ĐỀ CƯƠNG MÔN ĐẠO ĐỨC NGƯỜI CÁN BỘ KIỂM SÁT
Câu hỏi:
Câu 1: Qua các ví dụ dưới đây, theo bạn như thế nào là đạo đức? Đạo đức
nghề nghiệp? Những yếu tố nào tác động đến hành vi của các chủ thể: Sinh
viên trường ĐH A ở ví dụ 1; Giảng viên trường ĐH B ở ví dụ 2; người cơng
chức ở ví dụ 3/
Ví dụ 1: Sinh viên ở trường đại học A có thói quen vứt rác tùy tiện (Sân chơi,
hành lang giảng đường, hành lang Ký túc xá, gầm bàn học ở giảng đường,…).
Ví dụ 2: Giảng viên ở Trường ĐH B không dạy hết cho sinh viên khi lên lớp,
giữ lại các phần bài để dạy riêng trong các buổi học thêm tại nhà mình. Sau
đó ra bài kiểm tra bằng phần kiến thức ấy để đánh đố những sinh viên không
đi học thêm ở nhà Giảng viên ở Trường ĐH B.
Ví dụ 3: Hiện nay có một bộ phận khơng nhỏ cơng chức đang ngày càng vơ
cảm với dân và thậm chí với cả chức phận của mình. Sáng cắp ơ đi, chiều cắp
ơ về, lĩnh lương đều đặn mà khơng có đóng góp gì đáng kể cho cơ quan mình,
vị trí việc làm của mình, thậm chí họ cịn có “thái độ phục vụ người dân”
đáng báo động đến mức khiến một vị Bộ trưởng phải quán triệt cán bộ của
ngành mình phải biết “3 xin”: “xin lỗi”, “xin chào”, “xin phép”.
Câu 2: Bằng các ví dụ cụ thể, bạn hãy phân tích, so sánh chức năng điều
chỉnh của đạo đức và chức năng điều chỉnh của pháp luật?
Câu 3. Mục đích của hành vi đạo đức là khẳng định và làm gia tăng các lợi
ích xã hội. Tuy nhiên khơng phải mọi hành vi làm gia tăng lợi ích xã hội đều
là hành vi đạo đức. Bằng các ví dụ cụ thể, tình huống cụ thể, bạn hãy chứng
minh luận điểm trên.
Câu 4: Bạn hãy phân tích mối quan hệ giữa đạo đức cơng chức trong thực
thi cơng vụ với nền hành chính nhà nước .
1
Câu 5: Bằng những hiểu biết của mình và kiến thức từ nội dung: Đạo đức
công chức trong thực thi công vụ, bạn hãy chỉ ra cái thiện và cái ác trong thực
thi công vụ của công chức.
Câu 6: Chuẩn mực đạo đức cơng chức là gì? Làm thế nào để nâng cao đạo
đức công chức trong thực thi công vụ. Liên hệ với nhiệm vụ học tập của sinh
viên trường ĐHKSHN.
Câu 7: Đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ Kiểm sát là gì?
Theo bạn, làm thế nào để đảm bảo thực hiện quy tắc đạo đức và ứng xử nghề
nghiệp của người cán bộ Kiểm sát trong thực thi công vụ? Liên hệ với nhiệm
vụ học tập của sinh viên trường ĐHKSHN.
Câu 8. Quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp của người cán bộ Kiểm sát
trong thực thi cơng vụ là gì? Làm thế nào để đảm bảo thực hiện quy tắc đạo
đức và ứng xử nghề nghiệp của người cán bộ Kiểm sát trong thực thi công
vụ?
Câu 9. Đạo đức ứng xử nghề nghiệp của người CBKS trong thực thi cơng vụ
khác biệt gì với đạo đức nghề nghiệp của các chức danh tư pháp khác, lấy ví
dụ để chứng minh?
Câu 10. Quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp của người cán bộ Kiểm sát
trong thực thi cơng vụ là gì? Theo bạn, những nguyên nhân cơ bản nào trong
thực thi công vụ, người cán bộ Kiểm sát đã vi phạm đạo đức nghề nghiệp?
Câu 11: Từ nguồn: ngày 24/08/2015 23:33 cho rằng:
45 ngày qua đã xảy ra 4 vụ án mạng man rợ: Giết 4 người 1 nhà tại Nghệ An
(2-7), cắt cổ 6 người ở Bình Phước (7-7), chém chết 4 người cùng 1 nhà tại
Yên Bái (12-8), sát hại 4 người trong chính gia đình nghi phạm và chém bị
thương 3 người khác ở Gia Lai (23-8).
Từ góc độ đạo đức học, Bạn giải thích hiện tượng trên như thế nào? Bản chất
của hiện tượng trên là gì? Làm thế nào để ngăn chặn được cái ác? Vai trò giáo
2
dục đạo đức của nhà trường và giáo dục đạo đức của gia đình như thế nào
trong bối cảnh hiện nay.
Câu 12. Bằng những kiến thức và những hiểu biết đã học từ môn học Đạo
đức người cán bộ Kiểm sát, theo bạn, người cán bộ kiểm sát cần rèn luyện
đạo đức nghề nghiệp của mình như thế nào? Căn cứ vào các quy định hiện
hành của Nhà nước đối với cán bộ công chức và các quy định của Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của cán bộ Kiểm sát cần
có là gì trong thực thi công vụ?
Câu 13: Đạo đức người cán bộ cách mạng và đạo đức người cán bộ Kiểm sát
trong tư tưởng đạo đức Hờ Chí Minh là gì? Nhân Lễ Kỷ niệm 55 năm ngày
thành lập Viện Kiểm sát Nhân dân (26/7/1960-26/7/2015) – Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng gửi Lẵng hoa chúc mừng ngành Kiểm sát Nhân dân với
dòng chữ: “Nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật, Kiên quyết tấn công tội phạm,
Bản lĩnh thực thi công lý, Tận tâm phục vụ Nhân dân”. Theo bạn, người cán
bộ Kiểm sát cần có những phẩm chất đạo đức như thế nào để thực hiện được
yêu cầu trên và liên hệ với nhiệm vụ học tập của sinh viên trường ĐHKSHN.
Câu 14: Đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ Kiểm sát là gì?
Theo bạn, làm thế nào để đảm bảo thực hiện quy tắc đạo đức và ứng xử nghề
nghiệp của người cán bộ Kiểm sát trong thực thi công vụ? Liên hệ với nhiệm
vụ học tập của sinh viên trường ĐHKSHN.
3
Câu 1: Qua các ví dụ dưới đây, theo bạn như thế nào là đạo đức? Đạo
đức nghề nghiệp? Những yếu tố nào tác động đến hành vi của các chủ
thể: Sinh viên trường ĐH A ở ví dụ 1; Giảng viên trường ĐH B ở ví dụ
2; người cơng chức ở ví dụ 3/
Ví dụ 1: Sinh viên ở trường đại học A có thói quen vứt rác tùy tiện (Sân chơi,
hành lang giảng đường, hành lang Ký túc xá, gầm bàn học ở giảng đường,…).
Ví dụ 2: Giảng viên ở Trường ĐH B không dạy hết cho sinh viên khi lên lớp,
giữ lại các phần bài để dạy riêng trong các buổi học thêm tại nhà mình. Sau
đó ra bài kiểm tra bằng phần kiến thức ấy để đánh đố những sinh viên không
đi học thêm ở nhà Giảng viên ở Trường ĐH B.
Ví dụ 3: Hiện nay có một bộ phận khơng nhỏ cơng chức đang ngày càng vơ
cảm với dân và thậm chí với cả chức phận của mình. Sáng cắp ơ đi, chiều cắp
ơ về, lĩnh lương đều đặn mà khơng có đóng góp gì đáng kể cho cơ quan mình,
vị trí việc làm của mình, thậm chí họ cịn có “thái độ phục vụ người dân”
đáng báo động đến mức khiến một vị Bộ trưởng phải quán triệt cán bộ của
ngành mình phải biết “3 xin”: “xin lỗi”, “xin chào”, “xin phép”.
Khái niệm:
* Đạo đức
Đạo đức là một từ Hán Việt, được dùng từ xa xưa để chỉ một thành tố
trong tính cách và giá trị của một con người. Đạo là con đường, đức là tính tốt
hoặc những cơng trạng tạo nên. Khi nói một người có đạo đức là ý nói người
đó có sự rèn luyện thực hành các lời răn dạy về đạo đức, sống chuẩn mực và
có nét đẹp trong đời sống và tâm hờn.
Đạo đức có thể được nhìn thấy theo các góc độ sau:
Nghĩa hẹp: Đạo đức thể hiện nét đẹp trong phong cách sống của một
người hiểu biết và rèn luyện ý chí theo các bậc tiền nhân về các quy tắc ứng
xử, các đường lối tư duy thanh tao tốt đẹp.
4
Nghĩa rộng: Đạo đức của cả một xã hội thường được xét đến khi xã hội đó
bị hỗn loạn và thiếu chuẩn mực. Khi đó những bậc trí giả sẽ định ra những
chuẩn mực cơ bản nhất để tạo dựng nên nền tảng đạo đức. Khi đã đạt đạo đức
cơ bản nhất thì đó là đạo đức xã hội. Từ đó học tập đi lên thành các thành
phần cao cấp hơn.
* Đạo đức nghề nghiệp:
Đạo đức nghề nghiệp là những nguyên tắc chi phối hành vi của một
người hoặc một nhóm trong mơi trường kinh doanh. Giống như các giá trị
khác, đạo đức nghề nghiệp cung cấp các quy tắc về cách một người nên hành
động đối với những người và tổ chức khác trong một môi trường như vậy.
Đạo đức nghề nghiệp là một khái niệm đề cập đến những nguyên tắc và
giá trị đạo đức mà người làm việc trong một nghề nghiệp cần tuân thủ. Nó đặt
ra các tiêu chuẩn đạo đức và đạo đức học trong lĩnh vực cơng việc cụ thể, có
thể khác nhau tùy thuộc vào nghề nghiệp, ngữ cảnh văn hóa.
Những yếu tố tác động đến hành vi chủ thể: + Sinh viên trường ĐH A ở ví
dụ 1: gia đình là nền tảng sớm nhất, tác động thường xuyên, liên tục và lâu
dài nhất; xã hội là môi trường mà các bạn sẽ tự thể hiện và biến đổi mạnh mẽ
hàng ngày; nhà trường là nơi cung cấp những kiến thức khoa học về tự nhiên
và xã hội… Ngoài ra, ảnh hưởng của sách báo, tạp chí, phim ảnh và các
chương trình trên truyền hình cũng có tác động đáng kể. Các sự kiện chính trị
- xã hội diễn ra hàng ngày trong cuộc sống và các hoạt động phong trào chưa
có tác động nhiều đến nhận thức của sinh viên về trách nhiệm, nghĩa vụ của
người công dân và phát triển tinh thần tập thể.
+ Giảng viên trường ĐH B ở ví dụ 2: tính cách, thái độ, nhận thức, yếu tố
kinh tế (mức độ làm việc, mức lương, môi trường làm việc)
+ Người cơng chức ở ví dụ 3: Yếu tố pháp lý, lãnh đạo
Câu 2: Bằng các ví dụ cụ thể, bạn hãy phân tích, so sánh chức năng điều
chỉnh của đạo đức và chức năng điều chỉnh của pháp luật?
5
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm những quan điểm,
quan niệm, những nguyên tắc, chuẩn mực xã hội. Là một phương diện điều
chỉnh hành vi con người, là một hệ thống các giá trị, là một hiện tượng ý thức
xã hội, mang tính chuẩn mực, mệnh lệnh - đánh giá.
Đạo đức là một trong những phương thức điều chỉnh hành vi con
người, nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của xã hội loài người. Đặc
trưng của sự điều chỉnh đạo đức là tính tự giác và tự nguyện. Con người (cá
nhân) lĩnh hội các yêu cầu của xã hội dưới hình thức các nguyên tắc, các
chuẩn mực đạo đức, biến các nguyên tắc, các chuẩn mực đó thành động cơ,
tình cảm và nghĩa vụ đạo đức. Do đó, hành vi thực hiện các yêu cầu đạo đức
xã hội trở thành hành vi tự do. Điều chỉnh đạo đức được thực hiện thông qua
tác động của ý thức đạo đức với hành vi con người.
Pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, là hệ thống các nguyên tắc xử
sự mang tính chất bắt buộc chung. Thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và do
Nhà nước ban hành để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.
So sánh
Chức năng điều chỉnh đạo đức
Chức năng điều chỉnh của pháp luật
- Đều là hệ thống các quy tắc xử sự chung, chuẩn mực xã hội; giúp con người
tự giác điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với lợi ích cộng đờng, xã hội.
-Đều có quan hệ trách nhiệm, bao gờm:
+ Yếu tố chủ quan: là việc tiếp nhận của con người như thế nào.
+ Yếu tố khách quan: là những chuẩn mực , yêu cầu đối với con người.
- Đều là hình thái ý thức xã hội nên chịu sự thay đổi khi tồn tại xã hội thay đổi.
- Đánh giá đạo đức và pháp luật đều liên quan tới hành vi của con người có tính
tự giác hay khơng.
-Cơ sở hình thành: Từ thực tế cuộc -Cơ sở hình thành: Do Nhà nước ban
sống, nhận thức của con người qua các hành.
thế hệ.
6
- Tính chất: Khơng bắt buộc, tự -Tính chất: Bắt buộc.
nguyện.
- Hình thức thể hiện: Qua các câu ca -Hình thức thể hiện: Qua các văn bản
dao, tục ngữ, thành ngữ.
pháp luật.
- Phương thức bảo đảm thực hiện: Dựa - Phương thức bảo đảm thực hiện:
vào sự tự giác, thông qua sự đánh giá Giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế.
khách quan của dư luận.
Ví dụ và phân tích:
Để các bạn thanh niên biết về việc lái xe khi chưa đủ tuổi hay đội mũ
bao hiểm khi tham gia bao thông là kết quả của sự giáo dục lâu dài của gia
đình, của nhà trường và xã hội giúp cho các bạn trẻ ý thức được và thực hiện
đúng. Trái lại pháp luật lại đòi hỏi kết quả ngay lập tức, nếu vi phạm sẽ lập
tức có biện pháp xử lý
Tình trạng nhận hối lộ của quan chức nhà nước, tình trạng làm hàng
giả, hàng nhái , kém chất lượng gian dối người tiêu dùng, đạo đức trong
ngành y… tất cả đều là những bất cập, nổi cộm của xã hội nước ta hiện nay.
( Lương y như từ mẫu- hay lương y như hổ báo, Vụ án của Thẩm mỹ viện Cát
tường…)
Câu 3. Mục đích của hành vi đạo đức là khẳng định và làm gia tăng các
lợi ích xã hội. Tuy nhiên không phải mọi hành vi làm gia tăng lợi ích xã
hội đều là hành vi đạo đức. Bằng các ví dụ cụ thể, tình huống cụ thể, bạn
hãy chứng minh luận điểm trên.
Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa
nhận xác định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau, đối với xã hội,
với tự nhiên và với bản thân con người.
7
Hành vi đạo đức là một hành động tự giác, được thúc đẩy bởi một động
cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức, hành vi đạo đức được biểu hiện trong cách ứng
xử, trong lối sống, trong giao tiếp, trong lời ăn tiếng nói hàng ngày.
Mục đích của hành vi đạo đức là khẳng định và tang cường lợi ích xã
hội, Lợi ích xã hội. Lợi ích xã hội với tư cách là muc đích của hành vi đạo
đức bao hàm cả lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần, lợi ích trực tiếp, gián tiếp,
, lợi ích của cả cộng đờng hoặc lợi ích của một tập thể, lợi ích cá nhân chính
đáng. Mục đích của hành vi đạo đức cũng có thể là lợi ích xã hội bởi vì sự
thực hiện lợi ích này chính là sự thực hiện một bộ phận của lợi ích xã hội. Lợi
ích cá nhân chính đáng khơng làm tổn hại đến lợi ích của người khác cũng là
mục đich của hành vi đạo đức vì thực hiện lợi ích của một bộ phận xã hội.
Mỗi cá nhân là một phần tử của xã hội, lợi ích của mỗi cá nhân nếu khơng
xâm phạm đến lợi ích của người khác cũng là lợi ích của xã hội.
Mục đích của hành vi đạo đức cần phải phù hợp với các nguyên tắc,
các chuẩn mực đạo đức xã hội. Tuy nhiên không phải mọi hành vi làm gia
tăng lợi ích xã hội đều là hành vi đạo đức. Một hành vi có mục đích và động
cơ đạo đức vẫn có thể chưa thực sự là hành vi đạo đức nếu phương tiện thực
hiện mục đích khơng chính đáng, nghĩa là phương tiện đó khơng phải là
phương tiện đạo đức.Như vậy, hành động bố thí, chưa chắc đã là hành vi đạo
đức, nếu mục đích khơng chính đáng. Trên thực tế, trong nhiều trường hợp,
người ta nhân danh cái thiện, nghĩa là nhân danh mục đích đạo đức để làm
cái ác.
Ta xét đến ví dụ cụ thể sau: Nhiều năm nay, chùa Bồ Đề được biết đến
là nơi nuôi dưỡng hàng trăm trẻ bị cha mẹ bỏ rơi.Ngày 3/8, Nguyễn Thị
Thanh Trang (36 tuổi) bị bắt do trong thời gian làm quản lý nhà mở tại chùa
Bồ Đề đã bán một bé trai được nuôi tại đây với giá 40 triệu đồng cho Phạm
Thị Nguyệt (35 tuổi). Tháng 6 vừa qua, em bé này được cho là tử vong do bị
bệnh khi chưa tròn một tuổi. Sự việc được phanh phui khi người đàn ông, cha
8
ni của cháu bé phát hiện sự mất tích của em.Vậy thử hỏi đạo đức ở đâu?
Những con người nhân danh cái thiện, nhân danh sống tốt đời đẹp đạo làm
những việc phi pháp, trái với pháp luật, núp dưới bóng nhân danh việc thiện.
Nguyên nhân này xuất phát từ đâu? Cơ chế thị trường ? lối sống thực dụng?
Truyền thống tốt đẹp dân tộc , tình thương yêu giữa con người….Hay các
hành vi khác như: buôn bán ma túy, làm hàng giả hàng nhái…làm gia tăng lợi
ích xã hội nhưng không phải là hành vi đạo đức. Đây là những hành vi vi
phạm pháp luật.
Như vậy, chỉ khi mục đích và hành vi phù hợp với nhau, đó mới là
hành vi đạo đức.
Câu 4:
Bạn hãy phân tích mối quan hệ giữa đạo đức công chức trong
thực thi công vụ với nền hành chính nhà nước .
* Khái niệm:
Đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được xã hội thừa nhận, xác định
hành vi, quan hệ con người đối với nhau, đối với xã hội, đối với tự nhiên và
với bản thân. Đạo đức của con người là phẩm chất tốt đẹp dựa trên những tiêu
chuẩn đạo đức và trải qua quá trình tu dưỡng, rèn luyện của từng người.
- Công chức: là thuật ngữ được dùng để chỉ những người được tuyển dụng, bổ
nhiệm, giao giữ một công vụ thường xuyên, làm việc trong một cơ quan nhà
nước (hoặc cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân hay công an nhân dân
mà không phải sĩ quan, quân nhân chun nghiệp, cơng nhân quốc phịng)
được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một
ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước
9
- Cơng vụ: là hoạt động mang tính quyền lực pháp lý được thực thi bởi đội
ngũ công chức nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước trong quản lý các
mặt đời sống xã hội.
- Nền hành chính Nhà nước: là hệ thống tổ chức các cơ quan hành chính nhà
nước, có chức năng quản lý nhà nước (thực thi quyền hành pháp), có nghĩa là
quản lý cơng việc hàng ngày của nhà nước. Hệ thống đó được tạo bởi các
pháp nhân cơng quyền (chính phủ các bộ cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
chính phủ, uỷ ban nhân dân, các đơn vị sự nghiệp, kinh tế của nhà nước) có
chức năng tổ chức thực hiện chấp hành và điều hành trên cơ sở pháp luật và
để thi hành, bằng các quyết định hành chính đơn phương điều chỉnh các quan
hệ phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước.
* Mối quan hệ:
Nền hành chính nhà nước là sản phẩm của xã hội có nhà nước, là một bộ
phận của bộ máy nhà nước, cùng với các bộ phận cơ quan cùng với các bộ
phận khác (cơ quan quyền lực, toà án, kiểm sát) tạo thành bộ phận trụ cột của
hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nền hành chính nhà nước mang
nội dung chính trị, phục vụ cho mục tiêu chính trị, đó khơng phải là bộ máy
chun mơn th̀n t tách rời chính trị, phục vụ cho chính trị để thực hiện thi
quyền hạn.
Bộ máy hành chính Nhà nước suy cho cùng do nhân tố con người quyết
định . Đó là phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ,
viên chức, công chức. Phải tạo ra đội ngũ cán bộ, cơng chức của nền hành
chính được đào tạo chính quy, có năng lực, mẫn cán, liêm khiết, có kiến thức
pháp luật và quản lý hành chính Nhà nước, kể cả kỹ thuật, nghiệp vụ hành
chính, xác định được bổn phận, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình và phục vụ
tận tụy công vụ của Nhà nước.
Vậy nên, đội ngũ công chức không chỉ tinh thông về kiến thức nghiệp vụ mà
cịn phải trang bị vững chắc đạo đức cơng chức trong thực thi công vụ để
10
trong khi thực thi quyền lực nhà nước đảm bảo tính hiệu quả , minh bạch cao.
Khơng thể xem nhẹ yếu tố đạo đức cơng vụ bởi nó ảnh hưởng rất nhiều đến
hoạt động của người cán bộ. Khi trở thành cơng chức nhà nước có nghĩa là
địi hỏi ở bản thân những phẩm chất hơn những người bình thường, và những
chuẩn mực đạo đức ấy khơng cịn đơn th̀n mang tính giáo huấn như đạo
đức thơng thường hay lí thuyết chung chung mà nó cịn được luật hóa ngay
trong Hiến pháp bắt buộc người cán bộ phải thực hiện như thế, khơng thể làm
trái.
Nền hành chính khơng phải là sự góp mặt vài cá nhân riêng lẻ, mà là cả một
chuỗi hệ thống các cơ quan, bộ, ngành phối hợp thực hiện và các đơn vị tế
bào nhỏ nhất trong bộ máy đó chính là người cơng chức. Khi từng người công
chức đảm bảo hiệu quả, làm việc tận tâm, trách nhiệm, đúng với đạo đức cơng
vụ thì sẽ dẫn dắt cả một hệ thống đồng bộ cùng hiệu quả.
Ngày nay không tránh khỏi những phân tử công chức biên chất, đặt lợi ích cá
nhân lên trên lợi ích cộng đờng, đi ngược những gì đạo đức cơng vụ cho phép
gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nên hành chính Việt Nam, nhưng
pháp luật ln là cơng cụ quyền lực nhất để xử lý hành vi này để góp phần lọc
sạch bộ máy nhà nước, đờng thời cũng răn đe những ai đang có ý định làm
trái pháp luật, cũng như động viên khuyến khích khích những nhân tài đất
nước cơng hiện xây dựng nên hành chính Việt Nam.
Câu 5: Bằng những hiểu biết của mình và kiến thức từ nội dung: Đạo đức
công chức trong thực thi công vụ, bạn hãy chỉ ra cái thiện và cái ác trong
thực thi công vụ của công chức.
Công chức là những người đặc biệt trong xã hội nên đòi hỏi về những
phẩm chất đạo đức đối với họ khắt khe hơn rất nhiều so với người bình
thường. Bởi lẽ, họ là những người được sử dụng quyền lực nhà nước trên cơ
11
sở các tiêu chuẩn đạo đức do địa phương vùng miền họ sinh sống đặt ra, mà
còn được pháp luật quy định cụ thể và bản thân họ bắt buộc phải thực hiện.
Đạo đức công chức là một bộ phận đạo đức của người công chức bao
gồm một hệ thống các nguyên tắc, quy tắc hành vi, xử sự trong công vụ,
nhằm điều chỉnh thái độ hành vi, cách xử sự của công chức trong thực thi
công vụ.
Thiện và ác trong thực thi công vụ của công chức thể hiện :
Thiện chỉ là thiện khi nó khẳng định lợi ích của xã hội. Lợi ích xã hội là
thước đo giá trị, là tiêu chuẩn khách quan của cái thiện.
Cái thiện của đạo đức trong thực thi công vụ là:
- Chấp hành pháp luật, quy chế làm việc trong thi hành cơng vụ, đây là tiêu
chí đầu tiên đánh giá đạo đực cơng chức, vì chính cơng chức là những người
thực hiện, áp dụng pháp luật để đưa ra các quyết định quản lý khác nhau.
- Sự hiệu quả thực thi cơng vụ của cơng chức
- Có quan hệ tốt với đồng nghiệp, phải biết chia sẻ kinh nghiệm, hợp tác, giúp
đỡ đờng nghiệp hồn thành nhiệm vụ, cơng vụ
-Đối với người lãnh đạo cần tạo điều kiện để công chức hồn thành nhiệm vụ,
cơng vụ, biết nêu gương trong cơng vụ và sinh hoạt, tôn trọng ý kiến của cấp
dưới, biết lắng nghe ý kiến đúng của cấp dưới, biết đáp ứng u cầu, địi hỏi
hợp pháp, chính đáng của cấp dưới, quan tâm thường xuyên với tư cách, động
cơ và lợi ích của cấp dưới
-Cấp dưới phải tơn trọng người lãnh đạo, trung thành với sự nghiệm, không
ngừng phấn đấu vì sự nghiệp chung và chấp hành mọi quyết định của người
lãnh đạo trong thực thi công vụ
-Trong quan hệ với nhân dân, phải tôn trọng lắng nghe ý kiến của nhân dân,
phải hết lịng làm việc vì dân, vì nước,có thái độ lịch sự, cơng bằng, đáng tin
cậy, giải quyết công việc đúng đắn, hiệu quả, không vụ lợi cá nhân, ln liêm
chính, quan tâm thiết thực đến đời sống nhân dân, thật sự gần gũi nhân dân,
12
hiểu biết nguyện vọng chính đáng của nhân dân, khiêm tốn học hỏi nhân dân,
sẵn sàng lắng nghe quần chúng phê binh, góp ý , thường xun tự phê bình,
hồ mình với q̀n chúng
-Cần phải có phẩm chất đạo đức, tinh thông nghiệp vụ, chuyên môn,
đổi mới phương pháp làm việc khoa học, thận trọng, có tinh thần trách nhiệm
trong cơng việc, có sự thống nhất giữa đức và tài, cần, kiệm, liêm, chính, chí
cơng vơ tư… Ngồi ra cần có tác phong, thái độ lịch sự, nghiêm túc, khiêm
tốn, ngôn ngữ giao tiếp chuẩn mực, rõ ràng, mạch lạc.
Cái ác của đạo đức trong thực thi công vụ của cán bộ công chức là làm
trái phép, cậy thế, hư hoá, tư túi, chia rẽ, kiêu ngạo, đặc biệt là bệnh tham ơ,
xa hoa, lãng phí, quan liêu, hách dịch, thậm chí dùng pháp cơng để báo thù tư;
chủ nghĩa cá nhân, bè phái, hẹp hịi, trong cơng tác, chính sách cán bộ, lợi
dụng chức quyền thực hiện mục đích cá nhân, bệnh chủ quan, tác phong quan
liêu, đại khái, ham chuộng hình thức, phơ trương cho oai, làm chiếu lệ, qua
loa.
Câu 6: Chuẩn mực đạo đức công chức là gì? Làm thế nào để nâng cao
đạo đức cơng chức trong thực thi công vụ. Liên hệ với nhiệm vụ học tập
của sinh viên trường ĐHKSHN.
Đảng và Nhà nước ta đã đề ra những nguyên tắc, tiêu chuẩn cụ thể đối
với cơng chức, làm nền móng cho việc nâng cao đạo đức công chức nhằm xây
dựng nền công vụ. Những nguyên tắc và chuẩn mực về đạo đức công chức đã
thể hiện rõ quan điểm của ĐCSVN, được phản ánh trong các văn kiện, nghị
quyết của Đảng, văn bản pháp luật của Nhà nước.
Thứ nhất, về phâm chất chính trị. Đây là nguyên tắc hàng đầu đối với
đội ngũ công chức trong nền công vụ. Mọi công chức phải vững vàng, kiên
định, không dao động, bi quan, quyết tâm thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi
13
mới của Đảng, Nhà nước và của nhân dân, đấu trnah bảo vệ uy tín của nền
cơng vụ vì nhân dân phục vụ.
Thứ hai, về năng lực chuyên môn. Biết vận dụng đúng đắn đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của NN, sáng tạo và thực hiện có
hiệu quả các quyết định của NN, thực thi cơng vụ có hiệu quả, khơng chây
lười, có trình độ hiểu biết, tích luỹ kinh nghiệm, biết tổ chức thực hiện và
hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trong quá trình phục vụ nhân dân.
Thứ ba, về đạo đức. Phải ln cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng vơ tư.
Cơng chức phải có quan hệ mật thiết với nhân dân, ln xác định phục vụ
nhân dân là mục đích trên hết và trước hết.
Thứ tư, về tính hiệu quả trong thực thi công vụ. Đối với công chức, kết
quả công tác thực thi cơng vụ phải đáp ứng u cầu, địi hỏi của nhân dân,
làm lợi cho dân, cho nước nhằm phục vụ nhân dân.
Để nâng cao đạo đức công chức, nhằm xây dựng nền công vụ phục vụ cần
quán triệt một só yêu cầu sau:
Thứ nhất, coi trọng thực sự và phát huy tốt hơn nữa, thực chất hơn nữa
quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện dân chủ hoá tất cả các mặt, các lĩnh
vực của đời sống xã hội, đảm bảo NN ta thực sự là NN của dân, do dân , vi
dân. Muốn vậy, một mặt, phải giữ vững bản chất của nền cơng vụ vì dân, có
trách nhiệm với dân, phục vụ nhân dân, mặt khác, thực hành dân chủ ngày
càng thiết thực, rộng rãi, động viên sức mạnh của nhân dân nhằm ngăn chặn,
đẩy lùi tình trạng suy thối đạo đức, tham những, sách nhiễu của công chức,
của nền công vụ.
Thứ hai, phải kiên quyêt chấn chỉnh nghiêm khắc tổ chức bộ máy công
chức, làm cho bộ máy ấy ngày càng trong sạch hơn, liêm chính hơn và thể
hiện được trọng trách của nền cơng vụ có trách nhiệm với dân, phục vụ nhân
dân. Về thể chế, nền cơng vụ phải thực sụ vì dân, phục vụ nhân dân, không
gây phiền hà cho dân. Các chính sách pháp luật khơng được chờng chéo, mọi
14
thủ tục phải dễ dàng và thuận lợi để toạ điều kiện cho người dân làm ăn sinh
sống sao cho ngày càng thịnh vượng, hạnh phúc. Thực hiện nghiêm trách
nhiệm của công chứcl công thức theo chức phận mà thi hành, chức phận càng
cao càng phải nêu gương trách nhiệm… Đó mới thực sự là nền cơng vụ phục
vụ nhân dân, nền cơng vụ có đạo đức.
Biện pháp cụ thể nhằm nâng cao đạo đức công chức trong điều kiện
hiện nay là cần phải xây dựng nền công vụ ưu tiên theo hướng:
Xây dựng nền cơng vụ có khả năng phịng ngừa, ngăn chặn quan liêu,
tham những, lợi ích nhóm, thượng tôn pháp luật.
Xây dựng nền công vụ bảm đảm cho công chức tuy không tham gia vào
các hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng vẫn thoả mãn được nhu cầu tồn tại,
phát triển
Xây dựng nền công vụ đặt trên nguyên tắc công chức chỉ được làm
những việc mà pháp luật cho phép, làm tốt nhất có thể với tinh thần liêm
chính, tự giác phục vụ nhân dân một cách có trách nhiệm
Xây dựng nền cơng vụ đảm bảo sự kiểm sốt của nhân dân đối với
cơng chứcl nền cơng vụ có tính minh bạch cao, dân chủ, triệt để thực hiện
trách nhiệm giải trình, trách nhiệm cá nhân.
Xây dựng nền công vụ toạ điều kiện cho việc xây dựng đạo đức trong
sáng, liêm chính của người cơng chức, khơng có đạo đức, liêm chính thì có tài
giỏi đến đâu cũng không phục vụ đc nhân dân và dân tộc.
Liên hệ:
Ngay từ khi cịn ngời trên ghế nhà trường Đại Học Kiểm Sát Hà Nội,
được học tập và rèn luyện để trở thành những Kiểm Sát Viên - những người
cầm cân nảy mực đại diện cho pháp luật mỗi sinh viên chúng ta cần phải :
+) Rèn luyện lối sống tình nghĩa, trong sạch lành mạnh:
+) Khiêm tốn, ln cần cù chịu khó sáng tạo trong học tập
15
+) Học tập và thi cử bằng chính khả năng của mình, tuyệt đối khơng
gian lận trong thi cử
+) Sống có bản lĩnh, có chí lập thân lập nghiệp, năng động, nhạy bén,
dám đối mặt với khó khăn thử thách, sống có trách nhiệm với bản thân gia
đình và xã hội với ngành nghề mình theo học
+) Yêu nước thương người sống có tình nghĩa, gắn bó với Đảng, Nhà
nước, Nhân dân… trung thành với lý tưởng của Đảng. Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hờ Chí Minh
+) Phấn đấu học tập và rèn luyện thật tốt để xây dựng đất nước tươi đẹp
: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh
+) Lên án, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật, chống phá chế độ,
chống phá Đảng , Nhà nước
+) Là những người cán bộ Kiểm Sát tương lai thì cần phải rèn luyện
cho bản thân đức tính: “cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng vơ tư” trong đó giá
trị cốt lõi là: “cơng minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn”.
Phấn đấu xứng đáng với mười chữ vàng : “Trí tuệ, bản lĩnh, nhân ái, công
tâm, trách nhiệm”.
Câu 7: Đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ Kiểm sát là gì?
Theo bạn, làm thế nào để đảm bảo thực hiện quy tắc đạo đức và ứng xử
nghề nghiệp của người cán bộ Kiểm sát trong thực thi công vụ? Liên hệ
với nhiệm vụ học tập của sinh viên trường ĐHKSHN.
Cán bộ kiểm sát là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch
công chức, viên chức và nhân viên của Viện kiểm sát các cấp. Cán bộ kiểm
sát có thể gờm viện trưởng, viện phó, kiểm sát viên, điều tra viên, công chức,
viên chức, nhân viên khác được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các
nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật.
16
Hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ kiểm sát là hoạt động nghề
nghiệp đặc thù. Tham gia vào hoạt động nghề nghiệp đó, đội ngũ cán bộ kiểm
sát cần phải có những quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp riêng, với tính
cách là những chuẩn mực ứng xử trong thực thi nhiệm vụ, công vụ.
Theo quy định của pháp luật, ngoài những đạo đức chung, hoạt động
nghề nghiệp của cơng chức, viên chức nói chung, hoạt động nghề nghiệp của
cán bộ kiểm sát cịn có những đặc điểm riêng, cụ thể:
Hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ kiểm sát gắn với hoạt động
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSND là thực hành quyền công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp.
Thực hành quyền công tố là hoạt động xác định tội phạm và người
phạm tội, truy tố, buộc tội người phạm tội theo quy định của PL. Hoạt động
này nhằm phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh người phạm tội theo đúng
quy định của pháp luật, không làm oan cho người vô tội, không bỏ lọt tội
phạm và người phạm tội. Để thực hiện có hiệu quả hoạt động thực hiện quyền
cơng tố, người CBKS phải có kiển thức pháp luật, năng lực chuyên mơn,
nghiệp vụ, lịng dũng cảm, tinh thần kiển quyết đấu tranh chống tội phạm.
Kiểm sát hoạt động tư pháp là chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của VKS đối với các chủ thể tiến hành hoặc tham gia tiếp nhận, giải
quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, giải quyết các vụ án hình
sự, hành chính, vụ việc dân sự, các việc khác theo quy định của pháp luật.
Hoạt động này có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi
ích của NN, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo
đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, mọi tội phạm và
vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện, xử lý kịp thời và nghiêm minh.
Để thực hiện có hiệu quả, người cán bộ kiểm sát không phải chỉ cần am hiểu
sâu pháp luật, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ mà cịn cần “cơng minh, chính
trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn” như lời dạy của Bác Hồ.
17
Hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ kiểm sát là hoạt động thực
hiện theo nguyên tắc đặc thù, tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành
kiểm sát, theo đó, VKSND do viện trưởng lãnh đạo, viện trưởng VKSND cấp
dưới chịu sự lãnh đạo of viện trưởng VKSND cấp trên, viện trưởng VKSND
các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của viện trưởng VKSND tối cao.
Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, cán bộ kiểm sát phải
tuân theo pháp luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng VKSND nơi mình
cơng tác.
Khi thực hiện ngun tắc tập trung thống nhất lãnh đạo, cán bộ kiểm
sát phải luôn rèn luyện và tuân thủ nghiêm túc kỷ cương, kỷ luật lao động,
tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo của lãnh đạo cấp trên, nguyên tắc này
tạo nên sức mạnh của hệ thống VKSND trong việc thực hiện chức năng,
nhiệm vụ được giao.
Hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ kiểm sát thường xuyên có
mối quan hệ phối hợp với các chủ thể khác trong quá trình giải quyết các vụ
án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự và các việc khác theo quy định của
pháp luật, các chủ thể thi hành án hình sự, dân sự.
Do đặc điểm có tính chất đặc thù, khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ,
người cán bộ kiểm sát không chỉ cần bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định
các nguyên tắc tổ chức và hoạt động mà cịn cần phải ln thể hiện sự tôn
trọng, thái độ văn minh, lịch sựu trong ững xử, giao tiếp với những người liên
quan có thẩm quyền để hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ kiểm sát gắn với việc thực
hiện các quyền và nghĩa vụ nhất định do pháp luật quy định để bảo vệ quyền
con người, quyền công dân.
Hoạt động nghề nghiệp của người cán bộ kiểm sát luôn gẵn với việc
xem xét, giải quyết các vấn đề gắn với quyền và lợi ích của những người dân
tham gia tố tụng. Để thực hiện những nhiệm vụ đó, người CBKS phải ln có
18
thái độ khách quan, thận trọng khi xem xét, giải quyết các vụ việc thuộc chức
năng, nhiệm vụ của mình, bảo đảm không làm oan cho người vô tội, tôn trọng
và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân trong xã hội.
Các bảo đảm của việc thực hiện quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp của
người cán bộ Kiểm sát trong thực thi công vụ:
Việc xây dựng, phát triển nền KTTT định hướng XHCN cũng như yêu
cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đòi hỏi người
cán bộ Kiểm sát (CBKS) phải vững chắc về chính trị, giỏi về chuyên môn,
nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật. Người CBKS phải là người nghiêm chỉnh
chấp hành kỷ cương, kỷ luật, làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, có bản
lĩnh, khơng ngại khó khăn, gian khổ, kiên quyết bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ
pháp luật, lẽ phải và sự công bằng. Đồng thời, hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS và CBKS phải được tổ chức
theo hướng chính quy, chuyên nghiệp và phải được bảo đảm bằng các cơ chế
thực hiện và kiểm tra, giám sát cụ thể sau đây:
Luật hóa các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cơ bản thành những
cam kết có tính bắt buộc người CBKS thực hiện trong thực thi công vụ.
Các quy tắc đạo đức của cán bộ cơng chức, viên chức nói chung, của
CBKS nói riêng cần rõ ràng và cơng khai. Nhân dân có quyền được biết các
cơ quan nhà nước, cơng chức, viên chức thi hành quyền lực và sử dụng các
quyền lực mà họ được ủy quyền như thế nào. Việc kiểm tra của nhân dân phải
được tạo điều kiện thông qua các quy trình dân chủ và cơng khai, được pháp
luật bảo hệ và được tiếp cận với các nguồn thơng tin cơng cộng, trong đó có
các quy định của pháp luật về đạo đức của công chức, viên chức.
Các cam kết thực hiện chuẩn mực của người CBKS trở thành 1 vấn đề
thiết yếu đối với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ và nguyên tắc tổ chức,
hoạt động đặc thù của ngành kiểm sát – nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh
đạo trong ngành.
19
Cam kết thực hiện chuẩn mực đạo đức của người CBKS trong hoạt
động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp phải mang tính
cơng khai, minh bạch. Các cam kết thực hiện chuẩn mực đạo đức của người
CBKS được thể chế hóa trong luật và phải thể hiện các nội dung chủ yếu sau:
Một là, cam kết về sự trung thành. CBKS phải trung thành với Tổ Quốc
và Hiến pháp, tuân thủ pháp luật. Tận tụy phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ
quốc.
Hai là, cam kết về lương tâm và trách nhiệm. CBKS phải cam kết phấp
đấu, học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM, thực hiện lời dạy của
Người: “Cơng minh, chính trực, khách quan, thận trọng và khiêm tốn”.
Ba là, cam kết về tính kiên định, bản lĩnh trong thực thi nhiệm vụ.
CBKS phải cam kết kiên quyết bảo vệ Hiến pháp, pháp luật, lẽ phải và sự
công bằng; đấu tranh không khoan nhượng với mọi tội phạm và vi phạm pháp
luật.
Bốn là, cam kết về sự tuận thủ kỉ luật nghiệp vụ. CBKS phải cam kết
chấp hành nghiêm chỉnh kỉ luật và các nguyên tắc hoạt động của ngành kiểm
sát.
Tăng cường công tác thanh tra công vụ
Việc tăng cường công tác thanh tra công vụ đối với cán bộ, công
chức,viên chức nói chung, đối với CBKS nói riêng là cần thiết.
Trong bối cảnh nước ta, trước yêu cầu xây dựng một NN vững mạnh và
thực sự của dân, do dân, vì dân; một NN có nền cơng vụ hiệu lực, hiệu quả
với đội ngũ cơng chức, viên chức tận tụy, có trách nhiệm với dân; phát triển
một nền KTTT định hướng XHCN và tích cực, chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế, do đó, u cầu đổi mới cơng tác thanh tra công vụ đối với người
CBKS được quan tậm nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của CBKS.
20