Tải bản đầy đủ (.pdf) (39 trang)

Sáng kiến kinh nghiệm một số biện pháp khắc phục lỗi viết câu tiếng anh phổ biến của học sinh lớp 7 tại trường tiểu học trung học cơ sở lê quý đôn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.46 MB, 39 trang )

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LẠNG SƠN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM LẠNG SƠN

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC LỖI VIẾT CÂU
TIẾNG ANH PHỔ BIẾN CỦA HỌC SINH LỚP 7 TẠI
TRƯỜNG TIỂU HỌC & TRUNG HỌC CƠ SỞ LÊ QUÝ ĐÔN
Lĩnh vực sáng kiến: Khoa học xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Trình độ chun mơn:Thạc sỹ
Chức vụ: Giảng viên
Nơi công tác: Khoa Ngoại ngữ
Điện thoại liên hệ: 0983 181 668
Địa chỉ thư điện tử:
Đề nghị công nhận sáng kiến cấp: CSTĐ (cấp cơ sở)

Lạng Sơn, tháng 4 năm 2020


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn sáng kiến .................................................................................................. 1
2. Mục tiêu của sáng kiến ............................................................................................... 1
3. Phạm vi của sáng kiến ................................................................................................ 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN ................................................................. 2
1. Cơ sở lý luận .............................................................................................................. 2
1.1. Định nghĩa về lỗi ..................................................................................................... 2
1.2. Một số lỗi thông thường khi viết ............................................................................. 2
1.2.1. Lỗi cấp độ câu ........................................................................................................ 3
1.2.2. Lỗi cấp độ từ .......................................................................................................... 4
1.3. Biện pháp khắc phục được đề xuất ......................................... ……………………6


1.3.1.Biện pháp đánh giá và sửa lỗi viết của giáo viên .................................................... 6
1.3.2.Biện pháp đánh giá và sửa lỗi viết theo cặp (peer correction) ................................ 9
1.3.3.Biện pháp tự đánh giá và sửa lỗi của người học (self - correction) ........................ 9
2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................................... 10
2.1. Thực trạng dạy và học TA tại khối 7, trường TH-THCS Lê Quý Đôn ................... 10
2.2. Lỗi và nguyên nhân mắc lỗi khi viết câu tiếng Anh của học sinh tại trường
TH&THCS Lê Quý Đôn ................................................................................................ 10
2.2.1. Lỗi viết câu tiếng Anh phổ biến của học sinh ...................................................... 10
2.2.2. Nguyên nhân mắc lỗi khi viết tiếng Anh của nhóm học sinh tham gia nghiên
cứu…………… .............................................................................................................. 13
NỘI DUNG SÁNG KIẾN .................................................................................... 15
Nội dung của sáng kiến ............................................................................................ 15
1.1. Nâng cao vốn từ vựng thông qua xây dựng “Sổ tay từ vựng tiếng Anh” ............. 15
1.2. Rèn luyện kỹ năng viết thông qua sử dụng Hồ sơ học tập (HSHT) ...................... 17
1.3. Hướng dẫn HS sử dụng một số công cụ trực tuyến để tự kiễm tra – và chữa lỗi từ
vựng – ngữ pháp ........................................................................................................... 18
1.4. Sử dụng bảng “Ký hiệu các loại lỗi viết câu TA” ................................................. 20
1.5. Tăng cường các hoạt động luyện tập từ và câu thơng qua các trị chơi và bài tập
trực tuyến 20
2. Kết quả của sáng kiến .............................................................................................. 22
3. Đánh giá kết quả thu được ....................................................................................... 25
3.1. Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến ................................................................... 25
3.2. Khả năng áp dụng và mang lại lợi ích thiết thực của sáng kiến ............................ 25
3.2.1. Khả năng áp dụng hoặc áp dụng thử, nhân rộng .................................................. 25


3.2.2. Khả năng mang lại lợi ích thiết thực .................................................................... 26
KẾT LUẬN-KIẾN NGHỊ ...................................................................................... 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC



TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Đề tài này tập trung nghiên cứu các loại lỗi viết câu tiếng Anh phổ biến mà nhóm
học sinh lớp 7 ở trường Tiểu học và Trung học cơ sở Lê Quý Đôn thường xuyên
mắc phải trong q trình học tập mơn tiếng Anh, đặc biệt là trong học tập và phát
triển kỹ năng viết tiếng Anh. Trên cơ sở nghiên cứu nguyên nhân mắc lỗi, một số
biện pháp khắc phục lỗi đã được áp dụng thử nghiệm nhằm mục đích giúp học sinh
nhân diện lỗi và khắc phục lỗi viết câu tiếng Anh. Những biện pháp thử nghiệm
bao gồm sử dụng “Bảng kí hiệu các loại lỗi viết câu TA”, cơng cụ kiểm tra chính
tả - ngữ pháp trực tuyến, “Hồ sơ học tập” và “Sổ tay từ vựng tiếng Anh”. Sau thời
gian áp dụng, nhóm các biện pháp nêu trên đều có tác dụng tích cực tới việc giúp
học sinh nhận diện lỗi và chữa lỗi, góp phần nâng cao kết quả giảng dạy và học tập
tiếng Anh của giáo viên và học sinh nhà trường.
Từ khóa: Kĩ năng viết câu TA, viết đoạn, lỗi viết câu TA, chữa lỗi viết câu TA.


CÁC TỪ VIẾT TẮT
Học sinh: HS
Giáo viên: GV
Tiếng Anh: TA
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Bảng 1. Ký hiệu các loại lỗi viết câu tiếng Anh............................................... 7
Bảng 2. Các lỗi viết TA phổ biến của học sinh lớp 7, trường TH&THCS Lê
Quý Đôn ............................................................................................................... 11
Bảng 3. Các lỗi phổ biến ở cấp độ câu của HS lớp 7 trường TH&THCS Lê
Quý Đôn ............................................................................................................... 12
Bảng 4. Lỗi cấp độ từ phổ biến của HS lớp 7, trường TH&THCS Lê Quý Đôn
.............................................................................................................................. 12

Bảng 6. Kết quả tham gia bài KT TA trực tuyến ........................................... 21
Bảng 7. Thống kê lỗi cấp độ câu trước và sau khi thực hiện tác động .......... 22
Bảng 8. Lỗi cấp độ câu trước và sau khi thực hiện tác động ......................... 23
Bảng 9. Thống kê lỗi ở cấp độ từ trước và sau khi thực hiện tác động.......... 23
Bảng 10. So sánh lỗi cấp độ câu từ trước và sau khi thực hiện tác động ....... 24
DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1. Minh hoạ lỗi ở cấp độ từ trong bài viết của HS tham gia nghiên cứu
.............................................................................................................................. 12
Hình 2. Minh hoạ sổ tay từ vựng của học sinh (1) ......................................... 16
Hình 3. Minh hoạ sổ tay từ vựng của học sinh (2) ......................................... 17
Hình 4. Minh hoạ một sản phẩm HSHT của HS ............................................ 18
Hình 8. Minh hoạ bài viết của HS khi sử dụng các công cụ chữa lỗi trực tuyến
.............................................................................................................................. 20


1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn sáng kiến
Trong q trình giảng dạy TA ở khối lớp 7, trường TH&THCS Lê Quý Đơn, tơi
nhận thấy gặp HS gặp nhiều khó khăn với kỹ năng viết TA hơn các kỹ năng khác. Thực
tế là nhiều học sinh có vốn từ vựng và kiến thức ngữ pháp tương đối tốt song vẫn gặp
nhiều khó khăn trong việc viết các câu và các đoạn văn tiếng Anh ngắn. Vì vậy việc tìm
hiểu các lỗi HS thường mắc phải trong quá trình học viết cũng như nguyên nhân của
việc mắc lỗi là rất cần thiết để có thể đề xuất và thực nghiệm các biện pháp giúp các em
khắc phục các lỗi này nhằm hướng tới cải thiện và phát triển kỹ năng viết TA cho các
em. Ngoài ra với tư cách là một giảng viên tham gia giảng dạy TA tại cấp Trung học cơ
sở, tơi mong muốn tìm hiểu kĩ hơn nữa các phương pháp và kĩ thuật dạy học tiếng Anh
tại phổ thông sao cho hiệu quả, từ đó có những thay đổi kịp thời trong việc giảng dạy
TA chuyên ngành cho sinh viên chuyên ngành tiếng Anh sư phạm giúp các em sinh

viên cập nhật tình hình giảng dạy ở phổ thơng.
Với các lý do trên, tôi quyết định thực hiện đề tài “Một số biện pháp khắc phục
lỗi viết câu tiếng Anh phổ biến của học sinh lớp 7 tại trường Tiểu học & Trung học
cơ sở Lê Quý Đôn”.

2. Mục tiêu của sáng kiến
Xuất phát từ kinh nghiệm và thực tiễn giảng dạy, sáng kiến được thực hiện với các
mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:
- Tìm hiểu các lỗi và nguyên nhân của các lỗi trong học viết Tiếng Anh của người
học ngoại ngữ nói chung;
- Tìm hiểu kĩ thuật dạy học và kĩ thuật chữa lỗi viết câu tiếng Anh hiệu quả;
- Tìm hiểu các lỗi viết câu tiếng Anh của học sinh khối 7 trường Tiểu học – Trung
học cơ sở Lê Q Đơn;
- Tìm hiểu, thực nghiệm và đánh giá hiệu quả của một số biện pháp chữa lỗi viết câu
tiếng Anh áp dụng đối với nhóm học sinh 7 trường Tiểu học – Trung học cơ sở Lê
Quý Đôn.

3. Phạm vi của sáng kiến
Trong phạm vị nghiên cứu của sáng kiến này, đối tượng nghiên cứu là các loại
lỗi viết câu tiếng Anh phổ biến và tính hiệu quả trong thực nghiệm các biện pháp chữa
lỗi – khắc phục lỗi được đề xuất. Khách thể nghiên cứu là nhóm 70 HS lớp 7A1&7A2
của trường TH&THCS Lê Quý Đôn. Thời gian nghiên cứu là từ tháng 10 năm 2010 tới
tháng 2 năm 2021.


2
CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận
1.1. Định nghĩa về lỗi
Lỗi nảy sinh ở người nói tiếng nước ngồi được hiểu là những gì mà người ấy làm

sai lạc các sự kiện ngoại ngữ so với chuẩn của nó. Lỗi khi viết Tiếng Anh có thể hiểu
là là sự vi phạm các quy tắc của hệ thống ngôn ngữ tiếng Anh khiến thông tin không
được hiểu và truyển đạt chính xác. Các nhà ngơn ngữ học và giáo học pháp đánh giá lỗi
khi sử dụng tiếng Anh là một sản phẩm của mối quan hệ tương phản trong việc truyền
đạt thông tin. Tuy nhiên, lỗi khi viết Tiếng Anh là điều không thể tránh khỏi bởi đó là
một phần trong q trình phát triển ngơn ngữ (Corder, 1967, Dulat 1982). Nói cách
khác, việc người học mắc lỗi chứng tỏ quá trình học đang được diễn ra. Corder (1967)
cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu các lỗi mà người học ngoại ngữ
mắc phải để từ đó người giáo viên có những sự thay đổi cần thiết trong kĩ thuật dạy học
và kĩ thuật chữa lỗi cũng như các biện pháp khắc phục lỗi để giúp người học tiến bộ
hơn.

1.2. Một số lỗi thông thường khi viết
Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả nước ngồi như Dulay và cộng sự
(1982) thì có 4 loại lỗi mà người học ngoại ngữ hay mắc phải đó là: (1) lỗi về ngơn ngữ,
(2) lỗi về cấu trúc, (3) lỗi về chiến lược giao tiếp, và (4) lỗi về so sánh đối chiếu ngôn
ngữ.
Cụ thể hơn, Darus & Subramaniam (2006) và Bitchener và cộng sự (2005) chỉ 15
loại lỗi mà người học hay mắc phải trong kỹ năng viết tiếng Anh đó là: (1) lỗi về danh
từ số ít, số nhiều; (2) lỗi về thì; (3) lỗi dùng từ; (4) lỗi về sự phù hợp giữa động từ và
chủ ngữ; (5) lỗi về sự phù hợp giữa chủ ngữ và thành phần hoàn thành câu; (6) lỗi về
trật tự từ; (7) lỗi về mạo từ; (8) lỗi về từ loại; (9) lỗi chính tả; (10) lỗi về dạng của động
từ; (11) lỗi viết hoa; (12) lỗi thiếu từ; (14) lỗi về giới từ và (15) lỗi về dấu câu. Trong
đó, các tác giả cũng chỉ ra 6 lỗi thường gặp nhất trong các bài viết của người học đó là:
(1) lỗi về số ít, số nhiều; (2) lỗi về thì; (3) lỗi dùng từ; (4) lỗi về sự tương hợp giữa động
từ và chủ ngữ; (5) lỗi về giới từ và (6) lỗi về cấu trúc câu.
Tương tự như vậy, trong một nghiên cứu khác của Hengwichitkul (2006) và
Runkati (2013), các lỗi đều được phân loại ở cấp độ câu như lỗi về sự phù hợp giữa chủ
ngữ với động từ, lỗi về thì, lỗi về cấu trúc câu, ngữ động từ, mệnh đề quan hệ, câu bị
động, cấu trúc song song, dấu chấm câu hay lỗi về câu chưa hoàn chỉnh hay câu quá

dài. Lỗi thứ hai là lỗi ở cấp độ từ, chẳng hạn như lỗi về mạo từ, giới từ, lựa chọn từ
không phù hợp, hay lỗi về danh từ và chữ số.


3
Chrisitne (2016) phân loại các lỗi theo 3 cấp độ: cấp độ 1- cấp độ phát âm (lỗi chính
tả, cấu trúc), cấp độ 2 - cấp độ văn bản (lỗi sử dụng từ vựng và ngữ pháp), cấp độ 3 cấp độ diễn ngôn - ngữ dụng học.
Trong nghiên cứu này, lỗi sẽ được phân loại theo cấp độ câu và từ để phù hợp với
đối tượng nghiên cứu và hoàn cảnh nghiên cức của tác giả, cụ thể như sau:
1.2.1 Lỗi cấp độ câu
1.2.1.1. Câu khơng hồn chỉnh (Sentence fragments)
Lỗi câu khơng hồn chỉnh bao gồm:
1. Lỗi câu thiếu chủ
ngữ

With one dollar can buy a bowl of “Pho” in Vietnam. (Chỉ với
khoảng một đơ-la là có thể mua được một tô phở ở Việt Nam).

2. Lỗi câu thiếu động
từ chính

After listening to his joke, she laughing out loud. (Sau khi lắng
nghe câu chuyện cười của anh ấy, cô ta cười phá lên).
Câu này có sự xuất hiện của hai động từ đuôi -ing là “listening”
và “laughing” tuy nhiên cả 2 động từ này khơng phải động từ
chính của câu.

3. Lỗi câu thiếu cả chủ Going out with my friends and feeling happy. (Đi chơi với bạn
ngữ và động từ
bè và thấy rất vui).

chính
4. Lỗi câu thiếu mệnh
đề chính

Though the weather was bad, ……..
Câu này mới chỉ có một mệnh đề phụ (subordinate clause) và
thiếu mệnh đề chính (main clause).

1.2.1.2. Câu rời rạc (Choppy sentences)
Trong ngữ pháp TA, một câu đầy đủ thành phần chủ ngữ và động từ chỉ là một điều
kiện cần trong văn phong viết nhưng chưa phải là điều kiện đủ. Muốn bài viết được hay
thì người viết cần tạo ra sự liên kết hài hoà giữa các câu. Chính vì vậy, trong q trình
học kĩ năng viết và học ngữ pháp, tuỳ theo trình độ, người viết sẽ được GV hướng dẫn
cách sử dụng các từ nối để tạo sự liên kết và mạc lạc của các câu trong đoạn văn và bài
văn. Nói cách khác, việc nắm vững ngữ pháp tiếng Anh là điều cần thiết để giúp người
viết tạo được 1 văn bản hồn chỉnh, có tính liên kết.
Ví dụ dưới đây minh hoạ một đoạn văn mắc lỗi với các câu quá ngắn (choppy
sentences) như sau: “I love sport. It helps me keep fit. It helps me relax. I want to play
it every day. I do not have much time. My job is quite busy. I just can play it at the
weekend.”


4
1.2.1.3. Hai loại lỗi sử dụng dấu câu (Run-on sentences & Comma splices)
Trong tiếng Anh thì giữa những câu đơn (mệnh đề độc lập) phải có sự xuất hiện
của một dấu chấm (period), hoặc dấu hai chấm (semi-colon), hoặc một liên từ kết hợp
(coordinator) hay liên từ phụ thuộc (subordinator). Nếu một câu có hai hoặc nhiều hơn
hai mệnh đề độc lập được viết liền nhau mà lại không sử dụng dấu câu nào để tách ra
thì câu đó được coi là “run-on sentence”.
Ví dụ: My best friend is a beautiful girl, she has long dark hair.

Dấu chấm (.) được dùng để kết thúc một câu nhưng người viết đôi khi quên sử
dụng. Đôi khi họ sử dụng dấu phẩy (,) thay cho dấu chấm (.) giữa hai câu. Điều này có
thể là do họ khơng nghĩ rằng những câu đơn đó đã mang nội dung thơng tin hồn chỉnh
với cấu trúc ngữ pháp độc lập nên chúng phải được phân biệt rõ ràng.
1.2.1.4. Câu quá dài (Stringy sentences)
Lỗi này xảy ra khi học sinh viết quá nhiều mệnh đề độc lập trong một câu và lạm
dụng các liên từ kết hợp (and, but, so…) và/hoặc liên từ phụ thuộc (because…) khiến
câu đọc dài và khó hiểu.
Ví dụ: I like football and basketball. And I often play football with my friends after
school and at weekend. And I think playing sportd is good and helps me to stay healthy.
1.2.1.5. Lỗi về Thì (Tense misuse)
Trong tiếng Anh, mỗi thì đều có cơng thức và cách sử dụng riêng nhưng do chưa
nắm chắc kiến thức ngữ pháp cơ bản nên người học thường tạo nên những câu sai ngữ
pháp, khiến người đọc hiểu sai ý của người viết.
Ví dụ:“He played the piano when I came”.
Trong ví dụ này mệnh đề chình “He played the piano” phải được chia ở thì “Quá
khứ tiếp diễn: He was playing the piano” với mục đích miêu tả một hành động đang
tiếp diễn trong q khứ thì có một hành động khác xen vào (hành động xen vào:
…..when I came).
1.2.2. Lỗi cấp độ từ
Việc học và biết nghĩa của từ vựng tiếng Anh thật không dễ và nắm được cách
sử dụng của từ vựng cịn khó hơn nhiều. Chính vì vậy mà việc chọn từ ngữ chính xác
cho một bài viết bằng tiếng Anh là một quá trình phức tạp. Do nhiều nguyên nhân khác
nhau, người học TA thường sử dụng sai từ loại hay dùng nhầm từ này do chưa nhớ cách
viết hoặc chưa nắm vững về cách sử dụng từ đó.
1.2.2.1Lỗi dùng sai từ


5
Lỗi “Dùng sai từ” bao gồm lỗi dùng sai từ theo ngữ cảnh, dùng sai từ loại, hoặc

nhầm lẫn các từ có cách viết tương đối giống nhau nhưng ý nghĩa, cách sử dụng cũng
như loại từ loại là khác nhau:
Ví dụ 1 : My grandfather is old, but he is still strong.
Trong ví dụ này, tính từ “strong”có thể kết hợp với danh từ để mang nghĩa
chuyển như trong cụm từ “strong wine”, “strong wind”, nhưng khi nói đến sức khỏe,
chúng ta thường dùng từ “healthy”, đặc biệt trong câu này nó đối lập với từ “old”.
Ví dụ 2: I have difficult in learning English. difficult (adj) --> difficulty (adv)
Ví dụ 3: The cold weather has really effected her health. ..> effect (n) – affected (verb)
Trong câu này, học sinh nhầm lẫn cặp từ “effect” và “affect”.
1.2.2.2. Lỗi về mạo từ
Các hệ thống quy tắc về mạo từ trong TA thật ra khá phức tạp. Chẳng hạn, chúng
ta sẽ không sử dụng mạo từ khi danh từ đang ở số nhiều “I love cars. I like to eat apples”.
Tuy nhiên, HS Việt Nam thường hay mắc lỗi này do ảnh hưởng của việc tư duy từ tiếng
Việt sang tiếng Anh.
Ví dụ: “I love a car” hay “I like a apple”.
Ngoài ra, các cụm giới từ trong TA cũng ảnh hưởng đến quy tắc sử dụng mạo từ.
Nhiều cụm từ khi sử dụng lại khơng cần đến sự góp mặt của mạo từ. Nếu khơng được
hệ thống hố các ngun tắc chung và các trường hợp đặc biệt trong sử dụng mạo từ
TA, cũng như được GV phân biệt sự khác nhau trong ngôn ngữ của tiếng Việt và tiếng
Anh HS sẽ khó nhớ cách sử dụng mạo từ của TA, dẫn đến việc sử dụng mạo từ TA
khơng chính xác, ảnh hưởng tới chất lượng các bài viết TA.
1.2.2.3. Lỗi về giới từ
Lỗi dùng sai giới từ cũng là lỗi thường gặp trong các bài viết của người học ngoại
ngữ vì giới từ tiếng Anh được sử dụng khá phức tạp trong khi những quy tắc chỉ mang
tính tương đối. Ngồi ra, trong tiếng Anh cịn có rất nhiều ngữ cụm động từ (phrasal
verbs) được tạo bởi một giới từ theo sau một động từ. Khi đó, một giới từ lại có nhiều
nghĩa khác nhau.
Ví dụ 1: I get on the bus every day at 7 in the morning. (“get on” trong câu này
mang nghĩa là lên xe).
Ví dụ 2: I get on with my mother in my family. (“get on” trong câu này mang nghĩa

là hòa hợp với ai đó)
1.2.2.4. Lỗi chính tả và lỗi viết hoa
Đây là hai loại lỗi phổ biến nhất do sự bất cẩn của người viết. Ngồi ra trong
tiếng Anh có một số nguyên tắc viết hoa khác với tiếng Việt (viết hoa các ngày trong


6
tuần một số môn học) và một số từ vựng dài cũng gây khó khăn cho người học khi viết
và sử dụng các từ đó.
1.2.2.5. Lỗi về danh từ số ít và danh từ số nhiều
Do ảnh hưởng của ngôn ngữ mẹ đẻ như tiếng Việt, tiếng Trung, nhiều người học
ngoại ngữ hay bị nhầm lẫn giữa hình thức số nhiều và số ít của cùng một danh từ, đặc
biệt là nhóm các danh từ đặc biệt (Ví dụ: mouse – mice, fish – fish, sheep - sheep).

1.3.

Biện pháp khắc phục được đề xuất

1.3.1. Biện pháp đánh giá và sửa lỗi viết của giáo viên
Bên cạnh biện pháp sửa trực tiếp trên bài viết của học người học, giáo viên (GV)
có thể dùng phương pháp gián tiếp như dùng ký hiệu (code) để giải thích loại lỗi mà
người học mắc phải trong bài viết.
Ngồi ra, những biện pháp như trình chiếu hay viết lên bảng những bài mắc nhiều
lỗi để GV và cả lớp cùng chữa cũng là một biện pháp rất hiệu quả, đặc biệt là đối với
những lớp có sĩ số đơng. Theo một số nhà nghiên cứu trong lĩnh vực như Hedrickson
(1984), Ferris và cộng sự (2001) thì GV nên kết hợp hai kỹ thuật đánh giá lỗi – sửa lỗi
trực tiếp và gián tiếp vì mỗi kỹ thuật đều có ưu và nhược điểm riêng.
Biện pháp sửa lỗi trực tiếp sẽ giúp cho những người học yếu có thể dễ dàng nhận
ra lỗi của mình. Trong khi biện pháp sửa lỗi gián tiếp lại tạo được sự hứng thú đối với
những nhóm người học có kiến thức ngôn ngữ tương đối tốt. Các em được khuyến khích

tìm hiểu các loại lỗi mà bản thân mình hay bạn học mắc cũng như tìm hiểu các cách
chữa các loại lỗi này sao cho hiệu quả. Trong kỹ thuật chữa lỗi gián tiếp, các nhà nghiên
cứu khuyên GV nên sử dụng một hệ thống các ký hiệu để chỉ ra lỗi và giải thích ngun
nhân HS mắc lỗi đó, sau đó khuyến khích các em HS làm việc theo cặp hoặc nhóm nhỏ
thảo luận các cách có thể sử dụng để chữa các lỗi đó.


7

Bảng 1. Ký hiệu các loại lỗi viết câu tiếng Anh


8
Ký hiệu

Giải thích

Ví dụ

WW

Wrong words – Lỗi sử dụng
sai từ/ nhầm từ

As our plane flew on the mountains we saw
snow.
(Trong ví dụ này, giới từ đã sử dụng sai. Giới từ
đúng là “over”).

WT


Wrong tense – Lỗi sử dụng
sai thì/thời

As our plane flew over the mountains
we see snow.
(Trong ví dụ này, thì đã sử dụng sai. Thì đúng là
quá khứ tiếp diễn thay vì hiện tại đơn: see - were
seeing)

WF

Wrong form – Lỗi sai về hình
thức của từ

As our plane flew over the mountains we was
seeing snow.
(Trong ví dụ này, người viết mắc lỗi về sự phù
hợp giữa chủ ngữ - động từ với động từ “tobe” ở
quá khứ: was- were).

WO

Wrong order – Lỗi sai về trật
tự từ trong câu hoặc trong
mệnh đề hoặc trong cụm từ

As our plane over the mountain flew we saw
snow.
(Trong ví dụ này, giới từ “over” phải đứng sau

động từ “flew”).

SP

Spelling – Lỗi chính tả

As our plane flue over the mountains we saw
snow.
(Trong ví dụ này, từ “flue” bị viết sai chính tả.
Từ đúng là “flew”).

P

Punctuation – Lỗi dấu câu

As our plane flew over the mountains; we saw
snow.
(Trong ví dụ này, người viết mắc lỗi về dấu câu.
Dấu “,” phải được sử dụng thay vì dấu “;”).

X

Extra words – Lỗi thừa từ

As our plane flew over to the mountains we saw
snow.
(Trong ví dụ này, từ “to” là thừa do đã sử dụng
giới từ “over”).

M


Missing words – Lỗi thiếu từ

As our plane flew over the mountains_ saw
snow.
(Trong ví dụ này, mệnh đề chính thiếu chủ ngữ).

?

Not clear – Lỗi trình bày
khơng rõ ý

As our plane flew over the mountains we saw
snow; it was not cold. I like winter.
(Các câu trong ví dụ này thiếu sự liên kết do
người viết trình bày khơng rõ ý).


9
RW

Try re-writing – Yêu cầu viết

Our vehicle flies, we snow find, over

lại

mountains you saw it.
(Trong ví dụ này, người viết sử dụng sai từ và
sai thì, nhầm lẫn giữa thì Hiện tại đơn giản và

Quá khứ đơn giản, gây khó hiểu cho người đọc
văn bản về thời gian của các hoạt động được
miêu tả).

1.3.2. Biện pháp đánh giá và sửa lỗi viết theo cặp (peer correction)
Bên cạnh các phương pháp chữa lỗi của GV, thì biện pháp HS sửa lỗi viết cho nhau
(peer correction) cũng được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu. Theo kết quả nghiên
cứu của Trahasch (2004), Coit (2004), Cho & Schunn (2005) cho thấy rằng nhiều HS
có thái độ tích cực khi tham gia vào hình thức học tập hợp tác như này. Chính hoạt động
đánh giá theo cặp đã kích thích tính tự giác của HS và tạo thêm động lực học tập cho
các em khi luyện viết TA. Theo Coit (2004), đánh giá trực tuyến theo cặp sẽ giúp hình
thành một mơi trường luyện tập kĩ năng viết TA hiệu quả và thú vị cho các em HS.
Những HS này thực hiện các hoạt động đánh giá rất nghiêm túc và điều đó chứng tỏ
động cơ học môn Viết TA của họ đã tăng lên. Còn Chsinho và Schunn (2005) đã chứng
minh rằng khả năng viết của HS tiến bộ đáng kể nhờ vào hoạt động đánh giá lẫn nhau.
Nghiên cứu này cịn trình bày kết quả khả quan của việc đánh giá qua lại giữa nhiều HS
với nhau giúp chất lượng bài viết của HS được cải thiện tốt hơn so với việc chỉ nhận
được đánh giá từ phía GV trong lớp học truyền thống. Theo đó, HS cũng có thể sử dụng
các kỹ thuật chữa lỗi giống như của GV để chữa lỗi cho bạn như: sửa trực tiếp trên bài
viết hoặc kết hợp sử dụng các ký hiệu để chỉ ra lỗi cho bạn trong bài viết của bạn để
bạn tự chữa lại các lỗi đó.
1.3.3. Biện pháp tự đánh giá và sửa lỗi của người học (self - correction)
Tự đánh giá hay tự sửa lỗi của người viết đóng vai trị vơ cùng quan trọng trong
q trình hồn thiện một bài viết. Bởi kỹ thuật không chỉ yêu cầu người viết phải hết
sức tập trung vào cấu trúc của bài viết mà cịn hình thành và nâng cao tính chủ động
của người học, giúp người học kiểm soát được lỗi trong khi viết tốt hơn. Chandler
(2003) và Makino (1993) đã chỉ ra rằng việc người học tự sửa lỗi của bài viết của họ
sau khi được GV hoặc các bạn HS cùng lớp chỉ ra các lỗi giúp họ về lâu dài sẽ đạt được
độ chính xác trong các bài viết. Nói một cách khác sẽ giúp họ dần dần có khả năng kiểm
sốt các lỗi trong bài viết mà không phải cần đến sự chỉnh sửa từ người khác, kể cả GV.

Tuy nhiên biện pháp này sẽ là không phù hợp với những HS có năng lực ngơn ngữ yếu
và hổng kiến thức. Tuy nhiên cần phải nhấn mạnh rằng, trước khi người học tự đánh


10
giá – sửa lỗi cho bài viết cá nhân của học, họ cần được GV hướng dẫn, làm mẫu về một
số loại lỗi thường mắc phải trong bài viết cũng như cách tránh và sửa chúng như thế
nào cho hợp lý, đúng ngữ nghĩa và đúng ngữ pháp, cũng như phù hợp về văn hoá.

2.

Cơ sở thực tiễn

2.1.

Thực trạng dạy và học TA tại khối 7, trường TH-THCS Lê Quý Đơn
Thơng qua q trình giảng dạy, chủ động quan sát thái độ và hành vi của học sinh
trong quá trình học tập trên lớp và chuẩn bị bài học ngoài giờ lên lớp, tôi nhận thấy việc
học tập, thực hành và rèn luyện kỹ năng viết tiếng Anh của HS khối lớp 7 có một số
điểm đáng lưu tâm như sau:
Thứ nhất là vấn đề hạn chế thời gian trên lớp dành cho dạy và học kỹ năng viết TA
nói chung và việc rèn luyện kỹ năng viết câu tiếng Anh nói riêng. Trong chương trình
tiếng Anh lớp 7, mỗi đơn vị bài học/ Unit được dạy trong 7 tiết (45 phút/1 tiết học). Tiết
học kĩ năng Nghe – Viết được thiết kế trong bài Rèn luyện kỹ năng số 2 (Skills 2:
Listening and Writing) và được dạy vào tiết số 6 của mỗi đơn vị bài học sau các tiết
Getting started, A closer look 1, A closer look 2, Skills 1: Reading and Speaking. Như
vậy có thể nhận thấy, thời gian HS được hướng dẫn, thực hành và chữa lỗi của bài viết
là rất hạn chế (khoảng 22,5 phút/ 1 đơn vị bài học). Vì vậy nếu HS khơng chủ động rèn
luyện kĩ năng viết ở nhà, tham khảo các nguồn tài liệu học tập khác nhau, trao đổi, thảo
luận với bạn và GV ngồi giờ học thì HS khó có thể hình thành và phát triển kỹ năng

viết TA.
Thứ hai là nhiều HS chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của học và rèn luyện
kỹ năng viết TA. Nguyên nhân chủ yếu là do bài kiểm tra và bài thi tiếng Anh hiện nay
đều được xây dựng dưới dạng trắc nghiệm – tự luận, trong đó tỷ lệ của phần trắc nghiệm
luôn cao hơn phần tự luận, điều này khiến cho nhiều em HS chưa chủ động trong việc
rèn luyện kỹ năng viết câu và viết đoạn theo chủ để và theo các trúc ngữ pháp cụ thể.
Thứ ba là số lượng HS bị hổng kiến thức ngữ pháp – từ vựng tương đối lớn nên khi
khó có khả năng viết câu một cách độc lập. Kết quả giảng dạy cả năm môn tiếng Anh
của năm học 2019-2021, tỷ lệ học sinh xếp loại Trung bình cịn tương đối cao. Điều này
cũng gây khó khăn cho việc thiết kế các hoạt động giảng dạy phát triển kỹ năng viết
của GV, đặc biệt là hoạt động HS tự chữa lỗi (self-correction) và người học cùng chữa
lỗi (peer-corection).
2.2 Lỗi và nguyên nhân mắc lỗi viết câu TA của HS tại trường TH&THCS Lê
Quý Đôn
2.2.1 Lỗi viết câu TA phổ biến của học sinh


11
Thông qua việc kiểm tra sách bài tập (workbook), sách học trên lớp (Student’s
book), vở ghi chép, 140 các phiếu bài tập viết của 70 HS lớp 7A1 và 7A2, những lỗi
viết câu TA của nhóm học sinh này được nhận diện như sau:
Bảng 2. Các lỗi viết TA phổ biến của học sinh lớp 7, trường TH&THCS Lê Quý Đôn

STT

Lỗi

Tần xuất

Lỗi cấp độ câu

1

Câu thiếu chủ ngữ

80/140

2

Câu thiếu động từ

90/140

3

Câu thiếu cả chủ ngữ và động từ chính

80/140

4

Câu thiếu mệnh đề chính

50/140

5

Câu đơn lẻ

130/140


6

Câu q dài

30/140

7

Lỗi về thì

100/140
Lỗi cấp độ từ

1

Lỗi chính tả

100/140

2

Lỗi dấu câu

130/140

3

Lỗi dùng từ có nghĩa tương đồng

50/140


4

Lỗi dùng sai từ loại

120/140

5

Lỗi về mạo từ

100/140

6

Lỗi về giới từ

130/140

7

Lỗi dùng nhầm từ

50/140

8

Lỗi nhầm lẫn danh từ số ít, số nhiều, danh từ đếm được 130/140
và danh từ khơng đếm được


Có thể nhận thấy về lỗi ở cấp độ câu, nhóm HS này có xu hướng mắc lỗi viết câu
thiếu hồn chính ở trường hợp lỗi về thì, câu thiếu chủ ngữ, thiếu động từ hoặc thiếu cả
chủ ngữ và động từ. Lỗi thiếu mệnh đề ít gặp hơn do trong thời gian khảo sát, hầu hết
các em mới chỉ bước đầu làm quen với câu điều kiện loại 1, một số cụm từ và mệnh đề
chỉ lý do và ý đối lập, cũng như một số từ nối câu đơn giản như là “and, but, or, so”.
Chính vì vậy, các em có xu hướng viết câu đơn nhiều hơn câu ghép và câu phức. Điều
này cũng là nguyên nhân của lỗi viết “câu đơn lẻ, rời rạc” khi các em được yêu cầu viết
các đoạn văn ngắn. Đồ thị sau đây so sánh mức độ thường xuyên mà các em mắc lỗi
khi viết ở cấp độ câu.


12
Bảng 3. Các lỗi phổ biến ở cấp độ câu của HS lớp 7 trường TH&THCS Lê Quý Đôn
140
120
100
80
60
40
20
0
Câu thiếu Câu thiếu Câu thiếu
chủ ngữ động từ cả chữ
ngữ và
động từ
chính

Câu thiếu Câu đơn Câu q Lỗi về thì
lẻ
mệnh đề

dài
chính

Cũng thông qua đánh giá các bài viết trên, trong lỗi về thì, nhóm HS hay nhầm lẫn
hiện tại đơn với hiện tại tiếp diễn, quá khứ đơn với quá khứ tiếp diễn, hiện tại hoàn
thành với quá khứ đơn.
Xết các lỗi về cấp độ từ, có thể nhận thấy các lỗi phổ biến bao gồm: Lỗi về giới từ,
lỗi nhầm lẫn về danh từ số ít, danh từ số nhiều, lỗi chính tả, lỗi viết hoa, lỗi dùng sai từ
loại, lỗi về mạo từ. Các loại lỗi về cấp độ từ của nhóm HS tham gia nghiên cứu được
minh hoạ trong đồ thị và hình ảnh sau đây.
Bảng 4. Lỗi cấp độ từ phổ biến của HS lớp 7, trường TH&THCS Lê Q Đơn
140
120
100
80
60
40
20
0
Lỗi chính tả

Lỗi dấu câu Lỗi dùng từ Lỗi dùng sai Lỗi về mạo từ Lỗi về giới từ
có nghĩa
từ loại
tương đồng

Lỗi dùng
nhầm từ

Hình 1. Minh hoạ lỗi ở cấp độ từ trong bài viết của HS tham gia nghiên cứu


Lỗi nhầm lẫn
danh từ số
ít, số nhiều,
danh từ số
đếm được
và danh từ
không đếm
được


13

2.2.2. Nguyên nhân mắc lỗi khi viết tiếng Anh của nhóm học sinh tham gia nghiên
cứu
2.2.2.1. Khơng biết chính xác nghĩa của từ (denotation)
Từ vựng trong tiếng Anh vô cùng phong phú. Ngồi nhóm từ đồng nghĩa, có nhiều
từ đồng âm nhưng cách viết và ý nghĩa khác nhau (homophones) như “I/ eye, sun/ son”.
Bên cạnh đó lại có những từ đồng âm và đồng cách viết nhưng mang nghĩa khác nhau
(homonyms) như “left, flat, saw, play”. Sự phức tạp về các hiện tượng ý nghĩa, phát
âm, cách sử dụng của từ vựng TA khiến nhiều HS gặp khó khăn trong việc hiểu tường
tận, chính xác nghĩa của từ, sự khác nhau về cách dùng của những từ có nghĩa tương
đồng cũng như từ loại của chúng. Chính điều này đã dẫn tới việc các em thường mắc
lỗi về từ vựng khi nói và viết tiếng Anh.
2.2.2.2. Khơng nắm vững kiến thức ngữ pháp cơ bản
Ngữ pháp tiếng Anh có sự phân loại rõ ràng về thì, hình thức của danh từ số ít, số
nhiều, đặc biệt là sự phù hợp giữa chủ ngữ và động từ. Mỗi thì TA khách nhau sẽ có
những cách sử dụng khác nhau và hình thức cấu trúc ngữ pháp khác nhau. Tuy nhiên
nhiều HS trong khối còn chưa hiểu và phân biệt được các thì tiếng Anh cơ bản. Chính
việc chưa nắm vững kiến thức ngữ pháp TA cơ bản đã khiến các em gặp rất nhiều khó

khăn trong việc sử dụng thì, cấu trúc ngữ pháp và cách diễn đạt sao cho phù hợp khi
viết các câu tiếng Anh. Do đó việc các em HS này mắc lỗi khi viết câu TA hoặc các
đoạn văn ngắn bằng TA là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt là khi các em phải hoàn
thành các phần bài tập viết về chuyển đổi câu hoặc các đoạn văn ngắn trên lớp, theo
thời gian quy định và không được sử dụng từ điển.
2.2.2.3. Sự ảnh hưởng của tiếng tiếng Việt


14
Điều dễ nhận thấy là nhóm HS này thường có xu hướng diễn đạt ý tưởng trong bài
viết tiếng Anh theo lối tư duy tiếng Việt dvốn từ ngữ hạn chế và hơn nữa, các em chưa
có đủ kiến thức về văn hóa Anh. Do đó điều hiển nhiên xảy ra là các em sẽ dịch từng từ
tiếng Việt sang tiếng Anh thay vì sử dụng các cấu trúc câu tiếng Anh phù hợp để diễn
đạt ý trong bài viết. Điều này làm cho bài viết dài dịng, khơng mạch lạc và đôi khi làm
cho người đọc hiểu sai ý tưởng của các em. Ngoài ra do ảnh hưởng của tiếng Việt là
ngôn ngữ ghi âm trong khi tiếng Anh là ngơn ngữ biến hình, nhóm HS này có xu hướng
nhầm lẫn danh từ số ít với danh từ số nhiều, danh từ đếm được với danh từ không đếm
được, hoặc sử dụng sai từ loại.
2.2.2.4. Không thực hành kỹ năng viết thường xuyên
Như đã đề cập trong các phần trước, nhiều HS còn thiếu sự chủ động trong học tập,
đặc biệt là trong luyện tập kỹ năng viết một cách thường xuyên do nhiều lý do khác
nhau. Qua trao đổi, hầu hết các em đều ít dành thời gian cho việc rèn luyện kĩ năng viết
câu và viết đoạn TA ngồi giờ lên lớp. Việc thiếu thói quen rèn luyện kỹ năng viết
thường xuyên khiến các em còn lúng túng khi kết hợp từ vựng và ngữ pháp thành các
câu tiếng Anh một cách tự nhiên, dễ hiểu, mạch lạc và đúng cú pháp.


15
NỘI DUNG SÁNG KIẾN
Nội dung của sáng kiến

Như đã trình bầy ở phần trên các biện pháp chính để giúp HS khắc phục lỗi viết
câu TA đó là: GV chữa lỗi, HS chữa lỗi theo cặp, HS tự chữa lỗi. Và có nhiều kỹ thuật
chữa lỗi thuộc mỗi biện pháp này. Tuỳ theo thực tế giảng dạy, GV có thể lựa chọn và
áp dụng các kỹ thuật chữa lỗi khác nhau thuộc về nhóm biện pháp chữa lỗi của GV
hoặc của HS. Tuy nhiên, các nghiên cứu về dạy viết và chữa lỗi trong viết câu tiếng
Anh đều khuyến khích việc sử dụng đa dạng các biện pháp chữa lỗi này để tăng hiệu
quả khắc phục lỗi cho HS. Ví dụ, theo các tác giả như Bitcherner và các cộng sự (2005)
cần sử dụng đa dạng các biện pháp chữa lỗi khác nhau (Gv chữa lỗi trực tiếp, HS chữa
lỗi theo cặp, GV chữa lỗi gián tiếp) để giúp người học nhận diện lỗi và khắc phục lỗi.
Nghiên cứu việc áp dụng các kỹ thuật chữa lỗi khác nhau trên với các bài viết của nhóm
của học viên là 53 người nhập cư trong thời gian 12 tuần, Bitcherner và các cộng sự đã
nhận thấy việc mắc lỗi ở thì quá khứ đơn giản (cấp độ câu), mạo từ và giới từ (cấp độ
từ) của nhóm HS tham gia nghiên cứu giảm đáng kể. Tuy nhiên những tác giả này cũng
phát hiện ra rằng nhóm những học viên tham gia nghiên cứu này tuy có thể viết đúng
các câu trong 1 bài viết cụ thể còn với những bài viết tương tự ở các tình huống khác
họ vẫn có khả năng mắc lại các lỗi đó. Chính vì vậy trong nghiên cứu này, tôi áp dụng
kết hợp các biện pháp chữa lỗi đã được đề xuất, bao gồm: GV chữa lỗi trực tiếp trên bài
viết của HS, GV chữa lỗi gián tiếp trên bài viết của HS thông qua việc sử dụng Bảng kí
hiệu lỗi; HS tự chữa lỗi thơng qua Bảng kí hiệu lỗi, Bảng Danh mục kiểm tra khi viết
(Writing Checklist), và các từ điển và công cụ đánh giá trực tuyến; HS chữa lỗi theo
cặp thông qua từ điển và cơng cụ đánh giá trực tuyến. Ngồi ra sáng kiến cũng lồng
ghép một số biện pháp gián tiếp giúp học sinh khắc phục các lỗi viết câu ở cấp độ câu
và từ thông qua việc nâng cao vốn từ vựng cho HS thông qua việc hướng dẫn HS “Sổ
tay từ vựng tiếng Anh” và tạo cơ hội cho HS được rèn luyện kỹ năng viết thông qua
việc áp dụng “Hồ sơ học tập môn Viết” trong môn học TA.

1.1.

Nâng cao vốn từ vựng thông qua xây dựng “Sổ tay từ vựng tiếng Anh”


a. Mục đích: Giúp HS nâng cao vốn từ vựng theo chủ điểm của các đơn vị bài học
trong sách giáo khoa, tạo tiền đề giúp các em HS khắc phục lỗi viết câu ở cấp độ
từ, đặc biệt là giúp các em khắc phục lỗi chỉnh tả và lỗi dùng sai từ khi viết câu
tiếng Anh.
b. Cách thức tiến hành
Xây dựng “Sổ tay từ vựng” là một kỹ thuật truyền thống trong học ngoại ngữ và
được khẳng định là giúp người học cải thiện vốn từ vựng rõ rệt. Có nhiều cách xây dựng


16
“Sổ tay từ vựng” bao gồm việc người học tự lựa chọn và ghi chép ý nghĩa, cách phát
âm và cách sử dụng của một số lượng từ vựng mỗi ngày tuỳ theo nhu cầu và sở thích
cá nhân của người học ngoại ngữ. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, nhóm học sinh
được yêu cầu ghi chép lại các từ vựng theo chủ đề của các bài học theo chương trình
sách giáo khoa tiếng Anh 7 (tập 1, tập 2). Các em được cho phép viết nghĩa của từ vựng
theo tiếng Anh hoặc tiếng Việt hoặc tranh vẽ. Việc khuyến khích sự sáng tạo của học
sinh trong việc diễn đạt ý nghĩa của từ vựng và cách trình bầy của mỗi chủ đề trong “Sổ
tay từ vựng” nhằm mục đích nâng cao động cơ học tập các em, khuyến khích sự tích
cực của các em trong giờ học. Ngồi ra, các em được yêu cầu ghi lại số lần đọc và đặt
câu với từ vựng đó hàng ngày. Ngồi ra, trong các tiết học tiếng Anh, tôi thường kiểm
tra “Sổ tay từ vựng” của các em HS để đánh giá mức độ hoàn thành và mức độ thường
xuyên xây dựng và sử dụng “Sổ tay từ vựng” của các em. Hình ảnh sau đây minh hoạ
1 trang trong “Sổ tay từ vựng” của các em HS. Em HS này vốn là một HS có năng lực
ngơn ngữ cịn hạn chế trong lớp 7A2, chính vì vậy em sử dụng tiếng Việt để miêu tả ý
nghĩa của các từ vựng tiếng Anh theo chủ đề “Traffic” của “Unit 7” trong chương trình
TA của học kỳ 2.
Hình 2. Minh hoạ sổ tay từ vựng của học sinh (1)


17


Hình 3. Minh hoạ sổ tay từ vựng của học sinh (2)

1.2.

Rèn luyện kỹ năng viết thông qua sử dụng Hồ sơ học tập (HSHT)

a. Mục đích: Giúp HS rèn luyện kỹ năng viết TA thường xuyên. Tăng cường cơ hội
cho HS tự chữa lỗi và chữa lỗi theo cặp.
b. Cách thức tiến hành:
“HSHT” đã được áp dụng trong học kì I của năm học 2020-2021. Mỗi HS được
yêu cầu viết 01 đoạn văn ngắn về bản thân (Who I am/ Introduction) và 05 bài viết chính
(40-60 từ/ bài viết) theo các hình thức viết được yêu cầu trong các tiết Skills 2 của Unit
1,2,3,4,5 trong sách giáo khoa tiếng Anh lớp 7, tập 1, bao gồm các chủ đề chính sau:
Hobbies, Health, Community Service, Food and Drink, Education. Ngồi các sản phẩm
viết đã hoàn thành, HS được yêu cầu đưa vào bộ HSHT các bản nháp viết lần 1 hoặc
lần 2 và bài viết mà em đã làm và nhận được nhận xét của bạn bè và của GV, và được
GV chấm điểm. Tất cả các bài viết của HS đều được HS tự đánh giá theo “Writing
checklist” (xem phụ lục) và được bạn cùng lớp đánh giá trước khi GV đánh giả và
hướng dẫn HS viết lại để có sản phẩm viết tốt hơn. Thơng thường với mỗi bài viết HS
được HS khác trong lớp và GV đánh giá tối thiểu 1 lần/1 bài. Hình ảnh sau đây minh


18
hoạ một bộ HSHT của 1 em HS lớp 7A1. Bộ HSHT của em HS này bao gồm các bài
viết hoàn chỉnh cho các chủ đề của các đơn vị bài học trong sách giáo khoa TA7“My
hobbies - Sở thích, Health – Sức khoẻ, Community Service – Hoạt động cộng đồng,
Music Arts – Âm nhạc và Nghệ thuật , Food and Drinks - Ẩm thực”. Các bài viết này
đã bài viết lần 2 của em HS sau khi các bài viết lần 1 đã được GV và các bạn HS khác
trong lớp 7A1 đánh giá – sửa lỗi hoặc kí hiệu lỗi để em tự sửa.


Hình 4. Minh hoạ một sản phẩm HSHT của HS

1.3. Hướng dẫn HS sử dụng một số công cụ trực tuyến để tự kiễm tra – và
chữa lỗi từ vựng – ngữ pháp
a. Từ điển trực tuyến:
- Mục đích: Giúp HS có thêm các cơng cụ để tự kiểm tra chỉnh tả, cách sử dụng từ
khi viết
- Các thức tiến hành:
Trong các buổi học trên lớp, tôi đã hướng dẫn HS làm quen với một số từ điển trực
tuyến uy tín, bao gồm từ điển Anh – Anh của Oxford ( />và của từ điển của Cambridge (hhtp://dictionary.cambridge.org), từ điển và từ điển Anh
- Việt (). Những từ điển này cung cấp cho HS ý nghĩa, cách sử dụng của
mỗi từ vựng tiếng Anh thông qua nhiều ví dụ khác nhau.


19
Hình 5. Minh hoạ sử dụng từ điển Anh - Anh trực tuyến

Hình 6. Minh hoạ sử dụng từ điển Anh - Việt trực tuyến

b. Công cụ kiểm tra chỉnh tả và ngữ pháp tiếng Anh trực tuyến
- Mục đích: Giúp HS có thể kiểm tra chính tả - ngữ pháp của bài viết
- Cách thức tiến hành: Hướng dẫn HS làm quen với một số trang web giúp người HS
kiểm tra văn phạm và chính tả TA cũng được giới thiệu tới học sinh để các em có
thể tự kiểm tra các lỗi của câu và bài viết của bản thân. Các trang kiểm tra trực tuyến
bao gồm:
+ />Giao diện của trang Virtual Writing Tutor khá tiện để sử dụng. Học sinh chỉ cần
dán đoạn văn mình cần kiểm tra vào khung trống. Sau đó, trên thanh cơng cụ màu xanh,
học sinh có thể chọn phần mà mình muốn kiểm tra. Một số chứ năng cơ bản bao gồm:
Word Count dùng để đếm số từ trong đoạn văn. Check Grammar dùng để kiểm tra

lỗi ngữ pháp, đối với những lỗi sai, trang sẽ đưa ra nhận xét (Feedback) để học sinh
biết vì sao mình sai cũng như đưa ra gợi ý chữa lỗi trong phần Suggestions. Check


20
Vocabulary dùng để kiểm tra cấp độ sử dụng từ vựng của học sinh ở mức độ Begginer
(Sơ cấp) hay Advanced (Nâng cao).
+ />Đối với trang English Grammar Checker, HS chỉ cần thêm đoạn văn mình cần
kiểm tra và chọn Check My Grammar. Đối với những lỗi về Spelling, trang web sẽ
tự động gạch chân màu đỏ dưới từ sai. Đối với những lỗi về Grammar, trang web sẽ tự
động gạch chân màu xanh lỗi sai. Để kiểm tra lỗi sai và tìm lại từ đúng, HS có thể nhấp
con chuột vào phần gạch chân trong đoạn văn.
Hình 5. Minh hoạ bài viết của HS khi sử dụng các công cụ chữa lỗi trực tuyến

1.4.

Sử dụng bảng “Ký hiệu các loại lỗi TA”

a. Mục đích: Sửa lỗi gián tiếp, giúp HS tự nhận diện lỗi và chữa lỗi, khuyến khích
HS tự chữa lỗi và chữa lỗi theo cặp.
b. Cách thức tiến hành:
Ngay từ đầu học kì I của năm học 2020-2021, nhóm HS này được giới thiệu về các
lỗi viết câu tiếng Anh phổ biến, các kí hiệu của lỗi. Mỗi HS trong lớp cũng được tôi
phát cho 1 bản “Kí hiệu lỗi viết câu” để tiện tham khảo và thực hành. Đặc biệt trong
những tiết học ngữ pháp “A closer look 2” và tiết học kĩ năng viết “Skills 2”, HS được
phân theo nhóm nhỏ 4 người hoặc cặp để thực hành viết các câu tiếng Anh theo cấu
trúc ngữ pháp và từ vựng đã học, sau đó các bài viết được hốn đối để các nhóm sử
dụng “Bảng kí hiệu lỗi” để nhận đánh giá – nhận xét lỗi cho nhau.

1.5.


Tăng cường các hoạt động luyện tập từ và câu thơng qua các trị chơi
và bài tập trực tuyến


×