Tải bản đầy đủ (.docx) (69 trang)

Nghiên Cứu Các Giải Pháp Nhằm Thực Thi Cam Kết Của Việt Nam Trong Các Fta Thế Hệ Mới Về Thị Trường Chứng Khoán.docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (320.27 KB, 69 trang )

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 1: Các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã tham gia
Bảng 2: Thơng tin số lượng tài khoản nhà đầu tư
Hình 1: Ảnh hưởng của niêm yết trên hai thị trường của doanh nghiệp

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AANZCERFTA

Hiệp đinh thương mại tự do và quan hệ
kinh tế thân thiện toàn diện ASEAN – Úc

AANZFTA

và New Zealand
Hiệp định về Khu vực thương mại tự do

ACFTA

ASEAN-Úc và New Zealand
Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN –

AEC
AFTA
AICECA

Trung Quốc
Cộng đồng kinh tế ASEAN
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN
Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn

AIFTA



diện ASEAN - Ấn Độ
Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN –

AITIG

Ấn Độ
Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN -

AJCEP

Ấn Độ
Hiệp định Khung về đối tác kinh tế tồn

AKTIG

diện Nhật Bản-ASEAN
Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN –

APFTA

Hàn Quốc
Khu vực Mậu dịch Tự do châu Á - Thái

CBT
CTCK
CTQLQ
DSU

Bình Dương của APEC

Cung cấp dịch vụ qua biên giới
Công ty chứng khốn
Cơng ty quản lý quỹ
Hiệp định về Quy tắc và Thủ tục Giải

DVTC

quyết Tranh chấp trong khuôn khổ WTO
Dịch vụ Tài chính


EU
EVFTA

Liên minh châu ÂU
Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam –

FTA
GATS
GATT

Liên minh châu Âu
Hiệp định Thương mại Tự do
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
Hiệp định chung về thuế quan và thương

GDP
IDS
IOSCO
IPR

ISDS

mại
Tổng sản phẩm quốc nội
Hệ thống công bố thông tin
Tổ chức Quốc tế các Ủy ban Chứng khốn
Quyền sở hữu trí tuệ
Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu
tư nước ngoài và nhà nước tiếp nhận đầu

MA
MFN
MSS
NĐTNN
NT
PCA


Nguyên tắc Tiếp cận thị trường
Nguyên tắc Tối huệ quốc
Hệ thống giám sát thị trường
Nhà đầu tư nước ngoài
Nguyên tắc Đối xử quốc gia
Hiệp định Đối tác và Hợp tác toàn diện

RCEP

Việt Nam – EU
Hiệp định Đối tác Kinh tế Tồn diện Khu


SGDCK
SMBD

vực
Sở Giao dịch Chứng khốn
Nghĩa vụ đối với Nhân sự quản lý cấp cao

SRO
TCKDCK
CPTPP
TRIMs

và Hội đồng quản trị
Tổ chức được ủy quyền quản lý
Tổ chức kinh doanh chứng khốn
Hiệp định Đối tác xun Thái Bình Dương
Hiệp định về Các biện pháp đầu tư liên

TTCK
TTCK
TTLKCK
UBCKNN
Upcom

quan đến thương mại của WTO
Thị trường Chứng khoán
Thị trường Chứng khoán
Trung tâm Lưu ký Chứng khoán
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
Thị trường giao dịch các công ty đại


VJEPA

chúng chưa niêm yết đăng ký giao dịch
Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật

WTO

Bản
Tổ chức Thương mại Thế giới



MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế thông qua việc tham gia các Hiệp định Thương mại tự
do (FTA) đang trở thành xu thế phổ biến. FTA ngày càng trở nên phổ biến bởi
những lợi ích kinh tế mà nó mang lại, nhất là trong bối cảnh các vòng đàm phán
do Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đang còn những vướng mắc, khiến các
nước phải chuyển sang hướng hợp tác song phương và liên kết khu vực nhằm
tìm giải pháp thúc đẩy thương mại hàng hóa và dịch vụ, khiến cho việc tham gia
vào các FTA trở thành một xu hướng chung và phổ biến. Nếu như các FTA
truyền thống trước đây chỉ liên quan đến lĩnh vực hàng hóa đơn thuần thì các
FTA thế hệ mới có phạm vi rộng hơn, đòi hỏi mức độ mở cửa sâu rộng hơn trên
hầu hết các lĩnh vực trong đó có dịch vụ tài chính - chứng khốn.
Thời gian qua, Việt Nam đã và đang tiến hành đàm phán hàng loạt FTA
thế hệ mới với các đối tác lớn trên thế giới. Nhìn chung mục đích ký kết FTA
của Việt Nam cũng giống như các nước khác là mong muốn tăng cường xuất
khẩu, tạo sức hấp dẫn để thu hút vốn đầu tư nước ngồi, tăng cường vị thế và
gây dựng hình ảnh đất nước trên trường quốc tế. FTA cịn có tác dụng gia tăng
các sức ép để đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, sự đa dạng và

phức tạp của các quy tắc và nghĩa vụ tuân thủ trong các FTA thế hệ mới có thể
sẽ gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong q trình thực hiện FTA. Sự
tương đồng về lợi thế cạnh tranh, cũng như chênh lệch về trình độ phát triển của
các nước tham gia cũng dễ dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt hoặc có các rào cản
lớn để các bên đàm phán được một FTA tồn diện.
Thực hiện chủ trương tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, trong các
nhiệm kỳ Đại hội X và XI, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã chấp thuận đề
nghị của Chính phủ về đàm phán tham gia một số FTA mới. Chính phủ cũng đã
ban hành Chỉ thị số 38/CT-TTg về tăng cường thực hiện và khai thác hiệu quả
các FTA và đã có hiệu lực. Việc Việt Nam tham gia vào 15 FTA song phương
và đa phương với các nền kinh tế trên thế giới được xem là nền tảng giúp Việt
Nam hội nhập kinh tế tồn cầu (số liệu tính đến tháng 05/2023). Bên cạnh đó,
các FTA thế hệ mới là những Hiệp định có mức độ cam kết mở cửa thị trường


cao hơn cam kết trong WTO và các FTA đã ký trước đây. Đặc biệt, Hiệp định
Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng với FTA
Việt Nam – EU (EVFTA) là những Hiệp định toàn diện, cân bằng lợi ích với
những cam kết mở cửa thị trường sâu rộng. Cùng với cơ hội, các Hiệp định này
cũng đặt ra những khó khăn thách thức khơng nhỏ. Đó là cạnh tranh sẽ diễn ra
quyết liệt khơng chỉ ở thị trường các nước tham gia Hiệp định mà ngay tại thị
trường trong nước nói chung, và đối với lĩnh vực dịch vụ chứng khốn nói riêng.
Do đó, việc đánh giá tác động của thực thi các FTA thế hệ mới đối với công tác
quản lý và giám sát thị trường chứng khoán cần được nghiên cứu, từ đó đưa ra
những khuyến nghị, đề xuất cụ thể để đảm bảo khả năng thực thi cam kết khi
các Hiệp định có hiệu lực.
Trên cơ sở đó, tác giả đã lựa chọn chủ đề “Nghiên cứu các giải pháp
nhằm thực thi cam kết của Việt Nam trong các FTA thế hệ mới về thị trường
chứng khoán” làm đề tài nghiên cứu. Mục đích của nghiên cứu là tìm ra các các
giải pháp nhằm thực thi cam kết của Việt Nam trong các Hiệp định Thương mại

tự do (FTA) thế hệ mới về thị trường chứng khốn đối với tính chất và bối cảnh
của nền kinh tế Việt Nam trong thời điểm hiện nay. Trong bối cảnh sự hội nhập
và mở cửa kinh tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam đã tham gia và ký kết một loạt
các FTA thế hệ mới, đồng thời cam kết thực hiện các điều khoản về thị trường
chứng khoán nhằm tăng cường cạnh tranh và phát triển bền vững.
Các phương pháp chủ yếu được sử dụng là: Phương pháp tổng hợp;
phương pháp suy luận lo-gic; phương pháp phân tích SWOT.
Thị trường chứng khốn là nền tảng quan trọng của hệ thống tài chính,
đóng vai trị quan trọng trong việc hút vốn đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho
doanh nghiệp và tạo đà phát triển kinh tế. Tuy nhiên, việc thực hiện cam kết về
thị trường chứng khốn trong các FTA khơng phải là điều dễ dàng. Điều này đòi
hỏi sự cải thiện và tăng cường minh bạch, tiêu chuẩn quốc tế, sự hỗ trợ và bảo
vệ cho nhà đầu tư, cũng như các biện pháp thúc đẩy tính thanh khoản và sự hội
nhập của thị trường.


Sự thay đổi khơng ngừng của thị trường chứng khốn và các yêu cầu đặt
ra bởi các FTA thế hệ mới là điều địi hỏi sự nghiên cứu và đóng góp kiến thức
sâu rộng. Tác giả tin tưởng rằng luận văn này sẽ đóng góp một phần nhỏ vào
việc hiểu sâu hơn về thị trường chứng khoán của Việt Nam và đề xuất các giải
pháp cụ thể giúp thúc đẩy tích cực việc thực hiện cam kết trong các FTA.
Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn sự hỗ trợ, định hướng và đánh
giá của trong suốt quá trình nghiên cứu và viết luận văn. Hy vọng rằng luận văn
này sẽ góp phần nhỏ vào việc nghiên cứu và phát triển thị trường chứng khoán
của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và phát triển toàn cầu.
Trân trọng,./.
Hà Nội, tháng 9 năm 2023


Chương 1: Khái quát về thực thi cam kết trong các FTA

1.1.

Khái niệm về các FTA

1.1.1. FTA
Cơ sở pháp lý để tiến hành đàm phán, ký kết và thành lập nên các Hiệp định
thương mại tự do (FTA - viết tắt của chữ tiếng Anh Free trade agreement) là các
quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cụ thể là Điều 24 – Hiệp
định chung về thuế quan và thương mại (GATT) và Điều 5 – Hiệp định chung
về thương mại dịch vụ (GATS). Theo đó, WTO cho phép các nước thành viên
được đàm phán và thiết lập các thoả thuận song phương hoặc khu vực nhằm
hình thành các Khu vực mậu dịch tự do hoặc liên minh thuế quan. Đồng thời,
Điều 23 – Hiệp định về Quy tắc và Thủ tục Giải quyết Tranh chấp trong khuôn
khổ WTO (DSU) cũng đưa ra các giới hạn về việc sử dụng các điều khoản của
hiệp định này đối với các tranh chấp trong phạm vi FTA.
Như vậy về cơ bản, FTA là hiệp định trong đó các nước tham gia ký kết
thỏa thuận dành cho nhau những ưu đãi, đó là các hàng rào thương mại kể cả
thuế quan và phi thuế quan đều được loại bỏ, song mỗi nước thành viên vẫn
được tự do quyết định những chính sách thương mại độc lập của mình đối với
các nước khơng phải thành viên của hiệp định. FTA có thể là song phương
(được ký kết giữa 2 nước) hoặc đa phương (ký giữa nhiều nước). Tuy nhiên, dù
là song phương hay đa phương, FTA thường đem lại lợi ích rất lớn cho các nước
thành viên trong việc thúc đẩy thương mại, tận dụng những lợi thế so sánh của
nhau. Không những thế, do có phạm vi hợp tác rộng, FTA cịn xúc tiến tự do
hóa đầu tư, hợp tác chuyển giao cơng nghệ, hiệu suất hóa thủ tục hải quan và
nhiều dịch vụ khác.
Đặc điểm quan trọng nhất của FTA “truyền thống” là phạm vi của hiệp định
cơ bản chỉ bao gồm các cam kết về tự do hóa trong hai lĩnh vực thương mại
hàng hóa và dịch vụ, và các thỏa thuận về cơ chế giải quyết tranh chấp.



Có thể kể tên một vài FTA điển hình theo khái niệm này mà Việt Nam đã
tham gia ký kết là FTA ASEAN (AFTA); FTA ASEAN - Trung Quốc
(ACFTA), ASEAN - Ấn Độ (AIFTA).
Các điều khoản chính của FTA bao gồm:
a) Cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế quan: Các FTA thường liên quan đến
việc cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế quan, là loại thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu.
Điều này giúp hàng hóa được sản xuất tại các nước tham gia cạnh tranh hơn trên
thị trường của nhau.
b) Thương mại Hàng hóa và Dịch vụ: Các FTA có thể khơng chỉ bao
gồm thương mại hàng hóa mà cịn cả thương mại dịch vụ, bao gồm các lĩnh vực
như tài chính, viễn thơng và du lịch.
c) Đầu tư: Nhiều FTA bao gồm các điều khoản liên quan đến đầu tư,
cung cấp các biện pháp bảo vệ và đảm bảo cho các nhà đầu tư nước ngoài và các
khoản đầu tư của họ trên lãnh thổ của nhau.
d) Sở hữu trí tuệ: Các FTA thường giải quyết các vấn đề liên quan đến
quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm bằng sáng chế, bản quyền, thương hiệu và bí mật
thương mại.
e) Tạo thuận lợi cho thương mại: Các FTA nhằm mục đích đơn giản
hóa và hợp lý hóa các thủ tục hải quan, tài liệu và các quy trình liên quan đến
thương mại khác để giúp thương mại suôn sẻ và hiệu quả hơn.
f) Hợp tác về quy định: Một số FTA thúc đẩy hợp tác về quy định và
liên kết giữa các quốc gia để giảm bớt các rào cản thương mại không cần thiết
phát sinh từ sự khác biệt về tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật.
g) Cơ chế giải quyết tranh chấp: Các FTA thường bao gồm các cơ chế
giải quyết tranh chấp có thể phát sinh giữa các quốc gia tham gia liên quan đến
việc giải thích hoặc thực hiện hiệp định.
h) Tiếp cận thị trường: Các FTA có thể cải thiện khả năng tiếp cận thị
trường đối với hàng hóa và dịch vụ, có khả năng dẫn đến tăng trưởng thương
mại và kinh tế.



Các FTA có thể có tác động đáng kể đến nền kinh tế của các nước tham
gia bằng cách thúc đẩy xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy hội
nhập kinh tế.
1.1.2. FTA thế hệ mới
Thuật ngữ “thế hệ mới” hồn tồn mang tính tương đối, được sử dụng để nói
về các FTA có phạm vi tồn diện với những cam kết sâu rộng chưa từng có và
cịn vượt ra ngồi khn khổ tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ, với
những nội dung trước đây từng bị từ chối vì vốn được coi là “phi thương mại”
như lao động và mơi trường thì nay lại cần thiết phải chấp nhận, bởi bối cảnh
thương mại quốc tế đã thay đổi.
Trong khi các vòng đàm phán thương mại toàn cầu của WTO đang bế tắc và
trước mắt chưa thể có bước đột phá, thì các FTA “thế hệ mới” là lựa chọn có
tính khả thi để thúc đẩy các biện pháp tự do hóa thương mại và đầu tư, cạnh
tranh, nâng cao tiêu chuẩn bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (IPR), mơi trường và tiêu
chuẩn lao động, vốn chưa được quy định trong các hiệp định hiện tại của WTO.
Nói cách khác, các nước phát triển muốn ký những hiệp định “WTO cộng” những hiệp định nhiều tham vọng hơn, bằng cách ký kết các FTA “thế hệ mới”.
Thuật ngữ “Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới” được sử dụng để
chỉ các FTA với những cam kết sâu rộng và toàn diện, bao hàm những cam kết
về tự do thương mại hàng hóa và dịch vụ như các “FTA truyền thống”; mức độ
cam kết sâu nhất; có cơ chế thực thi chặt chẽ và hơn thế, nó bao hàm cả những
lĩnh vực được coi là “phi truyền thống” như: Lao động, môi trường, doanh
nghiệp nhà nước, mua sắm chính phủ, minh bạch hóa, cơ chế giải quyết tranh
chấp về đầu tư, thương mại hàng hóa, bảo vệ sức khỏe động vật và thực vật
trong thương mại quốc tế, thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ (với “TRIPS
cộng” và “TRIPS siêu cộng”), tự vệ thương mại, quy tắc xuất xứ, giải quyết
tranh chấp giữa Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngồi
(ISDS), …Ví dụ: trong các FTA “thế hệ mới”, về thương mại hàng hóa, hầu như
toàn bộ hàng nhập khẩu sẽ được loại bỏ thuế quan (tỷ lệ xóa bỏ thuế quan xấp xỉ



100%, trong khi ở các FTA thông thường, tỷ lệ xóa bỏ thuế quan khoảng 90%);
về thương mại dịch vụ, các cam kết đều cao hơn so với cam kết WTO (WTO
cộng).
Nếu như trong các Hiệp định FTA truyền thống, thương mại dịch vụ được
chia thành bốn phương thức cung cấp là (i) cung cấp qua biên giới; (ii) tiêu dùng
ngoài lãnh thổ; (iii) hiện diện thương mại; và (iv) hiện diện của thể nhân. Tuy
nhiên, trong nhiều Hiệp định FTA “thế hệ mới”, thương mại dịch vụ chỉ bao
gồm hai phương thức cung cấp qua biên giới và tiêu dùng ngoài lãnh thổ,
phương thức hiện diện thương mại được đưa vào phần đầu tư, hiện diện của thể
nhân được đưa vào một chương riêng về di chuyển của thể nhân. Ngoài ra, điểm
đặc biệt của một số FTA thế hệ mới so với WTO trong mở cửa thị trường dịch
vụ (cả dịch vụ qua biên giới và đầu tư tại nước sở tại) là trong khi WTO mở cửa
theo kiểu “chọn-cho”(theo nghĩa chọn/ liệt kê ra một Danh mục các lĩnh vực
dịch vụ mà nước thành viên cam kết sẽ mở “cho” đối tác, và họ sẽ phải mở tối
thiểu như mức đã cam kết; còn các lĩnh vực nằm ngồi Danh mục này thì nước
liên quan tùy ý áp dụng các mức mở cửa, điều kiện mở cửa mà mình muốn), thì
một số FTA “thế hệ mới” lại mở cửa thị trường theo kiểu “chọn-bỏ” (theo nghĩa
chọn/liệt kê ra một Danh mục các lĩnh vực dịch vụ mà nước thành viên chưa
muốn mở cửa, hoặc mở cửa cho đối tác ở mức nhất định được nêu cụ thể, và họ
sẽ có quyền chỉ phải mở tối thiểu như mức đã cam kết; cịn các lĩnh vực nằm
ngồi Danh mục này, nước đó sẽ buộc phải mở tồn bộ, khơng có bất kỳ hạn chế
gì cho đối tác).
Các Hiệp định FTA “thế hệ mới” thường có một chương/hiệp định riêng về
đầu tư, trong đó quy định tất cả các yếu tố liên quan tới đầu tư như: (i) thuận lợi
hóa đầu tư; (ii) khuyến khích và bảo hộ đầu tư; (iii) tự do hóa đầu tư.
Các Hiệp định FTA “thế hệ mới” còn bao gồm các nội dung như thương
mại điện tử, mua sắm chính phủ (mua sắm cơng), sở hữu trí tuệ, chính sách cạnh
tranh, minh bạch hóa và chống tham nhũng, doanh nghiệp nhà nước, phát triển

bền vững (lao động và môi trường),…


Điển hình cho các FTA “thế hệ mới” hay cịn gọi là FTA của “Thế kỷ 21”
mà Việt Nam đã ký kết là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xun Thái
Bình Dương (CPTPP), FTA Việt Nam-EU, ngồi ra thì cũng có thể kể đến một
FTA đang trong quá trình đàm phán là FTA giữa ASEAN và các nước đối tác
của ASEAN (gọi là FTA ASEAN++ hoặc RCEP), tuy nhiên xét về mức độ và
phạm vi cam kết, Hiệp định CPTPP và EVFTA là những điển hình của FTA thế
hệ mới1. Trong phạm vi của đề tài này, tác giả xin đi sâu vào các nội dung mà
Việt Nam cam kết trong hai Hiệp định CPTPP và EVFTA. Dưới đây là một số
đặc điểm chính của các FTA thế hệ mới:
a) Phạm vi toàn diện: Các FTA thế hệ mới có xu hướng bao trùm
nhiều vấn đề hơn ngoài việc cắt giảm thuế quan và hạn ngạch. Chúng thường
bao gồm các lĩnh vực như dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử,
chính sách cạnh tranh, tiêu chuẩn lao động, bảo vệ môi trường và phát triển bền
vững.
b) Dịch vụ và Đầu tư: Các FTA này nhấn mạnh tự do hóa thương mại
dịch vụ và khuyến khích đầu tư xuyên biên giới, thừa nhận tầm quan trọng ngày
càng tăng của ngành dịch vụ trong nền kinh tế hiện đại.
c) Nền kinh tế số và thương mại điện tử: Các FTA thế hệ mới thường
giải quyết những thách thức và cơ hội của nền kinh tế số và thương mại điện tử,
tạo thuận lợi cho thương mại trực tuyến và luồng dữ liệu xuyên biên giới.
d) Quyền sở hữu trí tuệ: Các FTA này có thể bao gồm các điều khoản
liên quan đến bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bằng sáng chế, bản quyền, thương
hiệu và bí mật thương mại, có tính đến các tiến bộ công nghệ.
e) Sự gắn kết về quy định: Họ có thể thúc đẩy sự gắn kết về quy định
và hợp tác giữa các quốc gia để giảm các rào cản phi thuế quan đối với thương
mại và điều chỉnh các tiêu chuẩn và quy định.
f) Phát triển bền vững: Nhiều FTA thế hệ mới bao gồm các cam kết

thúc đẩy phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và quyền lao động.

1

Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và tác động đối với kinh tế Việt Nam – Tạp chí Tài chính, 2019


g) Giải quyết tranh chấp: Các FTA này thường bao gồm các cơ chế
giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giải thích và thực hiện hiệp định.
h) Biến thể song phương và khu vực: Các FTA thế hệ mới có thể khác
nhau về các điều khoản và phạm vi cụ thể, vì chúng thường được điều chỉnh cho
phù hợp với nhu cầu và lợi ích của các quốc gia tham gia.
i) Tập trung vào Phát triển: Một số FTA thế hệ mới nhấn mạnh vào
việc hỗ trợ các mục tiêu phát triển của các nước kém phát triển hơn bằng cách
cung cấp hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng năng lực và các hình thức hỗ trợ khác.
Nhìn chung, Điều quan trọng cần lưu ý là thuật ngữ "thế hệ mới" khơng
có định nghĩa được tiêu chuẩn hóa và các chi tiết cụ thể khiến FTA được xếp
vào danh mục này có thể khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh và mục tiêu của các
quốc gia tham gia. các FTA thế hệ mới nhằm giải quyết những vấn đề phức tạp
của nền kinh tế toàn cầu hiện đại và tạo khuôn khổ cho sự hội nhập và hợp tác
kinh tế sâu rộng hơn giữa các quốc gia. Họ nhận ra tầm quan trọng của việc
không chỉ tạo thuận lợi cho thương mại mà cịn đảm bảo rằng các lợi ích được
chia sẻ rộng rãi và bền vững hơn.
1.1.3. Cam kết và việc thực thi cam kết trong FTA
Trong một Hiệp định thương mại tự do (FTA), các cam kết đề cập đến các
nghĩa vụ và lời hứa cụ thể mà các quốc gia dành cho nhau để tạo thuận lợi cho
hợp tác kinh tế và thương mại. Các cam kết này phác thảo các điều khoản mà
theo đó các bên đồng ý giảm hoặc loại bỏ các rào cản thương mại và thiết lập
một khuôn khổ để tiến hành kinh doanh xuyên biên giới. Thực thi cam kết là quá
trình đưa các nghĩa vụ này vào thực tế nhằm đạt được kết quả mong muốn của

FTA. Việc thực thi các cam kết trong FTA có thể kể tới như sau:
a) Cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế quan: Một trong những cam kết chính
trong FTA là cắt giảm hoặc xóa bỏ thuế quan đối với hàng hóa được giao dịch
giữa các nước tham gia. Thuế quan là loại thuế áp dụng đối với hàng nhập khẩu
và bằng cách cắt giảm hoặc loại bỏ chúng, các quốc gia nhằm mục đích làm cho
sản phẩm của họ cạnh tranh hơn trên thị trường của nhau. Việc thực hiện liên


quan đến cách tiếp cận theo từng giai đoạn để cắt giảm thuế quan trong một
khoảng thời gian đã thỏa thuận.
b) Các biện pháp phi thuế quan: FTA thường giải quyết các rào cản
phi thuế quan như hạn ngạch, yêu cầu cấp phép và quy định kỹ thuật có thể cản
trở thương mại. Các cam kết có thể liên quan đến việc hài hịa các tiêu chuẩn,
đơn giản hóa thủ tục hải quan và giảm bớt các trở ngại pháp lý khơng cần thiết.
Việc thực hiện địi hỏi phải thay đổi các quy định trong nước và thơng lệ hành
chính để phù hợp với các cam kết đã thỏa thuận.
c) Thương mại dịch vụ: Các cam kết liên quan đến thương mại dịch
vụ tập trung vào việc mở cửa các lĩnh vực như tài chính, viễn thơng, y tế và giáo
dục cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Việc thực hiện liên quan đến việc
tạo ra một môi trường pháp lý cho phép các nhà cung cấp dịch vụ nước ngồi
hoạt động và cạnh tranh cơng bằng trên thị trường nội địa.
d) Đầu tư: Các cam kết đầu tư có thể bao gồm các điều khoản bảo vệ
quyền của nhà đầu tư nước ngoài, đảm bảo đối xử cơng bằng và bình đẳng, và
cung cấp các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư. Việc thực hiện liên quan đến
việc ban hành các luật và quy định cung cấp các biện pháp bảo vệ pháp lý cho
các nhà đầu tư nước ngoài và các khoản đầu tư của họ.
e) Quyền sở hữu trí tuệ (IPR): Các cam kết liên quan đến quyền sở
hữu trí tuệ liên quan đến việc thiết lập các tiêu chuẩn để bảo vệ bằng sáng chế,
bản quyền, thương hiệu và bí mật thương mại. Việc thực hiện đòi hỏi phải củng
cố luật sở hữu trí tuệ và các cơ chế thực thi.

f) Thương mại điện tử và thương mại kỹ thuật số: Các FTA hiện đại
có thể bao gồm các cam kết tạo thuận lợi cho thương mại kỹ thuật số, luồng dữ
liệu xuyên biên giới và giao dịch trực tuyến. Việc thực hiện liên quan đến việc
phát triển các quy định hỗ trợ các hoạt động thương mại điện tử và kinh tế kỹ
thuật số.
g) Tiêu chuẩn Lao động và Môi trường: Một số FTA bao gồm các
cam kết duy trì quyền lao động và bảo vệ môi trường. Việc thực hiện liên quan


đến việc đảm bảo rằng luật pháp và thông lệ trong nước tuân thủ các tiêu chuẩn
lao động và môi trường quốc tế.
h) Giải quyết tranh chấp: Các cam kết liên quan đến giải quyết tranh
chấp phác thảo các cơ chế và thủ tục giải quyết xung đột có thể phát sinh giữa
các quốc gia tham gia. Việc thực hiện liên quan đến việc thiết lập và duy trì các
cơ chế giải quyết tranh chấp như đã nêu trong FTA.
i) Hợp tác theo quy định: Các cam kết trong lĩnh vực này liên quan
đến việc điều phối và sắp xếp các phương pháp tiếp cận theo quy định để giảm
bớt các rào cản thương mại không cần thiết. Việc triển khai u cầu phát triển
các quy trình trao đổi thơng tin, công nhận lẫn nhau và hợp tác trong các vấn đề
pháp lý.
j) Tiếp cận thị trường: Các cam kết liên quan đến tiếp cận thị trường
liên quan đến việc cho phép hàng hóa và dịch vụ từ các quốc gia đối tác thâm
nhập thị trường nội địa theo các điều kiện công bằng. Việc thực hiện liên quan
đến việc điều chỉnh các thủ tục nhập khẩu, thuế quan và các quy định để tạo điều
kiện tiếp cận.
Việc thực hiện thành cơng các cam kết trong một FTA địi hỏi sự hợp tác
chặt chẽ giữa các quốc gia tham gia, cũng như những thay đổi về luật pháp và
quy định trong nước để phù hợp với các điều khoản của hiệp định. Các cơ chế
giám sát và thực thi thường được thiết lập để đảm bảo rằng các cam kết được
thực hiện một cách hiệu quả và mọi tranh chấp đều được giải quyết theo các thủ

tục đã thỏa thuận.
1.2. Đặc điểm và phân loại các cam kết trong FTA thế hệ mới về thị trường
chứng khoán
Các cam kết trong Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới liên
quan đến thị trường chứng khoán và dịch vụ tài chính có thể thay đổi tùy theo
mục tiêu và ưu tiên cụ thể của các nước tham gia. Những cam kết này được thiết
kế để tạo ra một môi trường cởi mở, minh bạch và hiệu quả hơn cho hoạt động
đầu tư xuyên biên giới trên thị trường tài chính. Dưới đây là một số đặc điểm và


khả năng phân loại cam kết trong một FTA thế hệ mới liên quan đến thị trường
chứng khoán:
Đặc điểm của các cam kết:
a. Tiếp cận thị trường: Các cam kết có thể liên quan đến việc mở cửa
thị trường chứng khốn và lĩnh vực dịch vụ tài chính cho các nhà đầu tư nước
ngoài, cho phép họ đầu tư và tham gia vào thị trường với những điều kiện nhất
định.
b. Quyền sở hữu và kiểm sốt: Các cam kết có thể giải quyết các quy
định về quyền sở hữu và kiểm sốt, cho phép các nhà đầu tư nước ngồi có một
mức độ sở hữu nhất định đối với các tổ chức tài chính hoặc tổ chức thị trường
chứng khốn trong nước.
c. Đối xử bình đẳng: FTA có thể u cầu các nhà đầu tư nước ngồi
được đối xử bình đẳng với các nhà đầu tư trong nước, đảm bảo một sân chơi
bình đẳng về các quy định và tiếp cận thị trường.
d. Tính minh bạch và tính nhất quán của quy định: Các cam kết có thể
bao gồm các điều khoản về quy định minh bạch và áp dụng nhất quán các quy
tắc, giảm thiểu sự không chắc chắn cho nhà đầu tư và đảm bảo cạnh tranh công
bằng.
e. Quản lý rủi ro và bảo vệ nhà đầu tư: FTA có thể yêu cầu cả hai bên
thiết lập các khuôn khổ quản lý rủi ro và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư mạnh mẽ.

f. Cấp phép và Ủy quyền: Các cam kết có thể đưa ra các thủ tục và
tiêu chí để cấp phép và ủy quyền cho các tổ chức tài chính nước ngồi hoạt động
trên thị trường nội địa.
g. Giải quyết tranh chấp: Các điều khoản có thể giải quyết các cơ chế
giải quyết tranh chấp đối với các dịch vụ tài chính và tranh chấp liên quan đến
đầu tư.
Phân loại cam kết:
a. Cam kết tiếp cận thị trường: Những cam kết này tập trung vào việc
tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài tiếp cận thị trường chứng khoán và


lĩnh vực dịch vụ tài chính trong nước. Chúng có thể liên quan đến việc giảm
hoặc loại bỏ các hạn chế đối với quyền sở hữu và sự tham gia của nước ngoài.
b. Cam kết đối xử tối huệ quốc: Những cam kết này đảm bảo rằng các
nhà đầu tư nước ngồi được đối xử khơng kém thuận lợi hơn các nhà đầu tư
trong nước về tiếp cận thị trường và đối xử theo quy định.
c. Cam kết về tính minh bạch và quy định: Những cam kết này nhằm
tăng cường tính minh bạch và khả năng dự đốn bằng cách u cầu cả hai bên
cơng bố và duy trì các luật, quy định và quy định hành chính liên quan đến thị
trường chứng khốn và dịch vụ tài chính.
d. Cam kết bảo vệ nhà đầu tư: Những cam kết này tập trung vào việc
cung cấp các biện pháp bảo vệ và bảo vệ pháp lý cho các nhà đầu tư nước ngoài,
bao gồm các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư.
e. Cam kết về các biện pháp thận trọng: Những cam kết này công
nhận tầm quan trọng của khả năng của mỗi bên trong việc thực hiện các biện
pháp thận trọng (các biện pháp nhằm bảo vệ sự ổn định và tồn vẹn của hệ
thống tài chính) trong khi vẫn tuân thủ các nguyên tắc của FTA.
f. Cam kết hợp tác và trao đổi thông tin: Những cam kết này thúc đẩy
sự hợp tác giữa các cơ quan quản lý, khuyến khích chia sẻ thơng tin và các
phương pháp hay nhất để tăng cường tính thống nhất của quy định và giám sát

hiệu quả.
g. Cam kết giải quyết tranh chấp: Những cam kết này thiết lập các thủ
tục giải quyết tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều khoản
của FTA, bao gồm cả những điều khoản liên quan đến thị trường chứng khoán
và dịch vụ tài chính.
Điều quan trọng cần lưu ý là các cam kết và phân loại cụ thể có thể khác
nhau tùy theo đàm phán và thỏa thuận giữa các quốc gia tham gia, cũng như
hoàn cảnh và ưu tiên riêng của khu vực tài chính của mỗi quốc gia.
1.3. Các cấp độ thực thi cam kết trong FTA.


Việc thực hiện các cam kết trong Hiệp định thương mại tự do (FTA) bao
gồm nhiều cấp độ và giai đoạn để đảm bảo rằng các điều khoản đã thỏa thuận
được đưa vào thực tế một cách hiệu quả. Các cấp độ thực hiện này thường bao
gồm:
a. Thay đổi pháp lý và quy định trong nước:
- Ở cấp quốc gia, mỗi quốc gia tham gia cần rà soát các luật và quy
định hiện hành của mình để đảm bảo chúng phù hợp với các cam kết trong FTA.
- Những thay đổi pháp lý và quy định cần thiết có thể cần được đề
xuất, soạn thảo và ban hành để phản ánh các điều khoản của FTA. Điều này có
thể liên quan đến các sửa đổi đối với thương mại, đầu tư và các luật liên quan.
b. Công khai, minh bạch: Sau khi có những thay đổi cần thiết, các luật
và quy định cập nhật cần được công bố và công khai minh bạch để đảm bảo các
doanh nghiệp, nhà đầu tư và công chúng nắm được các quy định mới.
c. Củng cố, đào tạo nâng cao nguồn nhân lực: Chính phủ có thể cung
cấp các chương trình đào tạo và nâng cao năng lực cho tổ chức chính quyền, cấp
quản lý doanh nghiệp, người lao động và các bên liên quan có liên quan để đảm
bảo hiểu và thực thi đúng các điều khoản của FTA.
d. Tiếp cận thị trường và cắt giảm thuế quan: Nếu FTA có cam kết cắt
giảm hoặc xóa bỏ thuế quan thì mỗi nước cần điều chỉnh thủ tục hải quan và

biểu thuế cho phù hợp. Việc cắt giảm thuế quan thường được thực hiện theo
từng giai đoạn trong một khoảng thời gian xác định trước để có thể điều chỉnh
dần dần.
e. Cam kết về dịch vụ và đầu tư: Đối với các cam kết liên quan đến
thương mại dịch vụ và đầu tư, các quốc gia có thể cần thiết lập các thủ tục cấp
phép, giấy phép và phê duyệt cho các nhà cung cấp dịch vụ và nhà đầu tư nước
ngoài.
f. Xác minh quy tắc xuất xứ: Trong các FTA có quy định về quy tắc
xuất xứ, cơ quan hải quan sẽ cần xác minh hàng hóa xuất khẩu đáp ứng tiêu chí
xuất xứ để được hưởng đối xử ưu đãi.


g. Cơ chế giải quyết tranh chấp: Thiết lập các cơ chế và thủ tục giải
quyết đàm phán giữa các bên như đã nêu trong FTA, đảm bảo các bất đồng được
giải quyết một cách cơng bằng và có trật tự.
h. Cơ chế Giám sát và Báo cáo: Các nước tham gia thường thiết lập cơ
chế giám sát việc thực hiện FTA và nộp báo cáo định kỳ về tiến độ và tuân thủ.
i. Các biện pháp phi thuế quan: Thực hiện các cam kết cắt giảm hàng
rào phi thuế quan có thể bao gồm đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện cơ
sở hạ tầng liên quan đến thương mại và tăng cường hợp tác giữa các cơ quan
quản lý.
j. Hợp tác và hỗ trợ kỹ thuật: Một số FTA có các điều khoản về hợp
tác và hỗ trợ kỹ thuật để giúp các nước hạn chế về nguồn lực hoặc năng lực thực
hiện cam kết một cách hiệu quả.
k. Nhận thức cộng đồng và tiếp cận cộng đồng: Thông tin cho doanh
nghiệp, các bên liên quan và công chúng về những thay đổi do thực thi FTA là
rất quan trọng để đảm bảo quá trình chuyển đổi sn sẻ và tối đa hóa lợi ích của
hiệp định.
l. Xem xét và Điều chỉnh: Theo thời gian, các quốc gia có thể xem
xét lại việc thực hiện và tác động của FTA và đưa ra những điều chỉnh cần thiết

để giải quyết mọi thách thức hoặc thay đổi trong hoàn cảnh.
Điều quan trọng cần lưu ý là các cấp độ và giai đoạn thực hiện có thể
khác nhau tùy thuộc vào FTA cụ thể, phạm vi cam kết và hoàn cảnh riêng của
từng quốc gia tham gia. Việc triển khai thành cơng địi hỏi sự hợp tác, phối hợp
và liên lạc liên tục giữa các bên liên quan.
1.4. Các điều kiện tác động đến việc thực thi các cam kết
1.4.1. Về kinh tế
Điều kiện kinh tế đóng vai trị quan trọng trong việc thực thi các Hiệp
định thương mại tự do (FTA). Tình trạng nền kinh tế của một quốc gia có thể tác
động đến các khía cạnh khác nhau của việc thực hiện FTA, từ dòng chảy thương
mại và đầu tư đến cải cách quy định và tiếp cận thị trường. Các điều kiện kinh tế


tăng trưởng hay suy thối có thể ảnh hưởng đến việc thực thi các cam kết trong
FTA có thể kể đến như sau:
a. Tổng kim ngạch song phương, đa phương: Các điều kiện kinh tế
thuận lợi, chẳng hạn như tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và nhu cầu của người tiêu
dùng, có thể dẫn đến tăng kim ngạch thương mại giữa các nước đối tác FTA.
Việc thực hiện có thể liên quan đến việc điều chỉnh các luồng thương mại cao
hơn, quản lý các thủ tục hải quan và đảm bảo hoạt động hậu cần hiệu quả. Ở
chiều ngược lại, suy thối kinh tế có thể ảnh hưởng đến mơ hình thương mại và
làm giảm nhu cầu đối với một số hàng hóa và dịch vụ, có khả năng dẫn đến thay
đổi các ưu tiên tiếp cận thị trường và đàm phán lại các cam kết.
b. Dòng vốn đầu tư: Trong các điều kiện kinh tế tích cực, nền kinh tế
có thể thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) do triển vọng kinh doanh
được cải thiện. Việc thực hiện FTA có thể liên quan đến việc tạo ra môi trường
đầu tư hấp dẫn, đảm bảo bảo vệ nhà đầu tư và thúc đẩy quy trình thủ tục hành
chính. Tuy nhiên trong thời kỳ suy thối kinh tế, dịng vốn FDI có thể bị ảnh
hưởng, khiến các nước phải tăng cường các cam kết liên quan đến đầu tư để kích
thích hoạt động đầu tư trực tiếp/gián tiếp nước ngồi.

c. Khả năng tiếp cận thị trường và tính cạnh tranh trong nền kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế có thể kéo theo nhu cầu tiêu dùng tăng lên, đòi hỏi phải
thực thi hiệu quả các cam kết liên quan đến chính sách mở cửa và cạnh tranh
nhằm đảm bảo cạnh tranh bình đẳng và ngăn chặn các hành vi cạnh tranh khơng
lành mạnh. Trong thời kỳ suy thối kinh tế có thể cần phải xem xét lại các chính
sách cạnh tranh để bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước và thúc đẩy phục
hồi kinh tế.
d. Các biện pháp thuế quan và phi thuế quan: Trong các điều kiện
kinh tế tích cực có thể giúp các quốc gia linh hoạt hơn trong việc cắt giảm hoặc
loại bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, thúc đẩy việc thực hiện các
cam kết tự do hóa thương mại thuận lợi hơn. Tuy nhiên khi nền kinh tế gặp các
thách thức bất lợi có thể dẫn đến nhu cầu áp dụng các biện pháp tạm thời hoặc


miễn trừ để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, có khả năng ảnh hưởng đến
tốc độ và phạm vi cắt giảm thuế quan.
e. Cải cách quy định hành chính: Tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ có thể
tạo mơi trường thuận lợi để thực hiện cải cách thể chế nhằm điều chỉnh luật
pháp và quy định trong nước phù hợp với các cam kết FTA. Trong thời kỳ suy
thoái kinh tế, các quốc gia có thể ưu tiên các biện pháp ngắn hạn để ổn định nền
kinh tế, có khả năng trì hỗn một số cải cách quy định.
f. Các biện pháp phòng vệ thương mại và tự vệ: Các điều kiện kinh tế
tích cực có thể làm giảm nhu cầu áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại
hoặc tự vệ vì các ngành ít có khả năng phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay
gắt hơn. Tuy nhiên khi nền kinh tế gặp các thách thức bất lợi có thể dẫn đến nhu
cầu gia tăng các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ các ngành sản xuất
trong nước trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt.
g. Nguồn lực và khả năng điều hành của Chính phủ: Các điều kiện
kinh tế thuận lợi có thể cung cấp cho chính phủ các nguồn lực và năng lực cần
thiết để thực thi hiệu quả các cam kết FTA và đầu tư vào các biện pháp thực

hiện, tuy nhiên những khó khăn về kinh tế trong thời kỳ suy thối có thể hạn chế
các nguồn lực của chính phủ dành cho việc thực hiện FTA, có khả năng ảnh
hưởng đến các nỗ lực giám sát và thực thi.
h. Sự gia tăng của cầu tiêu dùng người dân doanh nghiệp: Các điều
kiện kinh tế tích cực có thể thúc đẩy nhu cầu của người tiêu dùng và doanh
nghiệp đối với việc thực thi FTA, do lợi ích của việc gia tăng thương mại và đầu
tư đã rõ ràng hơn. Ngược lại, áp lực suy thối kinh tế có thể dẫn đến những lo
ngại của người dân về đảm bảo việc làm và khả năng trụ vững của các ngành
sản xuất và tài chính, có khả năng ảnh hưởng xấu đến việc thực thi FTA.
Tóm lại, các điều kiện kinh tế ảnh hưởng đến các ưu tiên, thách thức và
cơ hội liên quan đến việc thực thi FTA. Các chính phủ cần điều chỉnh các chiến
lược và cách tiếp cận của mình dựa trên bối cảnh kinh tế để đảm bảo rằng các
cam kết đã thỏa thuận được thực hiện một cách hiệu quả trong khi xem xét tác
động kinh tế rộng lớn hơn.



×