So sánh hệ thống Tòa án Pháp, Tòa án Anh với Tòa án Việt Nam
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU
Chương I. Khái quát chung về nước Pháp và Hệ thống tòa án nước Pháp
1. Khái quát chung về nước Pháp.....................................................................................................
2. Hệ thống Tòa án của Pháp............................................................................................................
2.1. Tòa án Tư pháp..................................................................................................................
2.2. Tịa án hành chính..............................................................................................................
2.3. Tịa án Hiến pháp...............................................................................................................
Chương II: Lịch sử hình thành pháp luật Anh quốc và hệ thống Tịa án Anh.........................
1. Lịch sử hình thành pháp luật Anh quốc .......................................................................................
2. Hệ thống tòa án của Anh...............................................................................................................
2.1. Tổ chức tòa án cấp cao ở Anh............................................................................................
2.2. Tòa án tối cao của Liên hợp quốc......................................................................................
2.3. Hoạt động cơ mặt...............................................................................................................
2.4. Xét xử các vụ việc hành chính...........................................................................................
2.5. Các quyết định của Tịa án Châu Âu về quyền con người.................................................
2.6. Cơng bố và trích dẫn án lệ..................................................................................................
2.7. Quy tắc án lệ và luật thành văn..........................................................................................
Chương III: Khái quát chung về Việt Nam và hệ thống Tòa án Việt Nam
1. Khái quát chung về Việt Nam.......................................................................................................
2. Hệ thống Tòa án Việt Nam...........................................................................................................
3. Chế độ xét xử hai cấp....................................................................................................................
4. Thành phần hội đồng xét xử..........................................................................................................
Chương IV: Sự khác biệt giữa Tòa án Pháp, Tòa án Anh với Tòa án Việt Nam
A. Giống nhau..................................................................................................................................
1. Thẩm quyền...................................................................................................................................
2. Chia theo lãnh thổ.........................................................................................................................
3. Chức năng.....................................................................................................................................
4. Vị trí, cách thức phá án.................................................................................................................
B. Khác nhau...................................................................................................................................
I. Chia theo lãnh thổ..........................................................................................................................
II. Chức năng.....................................................................................................................................
III. Vị trí............................................................................................................................................
IV. Cách thức phá án.........................................................................................................................
KẾT LUẬN......................................................................................................................................
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
TỪ VIẾT TẮT
HĐTP
HĐXX
TW
TAND
TANDTC
TANDCC
TAQS
TP. HCM
NGHĨA
Hội đồng thẩm phán
Hội đồng xét xử
Trung ương
Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân tối cao
Tòa án nhân dân cấp cao
Tòa án quân sự
Thành phố Hồ Chí Minh
LỜI MỞ ĐẦU
Pháp luật là một hiện tượng vô cùng phức tạp nên tính hệ thống của pháp
luật có thể được xem xét ở nhiều phương diện, quy mô và phạm vi khác nhau như
đối với các quy phạm pháp luật (hình thức cấu trúc bên trong của pháp luật), đối
với nguồn pháp luật, mà chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật (hệ thống pháp
luật thực định), đối với toàn bộ đời sống pháp luật... trong phạm vi quốc gia hoặc
vượt ra khỏi phạm vi quốc gia. Tùy theo mục đích nghiên cứu mà chủ thể xác định
phương diện, quy mô và phạm vi xem xét khác nhau. Do vậy, hệ thống pháp luật
theo nghĩa chung nhất được hiểu là một chỉnh thể các hiện tượng pháp luật (mà cốt
lõi là các quy phạm pháp luật, được thể hiện trong các nguồn pháp luật) có sự liên
kết, ràng buộc chặt chẽ, thong nhất với nhau, luôn cỏ sự tác động qua lại lẫn nhau
để thực hiện việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội.
Hệ thống pháp luật là tập hợp tất cả các quy phạm, văn bản pháp luật tạo
thành một cấu trúc tổng thể, được phân chia thành các bộ phận có sự thống nhất
nội tại theo những tiêu chí nhất định như bản chất, nội dung, mục đích. Việc
nghiên cứu hệ thống tịa án có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn bởi nếu có thể
hiểu được bản chất, xác định chính xác và sử dụng đúng đắn các kết quả nghiên
cứu ấy sẽ góp phần tích cực vào cơng cuộc hồn thiện hệ thống tịa án và nâng cao
hiệu quả thực thi pháp luật của nó.
Hiện nay, trên thế giới, có 02 hệ thống pháp luật là hệ thống Common law
(hệ thống pháp luật Anh Mỹ) và hệ thống Civil law (hệ thống pháp luật Pháp Đức).
Trong đó, hệ thống Common law chủ yếu sử dụng nguồn luật là án lệ trong xét xử,
trái lại, Civil law lại dùng luật thành văn làm nguồn luật trong quá trình xét xử. Và
Việt Nam có hệ thống pháp luật mang nhiều đặc điểm của hệ thống Civil law. Tuy
nhiên, Việt Nam ta khơng thừa nhận mình thuộc trường phái Common law hay
Civil law một cách cụ thể. Luật Tòa án nhân dân 2014 có hiệu lực từ ngày
01/6/2015 thừa nhận vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật nước nhà và Nghị
quyết 03/2015/NQ-HĐTP đã kịp thời được ban hành quy định về trình tự, cơng bố
và áp dụng án lệ. Chính vì thế việc tìm hiểu và so sánh hai hệ thống pháp luật này
với hệ thống pháp luật Việt Nam là rất cần thiết trong việc nghiên cứu pháp luật
quốc tế nói chung và nghiên cứu pháp luật Việt Nam nói riêng.
Có nhiều cách để phân loại các họ pháp luật trên thế giới tùy vào quan điểm,
tiêu chí của từng người. Tuy nhiên trong bài tiểu luận chỉ đưa ra hai yếu tố cơ bản
nhất để phân loại các họ pháp luật trên thế giới: lịch sử, cấu trúc hệ thống. Từ đó,
hy vọng sẽ góp phần tạo nên cái nhìn tổng quan, khái quát nhất về đặc điểm nổi bật
của hai hệ thống pháp luật: Common law và Civil law dưới góc độ so sánh. Qua đó
có được cái nhìn chính xác và khách quan hơn về vị trí pháp luật Việt Nam và
những vấn đề cịn tồn tại để có biện pháp cụ thể, kịp thời sửa đổi và định hướng
phát triển trong tương lai.
Chương I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NƯỚC PHÁP VÀ TÒA ÁN PHÁP
1. Lịch sử nước pháp
Cộng hòa Pháp, tên thường gi l Phỏp (Rộpublique franỗaise hay France).
Paris l th ụ của nước Pháp, cũng là một trong ba thành phố phát triển kinh tế
nhanh nhất thế giới cùng Luân Đôn và New York và cũng là một trung tâm hành
chính của vùng Ỵle-de-France. Nằm ở phía bắc nước Pháp. Paris được xây dựng hai
bên bờ sông Seine với tâm là đảo Ỵle de la Cité. Đây cũng là nơi hợp lưu của sông
Seine và sông Marne.
Paris nằm ở điểm gặp nhau của các hành trình thương mại đường bộ và đường
sông, và là trung tâm của một vùng nông nghiệp giàu có. Vào thế kỷ 10, Paris đã là
một trong những thành phố chính của Pháp cùng các cung điện hoàng gia, các tu
viện và nhà thờ. Từ thế kỷ 12, Paris trở thành một trong những trung tâm của châu
Âu về giáo dục và nghệ thuật. Thế kỷ 14, Paris là thành phố quan trọng bậc nhất
của Cơ Đốc giáo và trong các thế kỷ 16, 17, đây là nơi diễn ra Cách mạng Pháp
cùng nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của Pháp và châu Âu. Đến thế kỷ 19 và 20,
thành phố trở thành một trong những trung tâm văn hóa của thế giới, thủ đơ của
nghệ thuật và giải trí.
Nổi tiếng với tên gọi Kinh đơ ánh sáng, Paris là một trung tâm văn hóa lớn
của thế giới và cũng là một trong những thành phố du lịch thu hút nhất. Sự nhộn
nhịp, các cơng trình kiến trúc và khơng khí nghệ sĩ đã giúp Paris mỗi năm có đến
30 triệu khách nước ngồi. Thành phố cịn được xem như kinh đơ của thời trang
cao cấp với nhiều khu phố xa xỉ cùng các trung tâm thương mại lớn. Là nơi đặt trụ
sở chính của các tổ chức quốc tế như OECD, UNESCO... cộng với những hoạt
động đa dạng về tài chính, kinh doanh, chính trị và du lịch đã khiến Paris trở thành
một trong những trung tâm trung chuyển lớn nhất trên thế giới và được coi như
một trong bốn "thành phố toàn cầu" cùng với New York, Luân Đôn và Tokyo.
Tại Pháp, các đảng phái chính trị lớn gồm có:
Đảng xã hội (PS);
Đảng Cộng sản (PCF);
Đảng tập hợp vì nền Cộng hịa (RPR);
Liên minh vì nền dân chủ Pháp (UDF);
Mặt trận quốc gia (FN).
Pháp là quốc gia điển hình của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil law).
Civil law là một hệ thống pháp luật trên thế giới có nguồn gốc từ châu Âu và được
áp dụng tại hầu hết các quốc gia trên thế giới. Hệ thống dân luật được phát triển từ
bộ khung là luật La Mã, trong đó đã luật hóa các nguyên tắc chủ đạo để trở thành
một hệ thống mà con người có thể viện dẫn được, đóng vai trị là nguồn luật cơ
bản. Hệ thống Civil law thơng thường trái ngược hồn tồn với hệ thống Common
law có nguồn gốc từ nước Anh vào thời kỳ Trung cổ. Khác biệt chủ yếu thường
được đưa ra giữa hai hệ thống này là ở chỗ common law đề ra các quy tắc trừu
tượng từ các vụ việc cụ thể, trong khi Civil law bắt đầu từ các quy tắc trừu tượng
để sau đó các quan tòa hay trọng tài phải áp dụng các quy tắc đó cho các vụ việc cụ
thể.
2. Hệ thống Tịa án Pháp
Cộng Hòa Pháp, được chia thành 3 ngạch Tòa án. Đó là Tịa án Hiến pháp,
Tịa án tư pháp và Tịa án hành chính. Tịa án Hiến Pháp (hay chính là Hội
đồng bảo hiến) gồm 9 thành viên, trong đó 3 thành viên do Tổng thống bổ
nhiệm, 3 thành viên do Chủ tịch Thượng nghị viện bổ nhiệm, 3 thành viên do
Chủ tịch Hạ nghị viện bổ nhiệm. Thẩm phán là những người có năng lực xuất
sắc thì mới được bổ nhiệm ; Tịa án tư pháp có chức năng giả quyết các tranh
chấp giữa các cá nhân và chừng trị người phạm tội. Trong Tòa án tư pháp gồm
có Tịa phá án, Tịa phúc thẩm, Tịa sơ thẩm bao gồm : Thẩm phán, Viện trưởng
viện công tố, các phó viện trưởng, cơng tố viên ; Tịa án hành chính chịu sự
giám sát tối cao của Tham chính viện (tịa hành chính tối cao) gồm các thẩm
phán. Các thẩm phán thuộc ngạch tịa hành chính có quy chế khác với thẩm
phán ngạch tịa tư pháp, họ tơn trọng nhau, độc lập với nhau.
HỆ THỐNG TỊA
ÁN PHÁP
TỊA ÁN HÀNH CHÍNH
TỊA ÁN TƯ PHÁP
TỊA ÁN
HÀNH
CHÍNH
CHUN
BIỆT
TỊA PHÁ ÁN
TỊA PHÚC THẨM
DÂN SỰ
TỊA SƠ
THẨM
QUYỀN
HẸP
TỊA SƠ
THẨM
QUYỀN
RỘNG
TỊA
PHÚC
THẨM
HÌNH SỰ
TỊA
HÀNH
CHÍNH
CHUN
BIỆT
TỊA
ĐẠI
HÌNH
TỊA
TIỂU
HÌNH
TỊA
TIỂU
HÌNH
PHÚC
THẨM
THAM
CHINH
VIỆN
TỊA ÁN
HÀNH
CHÍNH
CHUN
BIỆT
TỊA VI
CÁNH
TỊA SƠ
THẨM
SƠ ĐỒ CẤU TRÚC HỆ THỐNG TỊA ÁN PHÁP
2.1. Tồ án tư pháp
2.1.1. Tồ dân sự sơ thẩm thơng thường
Tồ dân sự thơng thường gồm có các cấp xét xử:
- Toà sơ thẩm thẩm quyền hẹp - Tribunal d,Instance toà này thay thế cho các toà
hoà giải (Tribunal de paix) tồn tại trước năm 1958. Các tồ này có thẩm quyền xét
xử các vụ dân sự nhỏ, có giá trị tranh chấp đến 10.000 euros, sơ thẩm đồng thời
chung thẩm các vụ án có giá trị từ 3.000 euros trở xuống.
- Toà sơ thẩm thẩm quyền rộng (Tribunal de Grande Instance) là cấp xét xử cơ
bản của hệ thống toà án Pháp. Mỗi tỉnh có từ 1 đến 3 tồ. Tồn bộ nước Pháp có
158 tồ. Tồ án này xét xử theo nguyên tắc tập thể, mỗi phiên toà đều có 3 thẩm
phán chun nghiệp. Quyết định của tồ án này có thể bị kháng nghị, kháng cáo
lên tồ phúc thẩm.
- Toà phúc thẩm (Cour d’Appel) được thành lập ở các thành phố lớn và các khu
vực lãnh thổ. Toàn thể nước Pháp có 35 Tồ phúc thẩm (chưa kể lãnh thổ hải
ngoại). Tịa án này có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các vụ án do các toà án cấp dưới
xét xử bị kháng nghị, kháng cáo, và xét xử sơ thẩm các bản án phức tạp. Các vụ án
xét xử phúc thẩm gồm có 5 thẩm phán, các vụ án xét xử sơ thẩm gồm 3 thẩm phán
và 9 hội thẩm (lấy theo danh sách cử tri có lý lịch tư pháp trong sạch). Quyết định
của Toà phúc thẩm có thể bị kháng nghị, kháng cáo lên Tồ phá án.
2.1.2. Toà dân sự đặc biệt
Bên cạnh các toà dân sự thơng thường cịn có các tồ án khác như toà thương mại
(Tribunal de Commerce), toà lao động (Conseil prud’hommes), tồ xét xử hợp
đồng nơng nghiệp (Tribunal pạritaire des baux ruraux).
2.1.3. Tồ hình sự thơng thường
Tồ hình sự thơng thường ở Pháp được tổ chức phù hợp với việc phân loại tội
phạm trong Bộ luật hình sự Pháp. Bộ luật hình sự hiện hành của Pháp phân chia tội
phạm làm ba loại: Contravention (tội vi cảnh như lái xe quá tốc độ chưa gây tai
nạn, lái xe khơng có giấy phép, lái xe sử dụng rượu, bia, trộm cắp nhỏ bị bắt quả
tang...); delit (tội phạm thường); crime (tội giết người). Mỗi loại tội phạm được xét
xử ở một loại toà án khác nhau.
- Toà vi cảnh (Tribunal de police) xét xử các tội vi cảnh,có thể áp dụng các hình
phạt tù từ 1 ngày đến 2 tháng, phạt tiền từ 3.000 euros trở xuống;
- Tồ tiểu hình (Tribunal correctinnel) xét xử thường tội (delit) và có thể áp dụng
hình phạt tù trên hai tháng hoặc phạt tiền trên 3.000 euros;
- Tồ tiểu hình phúc thẩm (Tribunal correctionnel d’appel) xét xử phúc thẩm các
bản án bị kháng nghị, kháng cáo của hai loại toà án nói trên.
Phiên tồ phúc thẩm tiểu hình được xét xử bằng ba thẩm phán chun nghiệp.
- Tồ đại hình (Cour d'Assises) xét xử các tội đại hình (tội giết người).
Tồ đại hình khơng phải là tồ án hoạt động thường trực mà 3 tháng/kỳ. Trong các
phiên tồ đại hình ngồi 3 Thẩm phán, Cơng tố viên cịn có 9 Hội thẩm (Jure). Các
Hội thẩm tham gia xét xử vụ án được lựa chọn một cách ngẫu nhiên bằng phương
pháp bốc thăm trong số 50 Hội thẩm nhân dân được toà án gọi đến. Danh sách các
Hội thẩm nhân dân được Tồ đại hình lựa chọn hàng năm từ danh sách cử tri có lý
lịch tư pháp trong sạch. Các thẩm phán và hội thẩm bình đẳng khi xử án. Trong
một phiên tồ đại hình, thẩm phán và hội thẩm phải bỏ hai loại phiếu kín để giải
quyết vụ việc. Phiếu thứ nhất trả lời câu hỏi có tội hay khơng có tội? Bị cáo chỉ bị
coi là có tội khi có ít nhất 2/3 tổng số thẩm phán và hội thẩm khẳng định là có tội.
Hình phạt cụ thể sẽ được quyết định sau khi công bố kết quả lần bỏ phiếu thứ nhất.
Lần bỏ phiếu thứ hai để quyết định hình phạt cụ thể chỉ xẩy ra khi kết quả lần một
được cơng bố là có tội. Trước khi lần bỏ phiếu thứ hai sẽ thực hiện, trong phòng
nghị án các thẩm phán có nghĩa vụ giải thích quy định điều luật liên quan đến tội
phạm tương ứng mà bị cáo phạm phải. Mức độ hình phạt (thời gian tù có thời hạn
hoặc tù chung thân) được quyết định theo đa số.
2.1.4. Tồ án hình sự đặc biệt:
Tồ án hình sự đặc biệt gồm có:
- Toà án dành cho các vị thành niên (Tribunal des Enfants);
- Toà án quân sự;
- Toà án an ninh quốc gia.
Trong các tồ hình sự của Pháp đều có thẩm phán điều tra (Jugde d’Instruction),
thẩm phán xét xử (Jugde) và thẩm phán áp dụng hình phạt (Jugde d’Application de
peine).
2.1.5. Tồ phá án (Cour de Cassation)
Toà phá án là Toà án tư pháp tối cao của nước cộng hoà Pháp. Toà án này được gọi
là Tồ phá án vì nó thường huỷ bỏ các bản án của toà án cấp dưới nhưng khơng
thay thế các bản án đó bằng các bản án của mình mà gửi vụ án xuống một tồ án
khác cùng cấp toà án đã xét xử vụ việc, xét xử lại. Toà phá án chỉ xem xét
“questions of law” chứ khơng xem xét “questions of fact” điều đó có nghĩa là Tồ
phá án chỉ xem xét tồ án cấp dưới khi xét xử có tuân thủ đúng các quy tắc của
pháp luật vật chất và tố tụng hay khơng, áp dụng pháp luật đúng hay sai cịn việc
xét xử lại Tồ án sẽ khơng tự mình xem xét. Như vậy, nếu một bản án có sai sót về
mặt thủ tục tố tụng hay áp dụng pháp luật nội dung khơng đúng thì Tồ phá án sẽ
huỷ án và chuyển hổ sơ vụ án cho một Toà án phúc thẩm khác xét xử lại.
Tồ phá án có 6 tồ (Chambre) chuyên trách bao gồm 3 tòa dân sự, 1 tịa thương
mại, tài chính, 1 tồ hình sự, 1 tồ về các vấn đề xã hội. Về nhân sự Toà phá án có
1 chánh án, 6 chánh tồ, 84 thẩm phán, 37 cố vấn (conseiller referendaire), 1 viện
trưởng công tố, 1 viện phó cơng tố, 19 cơng tố viên cao cấp, 2 công tố viên uỷ
quyền. Tổng số thẩm phán và cơng tố viên của Tồ phá án là 149.
2.2. Tồ án hành chính
2.2.1. Tồ án hành chính thẩm quyền chung
*Tồ hành chính sơ thẩm (Tribunal Administratif)
Tồ án hành chính sơ thẩm là tồ án có thẩm quyền chung trong lĩnh vực hành
chính, xét xử sơ thẩm mọi vụ việc hành chính, trừ một số trường hợp ngoại lệ vụ
việc được giao cho toà án khác theo quy định của pháp luật. Các tồ án hành chính
sơ thẩm được thành lập từ năm 1953(1) thay thế cho các “Hội đồng tỉnh trưởng”
vốn là một dạng toà án được thành lập vào năm 1800 trong mỗi tỉnh với năng lực
rất hạn chế. Thẩm quyền của Tồ án hành chính được xác định theo nguyên tắc
lãnh thổ nghĩa là Toà hành chính có thẩm quyền xét xử là tồ án nơi có trụ sở của
cơ quan hành chính đã ban hành quyết định hành chính bị khiếu kiện, hoặc hợp
đồng hành chính có tranh chấp. Hiện nay trên tồn bộ lãnh thổ Pháp có 37 Tồ
hành chính sơ thẩm
* Tồ hành chính phúc thẩm (Tribunal Administratif d Appel).
Tồ hành chính phúc thẩm được thành lập ở các thành phố lớn như Paris, Bordaux,
Marseil, Lyon và một số thành phố là trung tâm của một số khu vực lãnh thổ như
Nancy, Nantes, Douai, Versailles.Theo ngun tắc trên, Pháp có 8 tồ hành chính
phúc thẩm.
* Tham chính viện (Conseil d'Etat)
Tham chính viện là tồ án hành chính tối cao của Pháp, ngồi ra Tham chính viện
cịn là cơ quan tham mưu cho Chính phủ Pháp.
Tham chính viện có khoảng 300 thành viên nhưng chỉ 2/3 trong số đó là hoạt động
thường xuyên tại tham chính viện, số cịn lại thường nắm giữ những chức vụ quan
trọng trong bộ máy hành chính nhà nước ở trung ương. Đa số các thành viên của
tham chính viện được lựa chọn từ những người đã tốt nghiệp Học viện hành chính
quốc gia. Thành viên tham chính viện chia làm ba loại: thẩm phán tập sự, thẩm
phán tham vấn và thẩm phán cao cấp. Tham chính viện được chia thành 6 ban, 5
ban có chức năng hành chính (nội vụ, tài chính, cơng chính, xã hội, nghiên cứu) và
1 ban có chức năng tài phán. Ban tài phán chia làm 10 tiểu ban. Tuỳ theo tầm quan
trọng và tính chất của vụ việc cần giải quyết, hội đổng xét xử của Tham chính viện
có 4 dạng sau đây:
- Đối với vụ việc đơn giản Hội đồng xét xử chỉ có 3 thẩm phán;
- Đối với những vụ việc tương đối phức tạp và khó giải quyết Hội đồng xét xử
được thành lập từ nhiều tiểu ban, gồm 9 thành viên, trong đó tiểu ban đã thụ lý vụ
việc và tiến hành thẩm cứu sẽ phối hợp với một tiểu ban khác để xét xử.
- Đối với những vụ việc phức tạp và khó giải quyết về mặt pháp luật hoặc có ý
nghĩa quan trọng Hội đồng xét xử sẽ có 17 thành viên bao gồm Chủ tịch Ban tài
phán, 3 Phó chủ tịch Ban tài phán, 10 Chủ tịch tiểu ban, báo cáo viên và 2 thẩm
phán cao cấp.
- Đối với vụ việc đặc biệt phức tạp và nhạy cảm về chính trị thì phải do Hội đồng
thẩm phán Tham chính viện xét xử. Đây là Hội đồng cao nhất, gồm Chủ tịch của
tất cả các Ban hành chính và Ban tài phán, 3 Phó chủ tịch Ban tài phán, Chủ tịch
tiểu ban thẩm cứu và báo cáo viên, dưới sự chủ toạ của Phó chủ tịch Tham chính
viện (tất cả có 12 thành viên).
Các vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của tham chính viện chủ yếu bao gồm:
- Khiếu kiện đối với Nghị định và Pháp lệnh của Chính phủ;
- Khiếu kiện đối với các quyết định là văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ
trưởng cũng như quyết định là văn bản áp dụng pháp luật;
- Khiếu kiện đối với những văn bản hành chính có phạm vi áp dụng vượt ra ngồi
quản hạt của một tồ án hành chính sơ thẩm;
- Khiếu kiện đối với những quyết định hành chính của cơ quan đại diện của Pháp ở
nước ngoài;
- Khiếu kiện đối với những quyết định của bộ trưởng trong lĩnh vực kiểm soát tập
trung kinh tế;
- Khiếu kiện về sự xâm hại của các quyết định xử phạt của cơ quan hành chính độc
lập ban hành;
- Khiếu kiện về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản hành chính;
- Tranh chấp liên quan đến tình trạng cá nhân của công chức được bổ nhiệm theo
quyết định của Tổng thống;
- Khiếu kiện về bầu cử đại biểu Hội đổng vùng, đại biểu Hội đồng đảo Corse và
thành viên Nghị viện châu Âu.
Tham chính viện là cơ quan duy nhất có quyền giải quyết kháng nghị giám đốc
thẩm đối với các quyết định xét xử chung thẩm của mọi tồ án hành chính. Khác
với Tồ phá án trong tồ án tư pháp Tham chính viện sau khi huỷ án hành chính có
thể trực tiếp xét xử lại về mặt nội dung vụ việc nếu thấy “ có lợi cho cơng tác quản
lý xét xử”. Ngồi ra Tham chính viện có thẩm quyền đưa ra ý kiến hướng dẫn giải
quyết vụ việc theo yêu cầu của các toà án hành chính sơ thẩm hoặc tồ án hành
chính phúc thẩm.
2.2.2. Các tồ án hành chính thẩm quyền chun biệt
Nước cơng hồ Pháp có các tồ án hành chính chun biệt sau đây:
- Tồ kiểm tốn (Tribunal de Compte) thành lập năm 1807;
- Tồ kỷ luật, ngân sách và tài chính thành lập năm 1948;
- Ưỷ ban quốc gia về giải quyết tranh chấp về dịch vụ y tế và xã hội thành lập năm
1990;
- Uỷ ban trung ương về giải quyết khiếu kiện của người tỵ nạn thành lập năm
1988.
Sở dĩ các tồ án hành chính này gọi là các tồ án hành chính có thẩm quyền
chun biệt là vì mồi tồ án thuộc loại này chỉ có một phạm vi thẩm quyền nhất
định, mang tính chất đặc thù của vụ việc. Một số thiết chế nói trên được tổ chức
theo hai cấp xét xử. Ví dụ, Tồ kiểm tốn trung ương có quyền xử phúc thẩm quyết
định của các Tồ kiểm tốn vùng. Tất cả các thiết chế này đều chịu sự kiểm tra của
Tham chính viện thơng qua cơ chế kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hoặc giám
đốc thẩm, chính vì vậy mà các tồ án này được xếp vào ngạch hành chính.
Các quy tắc tố tụng áp dụng cho các toă án hành chính thẩm quyền chung
cũng được áp dụng cho tồ án hành chính có thẩm quyền chuyên biệt trừ trường
hợp văn bản thành lập tồ án hành chính chun biệt có quy định khác. Nguyên tắc
tranh tụng với sự đòi hỏi các bên phải được thông báo về các tài liệu, lý lẽ và yêu
cầu của bên kia được áp dụng cho tất cả các tồ án chun biệt cũng như các tồ án
có thẩm quyền chung.
2.3. Toà án Hiến pháp
Ở Pháp Toà án Hiến pháp được gọi là Hội đồng bảo hiến (Conseil
Constitutionnel). Hội đồng bảo hiến được thành lập theo Hiến pháp 1958. Hội
đổng bảo hiến bao gồm 9 thành viên do Tổng thống bổ nhiệm 1/3, Chủ tịch
Thượng viện bổ nhiệm 1/3, Chủ tịch Hạ viện bổ nhiệm 1/3 với nhiệm kỳ 9 năm và
các thành viên không ai được phép giữ chức vụ này quá một nhiệm kỳ. Ngoài 9
thành viên nói trên, các cựu Tổng pháp (nếu khơng từ chối) đều là thành viên của
Hội đổng bảo hiến.
Chức năng của Hội đổng bảo hiến là kiểm sốt tính hợp hiến của luật tuy nhiên
Hội đồng chỉ xem xét vụ việc khi có đơn đề nghị của Tổng thống, Thủ tướng, Chủ
tịch Thượng viện, Chủ tịch Hạ viện, 60 Thượng nghị sĩ hoặc 60 Hạ nghị Sĩ.
Chương II: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁP LUẬT ANH QUỐC VÀ HỆ
THỐNG TỊA ÁN ANH QUỐC
1. Lịch sử hình thành pháp luật Anh quốc
Cải cách tư pháp ở Anh đã được khởi xướng từ những năm 1918 và được đưa ra
bàn bạc trong chính phủ. Ngay từ 1986, Cục Cơng Tố Hoàng Gia đã ra đời và vừa
qua tháng 5/2007 Bộ Tư Pháp mới của Anh cũng được thành lập. Đồng thời dự
định sẽ đưa Tòa Án Tối Cao vào hoạt động từ tháng 10/2009 để đảm nhiệm toàn
bộ chức năng xét xử của ủy ban phúc thẩm của Thượng Nghị Viện. Chế độ bổ
nhiệm thẩm phán cũng sẽ có nhiều thay đổi đó là trách nhiệm bổ nhiệm thẩm phản
theo luật cải tổ Hiến Pháp năm 2005 được đặt vào tay tập thể chứ không nằm trong
tay cá nhân Đại Pháp Quan như trước, hơn nữa thủ tục bổ nhiệm thẩm phán cũng
minh bạch hơn, việc bổ nhiệm được tiến hành căn cứ vào phẩm chất và năng lực
của từng ứng cử viên.
Cải cách tư pháp là hoạt động được tiến hành rộng rãi trên nhiều lĩnh vực: Cải
cách hệ thống tịa án, cải cách ngành cơng tố, Bộ tư pháp Trên cơ sở tiếp thu những
kinh nghiệm cải cách tư pháp ở Anh và nghị quyết 49/TW ngày 2/6/2005 của Bộ
Chính Trị nhóm tác giả đưa ra những ý kiến cải cách tư pháp ở Việt Nam trong
thời gian tới
Việc nghiên cứu án lệ Anh đòi hỏi phải đặt trong quá trình ra đời, phát triển của
pháp luật nước này và hệ thống toà án Anh. Hệ thống thơng luật trên tồn thế giới
bắt nguồn từ Anh quốc vào giai đoạn phát triển về kinh tế, xã hội, chính trị và pháp
luật dưới chế độ phong kiến. Một trong những đặc điểm ở Anh lúc đó là các tranh
chấp được giải quyết hoàn toàn trong phạm vi hẹp của các lãnh địa mà không quan
tâm đến các vùng khác giải quyết như thế nào. Khi nhà vua muốn thiết lập quyền
lực tập trung, ý định này gặp phải sự phản kháng từ các vị lãnh chúa. Mặc dù vậy,
nhà vua vẫn thành lập các tịa án của mình và cử các thẩm phán đi xét xử lưu động
trên toàn vương quốc với thẩm quyền về một số loại vụ việc, chứ khơng phải có
thẩm quyền chung. Bằng các phán quyết của mình có tính chất chung, thơng lệ
(common) trên tồn vương quốc, các tịa án hồng gia đã tạo nên những luật lệ
thống nhất đầu tiên, tạo nền tảng cho sự thống nhất của cả trật tự pháp lý. Từ đây
xuất hiện khái niệm “thông luật”- common law, tức là pháp luật có tính chất chung
trên tồn vương quốc Anh. Đáng nói là, q trình phát triển và tập trung hóa hệ
thống pháp luật ở Anh diễn ra sớm hơn nhiều so với sự phát triển của nghị viện
Anh. Trong suốt q trình song hành, ln diễn ra sự xung đột giữa luật của tòa án
và luật thành văn, phản ánh mâu thuẫn giữa vương quyền và nghị viện.
Khi luật thành văn có thể áp dụng trực tiếp cho một tình huống cụ thể, tịa án
phải ra phán quyết theo quy định thành văn; nhưng khi có sự nghi ngờ, văn bản
pháp luật do nghị viện ban hành sẽ được giải thích một cách rất hạn hẹp nhằm
giảm thiểu tối đa sự 2 “xâm chiếm” của văn bản và dành cho tòa án thẩm quyền tối
đa. Hệ thống các quy phạm pháp lý đã định hình cơ bản dựa trên các phán quyết
của tòa án. Cần biết đặc điểm này để hiểu được bản chất của thông luật nói chung
và án lệ nói riêng ở Anh quốc, nhất là đặt trong mối quan hệ giữa án lệ và luật
thành văn. Nguyên tắc stare decisis, theo đó, nghĩa vụ của thẩm phán Anh quốc
phải tuân theo những quy tắc có trong những quyết định tồ án được đưa ra trước
đó bắt đầu ăn sâu ở Anh chỉ từ nửa sau thế kỷ XIX. Việc ban hành "Luật về Tổ
chức toà án" vào thời điểm này làm cho cấu trúc của hệ thống toà án trở nên rõ
ràng, chặt chẽ hơn và việc nâng cao chất lượng của các tuyển tập án lệ đã hỗ trợ
đáng kể cho quy tắc án lệ được đưa vào thực tế nhiều hơn.
2. Hệ thống toà án Anh quốc
THƯỢNG NGHỊ
HỘI ĐỒNG CƠ
VIỆN
MẬT
TỊA PHÚC
THẨM
TỊA TỐI
THƯỢNG
TỊA NHÀ VUA
TỊA NỮ
HỒNG
TỊA CƠNG LÝ
TỊA ĐỊA HẠT
Trình tự phúc
Quan hệ tổ chức
thẩm
(Phân tịa)
TỊA GIA ĐÌNH
TỊA HỊA GIẢI
SƠ ĐỒ CẤU TRÚC HỆ THỐNG TỊA ÁN ANH QUỐC
Hệ thống toà án Anh chia ra xét xử cấp cao (senior courts), với đỉnh là Tòa án
tối cao Liên hiệp Anh (Supreme Court of the UK) và xét xử cấp thấp do số lượng
lớn các toà cấp dưới và những cơ quan bán pháp lý tương đương thực hiện. Tuy
nhiên, từ góc độ nghiên cứu án lệ, phần này của bài viết chỉ đề cập đến hoạt động
của các tồ cấp cao bởi những tồ đó khơng chỉ xem xét các vụ việc cụ thể mà còn
đưa ra quyết định thường vượt ra khỏi khuôn khổ của vụ án và trong những điều
kiện nhất định tạo ra tiền lệ cho những vụ việc sau này. Các quan toà những tồ án
cấp cao ở Anh có vị trí quan trọng và vai trò của họ rất to lớn. Ở Anh tồn tại
mộtquyền lực tư pháp thực thụ mà về uy tín lẫn ý nghĩa đều khơng thua kém quyền
lực lập pháp và hành pháp.
2.1. Tổ chức của các tòa cấp cao ở Anh (senior courts)
Theo Luật về Toà án năm 1971 của Anh, các tòa cấp cao ở Anh gồm: Tồ tối
thượng Cơng lý (Hight Court of Justice), Tồ Vương miện (Crown Court) và Toà
phúc thẩm (Court of Appeal). Toà tối thượng gồm ba bộ phận: bộ phận Hoàng gia
(Queen’s Bench Division), Tòa đại pháp - bộ phận xét xử theo luật công lý
(Chancery Division) và bộ phận về luật gia đình (Family Division). Trong khn
khổ của bộ phận Hồng gia có Tồ Đơ đốc và Tồ Thương mại; trong khn khổ
Tịa đại pháp có Tồ mơn bài. Tồ tối thượng có gần 100 quan tồ (mang danh
hiệu "Justices") cộng với Chánh án (Lord) đứng đầu bộ phận Hoàng gia, Phó pháp
quan (Vice Chancellor) đứng đầu Tịa đại pháp và quan tồ đứng đầu bộ phận luật
gia đình. Các quan toà được bổ nhiệm từ những luật sư mà đối với họ, trở thành
quan toà là đỉnh cao trong đường sự nghiệp. Những vụ việc ở cấp sơ thẩm do một
quan toà xét xử. Hiện nay, bồi thẩm đoàn chỉ tham gia vào những vụ việc dân sự
trong những trường hợp ngoại lệ. Toà Vương miện - một tổ chức mới do Luật về
Toà án 1971 lập ra. Toà xem xét những vụ án hình sự. Thành phần của tồ đa dạng
hơn. Phụ thuộc vào dạng tội phạm, vụ án có thể do quan tồ của Tồ tối thượng,