Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

Căn cứ cho hưởng án treo theo luật hình sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (15.3 MB, 91 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG THỊ THU HIỀN

CĂN CỨ CHO HƯỞNG ÁN TREO
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

CĂN CỨ CHO HƯỞNG ÁN TREO
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Định hướng ứng dụng
Mã số Cn: 8380104

Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Tường Vy
Học viên: Trương Thị Thu Hiền
Lớp: Cao học luật.Khóa 01- Phú n

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021



LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan, đây là cơng trình nghiên cứu khoa học của cá nhân tôi,
chưa được công bố ở các cơng trình nghiên cứu khác, việc sử dụng tài liệu tham
khảo của tác giả khác được sử dụng trích dẫn đúng quy định. Bản án được sử dụng
để bình luận là có thật, thực tiễn trong q trình xét xử và đã có hiệu lực pháp luật
tại Phú Yên. Nếu không đúng như đã nêu, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề
tài nghiên cứu của mình.
Người cam đoan

Trương Thị Thu Hiền


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt

Viết tắt

1

Bộ luật hình sự

BLHS

2

Hội đồng thẩm phán

HĐTP

3


Hội đồng xét xử

HĐXX

4

Hình sự phúc thẩm

HSPT

5

Hình sự sơ thẩm

HSST

6

Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng Nghị quyết 02/2018
dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo

7

Tòa án nhân dân

TAND

8


Tòa án nhân dân Tối Cao.

TANDTC

9

Trách nhiệm hình sự

TNHS

Viện kiểm sát nhân dân

VKSND

10


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. CĂN CỨ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI CHO HƯỞNG ÁN
TREO.......................................................................................................................... 7
1.1. Quy định của pháp luật hình sự căn cứ nhân thân người phạm tội cho
hưởng án treo .........................................................................................................7
1.2. Thực tiễn áp dụng căn cứ nhân thân người phạm tội cho hưởng án treo ...11
1.3 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về nhân thân người phạm tội
cho hưởng án treo ................................................................................................20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................ 24
CHƯƠNG 2. CĂN CỨ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ CỦA NGƯỜI PHẠM
TỘI TRONG VIỆC CHO HƯỞNG ÁN TREO ................................................... 25

2.1. Quy định của pháp luật về căn cứ các tình tiết giảm nhẹ của người phạm
tội trong việc cho hưởng án treo .........................................................................25
2.2. Thực tiễn áp dụng căn cứ tình tiết giảm nhẹ của người phạm tội trong
việc cho hưởng án treo.........................................................................................29
2.3. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về căn cứ tình tiết giảm nhẹ cho
hưởng án treo .......................................................................................................40
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Án treo là một chế định thể hiện tính nhân đạo trong chính sách hình sự của
Đảng và Nhà nước ta. Với phương châm giáo dục kết hợp với khoan hồng, án treo
không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mà tạo điều kiện
cho họ được hòa nhập cùng cộng đồng, họ vẫn được làm ăn, sinh sống và chứng tỏ
sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong mơi trường xã hội bình thường, dưới sự
giám sát, theo dõi, giáo dục của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Án treo là một chế định tồn tại lâu dài trong khoa học hình sự Việt Nam. Lần
đầu tiên được ghi nhận trong Sắc lệnh tổ chức các Tịa án qn sự của Chủ tịch
Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa số 21 ngày 14 tháng 02 năm
1946. Theo đó, án treo được xem là một hình phạt tù được cho hưởng án treo khi có
lý do đáng được khoan hồng.
Qua q trình phát triển của pháp luật, Bộ luật hình sự (BLHS) đầu tiên của
nước ta là BLHS năm 1985 đã quy định về án treo như sau: Khi xử phạt tù không
quá 05 năm căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ nếu
xét khơng cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tịa án cho hưởng án treo.
Khi nền kinh tế phát triển, quan hệ xã hội cũng thay đổi theo, pháp luật với tư

cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ biện chứng với cơ sở
hạ tầng góp phần làm thay đổi hình thái kinh tế xã hội. Khi đó, pháp luật hình sự
điều chỉnh các quan hệ xã hội hình sự cũng thay đổi theo. BLHS năm 1999 có sự
thay đổi về điều kiện cho hưởng án treo như: Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn
cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy khơng
cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tịa án cho hưởng án treo.
Trên cơ sở kế thừa và phát huy các kinh nghiệm thực tiễn, từ việc áp dụng
pháp luật hình sự trong nước và sự học hỏi quy phạm pháp luật hình sự của quốc tế,
BLHS năm 2015 đã quy định theo hướng phù hợp hơn, về khái niệm thì khơng khác
so với quy định của BLHS năm 1999. Tuy nhiên, điều kiện để được hưởng án treo
có nhiều thay đổi, văn bản hướng dẫn chuyên ngành cũng ngày càng quy định cụ
thể, chặt chẽ hơn.
Trên thực tế hiện nay, việc áp dụng án treo rất thông dụng, phổ biến và điều
kiện áp dụng rất khắt khe, một Thẩm phán nói riêng hay Hội đồng xét xử (HĐXX)
nói chung mà cho áp dụng án treo không đảm bảo đúng các điều kiện pháp luật quy


2
định thì sẽ là điều kiện kéo dài thời gian bổ nhiệm hoặc không xem xét bổ nhiệm lại
Thẩm phán.
Hơn nữa, nghiên cứu các quy phạm pháp luật về án treo giúp cho công tác
xét xử thực tiễn đúng pháp luật, giảm tải tình trạng áp dụng án treo sai quy định
pháp luật, gây mất công bằng cho xã hội giữa các bị cáo với nhau trong việc áp
dụng hình phạt, gây ra tình trạng chạy án, oan sai, khiếu nại, tố cáo... Việc giải
quyết những vấn đề này rất mất thời gian, nhân lực và khả năng phải áp dụng Luật
bồi thường trách nhiệm Nhà nước nếu có sai phạm thì sẽ gây lãng phí kinh phí cho
Nhà nước là rất lớn. Bên cạnh đó, cịn gây ra dư luận xấu, làm giảm lịng tin của
nhân dân vào cơng lý, lẽ phải cũng như sự đúng đắn mà pháp luật mang lại cho
người dân thông qua việc xét xử của Tịa án.
Ngồi ra, thực tiễn áp dụng án treo giữa các địa phương rất khác nhau. Mặc dù

pháp luật là thống nhất, nhưng vẫn cịn tình trạng áp dụng án treo chưa đúng quy định
pháp luật. Trong đó, điều kiện để áp dụng án treo là một trong những cơ sở để HĐXX,
xem xét, đánh giá, cho hay không cho người phạm tội hưởng án treo. Rõ ràng, chế định
án treo đã có những quy định pháp luật tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng, nhưng việc
vận dụng vào thực tiễn lại có nhiều bất cập bởi nhiều nguyên nhân, nhưng hậu quả lại
tạo ra cơ chế xin cho, dễ tạo cho người phạm tội nảy sinh ý thức xem thường pháp luật
và tạo ra dư luận xã hội có nhận thức khơng tốt về chính sách hình sự.
Phú Yên là một địa phương xét xử án hình sự về nhiều loại tội phạm, theo
thống kê thì tỷ lệ cho bị cáo hưởng án treo các năm ngày càng giảm xuống (năm
2018 là 19,8%, năm 2019 là 17,1%, năm 2020 là 12,7%), liệu việc vận dụng điều
kiện để cho hưởng án treo quá khắt khe, hay do nhận thức của các Thẩm phán ngày
càng e dè trong việc áp dụng các quy định của pháp luật để cho người phạm tội
được hưởng án treo. Trên thực tế xét xử vẫn cịn tình trạng người đáng được hưởng
án treo lại không được hưởng và người không đủ điều kiện thì lại được hưởng án
treo. Như vậy, pháp luật về án treo vẫn tạo ra nhiều quan điểm, cách nhận thức dẫn
đến việc vận dụng pháp luật vẫn còn chưa thống nhất.
Việc nghiên cứu pháp luật về án treo trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh
giá về các điều kiện áp dụng án treo về mặt lý luận để có cái nhìn tổng qt, góp
phần trong cơng tác nghiên cứu. Trên cơ sở nền tảng lý luận, học viên liên hệ với
thực tiễn xét xử áp dụng pháp luật để nhận xét các vấn đề còn nhiều vướng mắc và
bất cập. Qua việc nghiên cứu, học viên mong muốn góp phần vào cơng tác thực tiễn
xét xử hiện nay để giảm tải tình trạng áp dụng sai quy định pháp luật, có hướng áp


3
dụng thống nhất pháp luật chung, đảm bảo được nguyên tắc cơng bằng trong luật
hình sự.
Đồng thời, qua việc nghiên cứu đi từ thực tiễn đối chiếu các quy định từ lý
luận về các điều kiện làm căn cứ cho hưởng án treo, tác giả mong muốn sẽ là văn
bản khoa học góp phần khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong quy định pháp luật

cũng như khắc phục tình trạng nhận thức pháp luật chưa thống nhất góp phần vào
cơng cuộc đấu tranh phịng chống tội phạm ở nước ta.
Chính vì lẽ đó, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Căn cứ cho hưởng án treo
theo Luật hình sự Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định án treo được nghiên cứu bởi nhiều cơng trình khoa học của các tác
giả khác nhau như:
2.1. Các luận án, luận văn
Luận văn thạc sỹ “Chế định án treo trong Luật hình sự Việt Nam một số vấn
đề lý luận và thực tiễn” năm 2005 của tác giả Lê Văn Luật, do giảng viên PGS.TS
Lê Cảm hướng dẫn của trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Nội dung viết về các lý
luận, sự hình thành của án treo và thực tiễn án treo tại địa phương tỉnh Quảng Trị,
theo Luật hình sự năm 1999.
Luận văn thạc sỹ “Án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam” của tác giả
Huỳnh Văn Út, năm 2013, do giảng viên TS. Trần Thị Quang Vinh, trường Đại học
Luật thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn, nghiên cứu về những vấn đề lý luận của
chế định án treo và thực trạng việc áp dụng án treo công tác xét xử ở một số địa
phương vào thời điểm BLHS năm 1999 có hiệu lực pháp luật.
Luận văn thạc sỹ “Án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam” của Hồ Thị
Phấn năm 2007, “Án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam” của Huỳnh Văn Út
năm 2013, cả hai luận văn này cùng nghiên cứu về những lý luận của chế định án
treo và thực trạng việc áp dụng án treo công tác xét xử ở một số địa phương và nêu
ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả của án treo. Tuy nhiên, hai luận văn này được
nghiên cứu trước khi có văn bản dưới luật mới hướng dẫn cụ thể về án treo là Nghị
quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 11 năm 2013 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân Tối cao. Vậy nên cho đến thời điểm hiện tại thì việc nghiên cứu về
án treo trước thời điểm văn bản này có hiệu lực đã có phần lạc hậu.
Luận văn “Án treo và thực tiễn áp dụng tại địa bàn tỉnh Hải Dương” của Phạm
Thanh Phương, Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2014. Trên cơ sở phân tích



4
những vấn đề chung về án treo, quy định của pháp luật Việt Nam về án treo, tác giả đã
nghiên cứu thực trạng áp dụng án treo trên địa bàn tỉnh Hải Dương từ năm 2007-2013.
Luận văn cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng án treo.
Luận văn thạc sỹ “Căn cứ cho hưởng án treo theo pháp luật hình sự Việt
Nam” năm 2017 của tác giả Huỳnh Thị Trinh, do giảng viên TS. Lê Tường Vy
hướng dẫn của trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung viết về hai
căn cứ để cho hưởng án treo là điều kiện về nhân thân của người phạm tội và căn cứ
xét thấy khơng cần chấp hành hình phạt tù, từ đó liên hệ với thực tiễn xét xử các
bản án hình sự tại một số địa phương. Luận văn nghiên cứu căn cứ nhân thân dựa
trên BLHS năm 2015 và Nghị quyết 01/2013 hướng dẫn áp dụng Điều 60 BLHS
năm 1999 về án treo, thời điểm này BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm
2017 (có hiệu lực từ ngày 01.01.2018), cũng như Nghị quyết 02/2018 hướng dẫn
Điều 65 BLHS về án treo chưa có hiệu lực thi hành. Do đó, các hướng dẫn ở Nghị
quyết 01/2013 có một số nội dung đã được thay đổi ở văn bản quy phạm pháp luật
mới là Nghị quyết 02/2018. Hiện nay, BLHS năm 2015 và Nghị quyết 02/2018 đã
có hiệu lực thi hành, nhưng chưa có cơng trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ các
vấn đề căn cứ áp dụng án treo theo các chính sách hình sự mới.
2.2. Các sách giáo chuyên khảo, giáo trình
Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (phần chung) của Trường Đại học Luật Hà
Nội, chủ biên GS.TS Nguyễn Ngọc Hịa.
Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (phần Chung) của Trường Đại học Luật
thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia năm 2010.
Một số cuốn sách chuyên khảo như:
Ở cấp độ bình luận khoa học, phân tích chun sâu có: “Tội phạm học, Luật
hình sự và Tố tụng hình sự” của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật; “Hình
phạt trong Luật hình sự Việt Nam” (sách chuyên khảo của tập thể nghiên cứu khoa
học của Bộ Tư pháp do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1995); “Chế
định án tích và mơ hình lý luận của nó” của GS.TSKH Lê Cảm … Và một số cuốn

sách chuyên khảo như “Án treo trong Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Phạm Thị
Học, Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 1996; “Chế định án treo trong
Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Lê Văn Luật do Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành
năm 2007… Trong các cuốn bình luận khoa học Bộ luật hình sự và cuốn sách
chuyên khảo nên trên, các tác giả chỉ mới dừng lại ở đề cập một cách tổng thể hoặc
từng khía cạnh nào đó của chế định án treo.


5
Ngồi ra, cịn một số bài viết đăng trên các Tạp chí như: “Nhân thân người
phạm tội và việc áp dụng biện pháp án treo” của Vũ Thế Đoàn, đăng trên Tạp chí
Tịa án nhân dân, số 61/1990; “Điều kiện thử thách của án treo và hậu quả pháp lý
của việc vi phạm điều kiện thử thách của án treo theo Luật hình sự Việt Nam”, của
Phạm Thị Học, đăng trên tạp chí Luật học, số 2 năm 1999; “Án treo và thực tiễn áp
dụng”, của Đỗ Văn Chỉnh, đăng trên tạo chí Tịa án nhân dân, số 7/2007 và các số
12, 13, 14/2013. Các cơng trình nghiên cứu nêu trên đã làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận và thực tiễn về án treo trong Luật hình sự Việt Nam.
Tuy nhiên, nghiên cứu, đánh giá các điều kiện về nhân thân và tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) để làm điều kiện cho hưởng án treo theo quy định
của BLHS năm 2015 và Nghị quyết 02/2018 thì chưa có tác giả nào đi sâu nghiên
cứu. Đồng thời việc ứng dụng lý luận vào thực tiễn giải quyết trong cơng tác xét xử
tại Phú n thì chưa có cơng trình khoa học nào nghiên cứu và ứng dụng. Đó là lý do
tác giả muốn chọn đề tài, để góp phần vào cơng tác xét xử thực tiễn tại địa phương.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu dưới góc độ khoa học các vấn đề lý luận căn cứ về nhân
thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS của chế định án treo, các điều kiện được hưởng
án treo và phần lớn các bản án được phân tích về thực trạng có nguồn là thực tiễn
xét xử tại Phú Yên. Qua đó nhận diện các vấn đề cịn bất cập, vướng mắc để có
hướng đề xuất áp dụng thống nhất văn bản pháp luật, đảm bảo ngun tắc cơng
bằng cho cơng dân, góp phần đấu tranh, phòng, chống tội phạm.

4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn giới hạn nghiên cứu hai căn cứ cho hưởng
án treo trong Luật hình sự Việt Nam đó là căn cứ nhân thân và căn cứ các tình tiết
giảm nhẹ TNHS. Nghiên cứu các vấn đề về lý luận, các quy định của pháp luật về
án treo. Trên cơ sở nền tảng lý luận, tác giả phân tích các bản án từ thực tiễn áp
dụng chế định án treo để có cơ sở bình luận, đánh giá, so sánh và đối chiếu lý luận
với thực tiễn.
Phạm vi nghiên cứu: Về lý luận tác giả nghiên cứu chế định án treo theo
BLHS 2015; Thực tiễn: Tác giả sử dụng phương pháp nhận xét, đánh giá trên cơ sở
nghiên cứu khoa học các bản án đã có hiệu lực pháp luật được đăng trên cổng thông
tin điện tử công bố bản án (congbobanan.toaan.gov.vn) của Tòa án nhân dân trên
phạm vi cả nước Việt Nam, nhưng phần lớn bản án được ứng dụng phân tích là tại
địa phương tỉnh Phú Yên.


6
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử theo quan điểm triết học của chủ nghĩa
Mac-Lenin; Đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương
pháp tổng hợp, liệt kê, phân tích, so sánh, đánh giá, ...Theo bố cục nêu vấn đề, diễn
đạt các quy định pháp luật trên cơ sở đó đánh giá và kết luận vấn đề.
Ngồi ra, tác giả cịn sử dụng các bản án thực tiễn xét xử của các Tòa án, trên
cơ sở đánh giá, nhận xét và đối chiếu với lý luận từ các quy định của pháp luật, từ
đó kết luận vấn đề cần nghiên cứu, đề ra các kiến nghị theo hướng xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật, mang lại giá trị khoa học nghiên cứu ứng dụng cao.
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Về mặt khoa học: Luận văn góp phần bổ sung và hồn thiện các cơ sở lý luận
đối với chế định áp dụng án treo trong pháp luật Hình sự Việt Nam. Đồng thời luận
văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học

Luật hình sự đối với các cơng trình nghiên cứu khoa học khác.
Về mặt thực tiễn: Từ vấn đề lý luận cho đến thực tiễn áp dụng, tác giả nêu ra
những đề xuất để đảm bảo thi hành quy định của pháp luật hình sự về án treo được
hồn thiện, thống nhất. Nhằm nâng cao chất lượng hoạt động xét xử thực tiễn, góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động của cơng tác đấu tranh, phịng, chống tội phạm,
cũng như cơng tác dự đoán tội phạm trong tương lai.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục thì nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1. Căn cứ nhân thân người phạm tội cho hưởng án treo.
Chương 2. Căn cứ các tình tiết giảm nhẹ của người phạm tội trong việc cho
hưởng án treo.


7
CHƯƠNG 1
CĂN CỨ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI CHO HƯỞNG ÁN TREO
1.1. Quy định của pháp luật hình sự căn cứ nhân thân người phạm tội
cho hưởng án treo
Tại cuốn Từ Điển Luật Học1 của Bộ Tư pháp Viện khoa học pháp lý có giải
thích nhân thân người phạm tội là “Tổng hợp những đặc điểm riêng về mặt xã hội
hoặc có ý nghĩa về mặt xã hội của người phạm tội, những đặc điểm nhân thân đó có
thể là: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, có án tích (tái phạm, tái phạm nguy hiểm…),
trình độ văn hóa, hệ thống giá trị, thái độ…”
Vậy chúng ta có thể hiểu thuật ngữ về nhân thân là tất cả những đặc điểm
mang tính tổng hịa chung như độ tuổi, giới tính, thái độ chính trị, ý thức chấp
hành pháp luật…Được thể hiện là khả năng tự cải tạo, tự giáo dục và ý thức chấp
hành pháp luật của một cá nhân mà thông q đó, Tịa án khi xét xử dùng làm
căn cứ để làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và giúp
cho việc lượng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội

của hành vi.
Việc giải thích từ ngữ này góp phần vào việc quy định trong các văn bản
pháp luật về chế định án treo cũng như làm cho người đọc đi từ cái hiểu cơ bản của
thuật ngữ về nhân thân đến việc áp dụng đó là điều kiện để cho hưởng án treo.
Chế định án treo lần đầu tiên được quy định tại Sắc lệnh số 33C ngày
13/9/1945 của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ Cộng Hịa quy định “nếu có
những lý do chính đáng khoan hồng vì ít tuổi, vì biết hối q, vì lầm lẫn vv…, thì
Tịa án có thể cho tội nhân được hưởng án treo. Nghĩa là bản án làm tội tuyên lên,
nhưng không thi hành”2.
Với nội hàm chứa đựng việc hiểu án treo là một hình phạt nhưng khơng thi
hành vì những lý do đáng được khoan hồng. Pháp luật hình sự Việt Nam thời bấy
giờ quy định khá đơn giản về hình phạt, bởi ý nghĩa việc xử phạt tội phạm chỉ dành
cho những kẻ phản bội nhà nước. Các loại tội phạm khác khơng mang tính nguy
hiểm và chưa mang tính chất tinh vi nên chính sách pháp luật không quy định kiểu
liệt kê, nêu rõ ràng, cụ thể các căn cứ là điều kiện để áp dụng án treo. Do đó, yếu tố
nhân thân người phạm tội (hay cịn gọi là tội nhân) khơng là căn cứ để đánh giá cho
Nhân thân người phạm tội – Cuốn Từ Điển Luật Học của Bộ Tư pháp viện khoa học pháp lý, tr.588.
“Điều IV: Án tù có thể tuyên” trong Pháp lệnh số 33C ngày 13/9/1945 của Chính phủ lâm thời Việt Nam
Cộng Hòa.
1
2


8
hưởng án treo hay không, mà phụ thuộc vào đánh giá của Tòa án về các nguyên
nhân, kết quả của việc phạm tội có đáng được khoan hồng hay khơng?
Đến pháp luật hình sự năm 1985 quy định án treo là biện pháp miễn chấp
hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 44 BLHS năm 1985 thì điều
kiện để được hưởng án treo đó là “Khi xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào
nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy khơng cần

phải chấp hành hình phạt tù, thì Tịa án cho hưởng án treo…”
Bản thân căn cứ nhân thân là một trong những điều kiện để được xem xét khi
lượng hình để cho hưởng án treo. Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp
luật hình sự lại chưa có văn bản nào cụ thể rõ ràng, giải thích nhân thân người phạm
tội là như thế nào. Do đó, theo tư duy và thói quen áp dụng pháp luật của Thẩm
phán đối với bị can, bị cáo ngoài các điều kiện để hưởng án treo cịn phải đáp ứng
điều kiện có nhân thân tốt.
Tại Điều 60 BLHS năm 1999 quy định “Khi xử phạt tù không quá ba năm,
căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy
khơng cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn
định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm”.
Trong BLHS năm 1999 cũng chưa quy định mang tính cụ thể, rõ ràng trong
Điều 60 mà vẫn quy định tính chung chung, dẫn đến thực tiễn các Thẩm phán khi
xét xử lại vận dụng theo hai hướng khác nhau:
Hướng thứ nhất: Nhân thân để áp dụng án treo đó là người phạm tội phải có
nhân thân tốt, ngồi lần phạm tội này trước đó chưa hề có tiền án, tiền sự hay bất kỳ
nhân thân nào khác (kể cả việc xử phạt vi phạm hành chính), cho dù đã xóa án tích
vẫn được tính là có nhân thân xấu. Như vậy, đương nhiên người phạm là người giúp
sức trong vụ án đồng phạm, có vai trị khơng đáng kể, đã từng có nhân thân xấu do
vi phạm pháp luật dù đã được xóa án tích và hội đủ các yếu tố khác như phạm tội
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có khung hình phạt cao nhất đến 03 năm tù… Thì
vẫn khơng được hưởng án treo. Đối với các trường hợp này, khi xét xử các Thẩm
phán thường lách quy định này bằng cách cho người phạm tội hưởng mức hình phạt
cải tạo khơng giam giữ với mức hình phạt cao hơn. Do đó, việc áp dụng pháp luật
lại khơng đảm bảo đúng tinh thần thượng tôn pháp luật, đúng mức độ, tính chất của
người phạm tội và nguyên tắc về lẽ công bằng trong pháp luật.
Hướng thứ hai: Nhân thân để áp dụng án treo phải là người có nhân thân tốt,
là ngồi lần phạm tội này, người phạm tội khơng phạm bất kỳ tội nào khác hoặc đã



9
phạm tội nhưng đã được xóa án tích theo quy định của BLHS. Như vậy, việc xóa án
tích thì khơng được xem là có tiền án, tiền sự là đúng với quy định của pháp luật.
Nhưng đây có được xem là có nhân thân tốt, để cho hưởng án treo. Vấn đề đặt ra
rằng, việc hưởng án treo giữa một người ln chấp hành các quy định, chính sách
pháp luật của Nhà nước, hồn tồn có lý lịch sạch và một người đã từng phạm tội
nhưng được xóa án tích cùng phạm một tội, cùng khung hình phạt, khi quyết định
mức hình phạt thì việc cho hưởng án treo có được áp dụng đều cho cả hai là đảm
bảo nguyên tắc công bằng và ổn định được pháp chế xã hội hay không?
Tác giả đồng ý với quan điểm thứ hai. Ý nghĩa của chính sách hình sự quy
định tại Điều 31 BLHS năm 2015 “Hình phạt khơng chỉ nhằm trừng trị người, pháp
nhân pháp tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của
cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại
khác tôn trọng pháp luật, phịng ngừa, đấu tranh chống tội phạm”.
Trong các chính sách hình sự ý nghĩa của hình phạt ngồi tính trừng trị tội
phạm, còn hướng đến việc giáo dục ý thức pháp luật của người phạm tội. Nhà
nước ta là Nhà nước theo chế độ chính trị Xã hội chủ nghĩa. Mục đích mà Nhà
nước xây dựng là một chế độ xã hội mà mọi cơng dân đều bình đẳng với nhau và ý
thức pháp luật được đặt lên hàng đầu, khơng cịn nhà tù, hay việc trừng trị người
phạm tội nữa. Chính vì vậy Nhà nước ta ln ưu tiên việc giáo dục người phạm tội
cũng như ý thức tuân theo pháp luật lên hàng đầu, nên ln có những chính sách
khoan hồng trong các quy định hình sự về chế định hình phạt, cũng như việc quy
định về xét miễn giảm chấp hành án, ân xá, đặc xá, đại xá. Thiết nghĩ, một cá nhân
vì lầm lỡ mà phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và phạm tội lần đầu,
trong vụ án với vai trò là đồng phạm giản đơn nhưng không thuộc trường hợp
được hưởng án treo vì trước đó có nhân thân đã từng phạm tội, mặc dù đã được
xóa án tích. Điều này khơng đạt được mục đích giáo dục ý thức tuân theo pháp
luật của người phạm tội cũng như không đáp ứng được u cầu đấu tranh, phịng,
chống tội phạm.
Ví dụ: Một người vì tham gia giao thơng đường bộ, vì những tai nạn khơng

lường trước thì lần phạm tội sau mặc dù đã được xóa án tích vẫn khơng được
hưởng án treo.
Như vậy, quy định của pháp luật hướng dẫn có trái với chính sách chung của
hình sự về sự khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước và pháp luật muốn hướng đến
việc giáo dục ý thức người phạm tội. Tại Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP ngày


10
04/8/2000 của HĐTP-TANDTC giải thích từ ngữ về hướng dẫn áp dụng BLHS năm
1999, nhưng không hướng dẫn cụ thể, rõ ràng thế nào là nhân thân.
Đến Nghị quyết 01/2013 về hướng dẫn Điều 60 áp dụng án treo của BLHS
năm 1999 có hướng dẫn về nhân thân tốt như sau: “ngồi lần phạm tội này họ ln
tơn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, công tác, không vi phạm các điều mà pháp
luật cấm, chưa bao giờ bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, bị xử lý kỷ luật.
Trường hợp người có án tích nhưng đã được xóa án tích, được đương nhiên xóa án
tích thì coi như chưa bị kết án; đã bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đã hết
thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật, nhưng khơng
phải là có nhân thân tốt”3. Tại thời điểm này, không phải xuất phát từ quy định của
BLHS mà từ những hướng dẫn của văn bản áp dụng pháp luật cũng như sự vận
dụng áp dụng pháp luật của người thực hành tư pháp đã vơ hình dung dẫn đến sự
thống nhất về thuật ngữ “nhân thân tốt” và việc ngầm hiểu các trường hợp không
được áp dụng án treo khi có “nhân thân xấu”.
Khi các Nghị quyết sau ra đời, phần nào xóa bỏ nhiều quan điểm áp dụng
pháp luật khơng có lợi cho người phạm tội, chứ chưa có quy định rõ ràng, chi tiết,
để hướng đến một cách hiểu và áp dụng thống nhất pháp luật về án treo.
BLHS năm 2015 khi ra đời không quy định mới, khác so với BLHS năm
1999 về án treo. Tại điều 65 BLHS năm 2015 quy định “Khi xử phạt tù không quá
03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét
thấy khơng cần phải chấp hành hình phạt tù, thì Tịa án cho hưởng án treo…”

Do việc hiểu và áp dụng quy định pháp luật không thống nhất, để tránh sự tùy
tiện trong áp dụng pháp luật và đảm bảo nguyên tắc lẽ công bằng đồng thời để khắc
phục những thiếu sót trước đó, thì Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5
năm 2018 của HĐTP-TANDTC ra đời hướng dẫn có phần chi tiết, cụ thể hơn về
Điều 65 BLHS về án treo. Theo đó, một người có nhân thân tốt được hiểu “ngoài
lần phạm tội này, người phạm tội ln chấp hành đúng chính sách, pháp luật và
thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc. Đối với
những người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là khơng có án tích,
người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người bị xử lý kỷ luật tính đến ngày
phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới
Điểm b, Khoản 1 Điều 2, Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối
cao ngày 06/11/2013 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 60 của BLHS về án treo.
3


11
được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng
phạm có vai trị khơng đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có
thể cho hưởng án treo”4.
Từ quy định của pháp luật, chúng ta có thể hiểu nhân thân được đánh giá là
khả năng tự cải tạo, tự giáo dục và ý thức chấp hành pháp luật của một cá nhân.
Thực tiễn xét xử cho thấy một tội phạm có nhân thân tốt thể hiện bằng việc có thái
độ ăn năn, hối lỗi sau khi phạm tội, thì việc chấp hành hình phạt và việc tự cải tạo,
lao động, học tập và trở thành cơng dân có ích cho xã hội, cũng như việc tái hòa
nhập với cộng đồng sau khi chấp hành hình phạt cũng dễ dàng hơn. Từ đó, ý nghĩa
của việc quyết định hình phạt mang tính răn đe và giáo dục được đảm bảo hơn.
1.2. Thực tiễn áp dụng căn cứ nhân thân người phạm tội cho hưởng án treo
Lý luận mà khơng có thực tiễn là lý luận sng, thực tiễn mà khơng có lý
luận là thực tiễn mù quáng. Lý luận về án treo đã có, nhưng thực tiễn vận dụng lại
chỉ ra nhiều điều còn chưa ổn.Việc hướng dẫn áp dụng quy định của án treo càng

ngày càng thắt chặt hơn thông qua các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật, nhưng
trên thực tiễn việc vận dụng chế định này còn nhiều bất cập, thiếu thống nhất, tạo cơ
chế và lối mịn áp dụng pháp luật khơng tốt, trong đó có hai vấn đề về nhân thân tác
giả muốn nêu ra đó là việc người phạm tội đã được xóa án tích có được tính là có
nhân thân tốt tương đương với người khơng có án tích, khơng có nhân thân xấu để
lượng hình xem xét cho hưởng án treo và đối với trường hợp đánh giá ý thức chấp
hành pháp luật của người phạm tội ở nơi cư trú được áp dụng như thế nào, có nên
quy định căn cứ này vào pháp luật hay không, cụ thể như sau:
Nhận xét và đánh giá bản án thứ 01:
Nguồn: Bản án hình sự phúc thẩm số 41/2019/HS-PT ngày 19/7/2019 của
Tịa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Nội dung vụ án: Các bị cáo có kháng cáo:
1. Lưu Văn P ( tên thường gọi Lưu Vĩnh P), sinh ngày 01/02/1960; nơi cư
trú: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn
hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tơn giáo: Khơng; quốc tịch: Việt Nam;
con ơng Lưu Văn H1 (đã chết) và bà Phạm Thị T (đã chết); vợ: Nguyễn Thị T; có
02 con; tiền án, tiền sự: Khơng; nhân thân: tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/HSST
ngày 24/4/1992, Tòa án nhân dân (TAND) huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 06
Khoản 2, Điều 2, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 60 của BLHS về án treo.
4


12
(sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trốn khỏi nơi giam”; tại Bản án hình sự sơ
thẩm số 12/HSST ngày 22/7/1992, TAND huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 12
(mười hai) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; tại Bản án hình sự
sơ thẩm số 07/HSST ngày 20/7/2004, TAND huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 09
(chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày
05/12/2018 cho đến ngày 14/12/2018 được thay thế biện pháp ngăn chặn, bị cáo tại

ngoại (có mặt).
2. Lưu Văn H, sinh ngày 07/7/1974; Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh
Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới
tính: Nam; Tơn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lưu Văn M (đã chết)
và bà Nguyễn Thị Đ; Vợ: Bạch Thị S; Có 03 con; Tiền án, tiền sự: Khơng; Nhân
thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/HSST ngày 03/7/2006, TAND huyện T, tỉnh
Vĩnh Phúc xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”; bị cáo bị bắt
tạm giữ từ ngày 05/12/2018 cho đến ngày 14/12/2018 được thay thế biện pháp ngăn
chặn, bị cáo tại ngoại (có mặt).
Về nội dung vụ án: Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 05/12/2018, Lưu Văn P
đang ở nhà thì Nguyễn Ngọc C đi bộ đến nhà P chơi, sau đó Hồng Văn T và Lưu
Văn H ở cùng thơn cũng đi bộ đến nhà P. Cả bốn người ngồi uống nước tại bàn ở
phòng khách. Trong lúc ngồi chơi uống nước, P rủ C, T và H “có làm tý thì làm”,
tất cả đều hiểu ý P rủ mọi người đánh bạc ăn tiền nên đã đồng ý. P đi ra ngoài lấy
01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã cũ để ở bồn hoa trước thềm nhà đem vào rồi cùng C,
T, H đi lên tầng 2 vào phịng ngủ của gia đình P và cùng ngồi xuống chiếc chiếu
nhựa đã được trải sẵn ở dưới nền nhà để đánh bạc. Cả nhóm thống nhất đánh bạc
bằng hình thức đánh phỏm. Quá trình điều tra xác định: Khi đánh bạc Lưu Văn P sử
dụng số tiền 2.100.000đ, Lưu Văn H sử dụng số tiền 2.450.000đ; Nguyễn Ngọc C
sử dụng số tiền 2.350.000đ; Hoàng Văn T sử dụng số tiền 2.300.000đ. Tổng số tiền
các bị cáo dùng để đánh bạc là 9.200.000đ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2019/HS-ST ngày 22 tháng 3 năm 2019
TAND huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định: Tuyên bố các bị cáo Lưu Văn P,
Lưu Văn H, Nguyễn Ngọc C và HoàngVăn T phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015, xử
phạt Lưu Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày
05/12/2018 đến ngày 14/12/2018.



13
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của
BLHS năm 2015, xử phạt Lưu Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian
tạm giữ từ ngày 05/12/2018 đến ngày 14/12/2018.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xử phạt Nguyễn Ngọc C và Hoàng Văn T.
Ngày 22/3/2019 bị cáo Lưu Văn P và bị cáo Lưu Văn H kháng cáo xin giảm
khung hình phạt tù và xin hưởng án treo.
Bản án phúc thẩm nhận định và xét xử:
Trong vụ án này bị cáo P có nhân thân xấu nhưng khơng có tiền án, tiền sự.
Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo với mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù, cao gấp
đôi so với đồng phạm khác là C và T là có phần nghiêm khắc.
Q trình chuẩn bị xét xử Phúc thẩm bị cáo P cung cấp cho Tòa án tài liệu
mới là bố, mẹ bị cáo được Hội đồng bộ trưởng (Chính phủ) tặng bằng khen do “Đã
góp sức vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”, bản thân bị cáo tham gia nghĩa
vụ quân sự tại biên giới phía Bắc 8 năm (từ năm 1979 đến năm 1987) về phục viên
tại địa phương nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ
TNHS theo khoản 2 Điều 51 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, song
vẫn phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và
phịng ngừa chung.
Q trình chuẩn bị xét xử Phúc thẩm bị cáo H cũng xuất trình được tài liệu
thể hiện bố bị cáo là người có cơng với cách mạng và được Nhà nước tặng thưởng
Huy chương kháng chiến hạng nhất nên bị cáo được hưởng thêm một tình tiết giảm
nhẹ TNHS theo khoản 2 Điều 51 BLHS, HĐXX Phúc thẩm thấy nên mở lượng
khoan hồng cho bị cáo, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo có sự
giám sát của chính quyền cũng đủ giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS năm
2015: Xử phạt Lưu Văn P 01 (một) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ
ngày 05/12/2018 đến ngày14/12/2018.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS
năm 2015: Xử phạt Lưu Văn H 01(một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử
thách là 02 (hai) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án Phúc thẩm.
Nhận xét đối với bị cáo H: Qua việc xét xử của cấp sơ thẩm, tác giả nhận
thấy rằng, thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã đánh giá căn cứ nhân thân của bị cáo Lưu


14
Văn H như sau: Bị cáo H khơng có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bị cáo có 01 nhân thân
là: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/HSST ngày 03/7/2006, TAND huyện T, tỉnh
Vĩnh Phúc xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Mặc dù, bị cáo
đã chấp hành xong bản án và đã hết thời hạn để được xem đương nhiên xóa án tích
theo Điều 64 BLHS năm 1999, trong vụ án bị cáo phạm tội với vai trò là đồng phạm
giản đơn, khơng có chủ đích, bàn bạc, tổ chức và chuẩn bị các công cụ, phương tiện
để thực hiện hành vi đánh bạc, quá trình tham gia tố tụng bị cáo thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải nên được HĐXX sơ thẩm quyết định áp dụng điểm s khoản 1
Điều 51 của BLHS năm 2015, xử phạt Lưu Văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Bị cáo H, có nhân thân tốt, khơng có tiền án tiền sự, tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm
hiểu rằng, việc bị cáo H có nhân thân thân đánh bạc vào năm 2006 là nhân thân xấu,
không “sạch” và ngầm hiểu rằng khơng thể cho hưởng án treo, nên tun hình phạt
bằng mức án tù. Mặc khác, theo pháp luật hình sự, cũng như các văn bản hướng dẫn
hiện hành thì khơng có văn bản nào chỉ ra rằng, bị cáo phạm tội, đã được xóa án
tích thì coi là có nhân thân xấu cả.
Điều 69 BLHS năm 2015 quy định: “Người bị kết án được xóa án tích theo
quy định tại các điều từ Điều 70 đến Điều 73 của bộ luật này. Người được xóa án
tích coi như chưa bị kết án”.
Như vậy, cách xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm và đa số các Thẩm phán của
các Tòa án hiện nay đều ngầm hiểu việc xóa án tích của một người được đưa vào
nhân thân của người phạm tội thì coi như có nhân thân xấu, điều đó là căn cứ đánh
giá ý thức chấp hành pháp luật, thái độ tôn trọng pháp luật cũng như khả năng cải

tạo của người phạm tội khơng có. Mặc dù, q trình phạm tội người này ln chấp
hành đúng pháp luật, luôn thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải. Bị cáo chỉ
mang số tiền 2.450.000 đồng để đánh bạc, đối với một số tội phạm về xâm phạm sở
hữu thì mức khởi điểm của mức phạt hình sự chỉ là 2.000.000 đồng. Nếu dưới
2.000.000 đồng mà không kèm các căn cứ điều kiện khác thì chỉ bị xử phạt hành
chính. Trong trường hợp này Điều 321 BLHS năm 2015 đã quy định:
“Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng
tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới
5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành
vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà cịn vi phạm,
thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam
giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”


15
Căn cứ theo câu 13, mục I của giải đáp số 89/TANDTC-PC của TANDTC
hướng dẫn thì: “Đối với vụ án đánh bạc, Tòa án căn cứ vào tổng số tiền thu được
hay số tiền mỗi bị cáo dùng đánh bạc để xem xét trách nhiệm hình sự và quyết định
hình phạt đối với mỗi bị cáo? – Trường hợp này, tùy vào vụ việc cụ thể mà xác định
trách nhiệm hình sự và mức hình phạt của các bị cáo. Cụ thể: đối với trường hợp
các bị cáo cùng đánh bạc với nhau (như đánh phỏm, đánh chắn, đánh liêng, đánh
sâm…) thì căn cứ vào tổng số tiền thu trên chiếu bạc (tổng số tiền dùng vào việc
đánh bạc) để xem xét trách nhiệm hình sự; số tiền mỗi bị cáo dùng vào việc đánh
bạc là một trong những căn cứ để Tịa án xem xét, đánh giá tính chất và mức độ
nguy hiểm của tội phạm khi quyết định hình phạt đối với mỗi bị cáo; …”5.
Như vậy, trong vụ án nêu trên tổng số tiền đánh bạc là 9.200.000 đồng, nên
các bị cáo bị xét xử về tội đánh bạc là phù hợp với quy định của pháp luật. Nhưng
xét đến vai trò từng cá nhân phạm tội, để cá thể hóa hình phạt, giúp phân hóa tội
phạm và quyết định hình phạt cho từng cá thể thì bị cáo H không phải là người rủ
rê, chuẩn bị công cụ, địa điểm, phương tiện để cho các con bạc đánh bạc và việc

đánh bạc chỉ mang theo số tiền nhỏ. Bị cáo H tham gia vụ án với vai trò đồng phạm
giản đơn, cùng cấu kết để thực hiện chung một tội phạm (tội đánh bạc), khơng có sự
câu kết chặt chẽ, khơng có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, khơng có tình tiết
tăng nặng TNHS. Lẽ ra, bị cáo phải được hưởng án treo là phù hợp với tính chất,
mức độ phạm tội cũng như hành vi của bị cáo, cũng là phù hợp với các quy định của
pháp luật hiện hành. Nhưng, cách mà Tịa án sơ thẩm vận dụng vào tình tiết nhân
thân của người phạm tội cũng như đa số các Tòa án khác ngầm hiểu, chịu ảnh
hưởng ăn sâu về tiềm thức khái niệm về nhân thân xấu – nhân thân không tốt của
người phạm tội để làm căn cứ, đánh giá về bản thân, ý thức chấp hành pháp luật,
thái độ chính trị của người phạm tội, để cho rằng họ khơng có khả năng cải tạo bản
thân. Trong khi chính sách hình sự Nhà nước ta khơng chỉ hướng đến việc trừng trị
mà còn hướng đến sự giáo dục. Đảng và Nhà nước ln tạo các chính sách khoan
hồng để người phạm tội khơng vì lầm lỡ mà sa đọa, mất niềm tin vào cuộc sống.
Mặt khác, họ có ý thức vào pháp luật, an tâm cải tạo mà tái hịa nhập cộng đồng.
Bởi vì lẽ đó, một cá nhân chưa đến mức phải cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội vì
một phút lầm lỡ, mà đánh giá bản thân họ khơng có ý thức pháp luật, không thể cải
tạo, giáo dục bằng biện pháp khác là chưa thật cơng bằng, thỏa đáng.
Trích yếu câu 13 mục I Hình sự của giải đáp số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tịa án nhân dân Tối
Cao về việc thơng báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vấn đề vướng mắc trong xét xử.
5



×