NGƯỜI LÁI ĐỊ SƠNG ĐÀ
ĐỀ I: Hình tượng sơng Đà.
I. Mở bài: + “ Tây Bắc ư? Có riêng gì Tây Bắc
Khi lịng ta đã hóa những con tàu
Khi Tổ Quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây bắc chứ còn đâu!”
Những câu thơ như còn vẹn nguyên tiếng gọi và sức cuốn hút lạ lùng của mảnh đât TB từ những
năm 58-60 của thế kỉ trước. Nghe theo tiếng gọi ấy,cùng vào bao nghệ sĩ khác, nhà văn NT đã lên đường
với cảm hứng đi tìm kiếm cái chất vàng của núi sông TB và chất vàng 10 trong tâm hồn người lao động
đang ngày đêm dựng xây TQ. Và con sơng TB đã trao tên mình cho tập tùy bút của NT, tùy bút “ Sông
Đà”. “ Người lái đị sơng Đà” là thiên tùy bút tiêu biểu nhất của thành quả lao động NT ấy. Và dù sau
này, có bao người đã kể, đã viết, đã hát về sơng Đà thì vẫn khơng ai vượt được NT trong việc biến dịng
sơng ấy trở thành một hình tượng NT bất hủ.
II. Thân bài:
1. Giới thiệu chung:
* Tác giả: Nguyễn Tuân là một tên tuổi lớn, là nhà văn độc đáo vào bậc nhất trong văn học VN hiện đại.
Ơng được coi là một “đinh nghĩa đích thực về người nghệ sĩ”. Ông để lại dấu ấn trong văn học bởi một
phong cách tài hoa, uyên bác và độc đáo. Trước CM, nhà văn thường đi tìm kiếm vẻ đẹp ở một thời đã xa
nay chỉ còn vang bóng. Sau CM, ta vẫn gặp lại một NT tài hoa, uyên bác , độc đáo song ko phải một
Nguyễn Tuân ưa “xê dịch” mong khỏa lấp nỗi sầu vì “thiếu quê hương” mà là một NT thiết tha gắn bó
với cuộc sống, với đất nước, con người
*Tác phẩm : Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác: Nếu mở bài chưa nêu
* Hình tượng: Trong bài tùy bút, hình tượng sông Đà được xây dựng như một nhân vật văn học, góp
phần ko nhỏ tạo nên giá trị đặc sắc cho tác phẩm
Lời đề từ : “Chúng thủy gia đông tẩu/ Đà giang độc bắc lưu” đã giới thiệu hình
tượng và cảm hứng chủa đạo của bài tùy bút
-> Hai câu thơ chữ hán hé mở nét độc đáo : Mọi con sông đều…..; chỉ sông Đà chảy….=>làm nên một
sông Đà cá tính, một đối tượng thẩm mĩ độc nhất vơ nhị, một hình tượng hấp dẫn ngịi bút ưa kiếm tìm
cảm giác mới lạ, ưa khám phá những gì dữ dội phi thường. NT cũng giống như con sông Đà ấy ko muốn
chịu những thói thường mà muốn phiêu du theo những hướng chảy chưa từng ai trải qua. Cá tính nghệ sĩ
bắt gặp cá tính thiên nhiên để tạo nên hình tượng một dịng sơng độc đáo chảy trên trang văn NT : sơng
Đà ko cịn là một con sông vô tri vô giác mà được NT chiếm lĩnh theo cách riêng để trở thành một sinh
thể có tâm hồn, có tính cách phức tạp – vừa hung bạo vừa trữ tình.
-> ko chỉ giới thiệu hình tượng chính mà cịn thể hiện cảm hứng chủ đạo: tình yêu đắm say thiết tha của
nhà văn với thiên nhiên và con người TB
2. Phân tích hình tượng:
2.1. Hung bạo: NT Là cây bút của những gì phóng khống, dữ dội., phi thường, bởi vậy sông Đà trước hết
lôi cuốn NT bởi tính cách hung bạo của nó. Con sơng từ xa xưa đã gắn với câu chuyện Sơn Tinh Thủy
Tinh:
“ Núi cao sơng hãy cịn dài
Năm năm báo ốn đời đời đánh ghen…”
Với ngòi bút khảo cứu và vốn tri thức phong phú về ds, NT như một nhà thám hiểm đưa người đọc đến
chiêm ngưỡng vẻ dữ dội của ds ở thượng nguồn. Ngay từ những trang đầu tiên của tùy bút, tác giả đã liệt
kê hàng loạt con thác với những cái tên lạ lẫm, vô cùng độc dữ như một thứ kẻ thù số 1 của con người ,
tạo cho người đọc ấn tượng đầu tiên về tính cách hung bạo của con sông lắm thác nhiều ghềnh, lại hoang
sơ kì bí.Vẻ hung bạo ấy nổi hình nổi sắc qua từng trang văn. Để dựng nên bức tranh chân thực về cảnh
tượng hùng vĩ dữ dội của con sơng Đà kiến người đọc phải rùng mình, NT đã tung ra bao nhiêu chữ
nghĩa, bao nhiêu thủ pháp NT để quyết một phen tranh tài cùng tạo hóa
* Cảnh đá bờ sông dựng vách thành:
- đây là những quãng sông sâu trong rừng, đá dựng đứng 2 bên bờ kéo dài như một bức tường thành cao
vút, chẹ lấy lịng sơng hẹp, che khuất cả ánh mặt trời
- chỉ bằng một ẩn dụ: đá “ dựng vách thành” – câu văn đã gợi ra cái vững chãi, sừng sững, thâm nghiêm
của những vách đá cao chót vót kéo dài hai bên sông khiến “ mặt sông lúc đúng ngọ mới có mặt trời” – >
chúng tỏ nơi đây, vách đá rất cao, lịng sơng rất sâu , lại hẹp nên ánh sáng ko thể nào chiếu tới được. Ta
hình dung ra cái hoang vu đến lạnh lẽo, âm u của khúc sông, cả độ cao và độ sâu hun hút.
- khung cảnh hoang sơ lạnh lẽo của ds chảy giữa điệp trùng núi rừng TB đc diễn tả = những liên tưởng
vơ cùng độc đáo: dịng sơng bị kẹp giữa 2 bên bờ vách đá cao vút mà tg so sánh : “ Vách đá thành
chẹt….yết hầu” -> hình ảnh so sánh gợi độ hẹp của lịng sơng ; ko khỏi khiến ta liên tưởng ds quãng ấy bị
chèn ép đến ngạt thở và hẳn là lưu tốc dòng nước phải thật khủng khiếp?
- để cụ thể hóa độ hẹp của lịng sơng, nhà văn đã liên tưởng đến hình ảnh: “ con nai, con hổ chỉ nhẹ chân
là nhảy từ bờ này sang bờ kia.....chỉ nhẹ tay ném hòn đá.....” – ds cơ hồ chỉ hẹp như một chiếc cầu dải
yếm trong ca dao như liên tưởng của một ai đó
- Để khắc sâu ấn tượng về độ cao của nhũng vách đá, sự lạnh lẽo u tối của khúc sông , nhà văn sử dụng 1
ss tài tình: “ Ngồi trên khoang đó………đèn điện” – Nhà văn đã đem một ấn tượng của con người giữa
thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ mà ss với 1 khoảnh khắc của cs giữa thị thành trong 1 liên tưởng bất ngờ,
thú vị; giúp người đọc có thể hình dung cụ thể hơn
-> để miêu tả dịng sơng qua thị giác: đó là độ cao chênh vênh, chới với của vách đá hai bên sông, là
cái u tối của quãng sông – như thể đi qua một lối ngõ vắng và tối mà hai bên chỉ thấy những vách nhà hun
hút, những ô cửa im ỉm, tối đèn
-> để miêu tả dịng sơng bằng xúc giác: cái cảm giác lạnh ngay giữa mùa hè ko chỉ là cái lạnh của thịt
da khi qua một vùng tối ko có ánh nắng; đó còn là cái ớn lạnh của cảm giác của con người thấy mình bị
bỏ lại một mình giữa hoang vắng
=>Hình ảnh ss kết hợp thị giác, xúc giác, vừa chính xác tinh tế, vừa bất ngờ lạ lùng mà một cây bút bình
thường ko thể viết nổi. Bởi NT ln luôn lục lọi đến tận cùng kho từ vựng ăm ắp để tìm ra cách diễn đạt
ấn tượng nhất, cũng chính là rõ nét và sâu sắc nhất chứ ko đơn thuần chỉ là sự khoe tài của một cá tính
nghệ sĩ. Những ss liên tưởng ko chỉ cho thấy óc quan sát tinh tế nhạy cảm của nhà văn mà còn tạo đc ấn
tượng về sự hùng vĩ, hiểm trở của những vách đá sông Đà.
* Quãng mặt ghềnh Hát Loong: Hai câu văn kết hợp nhiều thủ pháp NT, NgT làm nổi bật tính cách hung
bạo của sơng Đà
- Những câu văn với thủ pháp điệp nối tiếp -> tạo nhịp điệu dồn dập gấp gáp; ở đây, hàng cây số chỉ thấy
“ Nước xô đá…….” – điệp từ ngữ, điệp cấu trúc với những thanh trắc liên tiếp nhất là ở chỗ ngắt nhịp của
câu văn tạo âm hưởng dữ dội, dồn dập của trùng trùng điệp điệp nước , đá, gió, sóng… tất cả xơ nhau,
như đang chồm lên, cuồn cuộn khiến cả ghềnh sông như sơi lên, cuộn chảy dữ dằn. Người đọc hình dung
1 ds ko lúc nào êm đềm mà sóng to gió lớn luôn xô nhau cuồn cuộn, chồm lên nhau. Câu văn ko chỉ tạo
hình mà cịn gợi cả âm thanh của tiếng nước ầm ầm, gầm réo đầy đe dọa
- Lời văn của Nguyễn Tn cịn hình tượng ngay ở trong nhịp điệu: đang đi những nhịp điệu ngắn, câu
văn bỗng duỗi dài ra như gợi tả thật hình tượng dịng chảy sơng Đà, như diễn tả những chuyển động của
sóng nước mỗi lúc một lớn.
- Nhà văn cịn nhân hóa con sơng, biến con sơng trở thành một kẻ chun đi địi nợ dữ dằn : “ gùn ghè
suốt năm…”.
Hai chữ “gùn ghè” vừa tượng hình, vừa tượng thanh: đó là tiếng gầm gừ trong cổ họng , chứa đầy đe dọa;
là nét mặt dữ tợn, hiếu chiến, lúc nào cũng như chực chờ gây sự của một kẻ hung hãn
-> nhân hóa ấy đã biến con sông trở nên một kẻ mang diện mạo lưu manh, côn đồ, hung hãn ->Sau
nữa, con sông như mang trong mình một nỗi niềm gì giân dữ, nóng nảy, bản tính độc dữ và lúc nào cũng
gầm gừ đe dọa, trở thành mối nguy hiểm đối với bất kì ơng đị nào dám liều mạng mà đi qua cái qng
sơng với cả một trời sóng gió, đá nước ấy.
* Cái hung bạo của S.Đ mỗi lúc 1 tăng mãi lên theo ngòi bút NT. Ở quãng mặt ghềnh, ds đã thật là dữ
dội. Song xuống tới Tà Mường Vát, mới hay S. Đà cịn có cả những cái hút nc chết người. Bằng những ss
nhân hóa kết hợp kể và tả, NT đã làm cái hút nc hiện hình thành một ám ảnh khủng khiếp. Hút nc là chỗ
ds đang trơi êm bỗng có một chỗ trũng sâu dưới lịng sơng tạo thành một lực hút khiến nc xốy trịn, tạo
thành 1 vũng lõm trên mặt nc. Song cái hút nc này mới thực là khủng khiếp.
+ Để miêu tả trực tiếp diện mạo cái hút nước, nhà văn dùng ss “trông như cái giếng bê tông…..” ->
đủ để gợi ra độ lớn đến khổng lồ và sức nước khủng khiếp ở chỗ này
+ Đặc biệt ám ảnh là âm thanh của cái hút nước. Nó được gợi ra qua 1 nhân hóa: “ Nước thở và
kêu…..” “ ặc ặc lên…..”. Đó ko chỉ là những câu văn hình tượng vơ cùng mà cịn thể hiện cái nhìn độc
đáo của Nt. Mỗi từ ngữ thơng thường qua tay NT đều thực sự phát huy khả năng biểu đạt tuyệt vời. Đọc
những câu văn ấy, người đọc ko chỉ hình dung rõ cái hút nc mà cịn như đang nghe thấy cái âm thanh kì lạ
phát ra từ đó, âm thanh giống như tiếng của 1 lồi mãnh thú bị chẹt cổ, ặc ặc lên thật ghê người. -> đồng
thời truyền đên người đọc cảm giác về cường độ của cái hút nc. Sông nước bắt đầu mang dáng dấp một
lồi thủy qi hung tợn và đói khát, giận dữ và say mồi
+ Để đưa người đọc từ nỗi ám ảnh này đến nỗi kinh hoàng khác, nhà văn cịn dùng nhiều hình ảnh ,
liên tưởng.
- đầu tiên là một hình ảnh tưởng như tình cờ, vu vơ: trên mặt cái hút nước ấy lừ đừ quay những cánh
quạ đàn – chỉ thế thôi mà gợi ra ám ảnh rợn người của chết chóc – cái hút nước thực sự biến thành cái hố
tử thần, chờ đợi những người lái đị xấu số - khủng khiếp vơ cùng.
- bởi vậy, con thuyền nào đi qua cái chỗ hút nước thì phải phóng nhanh y như ơ tơ sang số nhấn ga
mà mượn cạp ra ngoài bờ vực....- liên tưởng sống động ấy truyền đến cho người đọc tất cả cảm giác hãi
hùng, hồi hộp, căng thẳng và cái mạo hiểm y như vừa đối mặt với khoảnh khác sinh tử. Nó cho thấy hết
mức độ nguy hiểm của hút nước trên sông Đà. Bởi nếu con thuyền nào sơ ý mà bị hút xuống cái hút nước
ấy thì cầm chắc là tac xác, cũng y như cái ô tô trượt khỏi bờ vực mà lao xuống vực sâu...
- nhà văn còn cho biết: “ con thuyền nào ….tan xác ở khuỷnh sông dưới”. Thật là cái hút nước chết
người mà nếu sa vào cái miệng ko đáy của nó, mọi con thuyền chỉ cịn có nx tan xác mà thơi. Con sơng
chẳng khác lồi thủy qi cịn con thuyền là vật hiến tế tội nghiệp. Cho nên ko thuyền nào dám men gần
cái hút nc ấy. Người đọc như bị lôi cuốn vào những ám ảnh ma lực trong chồng chất những liên tưởng so
sánh mà ko thể bỏ qua.
+ Kết hợp hình thức tả trực tiếp, nhà văn còn gián tiếp tả hút nước bằng sự kết hợp giữa kể và tả cùng
với việc huy động những tri thức lĩnh vực điện ảnh. Nhà văn hình dung đến 1 anh bạn quay phim táo tợn
nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả mà ngồi vào cái thuyền thúng tròn vành, để cả thuyền, cả máy
quay, cả người quay trôi vào đáy cái hút nước, để thu lấy hình ảnh cái hút nc từ dưới trơng lên. Từ đây mà
nhìn ngược lên thấy vách cái hút nc cao hàng vài sải tay , trong những thước phim màu quay tít là hình
ảnh thành một cái giếng xây tồn bằng nc sơng xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày và quay tít. Có
cảm giác thành giếng sắp ụp xuống trùm lấy cả người, cả máy quay, cả người xem.. Đọạn văn là sự tổng
hịa của trí tưởng tượng phong phú, vốn tri thức uyên bác và tài nghệ sử dụng ngôn từ đạt đến độ tuyệt
vời. Chưa thỏa mãn với cái ấn tượng lạ lùng vừa đem lại cho người đọc, NT còn liên tưởng: cảm giác của
người xem thấy mình đang ngồi giữ chặt cái ghế như đang giữ chặt lấy chiếc lá rừng bị vứt vào một cái
cốc pha lê nc khổng lồ vừa rút lên cái gậy đánh phèn.
-> cái hút nc được nhìn từ nhiều góc độ mà góc độ nào cũng khủng khiếp, hung bạo vô cùng: từ đáy cái
hút nước mà cảm nhận hết độ cao, độ sâu tới vài sải của nó; cả màu sắc , cả diện mạo và sức mạnh khủng
khiếp của nó.
-> con người bỗng trở nên mong manh, nhỏ bé trước sức mạnh của thiên nhiên hoang dại
* Hùng vĩ và hung bạo nhất của sông Đà phải kể đên những thác nước sơng Đà.
+ Từ xa “ Cịn xa lắm mới tới…..”
-> Trước hết, con thác SĐ đến với người đọc ngay khi “còn xa lắm” qua âm thanh tiếng thác mỗi lúc
một gần. Với NT, tiếng Việt bỗng trở nên giàu có, nhà văn bắt đầu sử dụng kho từ vựng giàu có ấy để
sáng tạo nên những nhân hóa ss bất ngờ:
“ Tiếng thác nước nghe như là ………..”
.Tiếng nước thác bỗng trở thành lời oán trách…, thành những thanh âm với muôn sắc thái tâm trạng. Nhà
văn đã tạo nên một ds âm thanh nổi lên trên cái nền xa vắng của núi rừng với đủ cung bậc, giọng điệu: khi
não nùng, lúc dữ dội; khi to; khi nhỏ..... NT nhân hóa đã khiến thác nước sơng Đà thực sự trở thành một
sinh thể sống đang giận dữ, gầm gào, đe dọa ngay cả khi nó chưa xuất hiện. Hệ thống những từ ngữ gợi tả
âm thanh theo cung bậc tăng dần cả về âm lượng cả về cảm xúc vừa miêu tả sống động sự đe dọa hung
hãn của ds, vừa gợi khoảng cách ngắn dần của người quan sát. Đó cũng là cách tăng dần độ hãi hùng, hồi
hộp đầy hứng thú cho người đọc.
-> Đặc sắc nhất là phép ss trong câu văn dài đầy ắp những hình ảnh dữ dội. Ko biết có chuyện gì, nó đột
ngột “ rống lên như………bùng bùng”.
NT như người nhạc trưởng đang điều khiển bản giao hưởng sóng nước. Từ khúc dạo đầu với những cung
bậc nỉ non, âm thanh bất ngờ đc phóng đại hết cỡ như bừng bừng thét lên khúc nhạc của một thiên nhiên
đang ở đỉnh điểm của sự phấn khích và man dại. Hình ảnh ss thật tài tình: trước hết đã động vật hóa con
thác, biến nó thành lồi mãnh thú đang trong cơn cuồng nộ mà gầm lên những tiếng ghê người. Sau nữa,
âm vang cuồng loạn của núi rừng được đưa vào làm thanh viện cho sự diễn tả những con thác giận dữ, ầm
ầm đập vào bờ đá. Độc đáo nhất, nhà văn lấy hình ảnh để tả âm thanh; lấy lửa để tả nước; lấy rừng để tả
sông ( tiếng thác nước mà như rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa…..bùng bùng”. => tiếng thác sông Đà hiện
lên như âm thanh man dại , bản năng của 1 loài động vật hung dữ đang tìm lối thốt thân giữa tiếng lửa
cháy phần phật; tiếng những thân cây vầu, tre nứa khô, rỗng, nổ dữ dội trong ánh lửa. Và trong tiếng thở
hồng hộc của hàng ngàn con trâu mộng đang lồng lộn. Nhà văn như gợi lại cái âm thanh mang sức mạnh
man dại của sóng nc, của thiên nhiên, như âm thanh của 1 trận động rừng động bể từ thời tiền sử.
+ Rồi người đọc bất ngờ lặng đi, mê đi trước 1 hình ảnh kì vĩ vô cùng :
“ tới cái thác rồi…… cả một chân giời đá”. Nhà văn đồng thời tả cả đá, nước trong 1 hình ảnh:
sóng bọt đã trắng xóa…Ở đây, nước xơ vào ghềnh đá khiến bọt nước tung tắng xóa. Câu văn ít lời mà
ngồn ngộn cả hình ảnh, cả sắc mầu, cả âm thanh, cả chuyển động, thể hiện rất rõ ngơn ngữ giàu chất tạo
hình của NT: Cả 1 ko gian rộng lớn mênh mơng một trời sóng, đá, nước ; cả sắc màu trắng xóa của bọt
nước ; cả dịng chảy cuồn cuộn, dữ dội của sóng nước. Nhà văn làm hiện ra sự hùng vĩ tới chống ngợp
của thác đá sơng Đà, ko chỉ đem lại những ám ảnh về thị giác mà cịn cả thính giác và cảm giác.
* Thạch trận trên sông Đà: mới lột tả hết vẻ dữ tợn của sông Đà
+ Thủ pháp so sánh, nhân hóa, nhà văn đã thổi hồn vào từng thớ đá, bắt chúng hiện nguyên hình với diện
mạo và tâm dịa độc ác, thành ra một thứ kẻ thù số 1 của con người. Chúng cũng có gương mặt: “ mặt hòn
nào cũng ngỗ ngược, nhăn nhúm, méo mó…” khoe ra cái lão niên, từng trải của mình. - đấy ko phải sự
miêu tả thuần túy mà là sự lột tả về tính cách, tính cách ngỗ ngược, hung hăng, cơn đồ, dữ tợn. Chúng
cũng mang tâm địa: “đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết dưới lịng sơng”, chỉ chực chờ một con
thuyền nào đi qua là bèn “nhổm cả dậy”…Qua trí tưởng tượng phong phú, những hình khối đá vô tri bỗng
trở nên linh động lạ thường. Những hịn đá ngâm mình trong nước im lìm, hiền lành bỗng trở nên đầy
nguy hiểm, như một bầy yêu tinh đói khát từ vạn thủa.-> đó là một thứ tâm địa nham hiểm và xảo quyệt
vơ cùng.
+ Với trí tưởng tượng mạnh mẽ và một vốn tri thức giàu có ở nhiều lĩnh vực , đặc biệt là trong lĩnh vực võ
thuật, quân sự, NT làm nổi bật sự hung bạo của sông Đà qua việc miêu tả thạch trận trên sông Đà. Sông
Đà đã nham hiểm giao việc cho mỗi hòn và bày thạch trận với 3 tuyến phịng thủ và tấn cơng. Thoạt nhìn,
tưởng những đá to đá nhỏ nằm ngồi tùy thích nhưng thực ra chúng được giàn bày theo thế trận; chuẩn bị
sẵn cho một cuộc đấu giáp lá cà. Hàng tiền vệ có vai trò dụ cái thuyền đối phương vào tuyến giữa; tuyến
hai có nhiệm vụ đánh khp quật vơ hồi lại; và nếu con thuyền vẫn vượt qua được tuyến giữa thì đã có
tuyến ba với những boong ke chìm và pháo đài nổi sẽ đánh tan cái thuyền lọt lưới tuyến trên… Ngôn ngữ
quân sự được vận dụng độc đáo thật hấp dẫn và đầy lôi cuốn, đưa người đọc từ bất ngờ này đến thú vị
khác, cuốn theo hành trình khám phá những bí ẩn của sơng Đà. Mới thấy, cùng là vẻ hung bạo ấy song ở
mỗi một quãng sơng, nó lại hiện hình trong một dáng vẻ, biến hóa vơ tận dưới ngịi bút của bậc thầy ngơn
ngữ NT.
* Bản chất của thứ kẻ thù số 1 của con người thực sự bộc lộ rõ trong cuộc thủy chiến sông Đà: Đoạn
văn đầy ắp những so sánh, nhân hóa, liên tưởng kì thú bất ngờ kết hợp với kho tri thức về võ thuật, quân
sự. NT đã tận dụng hết sức mạnh điêu khắc của ngôn từ để truyền hồn sống cho từng thớ đá, để chúng trở
nên linh động., ma quái, biến chúng thành loài thạch tinh hung hãn:
+ Khi chiếc thuyền lao tới cũng là lúc bọn đá thác trỗi dậy. Chúng lộ vẻ “oai phong, lẫm liệt”, ngỗ
ngược, xấc xược , rất côn đồ và hiếu chiến khi “hất hàm hỏi caí thuyền phải xưng tên tuổi”. Bằng những
nhân hóa liên tiếp kết hợp với kho động từ mạnh, nhà văn muốn bắt sự hung bạo ấy phải nổi hình nổi sắc
qua từng câu văn. Chúng “hò la vang dậy” để làm thanh viện cho đá, để thị uy sức mạnh với người lái đò;
rồi chúng tung ra hàng loạt những ngón địn, chúng như thể quân liều mạng “ùa vào mà đá trái, mà thúc
gối vào bụng và hông thuyền”… giữa “cả một trận địa nước vang trời thanh la não bạt”. Và rồi, không thể
thâm độc hơn, cái luồng nước vô sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ ơng lái đị, túm lấy hơng thuyền địi lật
ngửa thuyền ra...Rõ ràng, với một mục tiêu ngay từ đầu là quyết ăn tươi nuốt sống con thuyền và người
lái đị, sơng Đà đã trấn áp đối thủ, đánh phủ đầu đối phương. Người đọc như nghẹt thở trước những cơn
cuồng phong của những động từ được xô lên cùng cơn thịnh nộ của sông Đà : ùa vào, đá trái, thúc gối, lật
ngửa, túm lấy, bóp chặt.v…v Chúng cậy đơng ra địn tới tấp. Tất cả như lơi cuốn người đọc vào khơng
khí chiến trận quyết liệt, sục sôi. Cả một đội quân sóng nước muốn uy hiếp tinh thần người lái đị, muốn
đánh phủ đầu con thuyền ngay trong chặng này.
+ Ở trùng vi thạch trận thứ hai, dưới ngòi bút tài hoa và trí tưởng tượng vơ cùng phong phú của NT,
sông Đà hiện lên với tất cả cái xảo quyệt, nham hiểm, độc ác . Sơng Đà như một lồi mãnh thú càng khát
máu vì để tuột mất con mồi. Bởi vậy, nó thay đổi chiến thuật, tăng thêm nhiều cửa tử để lơi tuột con
thuyền bào chỗ chết, cịn cái cửa sinh duy nhất lại bố trí lệch về phía hữu ngạn để đánh lừa con thuyền.
Sơng Đà như một loài mãnh thú bị thương đang cuồng loạn, giận dữ: “ Dòng thác hùm beo đang hồng hộc
tế mạnh trên sơng đá” với một sức mạnh tưởng ko gì ngăn nổi cùng 4, 5 bọn thủy quân đã chực sẵn để sẵn
sàng xông vào lôi tuột con thuyền vào tập đoàn cửa tử. Chúng huy động toàn lực, quyết ko thể để thua
con thuyền. Với cách bày binh bố trận như vậy, sông Đà khác nào một tướng giặc gian ác dàn bày trận đồ
bát quái để đưa người lái đò vào một thử thách hết sức cam go và nguy hiểm..
+ Ở vịng cuối cùng, vì đã thua con thuyền ở 2 trùng vi phía trên, lần này, con sơng Đà càng hung
tợn, nham hiểm và giảo quyệt. Chúng bố trí ít cửa hơn nhưng bên phải bên trái đều là luồng chết. Cái
luồng sống ở chặng này lại nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ. Sông Đà thử thách những tay lái non tay, những
nhà đò thiếu bản lĩnh trong cuộc đấu sinh tử này. Sự hiểm ác của thác đá được miêu tả trong một ẩn dụ tài
hoa: “cỏng đá cánh mở cánh khép”… Câu văn gợi liên tưởng đến một mặt trận đá trùng điệp với bức
tường phòng ngự vững chắc của lũ đá hậu vệ, mà cái cảnh cổng chợt mở, chợt khép giữa điệp trùng đá
nước thật sự chỉ là một cái bẫy chết người.
->Cứ thế, sóng nước đá phối hợp với nhau biến thành lồi thủy qi khổng lồ hung hãn vơ cùng với đủ
mọi chiến thuật, mọi ngón địn để ăn chết con thuyền mong manh.
=> Đoạn văn miêu tả dịng sơng ở quãng này cho ta thấy sự quan sát tinh tế, tỉ mỉ và đầy sáng tạo.
Ngịi bút biến hóa linh hoạt vừa trí tuệ, vừa sắc sảo, vừa đầy chất tạo hình. Nó vượt xa cái thủ pháp quen
thuộc mà ta vẫn gọi là nhân hóa để đi sâu vào bản chất của sự vật, làm ta cảm nhận hết cái hung hãn,
nham hiểm, xảo quyệt của sông Đà. Đã có ko ít những vần thơ, phú viết về sự hiểm trở của những dịng
sơng: Bách Đằng giang phú, Bạch Đằng hải khẩu… Ở đó, ko thiếu sự lởm chởm gập ghềnh trong thế
tĩnh. Còn ở đây, tất cả đều chuyển động, đều náo động. Người đọc như được đặt lên một con thuyền lao
vun vút phăng phăng xuống thác để cảm thấy quanh mình thác nước reo hị 4 mặt và những hịn đá phía
trước kia như nhất tề nhổm cả dậy mà vồ lấy con thuyền. NT như một người chỉ huy tài tình giữa đạo
qn ngơn từ với tất cả sự hào hứng đã truyền đến người đọc ấn tượng mạnh về vẻ man dại, dữ dội mà kì
vĩ của sơng Đà.
=>Ngay cả trong cái dữ dội ghê người ấy, cái tâm địa xảo trá của thứ kẻ thù số một của con người ấy,
sông Đà vẫn toát lên vẻ đẹp kiêu hãnh đầy sức mạnh của núi sơng đất nước. Có lẽ, khi NT viết: “ mặt
sơng rung tít lên như cái tuc bin thủy điện dưới đáy hầm đập” , phải chăng nhà văn đã dự cảm một ngày
nào đó, con người sẽ biến sức mạnh hoang dại của núi rừng thành nguồn năng lượng phục vụ cho cuộc
sống. Sơng Đà sẽ trở thành dịng sơng ánh sáng vào một ngày ko xa. Có lẽ vì vây mà NT mới say sưa, ko
tiếc vung ra bao liên tưởng ăm ắp, giàu có đến thế để viết về sơng Đà. Ưa kiếm tìm những gì dữ dội phi
thường, trong con mắt của NT, cái dữ dội ấy cũng chính là một vẻ đẹp của thiên nhiên. Nhà văn đã viết về
con dông “hàng năm và đời đời kiếp kiếp làm mình làm mẩy với con người Tây Bắc và phản ứng giận dỗi
vô tội vạ với người lái đị sơng Đà” bằng tất cả sự say mê và trìu mến, sự trìu mến của một tấm lịng ln
nặng lịng gắn bó với Tổ Quốc q hương.
* Đánh giá:
+ NT: - Vốn hiểu biết phong phú, vốn tri thức giàu có ở nhiều lĩnh vực ( điện ảnh, võ thuật, quân sự…)
- Kho từ vựng giàu có, mang giá trị biểu đạt cao, đặc biệt là những động từ mạnh – tài hoa uyên
bác
- Ngôn ngữ miêu tả rất giàu tình tạo hình…
- Đặc biệt , thể hiện qua những so sánh nhân hóa chất chịng hết sức lạ lẫm, táo bạo, bất ngờ,
-> thể hiện cảm hứng lãng mạn khi tơ đậm những tính cách mãnh liệt, dữ dội, phi thường….
=> mang đâm dấu ấn PCNT của NT
+ ND: - Khẳng định: Khắc họa hình tượng s Đà với tính cách hung bạo ( như….) => Làm nền để tơn
lên tầm vóc người lao động.
- Đáng giá: Thể hiện cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên, của núi sông đất nước, nét đổi
mới trong quan niệm NT của NT
- Bình luận: PCNT của NT
2.2. Trữ tình: Sơng Đà ko chỉ hấp dẫn ngịi bút NT bởi vẻ hung bảo mà cịn lơi cuốn ngịi bút ưa kiếm tìm
vẻ đẹp thẩm mĩ của sự vật ở vẻ đẹp trữ tình của nó. Cảm hứng lãng mạn ln có xu hướng tạo nên ấn
tượng mạnh mẽ từ sự tương phản hiện hữu ngay trong đối tượng miêu tả. Vẫn là dịng sơng ấy, nhưng khi
“vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh”, khi chút bọt nước cuối cùng của sóng nước “ xéo xèo tan
trong trí nhớ”, con sơng lại trở nên đặc biệt hiền hòa và thơ mộng, êm đềm như một giấc mơ, một miền
cổ tích.. Sơng Đà bỗng nhiên đổi vẻ như chưa hề có thác dữ, cũng như cái bản tính “chốc dịu dàng đấy,
chốc lại bẳn tính gắt gỏng, thác lũ ngay đấy”. Câu văn NT cũng đổi vẻ để say sưa dõi theo nét trữ tình của
dịng sơng.
* Từ trên cao nhìn xuống, sơng Đà hiện lên với vẻ đẹp thật trong sáng, nên thơ:
+ Khi diễn tả vẻ đẹp thơ mộng của sông Đà, lời văn Nt trở nên mềm mại, dịu dàng. Câu văn như bồng
bềnh trôi cùng bầu trời mùa xuân nơi tác giả từ trên cao nhìn xuống mà ngắm “từng nét ơng tãi ra trên đại
dương đá lờ đờ bóng mây dưới chân mình”. Dịng sơng rất đỗi êm đềm, mềm mãi, uốn lượn giữa núi rừng
Tây Bắc.
+ vẻ đẹp ấy được gợi tả bằng một câu văn với hình ảnh so sánh hết sức tài hoa: “ Con sông Đà tuôn dài,
tn dài như một áng tóc trữ tình……..”. So sánh dịng sơng với mái tóc huyền của người thiếu nữ ko
phải là một so sánh mới lạ. Hình ảnh ấy ta từng gặp trong câu thơ diễm lệ của thi hào NT:
“ Bóng tháp hình trâm ngọc
Gương sơng ánh tóc huyền.” ( Dục Thúy sơn)
Trong thơ ca hiện đại :
“ Cầu cong như chiếc lược ngà
Sơng dài mái tóc cung nga bng hờ.” ( Nguyễn Bính)
Vậy mà câu văn tài hoa của NT vẫn diệu kì đến thế:
-. Hai chữ “tuôn dài” được điệp lại cùng nhịp điệu của câu văn được mở rộng theo hình ảnh so sánh
gợi cảm giác về dịng sơng mềm mại cứ trải dài, trải dài như bất tận giữa núi rừng TB mà có lúc được NT
cảm nhận là “áng tóc mun ngàn ngàn vạn sải”. Câu văn gợi hình ảnh về dịng sơng tuôn chảy từ những
dãy núi hùng vĩ vùng biên giới TB, miên man chảy xuống hạ lưu rồi thao thiết đổ ra biển cả. Những thanh
bằng liên tiếp ở đầu câu văn càng tăng thêm sự yên ả, bình lặng cho dịng sơng.
- Con sơng được so sánh với “một áng tóc trữ tình”. Nếu “mái tóc”là một hình ảnh cụ thể, thì “áng
tóc” lại là hình ảnh của ấn tượng, ấn tượng về một vẻ đẹp rất nên thơ ( như ‘áng thơ’ áng văn’… vậy).
Bản thân hình ảnh so sánh ấy đã gợi vẻ đẹp mềm mại, yêu kiều, diễm lệ, thanh tân, đầy dun dáng của
dịng sơng giữa đất trời TB. Dịng sơng như mái tóc huyền điểm tô cho vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc. Từ
một sơng Đà hung bạo như lồi thủy qi, như thứ kẻ thù độc dữ của con người, đến đây, sông Đà được
cảm nhận như một giai nhân tuyệt sắc trong niềm mê đắm của người khách sông Đà, trong con mắt tài
hoa của nhà văn
- Song hình ảnh so sánh cịn được mở rộng “ đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở
hoa ban , hoa gạo tháng ba và cuồn cuộn khói nũi Mèo đốt nương xn…..”. Người đọc có thể hình dung
áng tóc huyền ấy được cài lên những bơng hoa ban hoa gạo, bồng bềnh ẩn hiện trong mây trời hòa quyện
cùng sương khói mùa xn. Dưới ngịi bút NT, sơng Đà được cảm nhận như một thiếu nữ kiều diễm vơi
mái tóc mượt mà được tơ điểm bởi những bơng hoa rừng để toát lên vẻ thanh tân đầy mê hoặc. Sơng Đà
như hấp thụ trong mình bao vẻ đẹp của đất trời Tây bắc: nét thơ mộng huyền ảo của mây trời, vẻ rực rỡ
tươi tắn của hoa ban hoa gạo, và cả cái ấm áp đời thường của khói núi mèo đốt nương xuân. Nhà văn cho
thấy, vẻ đẹp của sông Đà làm say mê trái tim người trước hết bởi nó là vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước,
sau nữa, vì nó gắn bó với cuộc sống con người. Đó là sự thay đổi lớn trong quan niệm thẩm mĩ của nhà
văn “vang bóng một thời”. Cái đẹp ko cịn xa xơi lạc lõng, cái đẹp hiện ra ấm áp ngay giữa cuộc đời bình
dị, ngay trong cuộc sống đời thường của những người lao động.
+ Với cái nhìn của một người ưa “xê dịch”, NT ko chỉ nhìn sơng Đà ở mọi ko gian mà còn ở cả thời gian
4 mùa. Ko biết đã bao lần bay tạt ngang qua sông Đà, bao lần nhìn ngắm sơng Đà để ghi lấy vẻ đẹp của
sự đổi sắc kì diệu của màu nước sơng Đà. Qua làn mây mùa xuân, mùa thu như một tấm voan mỏng của
thiên nhiên, nhà văn đã say sưa ngắm nhìn vẻ đẹp của dịng sơng:
“ Mùa xn, nước sơng Đà xanh màu xanh ngọc bích….. Mùa thu…..”
Những câu văn so sánh đã đem đến những cảm nhận khác nhau về vẻ đẹp của sông Đà. Cũng là sắc xanh
của nước mùa xn nhưng sơng Đà xanh một màu ngọc bích, sắc xanh trong biếc, huyền diệu, phản chiếu
sắc màu của mây trời TB để ánh lên sắc màu quý giá như ngọc, lóng lánh một vẻ đẹp sang trọng, tuyệt ko
phải màu xanh canh hến như sông Gâm, sông Lô. Việc so sánh ấy ko chỉ là biểu hiện của sự khoe tài mà
còn là sự thiên vị của một niềm yêu! Mùa thu “ nước sông Đà lừ lừ chín đỏ…”. Dịng nước có lẽ chảy
xiết hơn nên ngàu lên sắc đỏ của phù sa từ cội nguồn chở về hạ lưu. Sắc màu ấy được cảm nhận rất độc
đáo: nó : lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa…”. Nó như mang theo cái nóng nảy giận dữ,
cái bất trắc khó lường có thể xảy ra bất cứ khi nào, cái trái tính trái nết của con sơng vẫn tiềm ẩn một tính
cách hung bạo… Sông Đà vẫn đẹp ngay trong vẻ dữ dội của nó. NT đúng là một bậc thầy ngơn ngữ, một
nhà văn độc đáo vơ song bởi mỗi dịng chữ viết ra đầu ngọn bút đều “ như đóng một dấu triện riêng”
( Anh Đức). Nước sông Đà ko chỉ được miêu tả bằng những sắc màu lung linh rất đặc trưng, ko chỉ được
cảm nhận bằng giác quan thơng thường mà cịn được cảm nhận bằng tâm hồn, tình yêu TB, bằng cảm
quan hội họa của một nghệ sĩ tài ba. Miêu tả vẻ đẹp sông Đà, NT cịn bày tỏ tình cảm u mến, tư hào đối
với con sông xứ sở khi phủ nhận cái tên sông Đen mà thực dân Pháp đã lếu láo” đè ngửa con sông ra mà
…..phiết vào bản đồ lai chữ”.
* Trong nỗi niềm của NT, sơng Đà cịn đặc biệt gợi cảm như một “cố nhân”:
Đói với mỗi người, sơng Đà gợi cảm theo một cách. Riêng với NT, đã có lần, ơng nhìn S.Đà như một cố
nhân. Cố nhân phải là người thân thương gắn bó, xa lâu thì nhớ, đột ngột gặp lại thì cuống quýt mưng vui.
Nhà văn một lần nữa nhân cách hóa con sơng, biến nó thành một con người, lại là người mình nặng lịng
thương mến.. Cách gọi “cố nhân” đầy trìu mến thân thương khiến s.Đà trở mình thổn thức trong trái tim
thương nhớ. Nhà văn dùng cả một đoạn văn để diễn tả nỗi niềm cố nhân ấy.
+ “Chuyến ấy đi rừng hơi lâu” , nỗi nhớ s.Đà chỉ là cảm giác “mơ hồ thèm một chỗ thống’, thèm một
ko gian phóng khống mênh mông. Ấy là niềm mong nhớ về một cái gì thân thương máu thịt, tưởng mơ
hồ mà thực là sâu trong tiềm thức, niềm mong nhớ s. Đà. Ban đầu chỉ thấy trước mắt “một miếng sáng
loang loáng như trẻ con nghịch chiếu gương vào mắt” – đó là ánh phản quang lấp lánh từ mặt nước sông
Đà, thoắt hiện, thoắt ẩn như thích thú chơi trị chơi đuổi bắt với người khách sơng Đà. Đó cũng là cái nhìn
của một người mới chỉ thấy từng miếng sáng của dịng sơng đã náo nức, bồn chồn, háo hức một niềm vui
thơ trẻ. Rồi “cái miếng sáng ấy lóe lên một màu nắng tháng ba Đường thi”. Nhà văn đem đến cho sông
Đà vẻ đẹp lãng mạn huyền ảo của hoa khói, sự trong sáng rực rỡ của sắc xuân và cả cái bâng khuâng vời
vợi nhớ nhung trong câu thơ được coi là “thiên cổ lệ cú” của Lí Bạch “Yên hoa tam nguyệt hà Dương
Châu”. Nhà thơ Lí Bạch xưa đã tiễn một người cố nhân vào một buổi sáng, trong màu năng tháng ba ấy.
Cịn NT thì gặp lại người cố nhân cũng bằng một màu nắng lấp lánh trên dịng sơng trong. Liên tưởng ấy
đem lại cho sông Đà vẻ đẹp của một áng cổ thi và rưng rưng một nỗi niềm cố nhân.
+ Chính trong tâm trạng ấy, nhà văn đã diễn tả cảm giác đột ngột băt gặp s.Đà: “ Bờ sông Đà, bãi sông
Đà, chuồn chuồn bươm bướm trên sông Đà…”. Chợt nhận ra người bạn cũ, niềm vui ùa ra thành nhịp
điệu với bao nhiêu hình ảnh tươi đẹp. Câu văn đặc biệt như nhân lên cái mênh mơng phóng khống của
bến bãi Đà giang, như cất lên niềm say mê phấn khích, tạo cảm giác nhà văn như đang hân hoan ngợp
giữa ko gian s.Đà , mê đi giữa ko gian ấy. Để rồi tất cả cuốn theo cảm xúc dồn dập, dạt dào.
+ Niềm vui bật lên thành một câu cảm thán và được cụ thể hóa trong những so sánh bất ngờ: “ Chao ơi…
vui như thấy nắng giịn tan…..”Dùng so sánh ko có gì là lạ song so sánh đúng chỗ và hợp lí theo một
cách rất riêng lại rất cần một tài năng. “ Vui như thấy năng….” . nắng giòn tan là một ẩn dụ gợi cái nắng
thật trong, thật sáng, thật mỏng… Nó tương phản hồn tồn với cái u ám nặng trĩu của kì mưa dầm. Cách
so sánh ấy giúp người đọc hình dung cảm giác lâng lâng sảng khối, niềm vui khơn xiết khi gặp lại sông
Đà.. Phải là người sống lâu ở rừng mới hiểu cái niềm vui thấy nắng giòn tan sau mưa rừng dầm dề, dai
dẳng. Thấy nắng là thấy phơi phới, hạnh phúc vơ cùng vì thỏa cái ước nguyện khó nói thành lời. Cịn
niềm vui nào hơn khi “ gặp lại chiêm bao đứt quãng” , cái giấc chiêm bao của những ước nguyện, vì phải
lịng nhau mà lại đang cách xa vời vợi. Cái cảm giác được nối lại giấc chiêm bao hẳn là hiếm có, vì thế
mà càng đáng quý, càng thú vị biết bao.Vì thế, cảm xúc ấy chỉ có thể là cảm giác rưng rưng xúc động,
đắm dằm âm ấm như gặp lại cố nhân… Nhà văn của những khát khao xê dịch hẳn đã nhiều lần đến
sông Đà. Vậy mà qua những so sánh, có thể cảm thấy cảm giác được gặp lại dịng sơng lần nào cũng tươi
mới, kì diệu, như vừa được tận hưởng niềm vui chưa từng có trong đời. Lần gặp nào cũng như lần gặp
đầu tiên, lần gặp cuối cùng, lần duy nhất. Sông Đà thực sự trở thành cố nhân, tri kỉ, dẫu trái tính trái nết
vẫn mê hoặc đến lạ kì.
* Sơng Đà trữ tình hơn cả có lẽ là ở vẻ hoang sơ, tĩnh lặng, cổ kính của bờ bãi sơng Đà.Khi NT chìm
trong chất thơ của cảnh, của hồi niệm, kí ức lãng đãng sương khói cũng là lúc người đọc lặng người trơi
trong âm hưởng của một đoạn văn đẹp đẽ, sáng trong ko thể nào quên;
+ “ Thuyền tôi trôi trên s. Đà” : Câu văn mở đầu đoạn êm ru trong những thanh bằng cũng là chủ âm
của đoạn, trầm lắng như nhịp điệu lững lờ của sông Đà khi xa thượng nguồn đã đưa con thuyền và người
đọc trôi vào một cõi mơ êm đềm, yên ả. Người đọc có cảm giác đang ngồi trên một con đò, để mũi đò lừ
lừ trôi giữa đôi bờ hoang dại, trong cái tĩnh lặng tuyệt đối, ru hồn người vào ảo giác về một dịng sơng từ
thửa nào. Nếu trong cảnh vượt thác, Nguyễn Tuân tung ra một vốn từ ngữ phong phú, chính xác, mới lạ
để diễn tả cuộc chiến giữa ơng đị với thần sơng, thần đá có đủ qn đơng, tướng dữ, bằng một giọng văn
mạnh mẽ, nhịp vần gấp như thác gầm, sóng réo, thì đến đoạn văn này giọng văn, nhịp điệu thay đổi hẳn:
nhẹ nhùng, lâng lâng, mơ màng. Vẻ đẹp thơ mộng, êm đềm của Đà Giang ở quãng trung lưu được diễn tả
đầy chất thơ với vẻ êm đềm thơ mộng ấy. Câu văn toàn thanh bằng diễn tả con thuyền êm ái nhẹ nhàng
trôi xuôi: “Thuyền tôi trôi trên sông Đà...”.
+ Bỏ lại những câu văn gập ghềnh thác lũ, ngồn ngộn động từ, đoạn văn trải ra trong giai điệu nhẹ
nhàng , mở ra một ko gian tĩnh lặng, êm đềm khôn tả:
“ Cảnh ven sơng ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Lí, đời Trần, đời Lê, qng sơng này cũng
lặng tờ đến thế mà thôi.”
Ngược thời gian một thiên niên kỉ về trước, hai tiếng “lặng tờ” dẫn người đọc trở về với “mấy trăm năm
thấp thọáng mộng bình yên” (Hồng Cầm). Đã có cái “phẳng lặng tờ” của con sơng trong cổ thi: “Trắng
xóa tràng giang phẳng lặng tờ” nên mới có cái “lặng tờ” êm như ru của sơng Đà mà Nguyễn Tn cảm
mến.
Tính từ “lặng tờ” được lặp lại 2 lần như làm dày thêm cái yên ả của ko gian, một ko gian tĩnh lặng đến
tuyệt đối. Phải chăng, vì quá đỗi êm đềm khiến con người có ảo giác ngỡ như mình lạc vào ko gian cổ
tích từ hàng ngàn năm trước. “ Hình như…..”. Sông Đà ko chỉ mang cái lặng tờ của ko gian mà còn cả cái
xa xăm của thời gian. Tưởng như nơi đây, cuộc sống như ngưng lại trong một ko gian nguyên thủy, thuần
khiết, một ko gian nằm ngoài sự vận động của đời sống hiện tại.
+ vẻ đẹp trữ tình của S>Đà được gợi tả qua những hình ảnh thật nên thơ, nên họa của: “ một nương ngô
mới nhú, cỏ gianh đang ra những nõn búp, con hươu thơ ngôn ngẩng đầu khỏi ánh cỏ ướt đẫm sương
đêm…”.
->Mơ màng nhìn dịng sơng, nghe nước êm trơi “lặng tờ”, ơng khách sơng Đà bâng khng nhìn xa,
nhìn gần cảnh ven sông. Bao trùm cảnh vật là một màu xanh hoang sơ, hồn nhiên. Cũng thấy nương ngô
“nhú lên mấy lá ngơ non đầu mùa”, đã có dấu ấn của con người in trên màu xanh mỡ màng ấy, nhưng thật
vơ cùng ngạc nhiên “mà tịnh khơng một bóng người”. Chỉ có đồi gianh nối tiếp đồi gianh trùng điệp với
những “nõn búp” ngon lành. Hình ảnh đàn hươu xuất hiện trên màu xanh bát ngát những đồi gianh là một
nét vẽ tài hoa làm cho bức tranh thiên nhiên sơng Đà đượm màu “hoang dại” và “cổ tích”. “Cỏ gianh đồi
núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm”. Chỉ có Nguyễn
Tn mới có cái nhìn “xanh non” ấy, mới có cách nói, cách tả độc đáo ấy; ơng đã thả hồn mình vào cảnh
vật, mà yêu mến, nâng niu. Trên nền một ko gian tĩnh lặng tịnh ko một bóng người, những hình ảnh ấy
gợi vẻ đẹp non tơ, tươi mới, tinh khơi; những hình ảnh chỉ có thể hiện ra trong một ko gian trong lành,
nguyên sơ, thuần khiết. Mỗi một chữ dùng của NT đều được “chưng cất” tài tình và ko thể thay thế được
những chữ dùng tài hoa ấy: Cái nõn nà, mướt mắt, non tơ của mấy lá ngô non đầu mùa; cái ngộ nghingx
ngây thơ của con hươu thơ ngộ, và cái áng cỏ đẹp như một bức gẫm thêu… Tất cả đều làm hiện lên chất
thơ của cảnh, vẻ đẹp rạng ngời sáng trong, lộng lẫy dù ko cần một chút điểm tô nào.
+ Miêu tả bằng những so sánh độc đáo, diệu kì: “ Bờ sơng hoang dại như một bờ tiền sử, hồn nhiên như
một nỗi niềm cổ tích…”. Cách so sánh của NT độc đáo ở chỗ nhà văn đem so sánh một đặc điểm vốn đã
trừu tượng với những hình ảnh cịn trừu tượng hơn. Mới thấy, NT sử dụng so sánh ko phải để cụ thể hóa
mà là để trừu tượng hóa, để mộng hóa sự vật, gieo vào lòng người đọc một ấn tượng đặc biệt.. Bờ sông
“hoang dại như một bờ tiền sử”, mang cái vẻ nguyên sơ như thủa khai thiên lập địa; “ bờ sơng hồn nhiên
như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa với vẻ thánh thiện, ngây thơ mê hồn… Đó là một thứ “siêu cảm giác”
và phải tiếp nhận bằng “ siêu giác quan”. Hình ảnh so sánh ko làm cụ thể hóa mà chỉ càng đẩy dịng sơng
trơi xa hơn vào miền mộng ảo, phiêu diêu trong cõi hồng hoang, trong thế giới cổ tích huyền hoặc của
tuổi thơ. Nhà văn làm hiện thần vẻ đẹp tĩnh lặng mơ màng, hoang sơ của bờ bãi sông Đà khiến người đọc
như miên man lạc vào cõi mơ.. Miêu tả vẻ cổ kính hoang sơ mà tĩnh lặng, trong ngần của s.Đà như thế,
câu văn NT quả là tuyệt bút.
+ Điểm vào ko gian yên tĩnh ấy là chút âm thanh, những âm thanh nằm giáp ranh giữa mơ và thực:
- “một tiếng còi xúp-lê của chuyến xe lửa đầu tiên trên đường sắt Phú Thọ, Yên Bai, Lai Châu” hay
một tiếng còi sương” chỉ là ảo giác của con người giữa một thiên nhiên quá đỗi lặng tờ. Đặc biệt, “ Tiếng
con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ ướt sương” cất tiếng hỏi ông khách sông Đà bằng tiếng
nói của một con vật lành chỉ càng tăng thêm ảo giác như đang lạc bước vào một cõi trong trẻo an lành và
ko có thực của thế giới cổ tích. Ảo giác mạnh đến nỗi con người bỗng “thèm được giật mình vì một tiếng
cịi xúp lê…” để có thể rũ mình khỏi giấc mộng, để nhắc mình đang đứng trong hiện tại. Vơi những âm
thanh mơ ảo đó, nhà văn dẫn người đọc vào một thế giới huyền thoại nhưng cũng hướng người đọc tới thế
giới tương khi TB chuyển mình trong cuộc sống mới. Gửi gắm trong âm thanh ấy là khát vọng của NT về
mọt ngày ko xa, vùng đất TB hoang sơ sẽ trở nên hiện đại, có đượng xe lửa, có nhà máy, cơng trường như
bao vùng đất khác. Từ giấc mơ của “bờ tiền sử” chuyển sang giấc mơ về một tương lai huy hồng qua
một tiếng cịi tàu kì diệu... Trong mộng tưởng có nhiều say mê: “Chao ơi thấy thèm được giật mình vì một
tiếng cịi xúp lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đườngsắt Phú Thọ - Yên Bái - Lai Châu’'. Ơng u sơng
Đà với cái “hồn nhiên”, “hoang dại’’ của nó, đã “nhìn sơng Đà như một cổ nhân”, ơng cịn “thèm” ánh
sáng của thời đại chiếu rọi đôi bờ Đà Giang,
- Giữa những âm thanh hư ảo có một âm thanh hiện hữu: “ Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông
bụng trắng như bạc rơi thoi.” . Câu văn kì thú ghi lại một hình ảnh sống động trên mặt nước sơng Đà .
Với thủ pháp lấy động tả tĩnh, nhà văn tô đậm một ko gian tĩnh lặng, đến mức chỉ một tiếng cá đập nước
đủ khiến cho con người và cảnh vật như bừng tỉnh, để rũ mình khỏi giấc mơ. Một tiếng động nhỏ của con
cá dầm xanh như làm cho ông khách sông Đà chợt tỉnh mộng. Mượn cái động để tả cái tĩnh được vận
dụng sáng tạo, mở ra một không gian nghệ thuật mới. Cá quầy, đàn hươu vụt biến, cá vọt lên mặt sông
“bụng trắng như bạc rơi thoi”. Như một đoạn phim chuyển cảnh từ tĩnh qua động để rồi tĩnh lặng hơn.
Hươu núi vụt biến, cá bụng trắng vượt lên rồi rơi xuống, lặn xuống; trước mắt du khách chỉ còn là một
màu xanh của nước, màu xanh cùa cỏ gianh đồi núi. Câu văn “Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông
bụng trắng như bạc rơi thoi” là một câu văn đẹp, có âm thanh, có màu sắc, có cái nghe thấy, có vật nhìn
thấy, có điều cảm thấy. Hình ảnh so sánh “đàn cá. bụng trắng như bạc rơi thoi” đầy chất thơ vừa gợi tả
sắc trắng (như bạc), vừa chỉ rõ dáng hình thon dài (như thoi) của đàn cá dầm xanh. Cá quẫy... đàn hươu
vụt biến... và ông khách sông Đà chợt tỉnh mộng, trở về thực tại, với con đị trơi xi, êm ái, lặng tờ
+ Đoạn văn còn đặc biệt trữ tình bởi bàng bạc một chất thơ sâu lắng khi nhà văn có gợi lại những vần
thơ nổi tiếng. Sơng Đà ko chỉ được liên tưởng tới một áng cổ thi của Tiên thơ Lí Bạch mà cịn bồng bềnh
theo những câu thơ tình tứ của Tản Đà gửi người tình nhân chưa quen biết:
“ Dải sơng Đà bọt nước lênh bênh/ Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình…”
Cùng với những câu văn dài, chất thơ ấy tạo cảm giác chảy trơi, trơi mãi, khiến người đọc mặc sức thả
hồn mình cùng con thuyền trơi trên sơng….
+ Dịng sơng chất chứa tâm tư, chất chứa nỗi niềm thương nhớ: “ Dòng sông quãng này lững lờ như…”.
Một lần nữa, câu văn là một so sánh nhân hóa tài hoa, đặc tả dòng chảy thật chậmlững lờ, thật hiền hòa
yên ả của ds khi xa thượng nguồn. Trong cái nhìn NT, dịng sơng cịn chất chứa tâm tư, chở nặng nỗi
niềm thương nhớ. Thì ra, nó chảy thật lững lờ vì nhớ thương, vấn vương những đá thác xa xôi. Câu văn so
sánh gơi tả vẻ đặc biệt trữ tình của con sơng khi xa thượng nguồn. Nó ko khỏi khiên ta nhớ tới dịng sơng
Hương “ dùng dằng như muốn đi muốn ở, chao nhẹ như những vấn vương của một nỗi lịng”… Có lẽ vì
thế, sơng Đà sẽ ko cịn là “cố nhân” đối với chỉ riêng NT mà sẽ để thương, để nhớ trong lòng biết bao
người.
+ Bằng một liên tưởng tưởng ngẫu nhiên ; trên sông chạy những con đị mình nở, buồm vải... nhà văn
tiếp tục gợi hình dung về dịng sơng mênh mang hiền hịa, khác hẳn cái thác lũ gập ghềnh của 1 sông Đà
hung bạo.
* Khái quát:
+ NT: Nhà văn ko chỉ rất có tài khi vẽ nên những bức tranh hoành tráng gân guốc với những mảng màu
chói gắt mà cịn vơ cùng tài hoa khi đưa những nét vẽ thanh thoát diệu kì trên tấm lụa mờ ảo mà truyền
đến người xem niềm xúc động rất đỗi ngọt ngào. Tả vẻ thơ mộng của Sơng Đà, vốn triu thức giàu có về
văn chương, hội họa, điện ảnh cùng tụ về ngòi bút của ông để tạo nên nhưng trang viết vô cùng gợi cảm.
Đoạn văn đặc biệt lôi cuốn bởi những liên tưởng so sanhsh mới mẻ, độc đáo, hết sức tài hoa, với ngôn từ
đầy chất thơ, chất họa và một hơi văn đầy nhịp điệu.
+ ND:
- Khắc họa một sông Đà với tính cách đặc biệt trữ tình, cực tả vẻ đẹp thơ mộng diễm lệ của ds như một
giai nhân tuyệt sắc…=> Đó là chất vàng của thiên nhiên TB, cũng là vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, làm
bức phơng nền tuyệt mĩ tơn lên tầm vóc con người
- Thể hiện lòng yêu thiên nhiên say đắm, yêu đến độ muốn đề thơ vào sông nước! Quan niệm NT của NT
( ưa khám phá vẻ đẹp thẩm mĩ của thiên nhiên, sau CM đó là vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên đất nước
trong hiện tại, trong sự gắn bó với đời sống con người…)
- PCNT của NT
III. Kết bài:
HĐề 2: Hình tượng người lái đị
I.MB: Nguyễn Tn: gương mặt tiêu biểu của nền văn xuôi hiện đại VN, một nhà văn có tài năng và
phong cách độc đáo vào bậc nhất trong VHVN hiện đại.. Trước cách mạng, ơng đi tìm vẻ đẹp ở “một thời
vang bóng”, ở những người muôn năm cũ”. Sau CM ta vẫn gặp lại một NT tài hoa, uyên bác nhưng tha
thiết gắn bó với đất nước, con người. Từ đó, người nghệ sĩ ấy đã khám phá cái chất vàng mười tiềm ẩn
trong những con người lao động đang ngày đêm xây dựng TQ. Một trong những hình tượng đẹp nhất
trong những trang văn NT sau CM phải kể tới người lái đị sơng Đà trong thiên tùy bút cùng tên với vẻ
đẹp tài hoa, trí dũng.
II. Thân bài:
1.Giới thiệu chung: * Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác: : Những năm 58-60, khi miền Nam đang tiếp tục cuộc
đấu tranh chơng Mĩ thì miền B bắt tay vào cơng cuộc XD XHCN. Thời điểm ấy, nhà nước có cuộc vận
động ND miền xuôi đi XD vùng kinh tế mới ở miền núi TB. Trong dịng người nơ nức ấy có khơng ít văn
nghệ sĩ và NT cũng có mặt trong số đó. Chuyến đi ấy khơng chỉ nhằm thỏa mãn niềm khát khao “xê dịch”
mà chủ yếu là để tìm kiếm chất vàng trong vẻ đẹp hùng vĩ thơ mộng của thiên nhiên TB, phát hiện thứ
vàng mười đã qua thử lửa trong tâm hồn con người TB.
* Nhân vật: người lái đò: Đúng như lời đề từ “Đẹp vậy thay tiếng hát trên dịng
sơng”, ngay từ đầu bài tùy bút đã cất lên khúc hát ngợi ca vẻ đẹp của người lao động trên sông nước. Là
nhà văn dễ có cảm hứng trước những vẻ đẹp phi thường tuyệt mĩ, trước những cốt cách thanh cao nên
nhân vật của NT thường là những con người tài hoa, nhân cách. Bởi vậy, nhân vật trong tác phẩm của ông
phải là những con ng có tài năng vượt trội, phi thường, như Huấn Cao và hơn thế nữa. Sau CM, ông ko
tìm kiếm vẻ đẹp ấy ở quá khứ mà hướng ngòi bút tới đời sống của nhân dân, đất nước để phát hiện vẻ đẹp
ấy ngay trong những người lao động bình thường như người lái đị trong bài tùy bút này.
2. Phân tích nhân vật:
2.1. Lai lịch, ngoại hình:
- Ko có tên: Khi đã chọn người lái đị làm nhân vật chính, thậm chí là để đặt tên cho tác phẩm, chắc chắn
đó phải là một con người xuất chúng. Tuy nhiên, nhà văn lại lược bỏ đi những nét riêng trong tiểu sử để
chỉ gọi ông bằng ông đị, người lái đị... Nhà văn đã xóa mờ những nét riêng biệt để tạo nên một con
người dễ lẫn vào đám đơng như bao người lao động bình thường khác. Nhưng chính con nguời bình dị ẩn
khuất giữa núi rừng ấy lại mang vẻ đẹp đích thực của tài năng và tâm hồn. Đó mới chính là thứ vàng
mười của đất nước với tài năng và những cống hiến âm thầm. Hướng tới những vẻ đẹp khuất lấp , dành
một chỗ trang trọng cho những con ng ko ai nhớ mặt đặt tên -> nét đổi mới trong quan niệm NT của NT.
- Ngoại hình: dấu ấn nhọc nhằn của một người làm nghề sông nước in đậm lên ngoại hình của ơng , vẻ
dẻo dai, khỏe khoắn và tráng kiện – mang dáng dấp của một nhân vật anh hùng…
2.2. Thạo nghề sông nước: Vơi hơn 10 năm làm nghề chở đị dọc, xi ngược trên 100 chuyến trên
sông Đà, cuộc sống ấy rèn cho ông một thể lực dẻo dai và khiến ông trở thành người rất thành thạo trong
nghề để luôn là người chiến thắng trong những cuộc thủy chiến cam go
+ nhớ tỉ mỉ từng luồng nước, từng con thác
+ nắm vững quy luật của sông nước
+ nắm chắc binh pháp của thần sông và quy luật phục kích của lũ đá nơi cửa nước
-> Chỉ có sự thơng thạo trong nghề mới giúp ơng giành chiến thắng
2. 3. Vẻ đẹp tài hoa, trí dũng được bộc lộ trong cuộc thủy chiến với sông Đà:
a. Tình huống thử thách: để bộc lộ vẻ đẹp nhân vật
+ Sông Đà phô trương lực lượng với bao nhiêu con thác, những vách đá, những cái hút nước chết
người với cả một chân trời đá giữa sóng bọt như muốn thị uy cais sức mạnh man dại, dữ dội, hiểm độc
của một thứ kẻ thù số một của con người. Khơng những thế, chúng cịn bày binh bố trận với đầy đủ binh
thư, binh pháp với 3 trùng vi thạch trận để bằng mọi cách ăn chết con thuyền. Đúng là hình ảnh một thiên
nhiên mà có lần nhà văn đã từng nhìn nó ra thành một thứ kẻ thù số một của con người. Nhưng thiên
nhiên ấy cũng là kẻ tôn vinh số một giá trị con người. Bởi đối thủ của con sông ấy chắc chắn phải là một
đối thủ xứng tầm
+ Ơng đị: Cơng việc chèo đị tưởng bình thường quen thuộc ở đâu cũng thấy nhưng lịa nguy hiểm
vô cùng . Ơng đị tuổi cao, vũ khí trên tay chỉ có đơi mái chèo với con thuyền đi én mỏng manh ngày
nào cũng phải đối mặt với cả một đội quân đa nước với đủ sự độc dữ và nham hiểm. . Ông bước vào trận
đấu với sự mưu trí, quả cảm và tay nghề của mình. Sóng nước càng ghê gớm càng làm nổi bật sự từng
trải, gan dạ và tài hoa của ơng đị. Bởi nếu con sơng Đà là một dịng sơng bình thường nào khác, con sơng
Đà ko phải là lồi thủy qi đang lồng lộn giận dữ thù ơng lái đị cũng sẽ chỉ mang vẻ đẹp của một người
chèo đị bình thường chứ ko thể trở thanh nhân vật chính trong một thiên anh hùng ca. Chính cái hùng vĩ
của sơng Đà sẽ đưa con người đương đầu và chiến thắng thần sông thần đá thành một anh hùng.
b. Vẻ đẹp qua ba lần phá trùng vi thạch trận sông Đà:
Để làm nổi bật tài nghệ và sự can đảm của ông lái đị, nhà văn dụng cơng mơ tả 3 cuộc giao tranh giữ
người lái đị với con sơng Đà. Ở đó, sông Đà hung dữ trở thành một thứ lửa để làm ánh lên cái chất vàng
mười vô cùng quý giá của người lái đò. Ba trùng vi thạch trận dữ dội với sóng thác thật sự là một thách
thức đối với ơng đị và vượt qua nó, người lái đị trở thành một biểu tượng đày phi thường của người lao
động trong công cuộc chinh phục thiên nhiên.
*Ở trùng vi thạch trận thứ 1:
+ Sơng Đà đón tiếp đối thủ bằng những âm thanh cuồng loạn và điện dại, rồi lại : oán trách, như
van xin rồi lại như khiêu khích...; rồi nó cịn đột ngột rống lên... Chúng muốn đe dọa khiến con thuyền
phải khiếp sợ mà nhụt chí, mà bỏ cuộc ngay khi trận chiến chưa bắt đầu.
+ ÔNg đò: Ngày nào cũng phải đối mặt với con sông hung bạo như vậy, ông không hề nao núng
vẫn giữ vị trí chỉ huy với sự mưu trí, dũng cảm, bình tĩnh, chèo lái con thuyền tiến về phía trước, mà xung
trận với tinh thân quyết thắng:
“Thạch trận dàn bày vừa xong thì cái thuyền vụt tới” –> câu văn diễn tả chuyển động rất nhanh của
con thuyền, cũng cho thấy tư thế chủ động; sự dũng cảm gan góc, thấy sóng cả mà ko ngã tay chèo, sẵn
sáng nghênh chiến với con sơng hung bạo. Đó là tư thế “cưỡi cơn gió mạnh, đạp đầu thác dữ” của con
người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, sẵn sàng đối mặt với tử thần. Đó là bản lĩnh, là lịng dũng cảm tuyệt
vời của người chỉ huy. Ơng đã sàng bắt đầu cuộc thủy chiến , với niềm say mê cơng việc và lịng dũng
cảm tuyệt vời mà ko gì khuất phục được.
+ Khi chiếc thuyền lao tới cũng là lúc bọn đá thác trỗi dậy. Chúng lộ vẻ “oai phong, lẫm liệt”, ngỗ
ngược, xấc xược , rất côn đồ và hiếu chiến khi “hất hàm hỏi caí thuyền phải xưng tên tuổi”. Sông nước
bộc lộ rõ bản chất côn đồ, hung hăng thách thức con thuyền và người lái đị. Bằng những nhân hóa liên
tiếp kết hợp với kho động từ mạnh, nhà văn muốn bắt sự hung bạo ấy phải nổi hình nổi sắc qua từng câu
văn.
+ Đối mặt với kẻ thù, ơng đị “hai tay vẫn giữ chặt mái chèo để con thuyền khỏi bị hất tung lên
khỏi trận địa....” – rõ ràng , ơng đị bộc lộ bản lĩnh, sự bình tĩnh và cả sáng suốt của mình khi khi gắng sức
giữ cho con thuyền vững vàng, có lẽ bởi ơng biết đây chưa phải là lúc ra địn
+ Con sơng Đà được thể cậy đông, huy động hết đội quân lâu la để tấn cơng con thuyền bé nhỏ.
Mặt nước “hị la vang dậy” để làm thanh viện cho đá, để thị uy sức mạnh với người lái đò; rồi chúng tung
ra hàng loạt những ngón địn, chúng như thể qn liều mạng “ùa vào mà đá trái, mà thúc gối vào bụng và
hông thuyền”… giữa “cả một trận địa nước vang trời thanh la não bạt”. Và rồi, không thể thâm độc hơn,
cái luồng nước vơ sở bất chí ấy bóp chặt lấy hạ bộ ơng lái đị, túm lấy hơng thuyền địi lật ngửa thuyền
ra...Rõ ràng, với một mục tiêu ngay từ đầu là quyết ăn tươi nuốt sống con thuyền và người lái đị, sơng
Đà đã trấn áp đối thủ, đánh phủ đầu đối phương. Người đọc như nghẹt thở trước những cơn cuồng phong
của những động từ được xô lên cùng cơn thịnh nộ của sông Đà : ùa vào, đá trái, thúc gối, lật ngửa, túm
lấy, bóp chặt.v…v Chúng cậy đơng ra địn tới tấp. Tất cả nhu lơi cuốn người đọc vào khơng khí chiến
trận quyết liệt, sục sơi. Cả một đội qn sóng nước muốn uy hiếp tinh thần người lái đò, muốn đánh phủ
đầu con thuyền ngay trong chặng này. Sông Đà tung ra những ngón địn độc hiểm như vậy bởi nó biết đối
thủ của nó khơng hề tầm thường, bởi nó tơn trọng đối thủ và coi người lái đị là 1 đối thủ xứng tầm
- Trước ngón địn độc hiểm của sơng Đà, ơng đị thủ thế và dường như chịu trận, nhưng chịu
trận chứ ko chịu thua. Rõ ràng, ý thức được con sông Đà hung bạo, ông đị bình tĩnh , thâm trầm quan sát
để nắm bắt ý đồ của nó. Cho nên, giữa khoảnh khắc thập tử nhất sinh, ơng đị cố nén vết thương, kẹp chặt
cuống lái ,mặt méo bệch đi -> Câu văn hình tượng vừa diễn tả ngón địn giáng khủng khiếp của Đà giang
vừa giúp ta hình dung cái đau đớn làm bợt bạt cả sắc mặt người. Có lúc, cái đau đến nổ đom đóm mặt ấy
được thị giác hóa bằng hình ảnh “mặt sơng tích tắc lịa sáng như một cửa bể đom đóm rừng ùa xuống mà
châm lửa vào đầu sóng” – vết thương đau đớn thể hiện bởi cảm giác nổ đom đóm mắt , rát bỏng. Nhưng
ơng đò dũng cảm cố nén vết thương, ngoan cường khéo léo đưa con thuyền vượt qua thạch trận. Vẫn nghe
tiếng chỉ huy ngắn gọn, tỉnh táo trên cái thuyền sáu bơi chèo mà đưa con thuyền vào đúng cái luồng sinh
duy nhất. Đó là bản lĩnh, là sức chịu đựng phi thường. Qua cách miêu tả, nhà văn ko giấu được lòng
ngưỡng mộ và cảm phục trước bản lĩnh kiên cường , sự dũng mãnh , bình thản của người lái đò.
* Ở trùng vi thạch trận thứ 2:
+ Ở trùng vi thạch trận thứ hai, dưới ngòi bút tài hoa và trí tưởng tượng vơ cùng phong phú của NT,
sông Đà hiện lên với tất cả cái xảo quyệt, nham hiểm, độc ác . Sơng Đà như một lồi mãnh thú càng khát
máu vì để tuột mất con mồi. Bởi vậy, nó thay đổi chiến thuật, tăng thêm nhiều cửa tử để lơi tuột con
thuyền bào chỗ chết, cịn cái cửa sinh duy nhất lại bố trí lệch về phía hữu ngạn để đánh lừa con thuyền.
+ Như một chiếc lị xo bị nén chặt, ơng cố nén vết thương và chờ cơ hội để phản công. Không một phút
nghỉ tay nghỉ mắt, phải lao vào phá trùng vi thạch trận thứ 2. Đã nắm chắc binh pháp của thần sơng thần
đá, đã thuộc lịng quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước này, với tất cả sự bình tĩnh và dũng mãnh, ơng
thay đổi chiến thuật cho phù hợp với binh pháp thần sông thần đá, bộc lộ rõ bản lĩnh của một người quen
ăn sóng nói gió, đã thơng thạo nghề sơng nước. Chỉ có sự từng trải và bản lĩnh nghề nghiệp mới giúp ông
tìm được đường sống giữa những con thác.
+ Sông Đà như một loài mãnh thú bị thương đang cuồng loạn, giận dữ: “ Dòng thác hùm beo đang hồng
hộc tế mạnh trên sông dá” với một sức mạnh tưởng ko gì ngăn nổi . Dịng sơng đang lồng lộn gầm thét,
quyết liệt đuổi theo con thuyền, muốn ăn tươi nuốt sống con thuyền
+Người lái đị: “cưỡi lên thác sơng Đà như cưỡi hổ” , thật là một ẩn dụ tài tình: hình ảnh ấy mới nói hết
cái mức độ mạo hiểm của cuộc vượt thác bởi lúc này con sông chính là lồi thủy qi đang lồng lộn giận
dữ, như loài chúa sơn lâm hung hãn đang gầm thét; đang “hồng hộc tế mạnh trên sơng đá”. Ơng đị giữ
thế chủ động, cưỡi sóng đập gió mà lướt tới. Mặc cho con sông Đà hung hãn, ông “nắm chặt lấy cái bờm
sóng” ghì cương lái mà lái miết về phía cửa đá ấy. Câu văn tài hoa với sự kết hợp của ẩn dụ và những
động từ liên tiếp : nắm lấy, ghì cương lái; lái miết; chọc thủng.... dồn nén bao liên tưởng, khơi mở tận
cùng trí tưởng tượng của người đọc : con sông bị biến thành một lồi mãnh thú bất kham cịn ơng lái đị
trở thành một kị binh dũng mãnh đang điều khiển con chiến mã tung hồnh trên trận địa sơng Đà.Ơng đị
như một chiến binh dũng cảm đang thuần phục con sông với những động tác chuẩn xác và dứt khoát và
quyết liệt vơ cùng. Đó là bản lĩnh cao cường và một tay lái ra hoa, ông đã đưa con thuyền vào đúng cửa
sinh duy nhất
+ Sơng Đà cịn bố trí 4,5 bọn thủy qn đã chực sắn để sẵn sáng xông vào lôi tuột con thuyền vào tập
đoàn cửa tử. Chúng huy động toàn lực, quyết ko thể để thua con thuyền. Vơi cách bày binh bố trận như
vậy, sông Đà khác nào một tướng giặc gian ác dàn bày trận đồ bát quái để đưa người lái đò vào một thử
thách hết sức cam go và nguy hiểm..
+ Với bọn thủy quân ở tập đồn cửa tử, ơng vẫn nhớ mặt bọn này “đứa thì…tráng…đè sấn…chặt
đơi…” mà mở đường tiến. Đến đay, kinh nghiệm của một người lâu năm trong nghề sông nước cùng bản
lĩnh ngoan cường đã giúp ơng đị vượt qua thử thách. Sơng Đà hồn tồn bị áp đảo, chẳng cịn ngón địn
nào có thể tung ra hịng thách thức ơng đị được nữa, chỉ cịn có thể đưa ra lời khiêu khích vơ nghĩa sau
trận thảm bại, như để vớt vát chút sĩ diện cuối cùng vì thua con thuyền.
+ Hình ảnh nhân hóa :” cái thằng đá tướng…đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng…” – là dáng
vẻ thảm bại, nhục nhã, mất hết dũng khí của thằng đá tướng, cũng chính là hình ảnh đẹp nhất, tơ đậm
chiến thắng vinh quang của ơng đị từ trong thử thách khốc liệt của thiên nhiên dữ dội.
+ Ở vịng cuối cùng, vì đã thua con thuyền ở 2 trùng vi phía trên, lần này, con sơng Đà càng hung
tợn, nham hiểm và giảo quyệt. Chúng bố trí ít cửa hơn nhưng bên phải bên trái đều là luồng chết. Cái
luồng sống ở chặng này lại nằm ngay giữa bọn đá hậu vệ. Sông Đà thử thách những tay lái non tay, những
nhà đò thiếu bản lĩnh trong cuộc đấu sinh tử này. Sự hiểm ác của thác đá được miêu tả trong một ẩn dụ tài
hoa: “cổng đá cánh mở cánh khép”… Câu văn gợi liên tưởng đến một mặt trận đá trùng điệp với bức
tường phòng ngự vững chắc của lũ đá hậu vệ, mà cái cảnh cổng chợt mở, chợt khép giữa điệp trùng đá
nước thật sự chỉ là một cái bẫy chết người.
->Cứ thế, sóng nước đá phối hợp với nhau biến thành loài thủy quái khổng lồ hung hãn vô cùng với đủ
mọi chiến thuật, mọi ngón địn để ăn chết con thuyền mong manh.
+ Người lái đị: Chính trong sự nguy nan, ở ranh giới giữa sự sống và cái chết, người đọc cáng thấy bản
lĩnh ở ơng đị tỏa sangstaif nghệ chèo đị vượt thác.
- Ơng lái đị mưu trí, với cái thế cưỡi hổ, ông bất ngờ lái con thuyền đuôi én “chọc thủng vịng vây,
phóng thẳng vào cái cửa giữa đó “ vút, vút, thuyền vút qua cánh cổng đá cánh mở canh khép, xuyên qua
hơi nước, vừa xuyên vừa tự đọng lái được, lượn được.” Chỉ trong một khoảnh khắc, ơng đị khép léo đưa
con thuyền xun qua cảnh cổng đó. Những động từ liên tiếp kết hợp một hình ảnh so sánh vừa gợi được
cái tốc độ con thuyền vừa gợi hình dung con thuyền như đang bay trong làn hơi trên mặt sóng. Một loạt
những động tác liên tục cho thấy sự nhanh nhẹn, dứt khoát; sự điêu luyện, dẻo dai, chính xác của người
lái đị. Tài nghệ, trí tuệ, sự trải nghiệm, sức mạnh và bản lĩnh kiên cường… tất cả đều đạt đến mức phi
phàm, kì diệu.. Con thuyền như có phép màu mà phép màu ấy đến từ đôi tay tài hoa của người nghệ sĩ
trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh..Một lần nữa, NT thể hiện tài nghệ bậc thấy của người luyện chữ khi
sử dụng so sánh rất đỗi tài hoa: con thác hùm beo bỗng chỉ còn mỏng manh như làn hơi nước, sao có thể
chống đỡ nổi một mũi tên. Hình ảnh so sánh cho thấy sự dễ dàng của ơng đị khi vượt qua con thác. Ơng
ko chỉ vượt qua con thác mà như mũi tên xé toạc làn hơi nước, ông đã phá tung thạch trận hiểm dữ của
sông Đà mà bọn đá thác vẫn rất kiêu ngạo. Đó mới là chiến thắng tuyệt vời, phi thường, rực rõ vô cùng
của ng lao động trên sông nước. Mỗi câu văn là một niềm tự hào, cảm phục sâu xa của tác giả dành cho
người lao động trong bài ca vượt thác.
-> Câu văn còn đặc biệt ngợi ca nét tài hoa nghệ sĩ ở người lái đò. Viết về người anh hùng lao động trong
công cuộc xây dựng CNXH, NT ko chỉ ngợi ca vẻ đẹp phi thường mà đặc biệt tô đậm nét tài hoa nghệ sĩ.
Xưa nay, người nghệ sĩ thường hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, họ sáng tạo ra cái đẹp và là kiểu
nhân vật ưa thích của Nguyễn Tuân ( Chữ ng tử tù). Nhưng đến NLĐSĐ, Nguyễn Tuân cho thấy ng lao
động bình thường đạt đến trình độ thuần thục và tinh vi trong cơng việc cũng chính là người nghệ sĩ. Ở
đây, những động tác của người chèo đò khiến ta có cảm giác ơng đã biến con sơng thành một sân khấu để
phô diễn kĩ năng, kĩ xảo và tài nghệ tuyệt vời của một “tay lái ra hoa”. Người lái đò trở thành nhạc trưởng
chỉ huy bản giao hưởng sóng nước. Tài nghệ ấy tuyệt nhiên ko thể tự nhiên mà có. Đó là sự gian nan khổ
luyện của hàng trắm lần vượt thác leo ghềnh. Có thể nói, đây là giây phút thăng hoa, sáng tạo của cái đẹp
trong lao động, như khi xưa Huấn Cao từng sáng tạo cái đẹp chốn lao tù tăm tối. Đó chính là phẩm chất
tài hoa nghệ sĩ của ng lái đò.
2.4. Vẻ đẹp bình dị mà anh hùng khi trở về cuộc sống đời thường
Khi ngừng chèo, họ lại trở về với cuộc sống thường ngày. Họ bản lĩnh gan dạ bao nhiêu trong cuộc vượt
thác thì cũng bình dị bấy nhiêu khi ngừng chèo.
-chả thấy ai bàn thêm một lời nào…” -> cái chiến thắng khiến cho ta phải khâm phục thì
đối với họ lại là chuyện hết sức bình thường vì cuộc sống của họ là ngày nào cũng phải giành sự sống từ
tay những con thác. Cái phi thường đối với họ đã trở thành cái bình thường. Đó chính là phương diện đẹp
đẽ trong tâm hồn những người lao động vô danh nơi núi rừng khuất nẻo – càng tơn lên tầm vóc lớn lao, vẻ
đẹpa nh hùng ở họ
- họ lại cùng bàn về cá dầm xanh, cá anh vũ…, lại lắng nghe một tiếng gà để nhớ về bản
làng…- quên đi cái khắc nghiệt của cuộc sống lao động, thả tâm hồn hòa hợp với thiên nhiên và bao vẻ
đẹp cuộc đời, cái chất nghệ sĩ ở họ bộc lộ một cách giản dị hồn nhiên như thế đó.
3. Đánh giá chung:
+ Nghệ thuật:
- Vận dụng vốn tri thức và sự hiểu biết uyên bác về võ thuật, quân sự, điện ảnh cùng hội tụ trong ngòi
bút NT để dệt nên “tờ hoa” ngợi ca vẻ đẹp người lao động
- Kho ngôn từ với những động từ mạnh liên tiếp như xô lên cùng cơn cuồng nộ của sông Đà , cũng cất
lên khúc ca lao động, làm ngời lên phẩm chất tài hoa trí dũng của người lái đò.
- Những so sánh, liên tưởng ăm ắp, những ẩn dụ chồng chất và ngòi bút đầy chất điện ảnh đã dựng
nên một cuốn phim sống động đầy chất điện ảnh, để cuộc vượt thác của ông đò trở thành một trận chiến
vô cùng biến ảo
+ Nội dung: Ơng đị hiện lên là một người lao động bình thường nhưng lẫm liệt như một vị tướng trí dũng
song tồn, chế ngự dịng sơng hung dữ; đặc biệt, người lái đò còn được ngợi ca như một nghệ sĩ tài hoa
trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh…Từ bài ca vượt thác, hình tượng người lái đị sừng sững hiện lên
với chân dung một người lao động tài hoa trí dũng trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên. Trong
con mắt của NT, họ mới chính là thứ vàng mười đã qua thử lửa của đất nước
=>Qua hình tượng NLĐ, nhà văn gửi gắm tình cảm gắn bó, mến yêu với cuộc đời, với những con người
lao động đang ngày đêm dựng xây TQ
=>Hình tượng NLĐ cho thấy sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật của NT về con người : Sau CM ơng
hướng ngịi bút tới những người lao động bình thường; đi tìm kiếm vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ ngay trong
những con người vô danh ấy => sự thay đổi trong tư tưởng của nhà văn
III. Kết bài