Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

Quyền của bị can theo luật tố tụng hình sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.23 MB, 91 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

QUYỀN CỦA BỊ CAN THEO LUẬT TỐ TỤNG
HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chun ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8380104

Người hướng dẫn khoa học: Ts. Nguyễn Huỳnh Bảo
Khánh
Học viên: Vũ Quý Tân
Lớp Cao học luật: Khóa 27

Thành phố Hồ Chí Minh, Năm 2021


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi, được
thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ts. Nguyễn Huỳnh Bảo Khánh. Những thông
tin, số liệu tôi đưa ra trong luận văn là trung thực, có trích dẫn nguồn tham khảo đầy
đủ. Những phân tích, kiến nghị được đề xuất dựa trên quá trình tìm hiểu, nghiên cứu
của cá nhân, có sự tham khảo ý kiến của người hướng dẫn khoa học. Kết quả nghiên
cứu trong luận văn là trung thực và chưa được cơng bố ở bất kỳ cơng trình khoa học
nào.
NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Quý Tân


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bị can



BC

Biện pháp ngăn chặn

BPNC

Bộ luật hình sự

BLHS

Bộ luật tố tụng hình sự
Cơ quan điều tra

BLTTHS
CQĐT

Cơ quan tiến hành tố tụng

CQTHTT

Điều tra vụ án hình sự

ĐTVAHS

Điều tra viên

ĐTV

Người bào chữa


NBC

Người tiến hành tố tụng

NTHTT

Tố tụng hình sự

TTHS

Trách nhiệm hình sự

TNHS

Viện kiểm sát

VKS


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CHÍNH TRỊ - PHÁP LÝ CỦA
QUYỀN CỦA BỊ CAN THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM .............9
1.1 Cơ sở lý luận .....................................................................................................9
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định về quyền của bị can .......9
1.1.2 Phân loại các quyền của bị can ......................................................................15
1.2 Cơ sở chính trị - pháp lý .................................................................................19
1.2.1 Quyền của bị can trong luật pháp quốc tế .....................................................19
1.2.2 Hiến pháp – cơ sở pháp lý cao nhất cho việc ghi nhận và bảo vệ các

quyền của bị can .............................................................................................23
1.2.3 Nghị quyết của Đảng – chỉ đạo chiến lược cho việc cải cách và đổi mới
hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo quyền của bị can ......................................24
1.2.4 Quyền của bị can trong giai đoạn 1945 – 1988 .............................................25
1.2.5 Quyền của bị can theo pháp luật tố tụng hình sự năm 1988 ..........................27
1.2.6 Quyền của bị can theo pháp luật tố tụng hình sự năm 2003 ..........................28
1.2.7 Quyền của bị can theo pháp luật tố tụng hình sự năm 2015 ..........................30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ......................................................................................33
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN QUYỀN CỦA BỊ CAN THEO LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ HỒN THIỆN ............................34
2.1 Những kết quả đã đạt được ...............................................................................34
2.2 Những hạn chế và nguyên nhân ........................................................................49
2.3 Kiến nghị hoàn thiện..........................................................................................66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ......................................................................................77
KẾT LUẬN ............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 được Quốc
hội Khố XIII thơng qua ngày 28/11/2013 và đã có hiệu lực ngày 01/01/2014. Hiến
pháp năm 2013 đã thể hiện được ý Đảng, lòng dân, là sự kết tinh của tinh thần dân
chủ, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà
nước pháp quyền trong thời kỳ đổi mới. Đáng chú ý nhất là việc đã ghi nhận quyền
con người, cùng với quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Thế giới nói chung và
nhà nước Việt Nam nói riêng ln quan tâm hồn thiện các quy định liên quan đến
quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân, đặc biệt là quyền con người

trong các hoạt động tố tụng hình sự.
Hoạt động tố tụng hình sự là nơi quyền lực nhà nước được thể hiện rõ ràng
nhất thông qua các biện pháp cưỡng chế hình sự; cũng chính là nơi quyền con người
dễ bị xâm hại nhất. Vì lý do đó, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Người bị buộc
tội được coi là khơng có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và
có bản án kết tội của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật”. Theo Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015 thì “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo.” Do đó, Bị can được xem là người bị buộc tội, đúng với định nghĩa tại Điều 60
“Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự.”. Việc khởi tố vụ án hình
sự là khi có đủ căn cứ xác định có hành vi phạm tội, khởi tố đối với bị can bởi họ
được xác định là đã thực hiện tội phạm và khởi tố để bắt đầu tiến hành điều tra, áp
dụng các biện pháp cưỡng chế theo trình tự, thủ tục của tố tụng hình sự.
Thuật ngữ người bị buộc tội là một khái niệm đã tồn tại từ lâu trong pháp luật
tố tụng hình sự quốc tế, nhưng đây là lần đầu tiên thuật ngữ này được ghi nhận
trong pháp luật Việt Nam. Nói như vậy khơng có nghĩa là thuật ngữ người bị buộc
tội là hồn tồn mới trong pháp luật tố tụng hình sự nước ta, bởi nội hàm của thuật
ngữ này đã được thể hiện rất nhiều qua các chế định về người bị bắt, người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo. Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã có quy định phù hợp với quy
định tại Hiến pháp 2013 và dẫn giải rõ các đối tượng nào được xem là người bị
buộc tội.
Theo Hiến pháp 2013, một người chỉ được coi là có tội khi “có bản án kết tội
của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật.” Như vậy, bị can vẫn được coi là chưa có tội
cho đến khi có bản án kết tội của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, thực tế


2

thì bị can lại được xem như là người đã có tội, mặc dù pháp luật đã quy định cho họ
những quyền trong tư cách bị can nhưng những quyền đó chưa được đảm bảo thực
thi trên thực tế.

So với Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đã có
những thay đổi nền tảng, ghi nhận thêm những quyền cụ thể, tóm gọn các quyền và
đảm bảo hơn quyền lợi mà bị can cần có. Tư cách bị can bắt đầu khi có quyết định
khởi tố bị can và quyết định này đã được Viện kiểm sát phê chuẩn, kết thúc khi có
quyết định đưa vụ án ra xét xử. Một quá trình cũng rất dài và trong khoảng thời gian
đó thì quyền của bị can cần được phát huy, tuy nhiên lý do khách quan và chủ quan
mà quyền của bị can vẫn chưa được đảm bảo. Đặc biệt, trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự, các quyền của bị can bị xâm phạm rất nhiều, nó dẫn đến bức cung, ép
cung, dùng nhục hình… hoặc những biện pháp khác mà dẫn đến ý chí của bị can
ràng buộc họ nhận tội, trong khi họ có thể khơng phải là người thực hiện hành vi
phạm tội.
Việc ý niệm nhận thức bị can là người có tội, phải nhận tội cho nên những
việc làm của các chủ thể liên quan chỉ hướng đến điều đó, khơng để ý hoặc cung
cấp cho bị can những quyền mà họ có. Vì khơng biết và nhận thức được quyền mà
pháp luật tố tụng quy định nên họ luôn ở vị thế yếu, chấp nhận việc phạm tội một
cách nghiễm nhiên, không đấu tranh để bảo vệ chính mình trước sự buộc tội của chủ
thể có thẩm quyền. Điều đó làm dẫn đến rất nhiều sự việc oan, sai và nhà nước phải
bồi thường những tổn thất mà bị can phải gánh chịu khi nhận một bản án oan, sai.
Với đề tài này, tôi mong muốn làm rõ những quyền của bị can theo quy định
của luật tố tụng hình sự, đánh giá pháp luật thực định, những ưu điểm và hạn chế
của từng quy định, so sánh giữa luật tố tụng hình sự 2003 và 2015. Từ đó, có những
kiến nghị hồn thiện và một số giải pháp để bảo vệ quyền mà bị can được ghi nhận.
Quyền con người và quyền công dân là hai quyền tối cao của con người, của công
dân một quốc gia, việc bảo vệ quyền của bị can cũng chính là xuất phát từ việc bảo
vệ các quyền cơ bản của con người, của công dân.
GS.TS Nguyễn Đăng Dung đã từng nói: “Tố tụng hình sự là vùng trũng của
nhân quyền và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự chưa bao giờ là cũ
và chưa bao giờ là thiếu nhiệt”. Bị can cũng là con người, cũng là công dân của
mỗi quốc gia, cho nên họ cũng phải được đảm bảo những quyền con người, quyền
công dân mà Hiến pháp đã đề cập. Do vậy, đề tài hướng tới là “Quyền của bị can

theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” là với những lý do trên, dù chưa thể hiện hết


3

những nội dung mà đề tài hướng tới, nhưng với những nội dung trên là cơ sở để
triển khai đề tài.
2. Tình hình nghiên cứu
Người bị buộc tội nói chung hay bị can nói riêng được coi là chủ thể chính
trong tố tụng hình sự, là những người mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ rất dễ bị
xâm phạm bởi các chủ thể quyền lực nhà nước. Như đã trình bày tại phần lý do
chọn đề tài, quyền của bị can được ghi nhận nhưng vấn đề thực thi áp dụng vẫn còn
nhiều bất cập, nguyên nhân cũng xuất phát một phần từ quy định của pháp luật tố
tụng.
Hiện tại, có rất nhiều đề tài hay cơng trình nghiên cứu khoa học cũng nghiên
cứu đến vấn đề quyền này, nhưng vẫn còn hạn chế khi chỉ nghiên cứu về quyền của
người bị buộc tội nói chung bao gồm cả người bị bắt, bị cáo mà chưa có cụ thể cho
quyền của bị can (chủ thể dễ bị xâm phạm quyền nhất), một số bài viết trên tạp chí,
hội thảo như sau:
- Trần Văn Độ, “Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự - Khái quát
các tiêu chuẩn quốc tế và quy định pháp luật Việt Nam”, Hội thảo về Quyền con
người trong tố tụng hình sự, Khoa Luật Đại học Vinh, năm 2017: Nội dung bài viết
được thông tin tại buổi Hội thảo chuyên đề và được lưu thành bài viết cụ thể, phần
nội dung được tác giả đi sâu vào phân tích các tiêu chuẩn, chuẩn mực quốc tế về
quyền con người nói chung qua các Công ước quốc tế liên quan về quyền dân sự,
chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội... đồng thời, cũng phân tích nền tảng Hiến pháp
2013 về quyền con người và cơ chế bảo đảm quyền con người từ góc độ tố tụng
hình sự. Kiến nghị dưới hai góc độ là quy định của pháp luật tố tụng hình sự và bảo
đảm tuân thủ pháp luật tố tụng hình sự, nổi bật là không nên phân chia thành cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng mà nên thành chủ thể buộc tội và gỡ

tội; hoàn thiện quy định về khiếu nại, tố cáo; hướng dẫn trình tự, thủ tục ghi âm, ghi
hình, bảo quản tài liệu kết quả và nâng cao năng lực của các chủ thể tố tụng.
- Lê Huỳnh Tấn Duy, “Trực tiếp ghi nhận quyền im lặng cho người bị buộc
tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” Tạp chí Khoa học pháp lý số 03 (88)/2015:
Tác giả có sự phân tích rõ về nguồn gốc của “Quyền im lặng”, đồng thời chỉ ra các
đặc điểm của “Quyền im lặng” của người bị buộc tội theo pháp luật quốc tế và pháp
luật một số quốc gia. Đặc biệt, tác giả đề cập hiện tại pháp luật tố tụng hình sự Việt
Nam chưa ghi nhận trực tiếp “Quyền im lặng” mà chỉ nội hàm qua các quy định về
nguyên tắc xác định sự thật vụ án; quyền trình bày lời khai; trình bày ý kiến... Đồng


4

thời, tác giả cũng nhấn mạnh 02 luồng quan điểm là có nên ghi nhận trực tiếp
“Quyền im lặng” cho người bị buộc tội và lập luận chứng minh cho quan điểm của
tác giả là cần ghi nhận trực tiếp “Quyền im lặng” cho người bị buộc tội.
- Võ Thị Kim Oanh, Lê Thị Thùy Dương, “Nội luật hóa các quy định của
Công ước quốc tế về Chống tra tấn đối với hoạt động hỏi cung bị can trong tố tụng
hình sự Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, đặc san 03/2014: Dưới góc độ bài
viết, các tác giả đã phân tích các quy định tại Cơng ước quốc tế về Chống tra tấn,
liên kết qua góc độ pháp luật tố tụng hình sự đã đảm bảo cụ thể hóa các nội dung tại
Cơng ước chưa? Đồng thời, kiến nghị trực tiếp cho các quy định liên quan đến bị
can trong hoạt động hỏi cung như cụ thể hóa trường hợp khơng thể trì hỗn được
khi hỏi cung bị can, cụ thể hóa các biện pháp nghiệp vụ trong hoạt động điều tra...
- Lương Thị Mỹ Quỳnh, Nội luật hóa Cơng ước chống tra tấn về bảo đảm
quyền của người bị buộc tội trong lĩnh vực tố tụng hình sự, Tạp chí Khoa học pháp
lý, đặc san 03/2014: Nội dung đề tài được tác giả nhấn mạnh vào quy định cụ thể
của Công ước về chống tra tấn với các quyền được bảo vệ khỏi bị tra tấn, đối xử tàn
ác, quyền được khiếu nại với cơ quan có thẩm quyền và bảo vệ khỏi sự trả thù,
quyền được bồi thường tổn thất do bị tra tấn... Tác giả cũng có phân tích sự tương

thích hiện tại của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam với Cơng ước, đồng thời kiến
nghị nội luật hóa các quy định cụ thể của Công ước để đảm bảo quyền của người bị
buộc tội như quyền được giữ im lặng, quyền loại trừ chứng cứ được thu thập bởi
những hành vi tra tấn, đối xử tàn bạo, quyền được khiếu nại, bồi thường đối với
những hành vi tra tấn.
Một số cơng trình khoa học là đề tài luận văn, khóa luận, bài viết:
- Lại Văn Trình, Luận án tiến sĩ luật học “Bảo đảm quyền con người của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam”, 2011: Nội dung
cơng trình tác giả đã mở đầu và đi sâu vào đánh giá thực trạng của pháp luật tố tụng
hình sự, việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vẫn còn
những hạn chế như truy cứu trách nhiệm hình sự người khơng có tội hoặc chưa đến
mức truy cứu; q lạm dụng biện pháp tạm giam; vi phạm trong bảo đảm quyền bào
chữa; bức cung, dùng nhục hình... Từ đó, tác giả đề xuất việc bổ sung nguyên tắc
tranh tụng, hoàn thiện các nguyên tắc để bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị
cáo, xác định sự thật vụ án, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và đặc biệt là
việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn.


5

- Đoàn Thị Phương Thảo, Luận văn thạc sĩ luật học, “Địa vị pháp lý của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự”, 2012: Ở cơng trình này, tác
giả đi vào việc phân tích làm rõ địa vị pháp lý của các đối tượng là người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo, trong đó đi sâu vào làm rõ các quyền và nghĩa vụ luật định, nhận
định, đánh giá qua thực tiễn việc bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của
những chủ thể trên. Tác giả cũng có làm rõ những hạn chế hiện tại như chưa đảm
bảo quyền bào chữa, chưa ghi nhận “Quyền im lặng”, cơ chế bảo đảm quyền và
nghĩa vụ luật định... đồng thời, tác giả cũng có kiến nghị trên những hạn chế như
hoàn thiện, bổ sung các nguyên tắc tố tụng liên quan đến bảo đảm địa vị pháp lý của
bị can, bị cáo; mở rộng phạm vi người bào chữa, bổ sung một số thủ tục như thú tội.

- Đào Thị Mai Phương, Luận văn thạc sĩ luật học “Bảo đảm quyền con người
trong tố tụng hình sự đối với người bị tạm giữ, tạm giam, cơ sở nghiên cứu thực
tiễn địa bàn thành phố Hà Nội”, 2015: Trong nội dung cơng trình, tác giả có đề cập
vấn đề bảo vệ quyền con người đối với người bị tạm giữ, tạm giam của một số quốc
gia như Liên Bang Nga, Trung Quốc và Việt Nam. Một số quyền được tác giả đề
cập là quyền suy đoán vô tội, quyền không bị bắt giam, giữ tùy tiện, quyền không bị
tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vơ nhân đạo hoặc hạ nhục, do đó, tác giả đề
xuất hoàn thiện, bổ sung các quyền từ chối khai báo, trình bày lời khai, trách nhiệm
của cơ quan tiến hành tố tụng, quyền của người bào chữa, hoàn thiện quy định các
biện pháp ngăn chặn như thời hạn tạm giữ, căn cứ áp dụng tạm giam.
- Nguyễn Phi Long, Luận văn thạc sĩ luật học “Bảo đảm quyền con người của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, trên cơ sở số
liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đăk Lăk”, 2015: Đề tài này, tác giả tập trung vào các
quyền của người bị buộc tội được ghi nhận theo luật tố tụng hình sự thơng qua các
ngun tắc tố tụng, biện pháp ngăn chặn, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền bồi thường
thiệt hại để đánh giá, làm rõ cơ sở áp dụng, từ đó, lồng ghép các thực trạng trong
việc áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng, chỉ dẫn các hạn chế như nhờ người
bào chữa, việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa cịn nhiều khó khăn, thời hạn
tạm giữ cho một số trường hợp nhất định chưa đảm bảo, chưa ghi nhận nguyên tắc
tranh tụng. Tác giả đã có đề xuất hồn thiện, bổ sung ngun tắc tranh tụng, làm rõ
căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam, rút ngắn thời hạn tạm giam, bỏ biện pháp bắt
người trong trường hợp khẩn cấp hay như việc nâng cao trách nhiệm của cơ quan
tiến hành tố tụng.


6

- Và các cơng trình khác như Đồn Văn Thuận, Luận văn thạc sĩ“Đảm bảo
quyền con người của người bị tạm giữ, bị can trong điều tra”, 2010; Vũ Thị Quyên,
Luận văn thạc sĩ, “Quyền im lặng của người bị buộc tội - Nghiên cứu so sánh và

kinh nghiệm cho Việt Nam”, 2017; Nguyễn Thành Lợi, Luận văn thạc sĩ, “Hỏi cung
bị can theo luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, 2019; Nguyễn Đức Huy, Khóa luận tốt
nghiệp “Bảo vệ quyền của người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự”, 2007; Lê Thị Thu Thảo, Khóa luận tốt nghiệp “Bảo vệ quyền con người của
người bị buộc tội trong hoạt động điều tra vụ án hình sự”, 2011; Bùi Duy Hải Trân,
Khóa luận tốt nghiệp, “Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự của Hoa Kỳ về quyền
im lặng của người bị buộc tội và kinh nghiệm cho Việt Nam”, 2015.
Do đó, với đề tài này tác giả muốn đi vào cụ thể các quyền của bị can theo quy
định của pháp luật tố tụng hình sự, tại các giai đoạn có sự tham gia của bị can thì
quyền được quy định như thế nào, đã đầy đủ chưa, được thực hiện ra sao hay cần bổ
sung thêm quy định gì. Đồng thời, có những định hướng cho việc hoàn thiện các
quyền của bị can.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
 Mục đích:
- Việc nghiên cứu quyền của bị can là để làm sáng tỏ những căn cứ luật định
mà pháp luật tố tụng hình sự đã ghi nhận cho bị can, là cơ sở, tiền để để họ thực
hiện quyền của mình và từ đó có những cơ chế cho việc bảo vệ quyền của họ.
- Pháp luật thực định đã quy định quyền cho bị can nhưng việc tìm ra những
nguyên nhân dẫn đến việc không đảm bảo thực hiện được những quyền đó để có sở
cho việc cần hồn thiện quy định, quyền nào nên có và quyền nào không? Bảo đảm
bị can được biết và thực hiện được quyền mà pháp luật cho phép. Do đó, đề tài sẽ đi
sâu vào quyền của bị can theo Điều 60 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, thực tiễn áp
dụng, dẫn chứng một số vụ việc nổi cộm, tìm hiểu nguyên nhân và kiến nghị hoàn
thiện, giải pháp cho việc bảo đảm quyền của bị can.
 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích các cơ sở lý luận và chính trị - pháp lý ghi nhận quyền của bị can
trong luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Tìm hiểu và nắm bắt các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền của
bị can, từ đó đưa ra những căn cứ cho việc triển khai quyền của bị can.
- Đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng về quyền của bị can, thực tiễn áp

dụng, bất cập và đưa ra những nguyên nhân cho việc xâm phạm các quyền của bị


7

can. Từ đó, đưa ra cơ sở hồn thiện quy định của pháp luật tố tụng, nhu cầu thiết
yếu thay đổi và cơ chế cho việc bảo vệ quyền của bị can.
 Phạm vi nghiên cứu
Ở đề tài sẽ nghiên cứu theo phạm vi quy định về quyền của bị can tại Điều 60
Bộ luật tố tụng hình sự 2015, có so sánh với quy định cũ tại Bộ luật tố tụng hình sự
2003, 1988. Đánh giá các quy định và trên thực tiễn áp dụng. Quyền của bị can xét
từ giai đoạn khởi tố đến trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Từ đó, mở
rộng ra cơ chế bảo vệ các quyền của bị can theo quy định. Nghiên cứu, kiến nghị
hoàn thiện và bổ sung một số quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Về phạm vi khơng gian: Tác giả sử dụng thơng tin từ các vụ việc nổi cộm có
liên quan đến bức cung, dùng nhục hình và những vụ việc dẫn chứng cho các quy
định hiện hành đang bất cập. Kết hợp các số liệu báo cáo có liên quan chuyên
ngành.
Về phạm vi thời gian: Tác giả nghiên cứu quy định của pháp luật tố tụng hình
sự theo giai đoạn 1945 – 1988, các năm theo thời gian ban hành Bộ luật tố tụng
hình sự: 1988, 2003, 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng đề tài
 Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng ta về nhà nước và
pháp luật, về xây dựng nhà nước pháp quyền, về cải cách tư pháp và quyền con
người.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng là: phân tích, tổng hợp, lịch sử, so
sánh, thống kê...
 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng đề tài:
- Nghiên cứu vấn đề quyền của bị can để làm nổi bật những quyền mà bị can

được pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận, tìm hiểu và đánh giá những ảnh hưởng đến
việc thực hiện quyền của bị can. Vai trị của quyền của bị can trong q trình giải
quyết vụ án hình sự.
- Nhận thức tầm quan trọng về quyền của bị can, thay đổi nhận thức về bị can,
có cơ sở để bảo vệ và yêu cầu các chủ thể tiến hành tố tụng cần phải đảm bảo những
quyền mà bị can được phép thực hiện. Nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ
cho đội ngũ cán bộ thi hành pháp luật.
- Xuất phát từ việc thực thi quy định về quyền của bị can, có những đề xuất
hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng. Những quyền cần có đối với bị can,


8

phương thức thực hiện các quyền và thay đổi để phù hợp khi áp dụng pháp luật thực
tế. Nhìn nhận đúng đắn, các giải pháp và tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền của
bị can theo luật tố tụng hình sự Việt Nam.
5. Bố cục sơ bộ
Lời mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận và chính trị - pháp lý của quyền của bị can theo
luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn quyền của bị can theo luật tố tụng hình sự Việt Nam
và kiến nghị hoàn thiện
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo


9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CHÍNH TRỊ - PHÁP LÝ CỦA
QUYỀN CỦA BỊ CAN THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định về quyền của bị
can
Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông của nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh1 định
nghĩa BC như sau:
“BC là người bị khởi tố về hình sự theo luật định khi có đủ căn cứ xác định
một người thực hiện hành vi phạm tội thì CQĐT ra quyết định khởi tố BC, không ai
bị coi là BC nếu như khơng có quyết định khởi tố của CQĐT. Trách nhiệm chứng
minh thuộc về CQTHTT, luật quy định BC có quyền biết mình bị khởi tố về tội gì,
đưa ra chứng cứ và những yêu cầu, đề nghị thay đổi người phiên dịch, người giám
định theo quy định của pháp luật, tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa, có
người đại diện hợp pháp, được giao nhận bản sao quyết định khởi tố, quyết định áp
dụng biện pháp ngăn chặn, được giao nhận kết luận điều tra sau khi kết thúc điều
tra, bản cáo trạng khi VKS truy tố, có quyền khiếu nại quyết định của CQĐT, VKS,
có quyền khiếu nại nhưng không buộc phải chứng minh vô tội. Các CQTHTT phải
đảm bảo cho BC có khả năng thực hiện các quyền đó, phải có mặt theo giấy triệu
tập của CQĐT, VKS, TA. Trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng thi
BC có thể bị áp giải”. Định nghĩa này đưa ra khái niệm chi tiết và đầy đủ về BC,
quy định về nguyên tắc suy đốn vơ tội của BC, kèm với đó là các quyền và nghĩa
vụ của BC được hưởng. Một định nghĩa bao quát hết các vấn đề của BC từ tư cách
BC xuất hiện khi có quyết định khởi tố đến trách nhiệm chứng minh và cả việc đảm
bảo được sự có mặt của BC cũng như các quyền của họ. Đây là định nghĩa có sự
bao quát về BC, tuy nhiên với định lượng của một định nghĩa thì lại quá dài, không
ngắn gọn, không phân định cụ thể quyền và nghĩa vụ tách biệt của BC.
Tại Từ điển Luật học của Viện Khoa Học Pháp Lý - Bộ Tư Pháp2 thì định
nghĩa “BC là người đã bị khởi tố về hình sự” và đây cũng là khái niệm được sử
dụng thống nhất từ BLTTHS 1988. Tuy nhiên, đây không phải khái niệm đầu tiên
mà trước đó đã được đề cập trong Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 về tổ chức tịa án
và các ngạch thẩm phán. Tuy nhiên, nó chỉ đề cập đến BC như là can phạm hay
Từ điển Tiếng Việt Phổ Thơng, NXB TP.Hồ Chí Minh, 2002.

2 Từ điển Luật Học, Viện Khoa Học Pháp Lý – Bộ Tư Pháp, NXB Từ điển Bách khoa Việt
Nam, 2006.
1


10

người bị Tịa án xét xử chứ khơng hề định nghĩa rõ ràng người như thế nào thì được
gọi là BC. Khái niệm tại từ điển Luật học được sử dụng rộng rãi và ngay tại
BLTTHS 2003 vẫn sử dụng khái niệm trên. Tuy vậy, việc mới bị khởi tố về hình sự
thơi chưa đủ mà cần quan tâm đến việc có sự phê chuẩn quyết định khởi tố BC của
VKS.
Thuật ngữ BC được quy định trong BLTTHS 1988 và là văn bản đầu tiên
chính thức về TTHS đưa ra thuật ngữ BC, khái niệm này được giữ nguyên cho đến
BLTTHS 2003 tại Điều 49: “BC là người đã bị khởi tố về hình sự”, một người chỉ
bị khởi tố với tư cách BC khi có đủ căn cứ xác định người đó thực hiện hành vi
phạm tội. BC là người mà CQĐT xác định có đủ căn cứ rằng họ phạm tội và khi
được sự phê chuẩn của VKS đối với quyết định khởi tố BC thì họ chính thức được
xem là BC, được ghi nhận quyền và nghĩa vụ của BC theo quy định của pháp luật.
Tại BLTTHS 2015, cụ thể tại Điều 60 quy định: “BC là người hoặc pháp
nhân bị khởi tố về hình sự.”, có thể thấy khơng có sự thay đổi nào trong định nghĩa
mà chỉ bổ sung thêm đối tượng BC là pháp nhân để phù hợp với quy định của
BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) về chủ thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự gồm
cá nhân và pháp nhân thương mại phạm tội. Một pháp nhân có thể bị khởi tố về
hình sự khi có đủ căn cứ xác định pháp nhân đó đã thực hiện hành vi phạm tội. Một
người được coi là BC khi và chỉ khi người đó bị khởi tố hình sự. Nhà nước đã chính
thức buộc tội đối với BC thông qua quyết định khởi tố BC. Theo ngun tắc suy
đốn vơ tội, BC là người chưa bị coi là có tội, một người chỉ bị coi là có tội khi có
kết luận, bản án có hiệu lực pháp luật của Tịa án (Hiến pháp 2013). Họ có thể bị áp
dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của BLTTHS 2015 như bắt BC để tạm

giam, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh… Như vậy, từ việc đánh giá các
định nghĩa trên tác giả xin rút ra khái niệm trên cơ sở tổng hợp quy định“BC là
người hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình sự và đã có quyết định phê chuẩn của
VKS”.
 Đặc điểm của bị can:
Từ góc độ lý luận có thể thấy, người bị buộc tội là người bị các cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng có đủ căn cứ nghi ngờ họ thực hiện hành vi phạm tội.
Quyền và nghĩa vụ của người bị buộc tội là tổng hợp của các các quyền và nghĩa vụ
của người bị bắt, người bị tạm giữ, BC, bị cáo được Nhà nước quy định trong
BLTTHS. BC là người bị buộc tội và cũng có những đặc điểm riêng biệt, mang
những nét đặc trưng và tính chất riêng khác.


11

Bị can là những người đã bị khởi tố theo quyết định khởi tố BC, có thể thấy tư
cách BC chính thức được xác lập khi có quyết định khởi tố BC, đó được coi là cơ sở
cho việc thể hiện sự buộc tội của CQTHTT đối với BC và kể từ khi có quyết định
khởi tố BC thì họ được xác lập các quyền và nghĩa vụ của BC theo quy định của
BLTTHS 2015. Theo Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận: “Người bị buộc tội được
coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản
án kết tội của Tịa án đã có hiệu lực pháp luật”, như vậy, BC là người bị buộc tội
nhưng chưa bị coi là có tội. Trên cơ sở ngun tắc “suy đốn vơ tội” thì BC chưa bị
coi là có tội, theo đó họ chỉ bị coi là có tội khi được chứng minh theo trình tự luật
định và có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án. BC chỉ là đối tượng bị tình nghi
phạm tội và được coi là khơng có tội cho đến khi có bản án có hiệu lực pháp luật
của Tịa án. Do đó, BC với tư cách là người bị buộc tội nhưng không thể xem họ đã
có tội, khơng áp đặt ý chí chủ quan rằng họ là người đã thực hiện tội phạm.
Trong các hoạt động tố tụng, tư cách BC chỉ xuất hiện trong giai đoạn điều tra,
truy tố. Bởi sau khi khởi tố BC thì các hoạt động điều tra được tiến hành và BC xuất

hiện trong suốt giai đoạn ĐTVAHS cho đến khi có quyết định truy tố của VKS. Ở
giai đoạn chuẩn bị xét xử thì họ vẫn là BC nhưng chỉ trong khoảng thời gian ngắn
và khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì đã chấm dứt tư cách BC. Tuy chỉ tồn tại
ở hai giai đoạn của quá trình tố tụng nhưng lại là các giai đoạn quan trọng nhất của
một vụ án để xác định hành vi phạm tội và đặc biệt ĐTVAHS là giai đoạn có nhiều
ảnh hưởng nhất đến quyền của BC. Để đảm bảo cho các hoạt động tố tụng được tiến
hành, BC có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng theo quy định của
BLTTHS. Khi có quyết định khởi tố BC, đây là cơ sở để chủ thể có thẩm quyền có
thể áp dụng các BPNC và các biện pháp cưỡng chế khác nhằm hạn chế sự cản trở và
gây khó khăn trong q trình tiến hành các hoạt động tố tụng. Tùy theo tính chất
cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà BC có thể bị áp dụng các
biện pháp như tạm giam, bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú… BPNC làm ảnh hưởng
đến các quyền công dân của BC như quyền tự do đi lại… nhưng điều này không trái
Hiến pháp vì đó là quy định cho phép của pháp luật tố tụng.
Ngoài ra, BC được pháp luật quy định những quyền và lợi ích hợp pháp để
bảo vệ mình trước hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. BC
với tư cách người bị buộc tội được pháp luật cho hưởng các quyền như quyền tự
bào chữa và nhờ người khác bào chữa, quyền khiếu nại, quyền trình bày lời khai…
Mỗi quyền mà pháp luật tố tụng quy định cho BC đều có những giá trị và ý nghĩa


12

nhất định, để họ có thể bảo vệ chính họ nếu phát hiện có hành vi sai trái từ
CQTHTT. Tuy nhiên, để xác định được cụ thể mỗi quyền mà BC được phép thực
hiện thì phải đánh giá qua thực tiễn áp dụng pháp luật của người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng.
Trên đây là một số đặc điểm cơ bản về BC, bên cạnh các đặc điểm chung của
người bị buộc tội thì BC cũng có những đặc điểm riêng khác để có sự phân định rõ
ràng với các chủ thể tham gia tố tụng khác trong quá trình tố tụng.

 Khái niệm và đặc điểm quyền của bị can
Theo nghĩa phổ thông, quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho
được hưởng, được làm của mỗi chủ thể. Còn tại từ điển Bách Khoa Tiếng Việt của
nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa Việt Nam, nếu kết nối theo các nghĩa đơn của mỗi
từ lại sẽ thành nghĩa hoàn chỉnh, dễ hiểu như: “quyền” được hiểu là “điều mà pháp
luật hay xã hội công nhận cho được hưởng, được làm” hay “là điều cho địa vị hay
chức vụ mà được làm”3. Như vậy, từ những định nghĩa nêu trên, bước đầu có khái
niệm đơn lược về quyền của BC đó là “những việc mà pháp luật hay xã hội công
nhận cho được hưởng và được phép làm”. Mặt khác, tại từ điển Tiếng Việt phổ
thông thì lại có giải thích về "quyền" là điều mà pháp luật hay xã hội công nhận,
cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi4. Vậy, cả hai định nghĩa đều có khái niệm
chung về quyền, là những điều mà được cơng nhận, được làm, được hưởng và được
địi hỏi, nói đến "quyền" là nói đến những gì mà trong bản thân mỗi cá nhân, đó là
khả năng họ sẽ được làm điều đó, được phép làm và đã được pháp luật hay xã hội
công nhận. Quyền của BC là những quyền mà Nhà nước quy định cho phép BC
được sử dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các hoạt động tố
tụng của cơ quan có thẩm quyền, pháp luật quy định những quyền riêng cho BC để
họ áp dụng và thực thi các quyền của mình trên thực tế, tránh sự áp đặt ý chí từ các
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Với tư cách là BC, xuất hiện trong giai
đoạn điều tra, truy tố thì họ là những người dễ bị xâm phạm nhất đối với các quyền
lợi cơ bản mà pháp luật cho họ được sử dụng, nhằm hạn chế được điều đó, việc đưa
ra được khái niệm quyền của BC là việc làm hết sức cần thiết và tất yếu.
Tóm lại, có thể đưa ra một định nghĩa khái quát về quyền của BC như sau:
Quyền của BC là những điều mà pháp luật cho phép họ được hưởng, được làm khi

3
4

Từ điển Bách Khoa Việt Nam, NXB Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 2011.
Từ điển Tiếng Việt Phổ Thơng, NXB TP.Hồ Chí Minh, 2002.



13

họ mang tư cách BC và những điều họ làm sẽ được quy định và nằm trong khuôn
khổ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự.”, xuất phát từ khái niệm này, có thể
thấy quyền của BC cũng có những đặc điểm chung và riêng với quyền của người bị
buộc tội nói chung.
Quyền của BC là quyền của con người trong Tư pháp hình sự. Quyền con
người là vấn đề lý luận chính trị, pháp lý và thực tiễn phức tạp, nhạy cảm; là mối
quan tâm hàng đầu của nhân loại ở mỗi thời kỳ. Bởi thế, mỗi bước phát triển của xã
hội loài người, xét cho cùng là cuộc đấu tranh vì quyền con người. Sự hình thành và
phát triển quyền con người gắn liền với quá trình phát triển của lịch sử nhân loại
đấu tranh tự giải phóng mình. Cùng với sự phát triển về kinh tế và xã hội, nội dung
quyền con người ngày càng phong phú; pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia về
quyền con người ngày càng hoàn thiện và phát triển; nhận thức về quyền con người
của các quốc gia và các dân tộc ngày càng sâu sắc.5
Có rất nhiều quan điểm về quyền con người nói chung nhưng nhìn nhận khách
quan các quan điểm trên cùng thừa nhận những đặc điểm chung của quyền con
người với các đặc điểm cơ bản sau: Quyền con người là những giá trị vừa gắn liền
với cá nhân con người vừa gắn với lợi ích của quốc gia, dân tộc. Bởi lẽ con người
luôn đặt trong mối quan hệ với cộng đồng, dân tộc; khơng ai sống ngồi cộng đồng.
Quyền con người vừa mang tính chất tự nhiên vừa mang tính chất xã hội bởi con
người là một thể thống nhất giữa hai mặt tự nhiên và xã hội. Quyền con người có
điểm xuất phát là thuộc về tự nhiên nhưng con người tồn tại trong xã hội do đó
quyền con người mang tính xã hội và do các điều kiện xã hội quyết định. Quyền con
người vừa mang tính phổ biến, vừa mang tính đặc thù.6
Từ những đặc điểm cơ bản về quyền con người nói chung thì có thể xác định
rằng quyền con người gắn liền với cá nhân và gắn liền với sự phát triển của xã hội
của mỗi quốc gia. Các đặc điểm về quyền con người cơ bản cho thấy tính trọng tâm,

cốt yếu của quyền con người mà không phải sự sắp xếp các quyền theo thứ bậc. Nó
tạo cơ sở cho việc tạo ra các quyền trong đời sống và hoạt động của cá nhân mỗi
người hay giữa mối liên hệ giữa cá nhân với người khác, cộng đồng, xã hội và nhà
nước. Tư pháp hình sự là một lĩnh vực hoạt động đặc thù của Nhà nước, thông qua
Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo Trình Luật Tố Tụng Hình Sự, NXB CAND, 2013,
tr.22.
6 Võ Thị Kim Oanh, Đảm bảo quyền con người của bị cáo trong Bộ luật tố tụng hình sự
2003 và định hướng tiếp tục hồn thiện, Tạp chí Khoa học pháp lý số 06/2009, tr.32-33.
5


14

các cơ quan có thẩm quyền của mình nhằm thực hiện quyền tư pháp. Lĩnh vực này
mang tính nhạy cảm cao do nó tác động trực tiếp đến quyền cơ bản của công dân.
Nguy cơ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng từ
phía các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền là rất cao. Vì vậy, việc bảo vệ quyền con
người nói chung và quyền của BC nói riêng là điều hết sức cần thiết.
Quyền của BC là quyền của người bị buộc tội. Quyền con người nói chung
mang nhiều ý nghĩa nội hàm, việc thể chế hóa vấn đề quyền con người ở mỗi quốc
gia là khác nhau nhưng nó vẫn mang những đặc điểm chung thiết có của quyền con
người cơ bản.Với tư cách là người bị buộc tội họ cần phải làm sao để bảo vệ các
quyền mà họ được pháp luật quy định, hạn chế việc lạm dụng và xâm phạm các
quyền của họ từ các CQTHTT đồng thời chống lại việc buộc tội từ phía các cơ quan
có thẩm quyền. Với vị trí yếu thế khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHS và là
những chủ thể chịu nhiều bất lợi nhất do họ đang là những người bị buộc tội, pháp
luật quy định cho họ những quyền đặc trưng để họ đảm bảo việc chứng minh sự vơ
tội, tự đảm bảo quyền lợi của mình trước các hoạt động của cơ quan công quyền.
Đây là những quyền được dành cho người bị buộc tội, theo đó họ được đảm bảo các
quyền sau: quyền được “suy đốn vơ tội” bởi trên cơ sở họ là người bị buộc tội

nhưng theo ngun tắc suy đốn vơ tội thì họ khơng được coi là người có tội vì
chưa có kết luận, bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án; cơ sở tại khoản 1, Điều
31 Hiến pháp 2013: “1. Người bị buộc tội được coi là khơng có tội cho đến khi
được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tịa án đã có hiệu
lực pháp luật.”; quyền được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa để chống
lại sự buộc tội; quyền trình bày lời khai; quyền khiếu nại quyết định, hành vi có sự
vi phạm gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ...
 Ý nghĩa việc quy định quyền của bị can
Việc đảm bảo vấn đề quyền con người là điều thiết yếu và được quan tâm
hàng đầu của mỗi quốc gia. Ngoài việc mang bản chất của quyền con người nói
chung thì với tư cách người bị buộc tội, nhà nước cho BC được hưởng các đặc lợi
tối ưu nhằm hạn chế việc vi phạm pháp luật từ phía các cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng. BC với tư cách là người bị buộc tội nên từ ý chí chủ quan
của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, họ rất dễ bị xâm phạm quyền và lợi ích
hợp pháp. Đó có thể là các hành vi trực tiếp lẫn gián tiếp tác động vào BC làm cho
việc thực thi các quyền hợp pháp trở nên cấp thiết và cần quy định cho BC được
hưởng các quyền cơ bản mà BC có. Việc quy định trên mang lại ý nghĩa lớn như:


15

Một là, đảm bảo cho BC được bảo vệ bởi pháp luật và tránh được những
trường hợp có sự vi phạm từ cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, gây ra những
mất mác, tâm lý lo sợ cho BC khi bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng.
Hai là, với tư cách người bị buộc tội, BC có vị thế yếu và chưa thực sự hiểu rõ
hết pháp luật nên không biết được những việc cần phải làm để bảo vệ quyền của
mình, chứng minh cho sự vơ tội của mình trước sự buộc tội từ cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng. Bằng việc cho BC các quyền cơ bản như quyền tự bào
chữa, suy đốn vơ tội… giúp cho BC n tâm, tự tin hơn trong việc bác bỏ các quan
điểm luận tội có thể thiếu căn cứ và chưa có đủ chứng cứ để xác định hành vi của

BC là có tội.
Ba là, mỗi đặc quyền cho BC thể hiện sự nhân đạo và vai trò của Nhà nước
trong việc thực thi các quyền con người thiết thực mà mỗi cá nhân đều được hưởng.
Quyền con người là thiêng liêng bất khả xâm phạm, hoạt động tố tụng là hoạt động
rất nhạy cảm và có thể gây những nhầm lẫn hay chủ ý trong quá trình xác minh vụ
án. Vì quyền con người là yếu tố dễ bị xâm phạm nên việc xác định các quyền cơ
bản của BC trên cơ sở các quyền con người nói chung và được Hiến pháp - đạo luật
cao nhất thể hiện sự ưu tiên và bảo vệ quyền con người. Quyền của BC nằm trong
các giá trị của quyền con người và pháp luật là sự thể chế hóa các quyền trên cho
mỗi cá nhân là công dân của các quốc gia.
Bốn là, trên cơ sở có đặc quyền, BC đã giảm bớt đi một phần lo lắng, gánh
nặng, bớt căng thẳng. Bởi khi vào trạng thái là BC trong vụ án hình sự, mọi BC đều
khơng biết phải bắt đầu từ đâu và có hướng đi hợp lý nhằm chứng minh sự vô tội
của mình. Khi biết mình có quyền là những quyền lợi hợp pháp mà pháp luật cho
phép. Hiểu và vận dụng được nó thì việc giải quyết sẽ có đường đi nước bước phù
hợp đảm bảo cho quyền lợi cá nhân cũng như các quyền lợi khác trong khuôn khổ
không bị lạm dụng bởi phía cơ quan tố tụng.
Năm là, việc quy định quyền của BC là phù hợp với xu thế chung của các
nước trên thế giới. Tuân thủ các quy định của các Công ước quốc tế về quyền con
người mà Việt Nam là thành viên và ký kết. Qua đó cho thấy sự quan tâm và chú
trọng việc bảo đảm quyền của BC nói riêng và quyền con người nói chung.
1.1.2 Phân loại các quyền của bị can
Quyền của BC là những điều mà pháp luật cho phép họ được hưởng, được làm
khi họ mang tư cách BC và được pháp luật quy định cụ thể. Dưới khía cạnh là một
cá nhân, công dân của quốc gia, BC được hưởng các quyền con người, quyền cơ


16

bản của cơng dân, do đó, khi phân loại các quyền của BC sẽ dựa trên nền tảng phân

loại các quyền con người nói chung. Đặc thù là người bị buộc tội, BC sẽ có những
quyền đặc thù riêng theo tính chất của tố tụng hình sự.
 Phân loại theo chủ thể quyền
Quyền của BC là quyền của người bị buộc tội nói chung và bao quát trong đó
là quyền con người trong Tư pháp hình sự. Vì mang bản chất là quyền con người
nên BC cũng được hưởng các quyền cơ bản mà một cá nhân phải có. Quyền con
người có phạm vi và nội dung rất rộng nên thường được chia theo nhiều tiêu chí
khác nhau, việc phân chia để làm rõ hơn đặc điểm, tính chất và những đặc thù trong
việc bảo đảm mỗi loại quyền con người. Xét theo khía cạnh về chủ thể quyền con
người thì chủ thể chính là cá nhân, bởi nói đến quyền cơ bản con người là nói đến
các quyền cá nhân. Tuy nhiên, nó vẫn tồn tại quyền của các nhóm xã hội nhất định
nên khi phân loại quyền con người theo chủ thể quyền thì vẫn có đề cập đến quyền
của nhóm. Theo BLTTHS 2015, BC là người hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình
sự, do đó, có thể thấy việc phân loại các quyền của BC theo loại chủ thể quyền có
thể bao gồm quyền cá nhân hoặc quyền của nhóm, trong đó nếu BC là cá nhân sẽ
theo phạm vi quyền cá nhân, nếu là pháp nhân sẽ theo phạm vi quyền của nhóm.
Quyền cá nhân là quyền thuộc về mỗi cá nhân, bất kể họ là thành viên hay
không là thành viên của một nhóm xã hội, việc thụ hưởng quyền là theo ý chí của
mỗi cá nhân. Quyền của nhóm là những quyền đặc thù chung của một tập thể hoặc
một nhóm nhất định, để thực hiện quyền này cần phải là thành viên của nhóm hoặc
phải cùng thực hiện với các thành viên khác của nhóm, tuy vậy khơng nhất thiết
phải thực hiện một cách tập thể mà có thể thực hiện cả với tư cách tập thể hoặc cá
nhân. Hai nhóm quyền cá nhân và quyền của nhóm có sự hỗ trợ và bổ sung cho
nhau, song cũng có trường hợp mâu thuẫn nhau. Do đó, các nhóm quyền này ln
cần đảm bảo biện pháp để thống nhất và hài hòa trong giải quyết xung đột nếu có.
 Phân loại quyền theo lĩnh vực
Hiện tại, có hai Cơng ước quan trọng về quyền con người là Cơng ước về các
quyền chính trị, dân sự và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hố, đây
cũng chính là sự thể hiện phân chia quyền con người theo lĩnh vực của đời sống
nhân loại. Tùy theo nhu cầu nghiên cứu, cũng có thể chia ra thành năm nhóm nhỏ

hơn (gồm các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa), trong đó các
quyền dân sự thơng thường bao gồm quyền sống; quyền bất khả xâm phạm về thân
thể, danh dự, nhân phẩm; quyền tự do đi lại; các quyền về tài sản...); các quyền



×