Tải bản đầy đủ (.pdf) (92 trang)

Sáng kiến kinh nghiệm thpt áp dụng mô hình vòng tròn văn học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học đọc – hiểu văn bản truyện hiện đại trong chương trình ngữ văn 11, kì 1 cho hs tại trường thpt nguyễn duy trinh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (7.02 MB, 92 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT NGUYỄN DUY TRINH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI: ÁP DỤNG MƠ HÌNH VÒNG TRÒN VĂN HỌC NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN
HIỆN ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, KÌ 1 CHO HỌC
SINH TẠI TRƯỜNG THPT NGUYỄN DUY TRINH
Lĩnh vực: Ngữ văn

Nhóm tác giả: 1/ Trần Thị Oanh - Tổ Ngữ văn - ĐT: 0827916692
2/ Nguyễn Thị Ngân Hoa - Tổ Ngữ văn

Năm học 2022-2023


MỤC LỤC

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
PHẦN II. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Mơ hình Vịng trịn văn học
1.1. Khái niệm
1.2. Đặc điểm
1.3. Ưu thế của Vòng tròn văn học
1.4. So sánh mơ hình Vịng trịn văn học với CLB đọc
1.6. Cách tổ chức mơ hình Vịng trịn văn học
2. Dạy học đọc hiểu văn bản theo định hướng phát triển năng lực và
phẩm chất của HS
2.1. Thế nào là dạy học đọc hiểu?


2.2. Ưu thế của dạy học đọc hiểu văn bản theo định hướng phát triển
năng lực cho HS
2.3. Ý nghĩa của việc áp dụng mơ hình Vịng tròn văn học đối với hiệu
quả dạy học đọc hiểu văn bản
II. THỰC TRẠNG
1. THỰC TRẠNG CHUNG
1.1. Tình hình thực tế dạy học trong bối cảnh thời đại mới và sự cần
thiết phải sử dụng phương pháp dạy học hiện đại
1.2. Thực trạng quan niệm, nhận thức của GV về việc đổi mới PPDH.
1.4. Thực trạng dạy học đọc hiểu trong môn Ngữ Văn ở trường THPT
2. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG MƠ HÌNH VỊNG TRỊN
VĂN HỌC VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN HIỆN
ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, kì 1 CỦA HS TẠI
TRƯỜNG THPT NGUYỄN DUY TRINH
2.1. Khảo sát thực trạng.
2.2. Kết quả khảo sát
2.3. Phân tích, đánh giá kết quả khảo sát thực trạng
III. ÁP DỤNG MƠ HÌNH VỊNG TRỊN VĂN HỌC NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ VIỆC DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VB TRUYỆN HIỆN
ĐẠI TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, KÌ 1 CHO HS TẠI
TRƯỜNG THPT NGUYỄN DUY TRINH.
1. Xây dựng kế hoạch thực hiện.
1.1. Xác định các lớp sẽ áp dụng mơ hình Vòng tròn văn học
1.2. Xác định những tiết học sẽ áp dụng mơ hình Vịng trịn văn học
1.3. Chuẩn bị thiết bị dạy học và học liệu
1.4. Tìm hiểu các vấn đề khó khăn mà HS sẽ gặp phải trong q trình
thực hiện
2. QUY TRÌNH THỰC HIỆN
2.1. Phổ biến mơ hình Vịng trịn văn học cho HS
2.2. GV cung cấp nhiều văn bản cho HS lựa chọn

2.3. HS tự chọn văn bản để đọc và hình thành các nhóm đọc theo sự lựa

TRANG
1
2
2
2
2
3
3
6
6
7
7
8
9
10
10
10
11
11
12

12
13
18
19

19
19

19
19
19
19
19
19
20


chọn
2.4. GV cho HS làm quen với các bản phân vai
2.5. HS tự phân vai trong nhóm và trải nghiệm các vai tương ứng với hệ
thống Phiếu học tập
2.6. Các nhóm lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ
2.7. GV tổ chức cho HS tương tác trong các nhóm đọc và đánh giá sản
phẩm của các nhóm
2.8. GV cung cấp hướng dẫn mở rộng phạm vi, chiến thuật, cấu trúc,
công cụ và văn bản để HS tiếp cận
2.9. Hình thành Vịng tròn văn học mới
3. THIẾT KẾ CÁC BÀI TẬP SAU GIỜ LÊN LỚP
3.1. Bài tập vận dụng
3.2. Bài tập rèn kỹ năng đọc hiểu các VB khác cùng thể loại
3.3. Bài tập thực hiện theo dự án
3.4. Bài tập kiểm tra, đánh giá định kì
4. HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ SAU GIỜ HỌC
4.1. Hướng dẫn HS cách đánh giá và tự đánh giá sản phẩm của các
nhóm
4.2. Gv theo dõi, đánh giá kết quả làm bài tập của HS
4.3. Tổng kết và báo cáo kết quả đánh giá
4.4. Hoàn thiện và điều chỉnh kế hoạch

IV. GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM
V. KẾT QUẢ NGHIÊN CƯU
1. Kết quả đánh giá các sản phẩm của HS (Xem Hồ sơ học tập của HS
ở phần phụ lục 1)
2. Kết quả đánh giá tính cấp thiết, tính khả thi và tính hiệu quả của việc
áp dụng mơ hình Vịng trịn văn học vào dạy học đọc hiểu văn bản
truyện hiện đại trong chương trình Ngữ Văn 11, kì 1 tại trường THPT
Nguyễn Duy Trinh
3. Kết quả áp dụng mơ hình Vịng trịn văn học vào dạy học đọc hiểu
các văn bản Thơ mới và Thơ ca cách mạng trong chương trình Ngữ văn
11, kì 2
PHẦN III. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

20
23
24
25
27
28
28
28
29
29
29
29
29

30
30
30
30
40
40
40

47
48
48
49
50


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT

Chữ viết tắt

Chữ đầy đủ

1

PPDH

Phương pháp dạy học

2


GDPT

Giáo dục phổ thông

3

THPT

Trung học phổ thông

4

GD &ĐT

Giáo dục và đào tạo

5

GV

Giáo viên

6

HS

Học sinh

7


VTVH

Vòng tròn văn học

8

VBVH

Văn bản văn học

9

VB

Văn bản

10

CNTT

Cơng nghệ thơng tin

11

CT – SGK

Chương trình – Sách giáo khoa


PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Xuất phát từ ý nghĩa của việc vận dụng các phương pháp dạy học hiện đại nói
chung và mơ hình Vịng trịn văn học nói riêng.
Đổi mới phương pháp dạy học là luôn phát huy tính chủ động sáng tạo của
HS trong q trình học tập và chiếm lĩnh tri thức. Việc đổi mới phương pháp dạy
học trong nhà trường, bắt đầu từ những bài giảng của các thầy cơ sẽ góp phần tạo
ra những con người mới. VTVH là một biện pháp dạy đọc hiệu quả được áp dụng
phổ biến ở một số nền giáo dục có chương trình Ngữ văn tiếp cận năng lực nhưng
còn khá mới mẻ với nhà trường Việt Nam. Đây là một trong những hình thức tổ
chức dạy học góp phần quan trọng trong việc rèn luyện kĩ năng, phát triển năng lực
cho HS như: phát huy tính chủ động, độc lập của HS; tập trung vào rèn luyện kĩ
năng cho các đối tượng HS khác nhau trong suốt tiến trình tổ chức; tạo mơi trường
thảo luận, tương tác để HS được chia sẻ những phản hồi về văn bản; tạo cơ hội để
HS thực sự trở thành chủ thể đọc với việc trải nghiệm các vai đọc khác nhau. Bên
cạnh đó, khi sử dụng mơ hình dạy học này, GV cịn có thể cung cấp những hướng
dẫn mở rộng về chiến thuật, cấu trúc, công cụ, VB truyện để HS tiếp cận và tổ
chức mơ hình cùng các bản mẫu sinh động về q trình thực hiện VTVH.
Vịng trịn văn học với bản chất là mơ hình học tập thông qua thảo luận,
phiếu bài tập, đã tạo nên sự kết hợp hài hịa, đa dạng giữa các hình thức trải
nghiệm đọc hiểu VB khác nhau trước, trong và sau tiết học. Trên cơ sở đó, những
năng lực chung và năng lực đặc thù của bộ môn Ngữ văn được phát triển tồn vẹn
ở HS. Đây là mơ hình dạy học Ngữ văn tích cực, được sử dụng rộng rãi và hiệu
quả trên thế giới nhằm phát huy tối đa năng lực người học, giúp HS đọc hiểu VB kĩ
hơn, thâm nhập sâu hơn vào thế giới nghệ thuật trong VB. Sử dụng mơ hình này là
một phương pháp mới nhằm hỗ trợ tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy
học đọc hiểu VB, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ mơn Ngữ
văn nói riêng và giáo dục nói chung.
2. Xuất phát từ ý nghĩa của việc dạy học Văn theo định hướng phát triển phẩm
chất, năng lực HS.
Phát triển phẩm chất, năng lực người học là mục tiêu, yêu cầu cần đạt của
Chương trình giáo dục phổ thơng mới. Trong dạy học mơn Ngữ văn, một trong

những mục tiêu được Bộ GD&ĐT nhấn mạnh hàng đầu là phát triển năng lực đọc
hiểu cho người học. Cùng với việc rèn những kỹ năng cơ bản về viết văn, mơn học
cịn giáo dục nhiều tư tưởng, tình cảm, những phẩm chất tốt đẹp, đặc biệt là kỹ
năng mềm cho con người Việt Nam.
Chương trình Ngữ văn THPT có nội dung phong phú vừa cụ thể, vừa trừu
tượng địi hỏi tư duy, trí tưởng tượng vừa mang tính thực tiễn. Trên cơ sở làm rõ
cơ sở lý luận và thực tiễn của mơ hình VTVH, ta thấy nếu áp dụng trong dạy học
môn Ngữ văn sẽ kích thích người học cực chủ động học tập, góp phần rèn luyện và
phát huy tối đa năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực cảm thụ, tư duy, sáng
1


tạo của HS, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn trong thời đại
mới. Đáp ứng các u cầu đó, có thể thấy VTVH là mơ hình hiện đại, phù hợp cần
được nghiên cứu và vận dụng.
Với mong muốn nghiên cứu mơ hình dạy học mới và sử dụng chúng nhằm
nâng cao chất lượng dạy học đọc hiểu VB nói riêng và dạy học Văn nói chung,
chúng tôi quyết định chọn đề tài: Áp dụng mô hình Vịng trịn văn học nhằm nâng
cao hiệu quả dạy học đọc – hiểu văn bản truyện hiện đại trong chương trình Ngữ
văn 11, kì 1 cho HS tại trường THPT Nguyễn Duy Trinh.
Qua đề tài này, người viết muốn khảo sát thực tế để tìm hiểu, nắm bắt, đánh
giá được thực trạng về vấn đề dạy học Ngữ Văn tại trường THPT Nguyễn Duy
Trinh, trên cơ sở đó, đề xuất mơ hình dạy học mới nhằm phát triển năng lực cho HS
THPT nói chung và HS trường THPT Nguyễn Duy Trinh nói riêng trong thời đại
mới.
Đề tài được chúng tôi thực hiện trong dạy học Văn tại trường THPT Nguyễn
Duy Trinh
PHẦN II. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Mô hình Vịng trịn văn học.

1.1. Khái niệm
Vịng trịn văn học (literature circle - còn được dịch là “Vòng tròn thảo luận
văn chương” (Literature circles) cịn có các tên gọi khác là: “Nhóm đọc” (Reading
groups), “Trị chuyện về sách” (Book talk), “Câu lạc bộ đọc” (Reading clubs)...
Harvey Daniels trong “Literature circles” đã định nghĩa: VTVH là những
nhóm thảo luận nhỏ, tạm thời, để đọc cùng một cuốn sách, một câu chuyện, bài
thơ, bài báo,... Mỗi nhóm quyết định chọn một VB hoặc một phần của VB (trong
hoặc ngồi CT học chính khoá) để đọc, mỗi thành viên chuẩn bị thực hiện những
nhiệm vụ cụ thể trong cuộc thảo luận sắp tới, và mọi người tham gia nhóm khi đã
có các ghi chú cần thiết để có thể thực hiện nhiệm vụ của mình. Các nhóm sẽ có
những cuộc gặp định kì và luân phiên các vai thảo luận theo từng kì. Khi hoàn
thành đọc một cuốn sách, các thành viên của nhóm lên kế hoạch để chia sẻ những
nội dung quan trọng trong quá trình đọc với cộng đồng lớn hơn rồi tráo đổi thành
viên với các nhóm đã hồn thành khác, chọn ngữ liệu và chuyển tới những vòng
tròn thảo luận mới. Đây là một chiến lược đọc dựa trên nguyên tắc người học đọc
VB/phần VB tự chọn, chia sẻ câu trả lời cá nhân của họ trong cuộc thảo luận nhóm
nhỏ và sau đó chia sẻ với cả lớp.
Theo nghĩa rộng, VTVH được hiểu như một mơ hình dạy học. Ở đó, người
đọc chủ động đọc và hợp tác đọc các VBVH. Theo nghĩa hẹp, VTVH được hiểu
như một PPDH có khả năng sử dụng vào các thời điểm khác nhau trong quá trình
dạy học đọc hiểu VBVH với các hình thức, mục đích khác nhau và theo một quy
2


trình nhất định. Với sự hướng dẫn của GV, HS làm việc hợp tác, trao đổi về
VBVH trong chương trình hoặc VBVH mở rộng.
1.2. Đặc điểm
Theo H.Daniels - người nghiên cứu đầu tiên và thành công nhất về biện
pháp này đã khái qt 12 đặc điểm của mơ hình VTVH như sau:
- HS được chọn VB để đọc

- HS tạo thành những nhóm nhỏ, tạm thời dựa trên cuốn sách được lựa chọn để đọc
(các HS chọn đọc cùng một cuốn sách sẽ tạo thành một nhóm)
- Các nhóm khác nhau đọc những cuốn sách khác nhau
- Các nhóm HS lên một lịch trình họp mặt ổn định để thảo luận về VB đã đọc.
- Những ghi chú (dạng chữ, dạng hình ảnh) được sử dụng để định hướng quá trình
đọc và thảo luận về VB.
- HS tự tạo ra các chủ đề thảo luận.
- Các buổi họp nhóm là những buổi thảo luận cởi mở, tự nhiên về các cuốn sách,
do đó các ý kiến cá nhân đều được khuyến khích.
- Các vai thảo luận sẽ được thực hiện luân phiên.
- GV là người hỗ trợ, không phải thành viên nhóm hay người hướng dẫn.
- Đánh giá được thực hiện bằng quan sát của GV và đánh giá của HS.
- Sự vui tươi và thú vị được duy trì trong lớp học
- Sau khi hoàn thành cuốn sách, các HS chia sẻ với những người khác về kết quả
đọc và các nhóm mới hình thành xung quanh lựa chọn đọc mới.
1.3. Ưu thế của mơ hình Vịng trịn văn học
1.3.1. Phát huy tính chủ động, độc lập của HS
- HS tự chọn tài liệu để đọc; Những nhóm nhỏ được thành lập tạm thời, dựa trên
những cuốn sách mà HS lựa chọn; Các nhóm khác nhau đọc những cuốn sách khác
nhau.
- Các nhóm gặp theo lịch trình đều đặn, có thể dự đốn để thảo luận về việc đọc
của mình.
- HS sử dụng các ghi chú (viết hay vẽ) để định hướng việc đọc và việc thảo luận;
Các chủ đề thảo luận do HS đề xuất.
- Nhóm gặp là để có những cuộc trao đổi mở, tự nhiên về các cuốn sách, vì vậy,
chấp nhận các câu hỏi mở, quan hệ cá nhân, sự lạc đề.
- GV có vai trị cố vấn, khơng phải là thành viên của nhóm hay người dạy.
- Việc đánh giá được thực hiện qua sự quan sát của GV và tự đánh giá của HS.
3



- Tinh thần khơi hài, vui vẻ tràn ngập phịng học.
- Khi các cuốn sách được đọc xong, người đọc chia sẻ với bạn cùng lớp, và những
nhóm mới được hình thành dựa trên những lựa chọn đọc mới.
Như vậy, một trong những ưu thế đầu tiên có thể thấy của VTVH là nó “trao
quyền” cho HS rất lớn, từ việc chủ động chọn tài liệu, đề xuất chủ đề thảo luận, tự
đánh giá…Tham gia và thực hiện tốt các nhiệm vụ trong VTVH chính là mơi
trường để phát triển năng lực tự chủ và tự học.
1.3.2. Tập trung vào rèn luyện kĩ năng cho các đối tượng HS khác nhau trong suốt
tiến trình tổ chức VTVH
- Đối với những HS chưa có kinh nghiệm làm việc hợp tác với HS đã có kinh
nghiệm. Đối với những HS quen với hình thức dạy học đọc hiểu tồn lớp dưới sự
gợi mở, dẫn dắt trực tiếp của GV, chưa có kĩ năng tham gia hoạt động nhóm, hoạt
động thảo luận thì việc tiếp xúc với mơ hình VTVH sẽ khơng tránh khỏi những bỡ
ngỡ ban đầu. Vì vậy, GV có trách nhiệm làm rõ cho HS về mục đích, cách thức,
tiến trình thực hiện.
Đặc biệt, trước khi đi vào tổ chức mơ hình này trong giờ dạy, GV cần dành
thời gian cho HS làm quen với các bản phân vai - yếu tố đặc trưng cơ bản của
VTVH. HS có thể học và tìm hiểu một vai mỗi ngày, làm việc trên một số VB nhất
định. Các HS có cùng vai hợp nhóm với nhau để trao đổi và làm sáng rõ vai trọng
tâm của ngày hơm đó. Sau đó, HS tiến tới hợp nhóm với nhiều vai khác nhau để
thảo luận và chuyển vai thường xuyên để mỗi HS có cơ hội tiếp xúc với tất cả các
vai. Thời gian để HS làm quen với mơ hình dạy học mới là khoảng 10 ngày và chỉ
thực hiện trong thời gian đầu. GV chủ động thay đổi các bản phân vai này bằng
hình thức phản hồi mở, để HS khơng bị giới hạn trong một vài kiểu vai cố định mà
có thể mở rộng thêm nhiều ý tưởng trong cuộc thảo luận.
- Đối với những HS đã có kinh nghiệm đọc phản hồi và làm việc hợp tác thì biện
pháp VTVH sớm phát huy được nhiều ưu thế. Daniels cho rằng nhóm đối tượng
HS này chỉ mất khoảng một giờ hoặc thậm chí ít hơn để làm quen với mơ hình, tùy
theo dung lượng và độ khó của ngữ liệu đọc. Theo Daniels, thay vì dạy cho HS các

kĩ năng, hướng dẫn HS cách đọc hiệu quả, thì VTVH tổ chức cho HS thảo luận,
GV dạy kỹ năng đọc, kỹ năng thảo luận.
1.3.3. Tạo môi trường thảo luận, tương tác để HS chia sẻ phản hồi văn
Đây là một ưu thế cần phải nhấn mạnh của mơ hình VTVH. Bản chất đọc
hiểu là quá trình tương tác, kiến tạo đồng nghĩa với việc tạo cơ hội lí tưởng để chủ
thể đọc có thể đối thoại với cách hiểu, mức độ hiểu khác nhau.
Thảo luận là yếu tố quan trọng giúp quá trình đọc hiểu trở nên hiệu quả, nhờ
thảo luận, HS buộc phải quay trở lại với VB, tìm cách thuyết phục cho phát biểu
của mình, thực hành chiến thuật đọc hiểu…Qua thảo luận, người học có thể thay
đổi, chuyển hướng suy nghĩ, ý tưởng của mình, điều khiến họ có nhu cầu đọc lại
4


VB, kết nối để ý tưởng phát triển sâu sắc hơn, đề xuất quan điểm, bổ sung thêm
nhiều kiến thức phong phú. Như vậy, thực chất, thảo luận đọc hiểu đem lại hai lợi
ích cơ bản:
- Thứ nhất, hội để mở rộng chủ thể đọc, kết nối tri thức nền, kết hiểu khác nhau, từ
đó, làm giàu thêm cho cá nhân chủ thể đọc tham gia
- Thứ hai, thảo luận tạo nên động lực để HS quay lại đọc kĩ VB.
Thảo luận là biện pháp hữu ích để GV quan sát đánh giá HS, từ đó để có
phản hồi, định hướng, hỗ trợ phù hợp. Ngoài ra, thảo luận giúp người học phát
triển lực giao tiếp và các năng lực khác như: năng lực nói, năng lực trình bày, năng
lực hợp tác…Với HS phổ thơng, hình thức hoạt động này có khả tạo nên động cơ,
hứng thú học tập lớn đem lại nhiều hiệu quả phù hợp với đặc tính tương tác xã hội
cao lứa tuổi.
1.3.4 Tạo hội để HS thực trở thành chủ thể đọc với việc trải nghiệm vai đọc khác
Ưu thế lớn của mơ hình VTVH là tạo hội để HS thực trở thành chủ thể đọc
với việc trải nghiệm vai đọc khác. Bởi thử thách lớn mà GV Ngữ văn cần vượt qua
là muốn đạt mục tiêu phát triển năng lực đọc hiểu cho HS, làm để HS thực trở
thành chủ thể đọc, thực sự bước vào giới văn với nhập thân trọn vẹn. Nói cách

khác, HS cần duy trì tương tác với VB, “đem vào” hoạt động đọc tất cả nhận thức,
siêu nhận thức vốn tri thức, trải nghiệm liên quan để sau “rút ra” tối đa tri thức
mới, trở thành bạn đọc sáng tạo, làm giàu có thêm ý nghĩa cho VB và nguồn vốn
cho bản thân.
Đứng trước thử thách này, việc gắn HS với vai đọc là cách giải quyết hiệu
quả. Trước hết, vai đọc hướng tới mục tiêu đọc nhất định, giúp HS có định hướng
rõ ràng. Vai đọc cịn đem lại hứng thú định cho người học trong hành trình khám
phá văn
- Một số vai để HS đảm nhiệm quá trình tham gia VTVH:
+ Vai Người điều khiển/ Người thiết kế câu hỏi: HS chịu trách nhiệm tạo số câu
hỏi thảo luận để tạo trò chuyện tác phẩm. Đây câu hỏi nhân vật, cốt truyện, chủ đề,
… Nó cách để người điều khiển đảm bảo thành viên nhóm hịan thành nhiệm vụ
+ Vai Người kết nối: Công việc người kết nối liên hệ văn với giới đời sống thông
qua tảng văn hóa cộng đồng, lịch sử TPVH khác. Đó HS tìm thấy kết nối có ý
nghĩa để đưa thảo luận nhóm
+ Vai Người sáng tạo/ Nghệ sĩ: Vai cung cấp cơ hội tự sáng tạo tối đa cho HS trình
bày lại VB theo cách đồ họa hay nhiều cách thức phong phú với khả sáng tạo vơ
tận như: tạo áp phích, phim, búp bê, tác phẩm điêu khắc
+ Vai Người khám phá (nhân vật, từ vựng): Ở đây, nếu tìm hiểu nhân vật. HS chọn
nhân vật để theo suốt truyện. Người học chọn trích dẫn chi tiết mơ tả hành trình mà
nhân vật trải qua suốt VB. HS đọc lướt văn khoanh trịn từ khơng quen thuộc
5


(những từ từ khó từ đặc trưng cho tiểu thuyết) Sau đó người học xác định từ, giải
thích vài từ,
+ Vai Người nghiên cứu: HS nghiên cứu lịch sử sách, tác giả, bối cảnh, … để làm
sáng tỏ thêm hiểu biết nhóm tác phẩm
+ Vai Người lược thuật: HS tóm tắt truyện, ý không kể lại câu chuyện mà tập trung
vào việc chính, nội dung, thơng điệp quan trọng của VB.

Có thể thấy, nhập vai trên, thưc chất HS trải nghiệm hành động đọc với mục
tiêu rõ ràng, hình thức nhập vai thú vị.
1.4. So sánh mơ hình Vịng trịn văn học với CLB đọc
VTVH có mối quan hệ gần gũi với một số mơ hình khác như “trị chuyện về
sách” (Book talk), “nhóm đọc” (Reading groups), “câu lạc bộ đọc” (Reading clubs)
…Trong một số trường hợp, chúng được coi là những tên gọi khác nhau dùng để
chỉ cùng một mơ hình tương tác cho HS trong q trình dạy học mà Daniels đã mơ
tả, nhưng cũng có khi lại được sử dụng với ý nghĩa khác nhau. Trong đó, “Câu lạc
bộ đọc” thường được đem ra so sánh với “VTVH”. Cả hai đều là những hình thức
tổ chức dạy đọc khuyến khích sự lựa chọn và phản hồi tích cực của mỗi cá nhân,
tạo động lực đọc cho người học. Ở đó, HS được tổ chức thành những nhóm để
tham gia các cuộc thảo luận về một tác phẩm hoặc đoạn trích VB với tính ràng
buộc cao (vì HS là người tự dẫn dắt, điều khiển cuộc thảo luận). Tuy nhiên, điểm
khác biệt rõ nét nhất có thể nhận thấy là VTVH thường gắn người học với các vai,
trong khi đó, “Câu lạc bộ đọc” lại địi hỏi mỗi HS đều phải có trách nhiệm đưa ra
câu hỏi và ý tưởng để thảo luận mà không cần gắn với các vai đọc cụ thể
1.6. Cách tổ chức mơ hình Vòng tròn văn học
7 bước thực hiện
- Bước 1: GV cung cấp nhiều VB cho HS lựa chọn và yêu cầu HS hình thành
nhóm.
- Bước 2: GV hướng dẫn cách viết và ý nghĩa của phản hồi mở, nơi người đọc có
thể ghi lại các cảm xúc, các mối liên hệ, các từ ngữ, các nét vẽ, các câu hỏi, các lời
bình luận hay bất cứ lưu ý nào khác về những gì HS đọc. Hoặc GV phân vai cho
HS, giới thiệu, giải thích rõ các vai sẽ phân cơng cho HS trải nghiệm và thể hiện
qua hệ thống phiếu học tập.
- Bước 3: Cho HS một khoảng thời gian để đọc và viết phản hồi (khoảng 20 - 30
phút). u cầu các nhóm nhìn vào sách và tự quyết định chọn một phần mà HS có
thể đọc xong 5 phút trước khi hết thời gian quy định. 5 phút này sẽ được dùng để
HS ghi các điểm chú ý vào bản phản hồi, trong hoặc sau khi đọc.
- Bước 4: Khi tất cả đã đọc và ghi các lưu ý xong, mời các thành viên trong nhóm

gặp nhau trong khoảng 10 – 15 phút. GV giải thích cho HS hiểu mục đích của cuộc
gặp này là để HS có một cuộc trò chuyện tự nhiên về cuốn sách đã đọc. Khuyến
6


khích HS nói một cách thoải mái, có thể dựa trên những ghi chú của mình hoặc
dựa trên tình huống mà cuộc trị chuyện đó gợi ra.
- Bước 5: Trong q trình cuộc trị chuyện diễn ra, GV quan sát các nhóm. GV ghi
lại những ví dụ và lời bình luận cụ thể mà có thể cần sử dụng trong q trình trao
đổi chung với các nhóm khác sau đó.
- Bước 6: Yêu cầu cả lớp tập hợp để cùng chia sẻ và thảo luận: Một quy tắc quan
trọng cho tất cả các kiểu hướng dẫn VTVH là nói về cuốn sách đã đọc. Yêu cầu
mỗi nhóm nêu cảm nhận về nội dung trao đổi của từng em. Sau đó, các em chuyển
sang phản ánh về tiến trình tổ chức thảo luận trong nhóm. Nếu áp dụng các vai trải
nghiệm để đọc hiểu VB thì GV tổ chức, hướng dẫn HS tìm hiểu VB dựa trên kết
quả phiếu học tập HS đã hồn thành
- Bước 7: u cầu các nhóm tự chỉ định một đoạn đọc khác trong sách cho buổi
gặp thứ hai. Nhắc HS ghi phản hồi trong và sau khi đọc. Ghi các kỹ năng tốt và
không tốt vào một tờ giấy lớn/bảng phụ treo trên lớp và trong buổi thảo luận tiếp
theo có thể thêm vào danh sách này những điểm cần thiết.
2. Dạy học đọc hiểu VB theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất
của HS.
2.1. Thế nào là dạy học đọc hiểu?
Năm 2006, khi biên soạn lại chương trình, SGK phổ thơng, giờ giảng văn
trong nhà trường được gọi là “Đọc hiểu văn bản”. Mơ hình đọc hiểu VB lần đầu
tiên được thể hiện trong tài liệu Bồi dưỡng GV thực hiện CT, SGK Văn thí điểm,
lớp 11, bộ 1 (2006). Trong số các nhà giáo dạy Văn, Trần Đình Sử là người có
nhiều bài viết bàn về dạy đọc hiểu VB. Trong bài “Đọc hiểu văn bản - một khâu
đột phá trong nội dung và 5 phương pháp dạy văn hiện nay” (2003, 2013) ông
nhấn mạnh: Dạy Văn là dạy cho HS “năng lực đọc, kỹ năng đọc để HS có thể đọc hiểu bất cứ VB nào cùng loại. Từ đọc hiểu VB mà trực tiếp tiếp nhận các giá trị

văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ
thuật ngơn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính”. Trong mơ hình đọc hiểu VB,
Trần Đình Sử nhận thức về mục tiêu dạy đọc: dạy năng lực, kỹ năng đọc; mơ hình
xây dựng dựa trên cơ sở lý thuyết về hoạt động đọc và lý thuyết về hoạt động học
tập, vai trò của GV là người “tổ chức hoạt động đọc hiểu VB” cho HS.
Dạy đọc hiểu VB hoàn toàn khác với giảng văn, nhất là khi đối tượng của
giảng văn lại chỉ là các VBVH. Về khái niệm, dạy đọc hiểu là việc GV hướng dẫn
HS sử dụng những kỹ năng để đọc hiểu VB thông qua các hoạt động, thao tác và
theo một quy trình nhất định nào đó
Trong dạy đọc hiểu VB, GV chỉ là người hướng dẫn, dìu dắt, nêu vấn đề để
HS trao đổi, thảo luận; là người dạy về phương pháp đọc chứ không phải đọc thay,
đọc giùm, biến HS thành thính giả thụ động của mình. Giáo án của GV chủ yếu
phải là giáo án về phương pháp đọc cho HS. Cái nhầm chủ yếu của người thầy hiện
7


nay là giáo án nội dung dùng cho người dạy chứ không phải là giáo án để dạy
phương pháp đọc cho người học.
Tuy nhiên, dù sử dụng phương pháp và phương tiện nào thì GV cũng cần
thiết kế các hoạt động sao cho có thể giúp HS tự đọc VB và biết vận dụng các kỹ
năng phân tích, suy luận để đưa ra được các dẫn chứng trong VB làm cơ sở cho các
nhận định, phân tích của mình. Đồng thời, có lúc phải để cho mỗi HS có quyền đọc
hiểu theo kinh nghiệm cảm xúc của mình. Từ đó hình thành cho các em khả năng
phân tích và tổng hợp VB. Ngoài ra, GV cũng nên tạo thật nhiều cơ hội cho HS
nghiên cứu, thử sức mình qua các bài tập lớn về VB được đọc. Nhưng không phải
HS nào cũng có khả năng làm được như vậy. Cụ thể, với những HS yếu hơn, GV
có thể gợi ý hoặc đưa ra các yêu cầu đơn giản hơn. Và dù sử dụng phương pháp gì,
dạy đọc hiểu VB nào trong môn Ngữ văn cũng cần tổ chức các hoạt động hướng
dẫn HS sử dụng các kỹ năng thao tác để đọc chính xác và đọc có tính đánh giá về
các yếu tố hình thức, nội dung và ý nghĩa của VB. Từ đó ứng dụng kiến thức và kỹ

năng đã đọc vào thực tiễn đời sống.
2.2. Ưu thế của dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển năng lực cho HS
Bộ mơn Ngữ văn trong chương trình SGK mang hai giá trị/ hai lĩnh vực:
nghệ thuật và khoa học. Tuy nhiên, do đặc thù bộ môn, HS tiếp cận kiến thức văn
học phải gắn liền với khả năng cảm thụ văn học. Để làm được điều đó, chúng ta
phải hình thành và nâng cao ở các em năng lực đọc – hiểu VB nghệ thuật.
VBVH là sản phẩm của tưởng tượng, sáng tạo; là mơ hình cuộc sống được
phản ánh bằng nghệ thuật, thể hiện cách nhìn và thái độ của người viết. Theo đó,
VBVH được cố định bởi hệ thống kí hiệu ngơn từ, nhưng ý nghĩa của nó rất phong
phú do sự chi phối, tương tác của nhiều yếu tố khác nhau. Ngôn ngữ văn học là
ngơn ngữ lạ hóa. Cấu trúc VBVH là một cấu trúc mở, có nhiều khoảng trống về
nghĩa… Khi dạy học đọc hiểu VBVH cần tổ chức cho HS khám phá VB theo một
quy trình giải mã VB nghệ thuật, chỉ ra sự phù hợp giữa các kí hiệu hình thức VB
ngôn từ và nội dung, tư tưởng. Chú trọng các u cầu đọc hiểu từ nhận biết tính
tồn vẹn, chỉnh thể trong tiếp nhận đến yêu cầu khám phá tư tưởng, chủ đề, cảm
hứng và tình cảm, thái độ của tác giả thể hiện qua hình thức cụ thể của VB; liên hệ,
mở rộng để phát hiện những giá trị đạo đức, văn hóa và triết lý nhân sinh; từ đó
biết vận dụng, chuyển hóa thành giá trị sống.
Từ đọc hiểu VB mà trực tiếp tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể
nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngơn từ, hình
thành cách đọc riêng có cá tính. Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho HS
năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mỹ.
Do đó, bản chất mơn Văn là môn dạy đọc Văn vừa thể hiện cách hiểu thực
sự bản chất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất việc dạy Văn là dạy năng lực,
phát triển năng lực là chủ thể của HS. Điều này càng có ý nghĩa vô cùng to lớn
trong thời đại ngày nay, khi sự giao lưu văn hóa quốc tế được gia tăng, khi điều
8


kiện tiếp xúc các nguồn VB được mở rộng hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh đó

trình độ văn hóa được đánh giá bằng năng lực nắm bắt, tiếp nhận thông tin, xử lý
thông tin từ các VB khác nhau. Người lao động và người công nhân hiện đại là
người biết nắm bắt thông tin nhanh nhạy. Mà muốn thế trước hết họ phải biết đọc,
không phải chỉ biết đọc chữ, đọc diễn cảm, mà trước hết phải biết đọc hiểu, qua
một VB phải biết đâu là chỗ quy tụ thông tin, đâu là câu then chốt thể hiện tư
tưởng của tác giả. Quốc gia nào có nhiều người biết nắm bắt thơng tin, biết xử lý
thơng tin, thì đó sẽ là một quốc gia mạnh. Muốn cho quốc gia mạnh thì phải biến
xã hội của quốc gia đó thành xã hội học. Ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường,
phải đào tạo mỗi HS thành một người đọc đích thực, đọc chủ động, sáng tạo chứ
không phải đào tạo một xã hội những người đọc a dua, chuyên ăn theo, nói leo.
Điều này càng quan trọng hơn nữa, khi ngày nay các phương tiện nghe nhìn đã
cạnh tranh quyết liệt với thời gian đọc, thu hẹp với thời gian đọc của mọi người.
Tóm lại, nguyên tắc GD hiện đại đề cao vai trị tích cực, chủ động, sáng tạo
của HS trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Muốn hiểu và nhớ được kiến thức lâu
dài, HS cần tự mình tiếp nhận, kết nối, xử lí thơng tin với sự hướng dẫn của GV.
Việc tiếp nhận VBVH khơng nằm ngồi nguyên tắc nhận thức trên đây. Ở góc độ
chuyên biệt, đọc hiểu VBVH là hoạt động phức tạp nhất trong tiếp nhận VB do đặc
thù của đối tượng. Nếu không dạy HS cách tự chiếm lĩnh tri thức trong lĩnh vực
văn học, chúng ta không chỉ hạn chế năng lực nhận thức chung mà còn làm hỏng
năng lực thẩm mĩ của HS.
Từ những nội dung đã trình bày ở trên, chúng tơi khẳng định tính cấp thiết
của việc dạy đọc hiểu VBVH theo định hướng phát triển năng lực.
2.3. Ý nghĩa của việc áp dụng mơ hình Vịng trịn văn học đối với hiệu quả dạy
học đọc hiểu văn bản.
- Thứ nhất là sự đóng góp của VTVH về kỹ năng phân tích VB. Người nghiên cứu
đã được xác định rằng các VTVH có hiệu quả trong việc cải thiện các kỹ năng
phân tích VBVH của HS như tìm chủ đề, ý chính và từ khóa.
- Đóng góp thứ hai của VTVH là cung cấp cho HS một khơng khí học tập xã hội
thú vị và hấp dẫn. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng VTVH đã cung cấp một bầu
khơng khí văn hóa và giáo dục chất lượng có thể giúp họ phát triển các kỹ năng

giao tiếp giữa các cá nhân. Bên cạnh đó, khơng giống như các tiết học truyền
thống, VTVH cung cấp cho họ trải nghiệm học tập cụ thể về đánh giá sách, thảo
luận về sách.
- Đóng góp thứ ba của VTVH là tác dụng trong việc nâng cao chất lượng đọc, cung
cấp cho HS cơ hội đọc và đánh giá nhiều cuốn sách từ các góc nhìn khác nhau,
vượt qua cả những “định kiến” có sẵn, cải thiện khả năng đánh giá nội dung của
một cuốn sách mà khơng có thành kiến và bằng cách sử dụng các quan điểm khác
nhau.
9


- Đóng góp thứ tư của VTVH là cải thiện, bồi dưỡng người học khát khao đọc độc
lập và sở thích đọc sách. VTVH làm tăng động lực đọc cho những HS miễn cưỡng
và thờ ơ với việc đọc, kích hoạt các em khát vọng tham gia vào các cuộc thảo luận
và nêu ý kiến của họ.
- Đóng góp thứ năm của VTVH là cải thiện khả năng nói và sự tự tin của HS, cho
phép người học bày tỏ cảm xúc và suy nghĩ của mình về VB, yếu tố trong VB một
cách tự tin. Tất cả các thành viên trong VTVH đều được tôn trọng và lắng nghe,
đều thực hiện một vai đọc nhất định và có thể có sự chuẩn bị.
- Đóng góp thứ sáu của VTVH là công cụ giúp bồi dưỡng sự khoan dung đối với
sự khác biệt.
Tóm lại, VTVH là mơ hình dạy học Ngữ văn tích cực, được sử dụng rộng rãi
và hiệu quả trên thế giới nhằm phát huy tối đa năng lực người học, giúp HS đọc
hiểu VB kĩ hơn, thâm nhập sâu hơn vào thế giới nghệ thuật trong VB. Mơ hình này
là một phương pháp mới sẽ hỗ trợ rất tích cực trong đổi mới PPDH, nâng cao chất
lượng giáo dục nói chung, bộ mơn Ngữ văn nói riêng.
II. THỰC TRẠNG
1. THỰC TRẠNG CHUNG
1.1. Tình hình thực tế dạy học trong bối cảnh thời đại mới và sự cần thiết phải
sử dụng phương pháp dạy học hiện đại.

Một trong các định hướng phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội Đảng lần
thứ XI đã nêu là “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới toàn diện và phát
triển nhanh giáo dục và đào tạo”, trong đó nhấn mạnh việc “Đổi mới mạnh mẽ nội
dung, CT, PPDH ở tất cả các cấp, bậc học. Theo Đề án được phê duyệt, CT mới,
SGK mới được xây dựng theo hướng coi trọng dạy người với dạy chữ, rèn luyện,
phát triển cả về phẩm chất và năng lực. Bên cạnh đó là chú trọng giáo dục tinh thần
u nước, lịng tự hào dân tộc, đạo đức, nhân cách, lối sống; phát hiện, bồi dưỡng
năng khiếu và định hướng nghề nghiệp cho mỗi HS. Đồng thời còn tăng cường
năng lực ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng sống, làm việc trong điều kiện hội nhập
quốc tế; đẩy mạnh ứng dụng, phát huy thành quả KHCN thế giới, nhất là công
nghệ giáo dục và CNTT. CT mới, SGK mới lấy HS làm trung tâm, phát huy tính
chủ động, tích cực, sáng tạo, khả năng tự học của HS; tăng cường tính tương tác
trong dạy và học giữa thầy với trò, trò với trị và giữa các thầy giáo, cơ giáo.
Đổi mới PPDH theo hướng hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng
giáo dục đang được các nhà trường đặc biệt quan tâm. Trong những năm gần đây,
các PPDH mới đã được triển khai như phương pháp bàn tay nặn bột, giáo dục trải
nghiệm sáng tạo, tích hợp, liên mơn, giáo dục Stem, sơ đồ tư duy, mơ hình lớp học
đảo ngược... Việc đổi mới PPDH để từ đó mà lựa chọn các hình thức tổ chức dạy
học như: tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, ứng dụng CNTT, kết hợp
giữa mơ hình lớp học truyền thống với các mơ hình dạy học mở, dạy học trực
tuyến phù hợp với tình hình mới, đáp ứng mục tiêu giáo dục mới, khơi gợi và
10


khuyến khích người học tự khẳng định nhu cầu và năng lực của bản thân, đồng
thời rèn cho người học thói quen và khả năng tự học, tích cực phát huy tiềm năng
và vận dụng hiệu quả những kiến thức, kỹ năng đã được tích luỹ vào cuộc sống. Vì
vậy, việc sử dụng các PPDH hiện đại sẽ góp phần tạo tiền đề để phát triển toàn
diện nguồn nhân lực trong bối cảnh phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0,
hướng tới một nền giáo dục Việt Nam hiện đại và hội nhập quốc tế.

1.2. Thực trạng quan niệm, nhận thức của GV về việc đổi mới PPDH.
Thực tế cho thấy, quan niệm và nhận thức của GV về đổi mới PPDH cịn
nhiều hạn chế: Nhiều GV có tâm lý ngại thay đổi, dạy học theo thói quen; Một số
bộ phận cán bộ quản lý và GV chưa có động lực đổi mới, chưa hiểu đúng bản chất
của các PPDH và kỹ thuật dạy học tích cực nên vận dụng máy móc; Vẫn cịn tâm
lý dạy học đáp ứng kiểu kiểm tra, thi cử theo hướng nặng về ghi nhớ nội dung kiến
thức; CT và nội dung dạy học hiện hành thiết kế theo định hướng nội dung gây khó
khăn khi đổi mới PPDH; Dự giờ đánh giá giờ dạy chủ yếu thiên về đánh giá các
hoạt động dạy của GV, chưa quan tâm các hoạt động học của HS...
1.3. Thực trạng dạy học đọc hiểu trong môn Ngữ Văn ở trường THPT
Từ năm 2006 đến nay, PPDH môn Ngữ văn có nhiều thay đổi, trong đó có
thay đổi về tên gọi các bước tiến hành giờ học VB. Phần trọng tâm trước đây được
gọi bằng những thao tác “Phân tích”, “Bình giảng” đã được thống nhất thay bằng
“Đọc hiểu”. Đề thi môn Ngữ văn cũng thiết kế phần đọc hiểu chiếm đến 30% tổng
điểm. Đây là sự thay đổi trước hết về quan niệm dạy học từ chỗ xem thầy là người
truyền thụ, độc quyền tri thức, kĩ năng thuyết trình, giảng bình văn học của thầy là
quyết định đến việc xem người học là chủ thể của quá trình nhận thức, sự chủ động
và kĩ năng đọc hiểu VB của HS là yếu tố quyết định. Sau nữa là thay đổi về cách
thức dạy học, tập trung mạnh hơn vào việc tổ chức cho HS tự học, phát triển tư duy
độc lập và phản xạ với các yêu cầu từ phía GV.
Tuy nhiên, từ quan niệm đến thực hành vẫn có khoảng cách rất lớn. Do
nhiều nguyên nhân, bài đọc hiểu trên lớp vẫn nghiêng về việc thuyết trình của GV
hơn là hoạt động tự tiếp nhận của HS. Nhiều GV đã nỗ lực đầu tư đổi mới nhưng
vẫn khó thốt ra khỏi qn tính và khn mẫu cũ. Trong đó, nặng nề nhất là hệ
thống tri thức đọc hiểu vẫn do GV áp đặt. Rất khó để HS tự phát hiện ra các nghĩa
của VB, vẻ đẹp của ngôn từ và sự độc đáo của các biện pháp nghệ thuât. Việc trả
bài của HS sau đó vẫn mang tính chất lặp lại những gì GV cung cấp. Tình trạng
như HS học thụ động, thiếu sáng tạo vì đã hoàn toàn mất năng lực đọc - hiểu
VBVH. Hoặc là HS khơng biết tự học vì mất kiến thức cơ bản của bộ môn. Hay là
học tập thiếu sự tương tác giữa trò và thầy, giữa trò với trò dẫn bị hạn chế các kỹ

năng đọc - hiểu cần thiết. Và có hiện tượng HS hứng thú, đam mê do khơng thể tự
mình chiếm lĩnh những tri thức cơ bản nhất. Khả năng tìm ra cái khác, cái mới, tự
phát hiện giá trị của VB tập trung vào số ít HS giỏi. Số này chiếm tỉ lệ quá nhỏ so
với tổng lượng HS. Sự thụ động của HS thể hiện rõ nhất khi cần đọc hiểu các VB
ngoài CT. Trong các kì thi, ngữ liệu cho câu hỏi đọc hiểu phần lớn là VB nhật
11


dụng, bình luận báo chí, với những câu hỏi đọc hiểu khá đơn giản, nhiều HS vẫn
lúng túng và trả lời sai. Phần lớn HS không thể tiếp nhận các VB nghệ thuật ngoài
SGK...
Trên đây là những thực trạng mà chúng ta nhận thấy khi dạy học đọc hiểu
VB. Có thể nói, năng lực đọc – hiểu là năng lực cơ sở đối với HS THPT trong tiến
trình dạy văn – học văn. Vì thế, dạy học đọc hiểu VB theo định hướng phát triển
năng lực và phẩm chất của HS là điểm mấu chốt để quá trình dạy học bộ môn Ngữ
văn thành công trên tinh thần của Đề án đổi mới CT và SGK.
2. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC ÁP DỤNG MƠ HÌNH VỊNG TRỊN VĂN
HỌC VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN HIỆN ĐẠI TRONG
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, KÌ 1 CỦA HỌC SINH TẠI TRƯỜNG
THPT NGUYỄN DUY TRINH
2.1. Khảo sát thực trạng.
2.1.1. Phạm vi khảo sát và thực nghiệm sư phạm:
- Khảo sát thực trạng dạy học Văn ở trường THPT Nguyễn Duy Trinh:
+ Khảo sát 9 lớp với tổng số 401 HS, trong đó: Lớp 12A1 (46);12D (46); 12C (47);
11A2 (39); 11D (40); 11D4 (47), 10A (45); 10D (46); 10G(45)
+ Khảo sát GV: 11 GV dạy môn Ngữ văn ở trường THPT Nguyễn Duy Trinh
- Thực nghiệm sư phạm được tiến hành ở các lớp 11D (Lớp khối D có tự chọn);
11T (Lớp khối A1) và 11A2 (Lớp khối A) tại trường THPT Nguyễn Duy Trinh,
Huyện Nghi Lộc, Tỉnh Nghệ An
2.1.2. Nội dung khảo sát.

*/ Khảo sát thực trạng dạy học môn Ngữ Văn ở trường THPT Nguyễn Duy
Trinh gồm:
- Thực trạng về ý thức học tập môn Ngữ Văn của HS ở trường THPT Nguyễn Duy
Trinh.
- Thực trạng việc vận dụng các phương pháp và hình thức dạy học tích cực vào việc
dạy học Văn tại trường THPT Nguyễn Duy Trinh.
- Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ việc dạy học Văn ở trường
THPT Nguyễn Duy Trinh.
- Thực trạng về việc kiểm tra, đánh giá trong dạy học Ngữ Văn ở trường THPT
Nguyễn Duy Trinh.
*/ Khảo sát việc thực hiện áp dụng mơ hình VTVH vào việc dạy học đọc hiểu VB
truyện hiện đại trong CT Ngữ văn 11, kì 1 tại trường THPT Nguyễn Duy Trinh.
- Khảo sát cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ cho việc thực hiện mơ hình VTVH
tại trường THPT Nguyễn Duy Trinh
12


- Khảo sát năng lực sử dụng CNTT của HS trong học tập.
- Khảo sát ý thức tự học của HS khi thực hiện nhiệm vụ học tập.
- Khảo sát tính tích cực trong q trình học tập của HS.
- Khảo sát thái độ của GV và HS với mô hình dạy học mới.
2.1.3. Phương pháp khảo sát.
- Quan sát sư phạm: Thông qua dự giờ, quan sát các hoạt động giảng dạy của GV
và hoạt động học tập của HS trong quá trình dạy học
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Phương pháp này nhằm thu thập thông tin
về thực trạng và cách thức sử dụng phương pháp dạy học của GV và hứng thú học
tập của HS khi GV sử dụng mơ hình VTVH.
- Phương pháp thực nghiệm, đối chứng: Phương pháp này nhằm kiểm chứng tính
cấp thiết, tính khả thi khi vận dụng mơ hình VTVH vào việc dạy truyện hiện đại
trong chương trình Ngữ văn 11. Qua đó, khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết

đã đề ra.
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê tốn học để xử lí số
liệu, phiếu điều khẳng định tính tin cậy của những số liệu đã thu thập được. Trên
cơ sở tiến hành so sánh các giá trị thu được giữa nhóm thực nghiệm với nhóm đối
chứng, đánh giá hiệu quả của mơ hình đã thực nghiệm, khẳng định tính khả thi của
mơ hình đã đề xuất.
2.2. Kết quả khảo sát
2.2.1. Kết quả khảo sát thực trạng dạy học môn Ngữ Văn ở trường THPT
Nguyễn Duy Trinh.
*/ Bảng 1: Kết quả khảo sát thực trạng về ý thức học tập môn Ngữ Văn trong
nhà trường của HS
Đánh giá của HS
Nội dung

Đánh giá của GV

Rất
Không Rất Thườn
Không
Thường Thỉnh Hiếm
Thỉnh Hiếm
thường
bao thường g
bao
xuyên thoảng khi
thoảng khi
xuyên
giờ xuyên xuyên
giờ


1. HS tham gia vào
các hoạt động học tập

43

68

191

92

7

2

2

6

1

0

2. HS thực hiện các
nhiệm vụ mà GV đề ra

75

87


141

94

4

1

2

8

0

0

3. HS tham gia vào
việc xây
dựng và
thực hiện kế hoạch học
tập

42

97

133

93


6

1

3

6

1

0

13


4. HS tích cực phát
biểu xây dựng bài

56

61

190

91

3

3


2

5

1

0

5. HS tham gia vào
việc giải quyết những
vấn đề thực tiễn đặt ra
trong tác phẩm

46

57

168

90

40

2

3

5

1


0

6. HS tích cực hợp tác
với GV

52

75

166

92

16

2

4

4

1

0

7. HS trao đổi, chia sẻ
với nhau trong học tập

33


38

250

82

6

4

5

1

1

0

8. HS tham gia vào
việc tự đánh giá và
đánh giá lẫn nhau

64

73

143

101


20

3

4

3

1

0

Qua kết quả khảo sát về ý thức học tập môn Ngữ Văn của HS ở trường
THPT Nguyễn Duy Trinh ta thấy: Với tổng số 401 em HS trên 3 khối được khảo
sát thì tỷ lệ HS Rất thường xuyên và Thường xuyên tham gia vào các hoạt động
học tập, thực hiện nhiệm vụ học tập, tích cực trong việc xây dựng bài, hợp tác, chia
sẻ với nhau trong quá trình học chỉ chiểm khoảng từ 10% - 23%, trong khi đó số
HS Thỉnh thoảng và Hiếm khi tham gia vào hoạt động học, thực hiện nhiệm vụ học
tập, xây dựng bài, chia sẻ, hợp tác và đánh giá lẫn nhau trong học tập lại chiếm từ
22% - 62%. Điều đó cho thấy HS còn thụ động, chưa thật sự hứng thú, chưa tích
cực, chủ động trong học tập, ý thức tự học chưa cao. Đặc biệt, các em chưa có ý
thức trong việc giúp đỡ, sẻ chia với nhau trong học tập, kỹ năng tự đánh giá và
đánh giá lẫn nhau của HS còn hạn chế, chủ yếu là GV đánh giá.
*/ Bảng 2: Kết quả khảo sát thực trạng việc vận dụng các phương pháp và
hình thức dạy học tích cực của GV trong dạy học Văn ở trường THPT
Nguyễn Duy Trinh
Nội
dung


Đánh giá của HS

Đánh giá của GV

Hồn
Hồn
Rất
Bình Chưa tồn Rất
Bình Chưa tồn
Tốt
Tốt
tốt
thường tốt khơng tốt
thường tốt khơng
tốt
tốt

1. GV cải tiến các phương pháp
truyền thống trong dạy học (thuyết 93
trình, đàm thoại, vấn đáp)

89

143

72

4

1


3

5

2

0

2. GV dạy học bằng cách cải tiến
phương pháp truyền thống kết hợp
60
với vận dụng phương pháp dạy
học tích cực

84

171

78

8

2

3

5

1


0

3. GV tổ chức hình thức dạy học
82
tồn lớp

91

185

34

9

3

6

1

0

0

4. GV tổ chức hình thức dạy học
67
tồn lớp với nhóm

72


177

80

5

1

4

5

0

0
14


5. GV tổ chức hình thức dạy học
61
tồn lớp, nhóm và cá nhân

82

161

85

12


2

4

4

0

0

6. GV gắn dạy học trong trường
31
với dạy học trải nghiệm thực tế

42

252

72

4

1

5

4

0


0

Nhìn vào bảng số liệu ta thấy: Đa số HS và GV đều đánh giá việc đổi mới
phương pháp và hình thức tổ chức dạy học của GV đã có nhiều khởi sắc theo
hướng tích cực. Có 45 % HS đánh giá GV đã có cải tiến các phương pháp truyền
thống trong dạy học, có 5/11 GV có ý thức đổi mới trong dạy học bằng cách vừa
cải tiến phương pháp truyền thống vừa kết hợp với vận dụng phương pháp dạy học
tích cực. Tuy nhiên việc đổi mới PPDH cịn mang tính chất tức thời, đối phó, chưa
đồng bộ, thiếu linh hoạt. Vì thế, các giờ dạy học Văn vẫn chưa đạt hiệu quả như
mong muốn.
*/ Bảng 3: Kết quả khảo sát thực trạng mối quan hệ giữa GV và HS trong
dạy học Văn ở trường THPT Nguyễn Duy Trinh
Nội
dung
1. GV có thái độ, cử chỉ thân thiện,
gần gũi với HS
2. GV lắng nghe, chia sẻ, bao dung
với HS
3. GV có giải pháp hỗ trợ khi HS
gặp khó khăn trong học tập
4. HS tin tưởng, kính trọng thầy, cơ
5. HS tích cực hợp tác, vâng lời
thầy, cơ

Đánh giá của HS

Đánh giá của GV
Hồn
Hồn

Rất
Bình Chưa tồn Rất
Bình Chưa tồn
Tốt
Tốt
tốt
thường tốt khơng tốt
thường tốt khơng
tốt
tốt
87 103

172

36

3

2

6

2

1

0

84


95

176

40

6

2

3

5

1

0

42

57

190

83

29

1


2

5

3

0

95 173

128

12

3

3

5

3

0

0

63

183


63

7

2

4

4

1

0

85

Qua kết quả khảo sát mối quan hệ giữa GV và HS trong dạy học Văn ở
trường THPT Nguyễn Duy Trinh ta thấy: Có khoảng 36%-67 % GV và HS đánh
giá Rất tốt và Tốt về mối quan hệ thân thiện, tin cậy giữa GV và HS, sự kính trọng,
lễ phép của HS với GV. Tuy nhiên, vẫn có khoảng 55%-69% HS đánh giá việc GV
có giải pháp hỗ trợ khi HS gặp khó khăn trong học tập và việc HS biết chia sẻ, giúp
đỡ, hỗ trợ nhau trong học tập ở mức Bình thường hoặc Chưa tốt.
*/ Bảng 4: Kết quả khảo sát thực trạng về mối quan hệ giữa HS và HS trong
học tập môn Ngữ Văn ở trường THPT Nguyễn Duy Trinh
Nội
dung
1. Giữa HS với HS có mối quan hệ
tin cậy

Đánh giá của HS


Đánh giá của GV
Hồn
Hồn
Rất
Bình Chưa tồn Rất
Bình Chưa tồn
Tốt
Tốt
tốt
thường tốt khơng tốt
thường tốt khơng
tốt
tốt
75

93

173

48

7

1

3

6


1

0
15


2. Giữa HS với HS có mối quan hệ
thân thiện
3. HS thoải mái khi giao tiếp với
bạn học
4. HS tích cực giúp đỡ bạn học
trong học tập
5. HS hỗ trợ, giúp đỡ nhau khắc
phục những vướng mắc, khó khăn
trong học tập.

77 101

132

32

2

1

4

5


1

0

82 185

111

22

1

2

4

5

0

0

46

46

151

142


16

2

3

5

2

0

12

13

318

51

7

1

2

4

2


2

Qua kết quả khảo sát mối quan hệ giữa HS và HS trong dạy học Văn ở
trường THPT Nguyễn Duy Trinh ta thấy: Có khoảng 42%-65 % GV và HS đánh
giá Rất tốt và Tốt về mối quan hệ thoải mái, thân thiện, tin cậy giữa HS và HS
trong q trình học tập. Tuy nhiên, vẫn có khoảng 14%-73% HS đánh giá việc HS
biết chia sẻ, giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong học tập ở mức Bình thường hoặc Chưa tốt.
*/ Bảng 5: Kết quả khảo sát thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục
vụ cho việc dạy học Văn của nhà trường
Nội
dung

Đánh giá của HS

Đánh giá của GV
Hồn
Hồn
Rất
Bình Chưa tồn Rất
Bình Chưa tồn
Tốt
Tốt
tốt
thường tốt không tốt
thường tốt không
tốt
tốt

1. Trang bị đầy đủ tivi, máy
83 139

chiếu cho từng lớp học
2. Phòng học đầy đủ diện tích,
ánh sáng, bảng, bàn ghế đạt 124 172
chuẩn
3. Thư viện trang bị đầy đủ các
91 162
loại sách báo, tài liệu…
4. Có phịng học thơng minh đầy
143 154
đủ, đạt chuẩn
5. Kết nối internet phục vụ hoạt
động quản lý và hoạt động dạy 157 171
học

145

26

8

2

3

6

0

0


95

7

3

3

4

4

0

0

143

5

0

2

4

5

0


0

79

21

4

3

4

4

0

0

52

16

5

3

5

2


1

0

Khảo sát thực trạng cơ cở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học ta
thấy: Trong những năm qua, nhà trường đã rất chú trọng trong việc đầu tư cơ sở
vật chất, trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc dạy và học như: sửa sang phòng
học, thay mới bàn ghế, mua sắm máy chiếu, Tivi, lắp đặt phịng học thơng minh,
kết nối Internet, xây dựng thư viện xanh... Đa số GV và HS đều đánh giá cơ sở vật
chất, trang thiết bị phục vụ dạy học của nhà trường tương đối Tốt. Đây chính là
điều kiện thuận lợi để GV có thể thực hiện có hiệu quả việc đổi mới phương pháp
và hình thức tổ chức dạy học theo hướng hiện đại, phù hợp tình hình mới.
*/ Bảng 6: Kết quả khảo sát việc thực hiện kiểm tra, đánh giá trong việc dạy
16


học Văn ở trường THPT Nguyễn Duy Trinh
Đánh giá của HS

Nội
dung

Đánh giá của GV

Rất

Không Rất
Không
Thường Thỉnh Hiếm bao
Thường Thỉnh Hiếm bao

thường xuyên thoảng khi
thường xuyên thoảng khi
xuyên
giờ xuyên
giờ

1. Đánh giá chủ yếu qua
các bài kiểm tra, hỏi bài
cũ, chấm vở...

165

174

55

7

0

5

6

0

0

0


2. Đa dạng các hình thức
đánh giá

42

53

128

161

15

1

2

5

2

0

3. GV tự đánh giá

142

177

82


0

0

5

5

0

0

0

4. HS tự đánh giá và đánh
giá lẫn nhau

42

64

127

167

1

1


1

2

6

0

5. Đánh giá cơng bằng,
khách quan

53

66

208

63

11

2

7

1

0

0


Qua khảo sát thực tế tình hình kiểm tra, đánh giá trong dạy học Văn những
năm gần đây ta thấy: Việc thực hiện kiểm tra, đánh giá bước đầu đã có sự đổi mới
nhưng vẫn cịn nhiều bất cập. GV vẫn chủ yếu tự đánh giá qua hình thức làm bài
kiểm tra viết, hỏi bài cũ, chấm vở. Có 41% HS cho rằng Thỉnh thoảng và Hiếm khi
GV sử dụng đa dạng các hình thức đánh giá trong dạy học Văn. Có 6/11 GV và
43% HS cho rằng các em hiếm khi được tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau.
*/ Bảng 7: Kết quả khảo sát thực trạng công tác thực hiện đổi mới PPDH tại
trường THPT Nguyễn Duy Trinh.
Nội
dung
1. Nhà trường chỉ đạo GV tích cực
đổi mới PPDH
2. Tổ chức các hình thức dạy học
khuyến khích sự tham gia chủ
động tích cực của HS (Ngoại khóa,
câu lạc bộ, trải nghiệm sáng tạo,
Trải nghiệm thực tế...
3. Lựa chọn và tổ chức các hoạt
động dạy học phù hợp với năng
lực và trình độ của học sinh
4. Chỉ đạo xây dựng các quy tắc
ứng xử giữa GV- HS và HS - HS
theo định hướng thân thiện, tích
cực, hợp tác trong dạy và học
5. Chỉ đạo GV đổi mới hình thức

Đánh giá của HS

Đánh giá của GV


Hồn
Hồn
Rất
Bình Chưa tồn Rất
Bình Chưa tồn
Tốt
Tốt
tốt
thường tốt khơng tốt
thường tốt khơng
tốt
tốt
61

84

161

88

7

3

6

2

0


0

59

93

180

64

5

2

4

4

1

0

43

68

173

92


25

1

2

6

2

0

55

93

186

56

11

2

3

5

1


0

43

94

170

80

14

2

4

4

0
17


dạy học theo hướng kết hợp dạy
học toàn lớp, kết hợp với dạy học
nhóm và cá nhân

Qua kết quả khảo sát ta thấy, trong những năm qua, trường THPT Nguyễn
Duy Trinh đã đặc biệt quan tâm đến việc đổi mới PPDH. Bên cạnh việc chỉ đạo kịp
thời, sát sao, nhà trường cịn động viên, khuyến khích GV tích cực đổi mới PPDH,

đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của HS. Tuy nhiên, trong q trình thực hiện cịn mang tính thời vụ, chưa đồng
bộ, quyết liệt.
2.2.2. Kết quả khảo sát việc áp dụng mơ hình VTVH vào dạy học đọc hiểu VB
truyện hiện đại trong CT Ngữ văn 11, kì 1 tại trường THPT Nguyễn Duy Trinh
(Xem phần kết quả thực nghiệm)
2.3. Phân tích, đánh giá kết quả khảo sát thực trạng.
2.3.1. Ưu điểm:
Trong những năm qua việc đổi mới PPDH học nói chung và dạy học Văn nói
riêng ở trường THPT Nguyễn Duy Trinh đã có nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt
trong cơng tác dạy và học mơn Ngữ Văn. Nhìn vào kết quả khảo sát ở trên ta thấy:
- Nhà trường luôn quan tâm đền công tác dạy học, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết
bị phục vụ dạy học tương đối đầy đủ, hiện đại. Bên cạnh đó, nhà trường cũng tổ
chức đa dạng hóa các hình thức dạy học như dạy học trên lớp, câu lạc bộ, ngoại
khóa, trải nghiệm sáng tạo, trải nghiệm thực tế,...đổi mới công tác kiểm tra đánh
giá, tăng cường tập huấn, trao đổi, giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm qua việc tổ chức
các sinh hoạt chuyên môn giữa các trường lân cận.
- Đa số GV đều có ý thức đổi mới trong việc dạy và học bằng việc sử dụng các
phương pháp và hình thức dạy học tích cực, lấy HS làm trung tâm, chú trọng hình
thành năng lực và phẩm chất cho HS.
- Mối quan hệ giữa GV và HS, HS và HS trong dạy học Vă ngày càng thay đổi
theo hướng tích cực với sự hợp tác, thân thiện, sẻ chia, giúp đỡ...
2.3.2. Hạn chế:
- Công tác chỉ đạo chưa thực sự quyết liệt và đồng bộ, cịn mang tính chất nhất
thời, khơng theo lộ trình.
- Cơng tác kiểm tra, đánh giá đơi lúc cịn bất cập, hình thức
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại phục vụ dạy học còn hạn chế, thiếu, chưa
đồng bộ.
- Vẫn cịn tình trạng GV dạy đối phó, chưa thật sự tâm huyết với học trò, ngại đổi
mới, ý thức học hỏi chưa cao...

- Đa số HS không thích học Văn, khơng có đam mê, học đối phó, học tủ, ý thức
học tập chưa tốt...
18


III. ÁP DỤNG MƠ HÌNH VỊNG TRỊN VĂN HỌC NHẰM NÂNG CAO
HIỆU QUẢ VIỆC DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN TRUYỆN HIỆN ĐẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11, KÌ 1 CHO HỌC SINH TẠI
TRƯỜNG THPT NGUYỄN DUY TRINH
1. XÂY DỰNG KẾ HOẠCH THỰC HIỆN.
1.1. Xác định các lớp sẽ áp dụng mơ hình Vịng trịn văn học.
- Các lớp: 11D (lớp chọn khối D); lớp 11T (Lớp chọn khối A1) và lớp 11A2 (Lớp
khối A).
1.2. Xác định những tiết học cụ thể sẽ thực hiện mơ hình Vịng trịn văn học.
- Tiết 37; 38;39: Bài Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
- Tiết 46;47;48: Bài Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)
- Tiết 50;54: Tự chọn : Văn xuôi lãng mạn 30-45
- Tiết 66;67;68: Bài Chí Phèo (Nam Cao)
- Tiết 69;75: Tự chọn về Nam Cao và Ngô Tất Tố
1.3. Chuẩn bị thiết bị dạy học và học liệu
- Tài liệu học tập từ các bài giảng điện tử, bài giảng tóm tắt, video...
- Máy tính, máy chiếu, tivi, điện thoại, micro, loa, ...
- SGK, Thiết kế bài học, câu hỏi và bài tập kiểm tra, đánh giá, Phiếu học tập
- Kế hoạch phân công nhiệm vụ cho HS
- Sử dụng phần mềm Google Drive để chia sẻ kiến thức và khảo sát GV và HS
- Sử dụng phần mềm Microsoft Power Point, Phần mềm Canva, Google. Docs và
Google. Drive để thiết kế bài giảng và bài thuyết trình.
1.4. Tìm hiểu về vấn đề khó khăn mà HS sẽ gặp phải trong q trình thực hiện.
- Vấn đề về sử dụng cơng nghệ hoặc quản lý hệ thống dữ liệu học tập và hoạt động
của HS trên hệ thống...

- Vấn đề về sự tự giác và ý thức của HS khi thực hiện hoạt động nhóm
2. QUY TRÌNH THỰC HIỆN
2.1. Phổ biến mơ hình Vịng trịn văn học cho HS
- GV có trách nhiệm làm rõ cho HS về mục đích, cách thức, tiến trình thực hiện.
2.2. GV cung cấp nhiều văn bản cho HS lựa chọn
- GV giới thiệu các VB đọc cho HS lựa chọn:
+ Tác giả Thạch Lam: Hai đứa trẻ; Gió lạnh đầu mùa; Dưới bóng hồng lan...
19


+ Tác giả Nguyễn Tuân: Chữ người tử tù; Những chiếc ấm đất; Chén trà trong
sương sớm...
+ Tác giả Nam Cao: Chí Phèo; Đời thừa; Giăng sáng; Sống mịn; Một bữa no; Trẻ
con khơng được ăn thịt chó...
*/ Lưu ý:
+ Ngữ liệu có thể là một phần/tồn văn bản; trong hoặc ngoài SGK
+ VB do GV giới thiệu, HS lựa chọn VB phù hợp với yêu cầu cần đạt và hứng thú
của mình
+ VB sẽ đồng dạng với những VB được học trong CT-SGK nhằm mục đích củng
cố và phát triển năng lực đọc hiểu cho người học
Bước này được thực hiện lồng ghép trong quá trình dạy học đọc hiểu trên
lớp, nhất là khi tổ chức hoạt động đọc mở rộng.
2.3. HS tự chọn văn bản để đọc và hình thành các nhóm theo sự lựa chọn
- Nhóm được tạo nên trên cơ sở các HS chọn cùng chung một phần/tồn VB. Số
lượng thành viên nhóm tầm 4 đến 10 bạn để đảm bảo tất cả các thành viên đều
tham gia hoạt động đọc một cách tích cực.
- Các nhóm khác nhau đọc những VB khác nhau hoặc 2 nhóm cùng đọc một VB
hoặc cùng thực hiện 1 nhiệm vụ.
- Sau đó, những HS có cùng vai có thể hợp nhóm với nhau ở những lần thảo luận
tiếp theo để trao đổi và làm sáng rõ vai trọng tâm của mình

*/ Lớp 11D (Lớp khối D có tiết tự chọn)
- Các nhóm lựa chọn VB:
+ Nhóm 1: Văn bản “Dưới bóng hồng lan” (Thạch Lam”
+ Nhóm 2: Văn bản “Gió lạnh đầu mùa” (Thạch Lam)
+ Nhóm 3: Đề tài người nông dân nghèo và Văn bản “Một bữa no” (Nam Cao)
+ Nhóm 4: Đề tài người trí thức nghèo và Văn bản “Đời thừa” (Nam Cao)
*/ Lớp 11T, 11A2 (Lớp chọn khối A1, khối A khơng có tiết tự chọn)
- Chọn văn bản Chữ người tử tù và Chí Phèo
+ Nhóm 1 và 2: Văn bản “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tn)
+ Nhóm 3 và 4: Văn bản “Chí phèo” (Nam Cao)
2.4. GV cho HS làm quen với các bản phân vai.
Trước khi đi vào tổ chức mơ hình này trong giờ dạy, GV cần dành thời gian
cho HS làm quen với các bản phân vai - yếu tố đặc trưng cơ bản của VTVH. GV
có thể giới thiệu các vai sau cho HS làm quen:
*/ Đối với Vai Người lược thuật:
20


- HS tóm tắt truyện, ý chính của câu chuyện. Yêu cầu HS không kể lại mà tập
trung vào việc chính, nội dung, thơng điệp quan trọng của VB
- Tương ứng với vai trải nghiệm này, HS sẽ hoàn thiện phiếu học tập số 1
*/ Đối với vai Người thiết kế câu hỏi:
- Tùy vào từng VB, HS sẽ thiết kế các câu hỏi đọc hiểu theo các dạng như: câu hỏi
đọc hiểu hình thức, câu hỏi đọc hiểu nội dung, câu hỏi liên hệ, so sánh, kết nối.
Đây là các VB truyện nên các câu hỏi đọc hiểu sẽ hướng vào chi tiết, tình huống
truyện, nhân vật,...Khi HS tự thiết kế được câu hỏi đọc hiểu nghĩa là HS đã biết
cách đọc hiểu và bước đầu hiểu về VB.
- Ngồi ra, vai Người hỏi có thể đặt ra các câu hỏi chia sẻ cảm xúc/suy nghĩ về
những điều ấn tượng nhất/tâm đắc nhất/thích nhất/băn khoăn nhất...về VB.
- Tương ứng với vai trải nghiệm này, HS sẽ hoàn thiện phiếu học tập số 2

Những câu hỏi này sẽ được sử dụng để triển khai /điều hành cuộc thảo luận
và kết nối các vai đọc, các hoạt động đọc trong Vòng tròn văn học.
*/ Đối với vai Người khám phá thế giới nghệ thuật (nhân vật, từ vựng, chi tiết,
hình ảnh, đoạn văn hay...).
- Ở vai này, nếu tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm thì HS chọn nhân vật, chọn trích
dẫn chi tiết mơ tả hành trình mà nhân vật trải qua suốt VB. Nếu khám phá từ vựng,
HS đọc lướt tồn VB, khoanh trịn những từ khơng quen thuộc (những từ khó,
mới). Sau đó, người đọc thử giải thích ý nghĩa vài từ cho nhóm
- Tương ứng với vai trải nghiệm này, HS sẽ hoàn thiện phiếu học tập số 3
- Phiếu học tập sẽ định hướng cho HS phát hiện các điểm sáng thẩm mĩ, các chi
tiết, yếu tố độc đáo, tập trung giá trị của VB, từ đó chia sẻ những cảm xúc, suy
nghĩ có tính cá nhân của người đọc. Với nhiệm vụ này, Phiếu học tập có thể kết
hợp với kĩ thuật “đánh dấu và ghi chú bên lề”, động não, “trình bày một phút”
Ví dụ 1: Nếu được chọn đoạn văn bản/nhân vật yêu thích nhất, bạn chọn đoạn/nhân
vật nào? Vì sao?
Ví dụ 2: Viết ra hoặc gạch chân dưới những từ ngữ mà bạn thích nhất trong đoạn
văn vừa đọc và thử lí giải ngắn gọn ý nghĩa của chúng.
*/ Đối với vai Người kết nối.
- Với vai này, Phiếu đọc sách sẽ kết hợp chiến thuật “cuộc giao tiếp văn học” để
định hướng người đọc xác lập mối quan hệ đa chiều giữa VB với người đọc, với
VB khác và với thực tiễn cuộc sống. Theo đó, người học khơng chỉ nhận diện, phát
hiện mối quan hệ mà phải bộc lộ quan niệm, đánh giá về mối quan hệ đó.
- Tương ứng với vai này, HS hoàn thành Phiếu học tập số 4
Ví dụ: Hãy chia sẻ một trải nghiệm giúp bạn hiểu hơn/đồng cảm hơn với nhân
vật/VB. Câu chuyện/nhân vật...gợi bạn nhớ đến điều gì đã trải qua? Câu chuyện/
21


×