CHỦ ĐỀ: VAI TRÒ CỦA HÀNG RÀO KĨ THUẬT ĐỐI VỚI
SỨC KHỎE NGƯỜI VIỆT NAM
1. Hàng rào kĩ thuật
- Khái niệm: Là một hình thức bảo hộ mậu dịch thơng qua việc
nước nhập khẩu đưa ra các yêu cầu về tiêu chuẩn, quy chuẩn
kĩ thuật hết sức khắt khe đối với hàng hóa nhập khẩu, các tiêu
chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật này có thể liên quan đến tất cả các
quá trình của sản phẩm từ sản xuất, phân phối đến tiêu dùng.
Hàng hóa nếu khơng đạt được các tiêu chuẩn trên sẽ không
được phép nhập khẩu vào lãnh thổ của nước nhập khẩu”
- Lịch sử hình thành: Vịng đàm phán TOKYO năm 1979 có 32
quốc gia thành viên GATT đã kí kết Hiệp định về Hàng rào kĩ
thuật trong thương mại (TBT). Đến năm 1994, Hiệp định thành
lập Tổ chức Thương mại thế giới WTO đã hợp nhất Hiệp định
Hàng rào kĩ thuật trong thương mại.
- Kết cấu: Hiệp định TBT gồm 6 phần với 15 điều và 3 phụ lục
- Đối tượng áp dụng: Đối tượng áp dụng của Hiệp định bao
gồm tất cả các sản phẩm công nghiệp và nông nghiệp, các biện
pháp vệ sinh động vật và thực vật.
- Mục đích: Bảo vệ sức khỏe và an toàn cho người tiêu dùng,
Bảo vệ đời sống của động thực vật, Bảo vệ mơi trường, Bảo vệ
các mục đích khác liên quan đến các quy định về chất lượng,
hài hịa hóa...
2. Các quy định về hàng rào kĩ thuật đối với hàng hóa
xuất nhập khẩu tại Việt Nam: các ngành thực phẩm, dệt
may, dược phẩm, …
a. Thực phẩm
Theo số liệu từ Bộ NN-PTNT, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm,
thủy sản trong năm 2019 đạt con số ấn tượng trên 41 tỷ USD
nhưng Việt Nam cũng đang trở thành thị trường lớn tiêu thụ
thịt, rau, trái cây của các nước khi tổng giá trị nhập khẩu nông,
lâm, thủy sản lên đến trên 25,6 tỷ USD.
Trong khi đó, việc xây dựng hàng rào kĩ thuật đối với các sản
phẩm nông, lâm, thủy sản nhập khẩu của Việt Nam còn khá
chậm chân so với các nước. Cụ thể, với nước đứng đầu trong
tốp nhập khẩu nông sản vào Việt Nam hiện nay là Trung Quốc,
việc nhập khẩu nơng sản từ nước này cịn nhiều bất cập, nhất
là trong khâu kiểm sốt, quản lí nên tình trạng nơng sản Trung
Quốc kém chất lượng tràn lan ngồi thị trường hoặc tình trạng
hàng Trung Quốc “đội lốt” hàng Việt vẫn diễn ra phổ biến...
Điều này tác động rất lớn đến chất lượng cuộc sống của người
dân Việt Nam đặc biệt là gây ảnh hưởng đến sức khỏe của
người tiêu dùng do sử dụng phải những mặt hàng chất lượng
kém.
Để đưa đến tay người tiêu dùng những sản phẩm đảm bảo
dinh dưỡng, tốt cho sức khỏe, an tồn đối với người tiêu dùng
thì Việt Nam đã đưa ra những quy chuẩn Việt Nam (QCVN) về
thực phẩm:
Như là:
+ QCVN 12-4:2015/BYT - Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về vệ
sinh an tồn đối với bao bì, dụng cụ làm bằng thủy tinh, gốm,
sứ và tráng men tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm.
+ QCVN 8-3:2012/BYT Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia đối với ô
nhiễm vi sinh vật trong thực phẩm
+ QCVN 11-4:2012/BYT Quy chuẩn quốc gia đối với sản phẩm
dinh dưỡng chế biến từ ngũ cốc cho trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi
+ Quy chuẩn kĩ thuật Quốc gia: QCVN 12-1:2011/BYT Về an
toàn vệ sinh đối với bao bì, dụng cụ bằng nhựa tổng hợp tiếp
xúc trực tiếp với thực phẩm.
+ QCVN 12-2:2011/BYT Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về an tồn
vệ sinh đối với bao bì, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm
bằng cao su
+ QCVN 4-19:2011/BYT Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về phụ gia
thực phẩm – Enzym
+ QCVN 11-4:2012/BYT Quy chuẩn quốc gia đối với sản phẩm
dinh dưỡng chế biến từ ngũ cốc cho trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi
+ Hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam về nông nghiệp thực phẩm
+ Hệ thống Quy chuẩn Việt Nam về an toàn thực phẩm
+ Thông tư 38/2018/TT-BTC Quy định về xác định xuất xứ
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Điển hình là ngành thủy sản
+ Tiêu chuẩn VietGAP (gọi tắt là VietGAP, dịch sang tiếng Anh
là Vietnamese Good Aquaculture Practices) là Quy phạm thực
hành ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản nhằm đảm bảo các
yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm thiểu dịch bệnh,
giảm thiểu ô nhiễm môi trường sinh thái, đảm bảo trách nhiệm
xã hội và truy nguyên nguồn gốc sản phẩm. Sử dụng các biện
pháp kĩ thuật nhằm ngăn ngừa, hạn chế sự lây nhiễm của các
tác nhân sinh học xuất hiện tự nhiên hoặc do con người tạo ra
trong các hoạt động ni trồng thủy sản có khả năng gây nguy
hại đến con người, vật nuôi và hệ sinh thái, đảm bảo sức khỏe
người sản xuất và người tiêu dùng.
Thông tư 03/2017/TT-BNNPTNT quy chuẩn kĩ thuật bảo đảm
an tồn thực phẩm kinh doanh thủy sản. Thơng tư này yêu cầu
các doanh nghiệp kinh doanh thủy sản phải đảm bảo nơi sản
xuất cách xa khu vực ô nhiễm, không tạo điều kiện cho các
động vật gây hại ảnh hưởng tới sản phẩm, thiết bị dụng cụ sản
xuất phải đảm bảo sạch sẽ, an toàn và phải làm vệ sinh thường
xuyên, thực phẩm khi chế biến phải ghi đầy đủ ngày sản xuất
hạn sử dụng.
+ Tiêu chuẩn QCVN 02-24 2017/BNNPTNT của bộ Nông Nghiệp
và Phát triển Nông thôn ban hành về quy chuẩn kĩ thuật quốc
gia về cơ sở sản xuất dầu cá, mỡ cá yêu cầu đảm bảo an tồn
thực phẩm. Theo đó tiêu chuẩn này quy định về vấn đề đặt nhà
xưởng sản xuất, quy định về thiết bị dụng cụ kho chứa, quy
định về yêu cầu bảo quản hàng hóa. Giúp bảo vệ sức khỏe
người tiêu dùng Việt Nam.
+Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 8345 8346 8347 8348 8349 8350
8351 -2010 Thủy sản và các sản phẩm thủy sản - Xác định dư
lượng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kháng sinh, thành phần hóa
học
+Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 3701 3702 3703-2009 Thủy sản và
sản phẩm thủy sản - Xác định hàm lượng natri clorua, axit, chất
béo có trong thực phẩm.
+Tiêu chuẩn QCVN 02-27 2017/BNNPTNT CỦA Bộ Nông Nghiệp
và Phát triển Nông thôn về Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia “ Sản
phẩm thủy sản- Cá tra phi lê đông lạnh” Tiêu chuẩn này quy
định các chỉ tiêu chất lượng giúp người tiêu dùng có được sản
phẩm đảm bảo độ dinh dưỡng. Quy định chỉ tiêu an toàn thực
phẩm, ghi nhãn, bao bì và bảo quản giúp cho sản phẩm đến
tay người tiêu dùng ln đảm bảo sạch sẽ an tồn cho sức
khỏe.
+ Nhập khẩu thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lí mơi trường ni
trồng thủy sản phải có giấy phép.
- Thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lí mơi trường ni trồng thủy
sản có hóa chất, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, nguyên liệu
sản xuất thức ăn thủy sản thuộc Danh mục hóa chất, chế phẩm
sinh học, vi sinh vật, nguyên liệu sản xuất thức ăn được phép
sử dụng trong nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam.
b. Dệt may
Hiện nay, ở nước ta, ngành công nghiệp dệt may có vai trị
quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, không chỉ phục vụ cho
nhu cầu ngày càng cao, phong phú và đa dạng của con người,
mà còn giải quyết việc làm cho xã hội, đóng góp nhiều cho
ngân sách quốc gia. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, tự
do hóa thương mại giữa các nước là điều tất yếu. Thực thi các
hiệp định thương mại, hàng rào thuế quan, hạn ngạch giảm
dần và tiến tới xóa bỏ, việc lưu thơng hàng hóa trở lên dễ dàng
hơn. Do vậy, để đảm bảo nền sản xuất trong nước và bảo vệ
người tiêu dùng, hệ thống các hàng rào kĩ thuật được các quốc
gia sử dụng phổ biến. Trong khi, các sản phẩm dệt may của
Việt Nam phải vất vả đáp ứng các điều kiện khắt khe của các
thị trường nhập khẩu thì nhiều sản phẩm dệt may của các nước
cũng được nhập khẩu vào, cạnh tranh với sản phẩm của dệt
may Việt Nam ngay tại thị trường trong nước.
Trước thực trạng đó, từ tháng 5/2011, Thủ tướng Chính phủ đã
phê duyệt Đề án “Thực thi Hiệp định hàng rào cản kĩ thuật
trong thương mại giai đoạn 2011 – 2015”. Trong đó có nội
dung: Xây dựng và áp dụng cơ chế kiểm soát chất lượng từ xa,
nhằm ngăn chặn sự thâm nhập và lưu thơng trên thị trường các
hàng hóa nhập khẩu không phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ
thuật, khơng bảo đảm an tồn, vệ sinh và khơng rõ nguồn gốc,
xuất xứ… Bộ Cơng Thương được giao chủ trì phối hợp với các
bộ, ngành và địa phương thực hiện. Việc xây dựng các quy
chuẩn kĩ thuật quốc gia ngành Dệt may đã đáp ứng yêu cầu
bảo vệ người tiêu dùng trong nước, mà còn bảo vệ ngành Dệt
may nước nhà.
Cụ thể, xây dựng được Dự thảo Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về
nhãn thành phần xơ dệt đối với sản phẩm dệt may; Dự thảo
Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về nhãn hướng dẫn sử dụng đối
với sản phẩm dệt may. Cùng với đó là các dự thảo tiêu chuẩn
quốc gia: Vật liệu dệt- ghi nhãn thành phần xơ dệt đối với sản
phẩm dệt may; vật liệu dệt- ghi nhãn hướng dẫn sử dụng đối
với sản phẩm dệt may; vật liệu dệt- hướng dẫn thiết lập hoặc
xác nhận nội dung hướng dẫn sử dụng cho sản phẩm dệt may.
Việc xây dựng các quy chuẩn kĩ thuật quốc gia ngành Dệt may
giúp tăng tính cạnh tranh, minh bạch, tạo điều kiện phát triển
bền vững cho ngành Dệt may Việt Nam; cung cấp cơng cụ
pháp lí, các chuẩn mực để phục vụ cơng tác quản lí và thực thi
ghi nhãn hàng thị trường hàng dệt may tại Việt Nam phù hợp
với điều kiện trong nước và hài hòa với các quy định quốc tế,
nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Việc xây dựng các quy chuẩn kĩ thuật quốc gia ngành Dệt may
giúp tăng tính cạnh tranh, minh bạch, tạo điều kiện phát triển
bền vững cho ngành Dệt may Việt Nam; cung cấp cơng cụ
pháp lí, các chuẩn mực để phục vụ cơng tác quản lí và thực thi
ghi nhãn hàng thị trường hàng dệt may tại Việt Nam phù hợp
với điều kiện trong
+ QCVN 01: 2017/BCT: Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về mức
giới hạn hàm lượng Formaldehyt và các Amin thơm chuyển hóa
từ thuốc nhuộm Azo trong sản phẩm dệt may.
+ TCVN 7421-1:2013, Vật liệu dệt - Xác định formaldehyt Phần 1: Formaldehyt tự do và thủy phân (phương pháp chiết
trong nước);
+ ISO 14184-1:2011, Textiles - Determination of formaldehyde
- Part 1: Free and hydrolyzed formaldehyde (water extraction
method).
c. Thuốc lá
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thuốc lá gây ra hơn 70% cái
chết vì ung thư phổi. Hút thuốc lá còn là nguyên nhân gây ra
nhiều chứng bệnh nguy hiểm cũng như ung thư khác. PGS.TS
Lê Văn Quảng, PGĐ Bệnh viện K dẫn chứng: “Theo Cơ quan
nghiên cứu ung thư quốc tế, có hơn 5.700 thành phần hóa học
được tìm thấy trong khói thuốc lá, trong đó có hơn 70 tác nhân
gây ung thư, như: Benzen, Etylen Oxit, Vinyl Chloride, Asen
(thạch tín),… Đây là những hợp chất độc hại được tạo ra trong
quá trình đốt cháy thuốc lá ở nhiệt độ cao hơn 600 độ C và là
nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh liên quan đến hút thuốc
như: ung thư phổi, các bệnh tim mạch, hô hấp, chứ không phải
nicotine như nhiều người vẫn nghĩ”.
Khói thuốc lá cịn là ngun nhân làm trầm trọng thêm bệnh
hen suyễn, gây tàn phế và tử vong cho cả người hút thuốc và
người hút thuốc thụ động.
Căn cứ Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm
2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương; Nghị định số 44/2011/
NĐ-CP ngày 14 tháng 6 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ
sung Điều 3 Nghị định số 189/2007/NĐ-CP;
Căn cứ Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm
2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại
về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại
lí mua, bán, gia cơng và q cảnh hàng hố với nước ngồi;
Căn cứ Thơng tư số 04/2006/TT-BTM ngày 6 tháng 4 năm 2006
của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) hướng dẫn một
số nội dung quy định tại Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23
tháng 01 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và
các hoạt động đại lí mua, bán, gia cơng và q cảnh hàng hố
với nước ngồi;
Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định việc nhập khẩu thuốc lá
nguyên liệu theo hạn ngạch thuế quan năm 2012 như sau:
+ Điều 1. Lượng thuốc lá nguyên liệu nhập khẩu theo ngạch
thuế quan.
Lượng thuốc lá nguyên liệu (mã HS 2401) nhập khẩu theo hạn
ngạch thuế quan năm 2012 là 40.000 tấn
+ Điều 2. Nguyên tắc cấp giấy phép nhập khẩu thuốc lá nguyên
liệu theo hạn ngạch thuế quan
Thương nhân được phân giao hạn ngạch thuế quan nhập khẩu
thuốc lá nguyên liệu theo quy định tại Thông tư số 04/2006/TTBTM ngày 6 tháng 4 năm 2006 của Bộ Thương mại (nay là Bộ
Công Thương) hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị
định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động
mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lí mua, bán,
gia cơng và q cảnh hàng hố với nước ngồi.
3. Biện pháp nâng cao hiệu quả quản lí nhà nước vấn đề
thực thi các quy định hàng rào kĩ thuật đối với hàng hoá
xuất nhập khẩu Việt Nam ảnh hưởng đến sức khỏe của
con người.
Việt Nam đã hội nhập sâu, rộng ở nhiều khuôn khổ, từ song
phương, khu vực và ở phạm vi rộng hơn nữa như WTO... và
trong quá trình hội nhập, bên cạnh các cam kết của các thành
viên về thuế quan thì nội dung rất quan trọng là tuân thủ các
cam kết về các hàng rào kĩ thuật (RCKT) đối với hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu của nhau. Trong thời gian qua, theo chức
năng của mình, Bộ Cơng Thương đã có nhiều giải pháp “hai
chiều” để thực hiện các cam kết quốc tế.
Từng bước đưa khung khổ pháp lí tiệm cận với quy định quốc
tế
Theo đại diện Bộ Công Thương, trong thời gian qua, để thực
hiện tốt các cam kết quốc tế với mục tiêu đồng thời là giúp
các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam vượt qua các RCKT
của các thị trường nhập khẩu và tạo được hàng RCKT thiết
đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam để bảo vệ sản xuất
trong nước, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng trong nước theo
đúng các quy định của quốc tế, Chính phủ đã chỉ đạo và phân
giao trách nhiệm cho các Bộ, ngành, trong đó có Bộ Cơng
Thương tổ chức triển khai các giải pháp đồng bộ.
Cụ thể, đến nay, Bộ Công Thương đã xây dựng, ban hành
được 44 Quy chuẩn Việt Nam (QCVN) gồm các đối tượng: sản
phẩm, hàng hóa nhóm 2; kĩ thuật điện; khống sản; xăng
dầu; dệt may, khăn giấy và giấy vệ sinh….
Bộ cũng đã xây dựng lộ trình hồn thiện hệ thống tiêu chuẩn,
quy chuẩn kĩ thuật (TC-QCKT) ngành Công Thương đến năm
2025 tại Quyết định số 3263/QĐ-BCT ngày 07/9/2018, với
mục tiêu hồn thiện hệ thống TC-QCKT ngành Cơng Thương
theo hướng đồng bộ, đầy đủ, đáp ứng yêu cầu công tác kiểm
tra chun ngành, quản lí nhà nước về an tồn và chất lượng
sản phẩm hàng hóa của ngành Cơng Thương. Đồng thời,
khuyến khích áp dụng các cơng nghệ tiên tiến, nâng cao năng
suất lao động, khả năng cạnh tranh, hạn chế các sản phẩm,
hàng hóa, dịch vụ kém chất lượng, ảnh hưởng đến môi
trường, sức khỏe con người.
Riêng với lĩnh vực nơng sản, về cơ chế và các chính sách quản
lí nhập khẩu, theo cam kết với WTO và trong các Hiệp định
thương mại tự do song và đa phương, Việt Nam phải xóa bỏ
các hàng rào phi thuế quan, như: giấy phép nhập khẩu, hạn
chế định lượng và giảm thuế nhập khẩu các mặt hàng, trong
đó có các mặt hàng nơng sản theo lộ trình.
Thực tế hiện nay, đa số các mặt hàng nông sản chỉ phải làm
thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu tại cơ quan hải quan mà không
phải xin giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, tuy nhiên phải tuân
thủ các TC-QC KT và quy định hiện hành về quản lí chất
lượng, vệ sinh an tồn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật.
Theo chức năng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nơng thơn là
cơ quan chủ trì đề xuất triển khai xây dựng các TC - QCKT
trên cơ sở các Luật: Chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Tiêu
chuẩn và Quy chuẩn kĩ thuật; An toàn Thực phẩm, đồng thời
vẫn đảm bảo tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam sản
xuất, xuất khẩu nông sản, thủy sản và thực phẩm an tồn,
hài hịa với cam kết quốc tế. Trường hợp nhập khẩu số lượng
lớn gây ảnh hưởng đến sản xuất trong nước sẽ xem xét áp
dụng biện pháp tự vệ thương mại.
Chủ động thực thi cam kết với thị trường nhập khẩu
Ở chiều ngược lại, trước xu hướng các nước nhập khẩu ngày
càng tăng cường các rào cản thương mại và kĩ thuật, Bộ Cơng
Thương đã và đang phối hợp tích cực với Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn chủ động nắm bắt tình hình áp dụng các
biện pháp bảo hộ mậu dịch của các nước nhập khẩu để kịp
thời thông tin cho các đơn vị liên quan và các doanh nghiệp,
đồng thời đấu tranh có hiệu quả đối với các RCKT, thương
mại bất hợp lí trong các cuộc họp song phương, phiên họp
của các Ủy ban liên Chính phủ, Diễn đàn khu vực (ASEAN,
APEC) và đa phương (WTO).
Mặc dù quá trình đàm phán tháo gỡ RCKT, thương mại đối với
từng mặt hàng gặp nhiều khó khăn và mất nhiều thời gian,
song đến nay, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả đáng kể
trong việc mở cửa thị trường. Điển hình như việc đã kiện và
đã thắng kiện Hoa Kỳ tại WTO trong vụ áp thuế chống bán
phá giá bất hợp lí đối với tơm XK của Việt Nam; đã hoàn tất
việc thâm nhập thị trường mới cho một số trái cây của Việt
Nam, như: thanh long, chôm chôm, nhãn, vải, vú sữa, xoài
vào Hoa Kỳ; vải, xoài, thanh long, nhãn vào Úc; sản phẩm
sữa, măng cụt vào Trung Quốc và sắp tới là thạch đen, tổ
yến; thịt gà chế biến vào Nhật Bản; xoài, thanh long vào Nhật
Bản, Hàn Quốc, New Zealand...)…
Đặc biệt, trên cơ sở đề xuất của các địa phương và Hiệp hội
ngành hàng liên quan, hai Bộ Cơng Thương và NNPTNT đang
tích cực đàm phán hỗ trợ mở cửa thị trường cho các sản
phẩm, như: tôm tươi nguyên con, nhãn vào Úc; thịt lợn vào
Singapore; trứng gia cầm muối vào Hồng Kông, Singapore;
sầu riêng, bưởi, chanh leo, khoai lang, dừa, na, ... vào Trung
Quốc; nhãn, vải, chôm chôm vào Hàn Quốc, Nhật Bản,….
Đồng thời triển khai các giải pháp quyết liệt để ứng phó, tháo
gỡ vướng mắc về thị trường đối với thủy hải sản. Điển hình
như Chương trình thanh tra cá da trơn theo đạo Luật Farm
Bill, lệnh cảnh báo “thẻ vàng” của EU hay với điều nhân và hồ
tiêu khi Ấn Độ tăng mức giá nhập khẩu tối thiểu MIP, tăng
mức thuế suất thuế nhập khẩu cơ sở BCD hoặc đối với gạo
khi Philippines áp dụng thuế tự vệ...
Với hàng hóa XK sang các nước có chung biên giới, Bộ Cơng
Thương đã và đang tích cực phối hợp với các cơ quan hữu
quan tăng cường quản lí và giải quyết kịp thời những vướng
mắc phát sinh trong hoạt động xuất khẩu, đặc biệt là khi một
số nơng sản xuất khẩu vào chính vụ, đồng thời phối hợp với
các tỉnh giáp biên tạo điều kiện thuận lợi, mở thêm cửa khẩu
cho xuất khẩu một số mặt hàng quan trọng, như: trái cây,
gạo, đường…
Điển hình như cuối tháng 9 và trong tháng 10/2019, Bộ Công
Thương đã chủ động, kịp thời phối hợp với các cơ quan chức
năng và chính quyền các địa phương phía Trung Quốc để giải
quyết khó khăn, vướng mắc đối với hàng nơng sản xuất khẩu
tại khu vực biên giới các tỉnh Lạng Sơn, Lào Cai, giúp giảm
thiểu thiệt hại cho doanh nghiệp và người nông dân sản xuất,
kinh doanh nhiều loại trái cây chủ lực.
Trong thời gian tới, để tiếp tục thực hiện tốt nhiệm vụ nói
trên, Bộ Cơng Thương sẽ tập trung triển khai Lộ trình hồn
thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật ngành Công
Thương đến năm 2025; theo dõi sát, phát hiện kịp thời hiện
tượng gia tăng nhập khẩu đột biến nông sản, thực phẩm để
nghiên cứu áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại
(thuế chống bán phá giá, hàng rào kĩ thuật) có tính đối đẳng
như các nước hiện đang áp dụng (về kiểm dịch, chất lượng,
vệ sinh an tồn thực phẩm) với hàng nơng sản xuất khẩu của
Việt Nam, góp phần bảo vệ chính đáng sản xuất trong nước,
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Đồng thời, chỉ đạo lực
lượng quản lí thị trường tăng cường quản lí chặt chẽ hoạt
động nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, vận chuyển qua biên giới,
tránh buôn lậu, gian lận thương mại.
Bộ cũng sẽ tăng cường các biện pháp kiểm tra xuất xứ hàng
hóa, kiểm tra chất lượng, kiểm dịch... đối với sản phẩm nơng
sản, thực phẩm xuất nhập khẩu, chủ động phịng tránh, ứng
phó với các biện pháp có tính bảo hộ của nước ngồi thơng
qua theo dõi tình hình xuất nhập khẩu để có kế hoạch điều
chỉnh, xử lí.
Cùng đó là việc đảm bảo tuân thủ cam kết và chuẩn mực
quốc tế, tăng cường công tác phối hợp, trao đổi thông tin
giữa Chính phủ, Hiệp hội, doanh nghiệp, đẩy mạnh cơng tác
tun truyền, phổ biến cho các doanh nghiệp về các biện
pháp có tính chất hạn chế nhập khẩu, đặc biệt trong bối cảnh
một số nước liên tục có những thay đổi trong chính sách
khiến các thủ tục này ngày càng chặt chẽ, khó định đốn
hơn…
5. Link tài liệu tham khảo tham khảo
/>doi=10.1.1.475.7211&rep=rep1&type=pdf&fbclid=IwAR3To2bZ
K96QDm9m6oKU6K_IIucfu-YeQXx7u8FSZPfp_guJGsMstZCaAlY
/> /> />
/> />
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
RCKT
Rào cản kĩ thuật
TC - QCKT Tiêu chuẩn – Quy chuẩn kĩ thuật
NN&PTNT Nông nghiệp phát triển nông thôn