không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người phạm tội có nhận
biết được hay khơng nhận biết được người bị xâm hại là phụ nữ có thai.
Câu 6. Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội giết người trong trường hợp “giết 02 người
trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 123 BLHS?
Là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của tội giết người quy định tại điểm a Khoản 1 Điều
123  Trước hết phải thỏa mãn dấu hiệu pháp lý của tội giết người. (nêu chung các dấu hiệu).
Giết 02 người trở lên là trường hợp phạm tội một lần giết 02 người trở lên hoặc phạm tội hai lần
trở lên giết 02 người trở lên và những lần đó chưa bị xử lý hình sự, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS,
được đưa ra truy tố, xét xử cùng một lúc. Hành vi này không yêu cầu phải gây ra hậu quả 02 người trở
lên chết. Trường hợp đã có hành vi giết 02 người trở lên nhưng hậu quả 02 người trở lên chết khơng
xảy ra thì người phạm tội cũng bị áp dụng tình tiết này nhưng thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.
Trường hợp giết 02 người trở lên thực hiện 02 lần trở lên và những lần đó chưa bị xử lý hình sự,
chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS thì cùng với việc bị truy cứu TNHS theo điểm a khoản 1 điều 123

12


thì cịn phải áp dụng thêm tình tiết tăng nặng TNHS “phạm tội 2 lần trở lên” theo quy định tại điểm g
khoản 1 điều 52 BLHS 2015.




Phân biệt tội giết người trong trường hợp “giết 02 người trở lên” (điểm a Khoản 1 Điều 123)
với tội giết người “bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người” (điểm l Khoản 1
Điều 123)
- Giết người bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người là trường hợp người phạm tội

đã sử dụng phương pháp mà trong hoàn cảnh cụ thể thì có khả năng làm chết 2 người trở lên. VD. Cho
thuốc độc vào nguồn nước nhiều người cùng sử dụng  Phương pháp là dấu hiệu bắt buộc phải có
tính nguy hiểm cao, có khả năng làm chết nhiều người, khơng địi hỏi phải gây ra hậu quả làm chết
nhiều người.
- Giết 02 người trở lên  Thủ đoạn, phương pháp khơng bắt buộc phải có hoặc khơng có tính
nguy hiểm cao.
Câu 7. Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ theo quy định tại Điều
124 BLHS?
Tội giết con mới đẻ
Tội vứt bỏ con mới đẻ
Quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người.
Khách thể

 Đối tượng tác động: đứa trẻ mới đẻ trong 7 ngày tuổi do NPT sinh ra.
Người mẹ trực tiếp sinh ra đứa trẻ, đủ 16 Người mẹ trực tiếp sinh ra đứa trẻ, đủ

Chủ thể

tuổi trở lên và có NLTNHS.
16 tuổi trở lên và có NLTNHS.
Hành vi tước đoạt tính mạng của đứa trẻ - Hành vi vứt bỏ đứa trẻ do chính mình
do chính mình sinh ra trong 7 ngày tuổi sinh ra trong 7 ngày tuổi do ảnh hưởng


Mặt khách
quan

một cách trái pháp luật do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu trong hoàn
nặng nề của tư tưởng lạc hậu trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt.
cảnh khách quan đặc biệt.

- Vứt bỏ con mới đẻ là mang con mới đẻ

Hành vi giết con mới đẻ có thể được thực bỏ đi khơng có ý thức lấy lại. Ví dụ: vứt
hiện dưới hình thức hành đơng hoặc con trên đường giao thơng, ngồi ruộng,
khơng hành đơng:

trước cửa chùa...

- Hành động: tiêm thuốc độc, làm đứa trẻ - Hậu quả: đứa trẻ chết.
ngạt thở, bóp chết đứa trẻ...
- Khơng hành động: bỏ đói, khơng cho
bú, khơng cho uống sữa...
Mặt chủ

- Hậu quả: đứa trẻ chết.
Lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp. Lỗi cố ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý do quá

quan

NPT nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã tự tin. NPT thấy trước khả năng hậu quả
hội của hành vi, thấy trước hậu quả của đứa trẻ có thể chết nhưng có ý thức để
hành vi của mình nhưng mong muốn hoặc mặc hoặc tin rằng hậu quả không xảy ra.


13


để mặc cho hậu quả xay ra.


Lưu ý
- Ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu là những tư tưởng cũ, khơng phù hợp với truyền thống

văn hóa, đạo đức dân tộc, sợ dư luận xã hội chê bai về việc mang thai hoặc đẻ con ngoài giá thú…
- Trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt là trong hoàn cảnh đặc biệt bên ngoài tác động đến việc
quyết định thực hiện hành vi phạm tội của người phạm tội như đứa trẻ sinh ra có khuyết tật, dị dạng…
- Trong trường hợp đã thực hiện hành vi giết con mới đẻ nhưng chưa gây hậu quả đúea trẻ chết do
những ngun nhân khách quan ngồi ý muốn thì người phạm tội vẫn phải chịu TNHS về tội giết con
mới đẻ (phạm tội chưa đạt) theo quy định tại k1 điều 124 và điều 15.
- Hậu quả đứa trẻ chết là dấu hiệu bắt buộc đối với tội vứt bỏ con mới đẻ Nếu đứa trẻ khơng
chết thì khơng đặt ra vấn đề TNHS đối với người mẹ.
- Những người không phải người mẹ sinh ra đứa trẻ mà tổ chức, xúi giục, giúp sức cho người mẹ
giết con mới đẻ (khơng trực tiếp giết đứa trẻ) thì bị coi là đồng phạm tội giết con mới đẻ.
- Người không phải người mẹ sinh ra đứa trẻ mà trực tiếp giết đứa trẻ trong 7 ngày tuổi mặc dù
làm theo lời người mẹ sinh ra đứa trẻ, thì bị truy cứu TNHS về tội giết người với tình tiết định khung
hình phạt tăng nặng giết người dưới 16 tuổi.



Phân biệt tội giết con mới đẻ với tội giết người trong trường hợp “giết người dưới 16 tuổi”
Tội giết người trong trường hợp “giết
Tội giết con mới đẻ
người dưới 16 tuổi”

Quyền được tơn trọng và bảo vệ tính mạng Quyền được tơn trọng và bảo vệ tính mạng
của con người.

Khách thể

của con người.

 Đối tượng tác động: đứa trẻ mới đẻ  Đối tượng tác động: người dưới 16
trong 7 ngày tuổi do NPT sinh ra.
tuổi.
Người mẹ trực tiếp sinh ra đứa trẻ, đủ 16 Người đủ 14 tuổi trở lên và có NLTNHS

Chủ thể

tuổi trở lên và có NLTNHS  Chủ thể đặc  Chủ thể thường.
biệt.
- Hành vi khách quan: hành vi tước đoạt

- Hành vi khách quan: hành vi tước đoạt

tính mạng của đứa trẻ do chính mình sinh tính mạng của người dưới 16 tuổi một
Mặt khách
quan

Mặt CQ

ra trong 7 ngày tuổi một cách trái pháp luật cách trái pháp luật.
do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu - Hậu quả: người dưới 16 tuổi chết.
trong hồn cảnh khách quan đặc biệt.


 Hậu quả khơng xảy ra thì NPT phải

- Hậu quả: đứa trẻ chết.

chịu TNHS ở giai đoạn PTCĐ hoặc CBPT

 Chỉ đặt ra TNHS khi hậu quả xảy ra.

(lỗi cố ý trực tiếp) hoặc tội cố ý gây

thương tích… (lỗi cố ý gián tiếp).
Lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp.

14


Câu 8. Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125)
Khách thể

Quyền được tơn trọng và bảo vệ tính mạng của con người.

Chủ thể

 Đối tượng tác động: con người.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên và có NLTNHS.
- Hành vi khách quan: hành vi giết người (hành vi tước đoạt tính mạng người khác trái

Mặt khách

pháp luật) trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm


quan

trọng của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội.
- Hậu quả: nạn nhân chết.

Mặt chủ
quan

Lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.

- Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh: Là trạng thái mà người phạm tội khơng hồn tồn tự
chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình.
- Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân có thể là:
+ Hành vi cụ thể và tức thì dẫn đến trạng thái tình thần bị kích động mạnh của người phạm tội.
+ Chuỗi những hành vi diễn ra có tính chất lặp đi lặp lại trong thời gian dài và liên tiếp tác động đến
tinh thần người phạm tội làm họ bị dồn nén về tâm lý. Đến thời điểm nào đó, hành vi trái pháp luật của
nạn nhân lại tiếp diễn làm trạng thái tinh thần của người phạm tội bị đẩy lên cao độ, dẫn đến trạng thái
tinh thần bị kích động mạnh.


Lưu ý
Để có thể xác định tinh thần của người phạm tội có bị kích động mạnh hay không cần xem xét một

cách khách quan, toàn diện các mặt:
- Thời gian, hoàn cảnh, địa điểm, diễn biến, nguyên nhân sâu xa và trực tiếp của sự việc.
- Mối quan hệ giữa nạn nhân và người phạm tội.
- Trình độ văn hóa, chính trị, tính tình, cá tính của mỗi bên.
- Mức độ nghiêm trọng của hành vi trái pháp luật của nạn nhân.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân với tình trạng tinh

thần bị kích động của người phạm tội.
Câu 9. Tội giết người do vượt q giới hạn phịng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết
khi bắt giữ người phạm tội (Điều 126)
Quyền được tơn trọng và bảo vệ tính mạng của con người.
Khách thể
Chủ thể

 Đối tượng tác động: con người.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên và có NLTNHS.
- Hành vi khách quan:
+ Tội giết người do vượt quá giới hạn phịng vệ chính đáng: hành vi tước đoạt tính

Mặt khách

mạng người khác trái pháp luật do vượt quá giới hạn phịng vệ chính đáng.

15


quan

+ Tội giết người do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội: hành vi của
người để bắt giữ người đã thực hiện hành vi phạm tội đã gây thiệt hại đến tính mạng của
người đó do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết.

Mặt CQ

- Hậu quả: nạn nhân chết.
Lỗi cố ý gián tiếp.


Dể coi hành vi nào đó là hành vi phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng phải xác định được người phạm tội có quyền phịng vệ chính đáng và trong q trình thực
hiện quyền phịng vệ chính đáng đã thực hiện hành vi q mức cần thiết , dẫn đến cái chết cho
người có hành vi xâm hại. Theo khoản 2 điều 22 BLHS,Các điều kiện để xác định một người có
hành vi giết người do vượt q giới hạn phịng vệ chính đáng:
- Nạn nhân đã có hành vi xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức hoặc quyền, lợi ích
chính đáng của người khác.
- Hành vi xâm hại phải đang xảy ra hoặc đang đe dọa xảy ra thực sự và ngay tức khắc cho những
lợi ích hợp pháp.
- Hành vi phịng vệ phải nhằm vào chính người đang có hành vi xâm hại.
- Người phạm tội đã chống trả một cách quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại, gây ra cái chết cho nạn nhân.
Các điều kiện để xác định một người có hành vi giết người do vượt quá mức cần thiết khi bắt
giữ người phạm tội (điều 24):
- Nạn nhân là người đã thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm.
- Người bắt giữ khơng có quyền phịng vệ chính đáng nhưng theo những quy định của luật tố
tụng hình sự, họ có quyền bắt giữ người phạm tội.
- Để bắt giữ người phạm tội, người bắt giữ khơng cịn cách nào khác là phải sử dụng vũ lực gây
thiệt hại cho người bị bắt giữ.
- Trong quá trình thực hiện việc bắt giữ người bắt giữ đã sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức
cần thiết, không phù hợp với yêu cầu của việc dùng vũ lực gây thiệt hại khi bắt giữ người phạm tội,
gây cái chết cho nạn nhân.



Phân biệt tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với tội giết người do
vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
Tội giết người trong trạng thái tinh thần

Tội giết người do vượt q giới hạn


bị kích động mạnh
phịng vệ chính đáng
- Do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng - Do vượt q giới hạn phịng vệ chính
Ngun
nhân

của nạn nhân đối với người phạm tội hoặc đáng: Chống trả một cách quá mức cần
người thân thích của người phạm tội.

thiết khơng phù hợp với tính chất, mức độ

nguy hiểm của hành vi xâm hại.
- Hành vi cụ thể và tức thì dẫn đến trạng - Hành vi xâm hại của nạn nhân là có thật,

16


thái tình thần bị kích động mạnh của người nguy hiểm đáng kể cho xã hội, đang diễn
phạm tội.

ra hoặc đe dọa diễn ra ngay tức khắc.

Hành vi

- Chuỗi những hành vi diễn ra có tính chất - Chỉ có thể bằng hành động.

trái pháp

lặp đi lặp lại trong thời gian dài và liên tiếp - Xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, cơ


luật của

tác động đến tinh thần người phạm tội làm quan, tổ chức; quyền, lợi ích chính đáng

nạn nhân

họ bị dồn nén về tâm lý…

của người phạm tội, của người khác.

- Có thể bằng hành động hoặc lời nói.
- Gây ra đối với người phạm tội hoặc
người thân thích của người phạm tội.
Người phạm tội thực hiện hành vi giết Người phạm tội có thể hoặc khơng bị kích
Thái độ
tâm lý

người trong trạng thái tinh thần bị kích động về tinh thần (PVCĐ là quyền và
động mạnh.

trong một số trường hợp là nghĩa vụ của
công dân)

Trường hợp người phạm tội giết người vừa có dấu hiệu vượt q giới hạn phịng vệ chính
đáng, vừa có dấu hiệu trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh  định tội về tội giết người
do vượt quá giới hạn phịng vệ chính đáng (Điều 126) và viện dẫn tình tiết giảm nhẹ TNHS
“phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân
gây ra” (điểm e khoản 1 Điều 51 BLHS).
 Tranh chấp giữa các hành vi có các dấu hiệu của các CTTP đều có tính chất giảm nhẹ. Trong

trường hợp này, phải định tội theo tội có dấu hiệu CTTP giảm nhẹ nhất.
- Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh: 06 tháng – 03 năm.
- Tội giết người do vượt quá giới hạn phịng vệ chính đáng: 03 tháng – 02 năm (*)(đọc thêm về
phần định tội)
Câu 10. Tội bức tử (Điều 130)
Quyền được tơn trọng và bảo vệ tính mạng của con người.
 Đối tượng tác động: người bị lệ thuộc vào người phạm tội (người phải chịu sự chi
Khách thể

phối của người phạm tội do những mối quan hệ nhất định (người con phụ thuộc vào cha
dượng, mẹ kế; người tàn tật hoặc khơng có khả năng lao động phụ thuộc vào người nuôi

Chủ thể
Mặt khách

dưỡng…)
Người mà nạn nhân lệ thuộc, đủ 16 tuổi trở lên và có NLTNHS.
- Hành vi khách quan: hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm

quan

nhục người lệ thuộc mình.

Mặt CQ



- Hậu quả: Làm nạn nhân có hành vi tự sát.
Lỗi cố ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý (do quá tự tin hoặc do cẩu thả).


Hành vi khách quan

17


Hành vi đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình được
thể hiện ở 3 dạng hành vi
- Đối xử tàn ác: Là đối xử một cách độc ác, tàn bạo, gây đau đớn về thể xác hoặc tình thần nạn
nhân như đánh đập, bỏ đói, bỏ rét…
- Thường xuyên ức hiếp, ngược đãi: Là thường xuyên cậy quyền, cậy thế, đối xử bất cơng, bất
bình đẳng với nạn nhân như thường xuyên bỏ đói, bỏ rét, gây ra sự uất ức, bế tắc cho nạn nhân…
- Thường xuyên làm nhục: Là xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của nạn nhân như
mắng nhiếc, chửi rủa, mạt sát… gây tổn thương nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của nạn nhân.



Lưu ý
Người phạm tội này không bị truy cứu TNHS thêm về tội hành hạ người khác (Điều 140) và tội

làm nhục người khác (Điều 155).



So sánht tội bức tử với tội hành hạ người khác (điều 140)
Tội bức tử
Tội hành hạ người khác
- Đối tượng tác động: người bị lệ thuộc vào người phạm tội.

Giống


- Đều có hành vi khách quan là hành vi đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ thuộc vào

nhau

mình.
- Chủ thể là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có NLTNHS.
Quyền được tơn trọng và bảo vệ tính mạng Quyền được tơn trọng và bảo vệ sức khỏe

Khách thể
Hành vi

của con người.
của con người.
- Đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, - Đối xử tàn ác hoặc làm nhục người lệ
ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc thuộc mình.

khách

mình.

quan

 Có tính chất thường xuyên.
- Làm nạn nhân tự sát (tự tước đoạt mạng - Không yêu cầu dấu hiệu hậu quả

Hậu quả

sống của chính mình)  dấu hiệu bắt
buộc.
Lỗi cố ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý (do quá tự Lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.


Lỗi



tin hoặc do cẩu thả).

Lưu ý
- Hành vi làm nhục người lệ thuộc mình khơng cấu thành tội làm nhục người khác (Điều 155) mà

cấu thành tội hành hạ người khác (Điều 140).
- Trường hợp đối xử tàn ác với người lệ thuộc là ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người
có cơng ni dưỡng mình bằng cách thường xun làm cho nạn nhân đau đớn về thể xác, tinh thần 
Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có cơng ni dưỡng mình
(Điều 185).

18


- Trường hợp hành hạ, ngược đãi người lệ thuộc nhằm cưỡng ép họ kết hôn trái với sự tự nguyện
của họ, cản trở họ kết hơn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ đã bị xử phạt vi phạm
hành chính về hành vi này mà cịn vi phạm  Tội cưỡng ép kết hơn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện,
tiến bộ (Điều 181).
- Hành vi của người trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục
hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào  Tội dùng
nhục hình (Điều 373).
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI
Các tội xâm phạm sức khỏe của con người là những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có
năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quyền được tôn trọng và

bảo vệ về sức khỏe của con người
Điều 134 đến 140.
 Dấu hiệu pháp lý chung
Quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của con người.
Khách thể

 Đối tượng tác động: con người.
- Đa số chủ thể của nhóm tội này là chủ thể thường.
- Một số tội có dấu hiệu của chủ thể đặc biệt: Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho

Chủ thể

sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137), tội hành hạ người khác
(Điều 140).
- Đa số các tội phạm có CTTP vật chất.
Tội phạm có CTTP hình thức: Tội hành hạ người khác (Điều 140).

Mặt khách
quan

- Hành vi khách quan: Đều được thể hiện ở hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác.
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: Đa số các tội phạm có hậu quả bắt buộc là thương tích
hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác.
- Đa số các tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.
- Một số tội phạm được thực hiện với lỗi vơ ý: Tội vơ ý gây thương tích hoặc gây tổn

Mặt chủ

hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138), Tội vơ ý gây thương tích hoặc gây tổn hại


quan

cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính
(Điều 139).

Câu 11. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134)
Quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của con người.
Khách thể

 Đối tượng tác động: con người.

19


- Khoản 1, 2, 6: Người đủ 16 tuổi trở lên và có NLTNHS.
Chủ thể
Mặt khách

- Khoản 3, 4, 5: Người đủ 14 tuổi trở lên và có NLTNHS.
Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở hành vi cố ý gây thương tích cho người

quan

khác hoặc hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
- Hậu quả: Gây thương tích cơ thể cho nạn nhân (từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng

Mặt CQ




thuộc một trong các trường hợp tại Khoản 1 Điều 134).
Lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.

Hành vi khách quan
- Hành vi cố ý gây thương tích cho người khác là hành vi của một hoặc nhiều người cố ý dừng

sức mạnh vật chất tác động vào cơ thể của người khác và gây ra cho người đó những dấu vết tổn
thương cơ thể nhất định.
Thương tích được hiểu là những dấu vết để lại trên cơ thể con người, có thể bao gồm: vết bỏng,
sự mất đi một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể như mất ngón tay, bàn tay, cánh tay…
Hành vi này được coi là tội phạm khi mức độ tổn thương cơ thể do hành vi đó gây ra có tỷ lệ trên
11% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp tại Khoản 1 Điều 134.
- Hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một hoặc nhiều người cố
ý dùng SMVC tác động vào cơ thể của người khác và làm cho trạng thái về thể chất, tâm thần của
người đó suy yếu đi, dù không để lại dấu vết tổn thương trên cơ thể người đó.
Hành vi này được coi là tội phạm khi mức độ tổn thương cơ thể do hành vi đó gây ra có tỷ lệ trên
11% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp tại Khoản 1 Điều 134.



Tình tiết định khung hình phạt tăng nặng
- Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho

nhiều người
Vũ khí là thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những phương tiện được chế tạo, sản xuất có khả
năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất, bao
gồm: vũ khí qn dụng, sung săn, vũ khí thơ sơ, vũ khí thể thao và vũ khí khác có tính năng, tác dụng
tương tự.
Vật liệu nổ là sản phẩm dưới dạng tác động của xung kích ban đầu gây phản ứng hóa học nhanh,

mạnh, tỏa nhiệt, sinh khí, phát sáng, tạo ra tiếng nổ, bao gồm thuốc nổ và phụ kiện nổ.
Hung khí nguy hiểm là cơng cụ PT có tính nguy hiểm cho con người cao hơn cơng cụ PT thơng
thường nhưng khơng phải là vũ khí, vật liệu nổ như xà beng, búa tạ, dao sắc nhọn…
Thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người là thủ đoạn có khả năng gây ra thương
tích hoặc tổn hại cho sức khỏa của 02 người trở lên. VD: đặt khúc gỗ ngang đường giao thơng khuất
tầm nhìn trong đêm tối để gây tai nạn cho người đi xe máy, làm nhiều người bị thương tích.
- Dùng axit nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm

20



×