2. LUẬN CỨ BÀO CHỮA CHO BỊ CÁO NGƠ ĐÌNH HỒNG
Với tư cách là Luật sư bào chữa cho Ngơ Đình Hồng thì sẽ
bào chữa theo hướng u cầu Tịa tun Ngơ Đình Hồng vơ tội.
Bản luận cứ như sau:
Kính thưa:
-
Hội đồng xét xử;
-
Vị đại diện Viện kiểm sát;
Cùng tất cả các Q Vị có mặt tại phiên tịa sơ thẩm
ngày hơm nay.
Tơi là Luật sư Bùi Minh Trình và bên cạnh của tôi là Luật sư
cộng sự Nguyễn Anh Đài, thuộc Văn phịng Luật sư A - Đồn Luật sư
tỉnh Đồng Nai. Nhận lời mời của gia đình bị cáo, được sự chấp thuận
của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, chúng tơi có mặt tại phiên tịa
sơ thẩm ngày hơm nay với vai trị là người bào chữa cho Bị cáo Ngơ
Đình Hồng – đang bị VKSND quận Cầu Giấy truy tố về hành vi
"Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ
luật hình sự.
Với tư cách là người bào chữa cho bị cáo Hoàng, sau khi
nghiên cứu hồ sơ vụ án, Bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát
và nội dung phần xét hỏi tại phiên tịa hơm nay, chúng tôi cho rằng
việc Viện kiểm sát truy tố bị cáo Ngơ Đình Hồng về hành vi
“Chống người thi hành cơng vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330
Bộ luật hình sự với tình tiết định khung là “Người nào dùng vũ lực,
đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành
công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành
vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo khơng giam giữ đến 03 năm
hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” là khơng có cơ sở, khơng
thuyết phục và không phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ
án. Bởi các lẽ sau đây:
Thứ nhất, Về mặt khách quan, bị cáo Ngơ Đình Hồng
hồn tồn khơng có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực
hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ
thực hiện công vụ của họ.
Trong tất cả các biên bản lời khai, hỏi cung và nội dung phần
xét hỏi tại tịa ngày hơm nay đều cho thấy bị cáo Ngơ Đình Hồng
khơng có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ
1
đoạn khác đối với các cán bộ công an, cảnh sát đang làm nhiệm vụ
mà chỉ có hành vi đối với cán bộ làm nhiệm vụ.
+ Tại chốt A là chốt trực tiếp giải quyết lỗi vi phạm của Hoàng
do anh Vũ Mạnh Nam – đội phó đội CSGT số 7 - Tổ trưởng phụ
trách; tại biên bản ghi lời khai ngày 09.10.2017 (bút lục 121) cũng
ghi rõ: “quá trình bị dừng xe, kiểm tra, xử lý thì tơi khơng thấy
Hồng đánh đập, xơ đẩy đối với cán bộ thi hành nhiệm vụ mà
Hoàng chỉ to tiếng, tranh cãi với các cán bộ trực tiếp kiểm tra.
Hồng khơng xơ đẩy, túm áo của ai hết”.
+ Việc bị cáo có hành vi đẩy cổ, túm tóc (nếu có) khi bị anh
Phương và các cán bộ cơng an quật ngã có thể coi là hành động tự
vệ, phản kháng theo bản năng của bị cáo. Bị cáo hoàn toàn bị động
với hành động quật ngã của anh Phương, khơng có hành vi đánh,
đấm đối với anh Phương trong quá trình vật lộn hoặc trước khi bị
anh Phương lao vào quật ngã.
+ Tại biên bản kiểm tra dấu vết trên thân thể anh Phương tại
trụ sở công an phường Mai Dịch lập lúc 23h30 ngày 08.10.2017 (bút
lục 23) đều khẳng định không phát hiện thấy dấu vết gì trên thân
thể; Trong khi với biên bản kiểm tra thân thể bị cáo Ngơ Đình
Hồng thấy có vết xước dài 2cm ở mu bàn tay trái và 01 vết xước
dài 2cm ở cổ tay trái (bút lục 22). Điều này cũng phù hợp với tình
huống tại hiện trường là bị cáo Hồng chỉ có một mình trong khi tổ
cơng tác làm nhiệm vụ có nhiều đồng chí cơng an. Thêm nữa, theo
nội dung tại bản báo cáo vụ việc ngày 09.10.2017 gửi Công an
quận Cầu Giấy anh Vũ Mạnh Nam cũng xác nhận: “Trong quá trình
kiểm tra xử lý tơi khơng nhìn thấy nam thanh niên (Hồng) đánh
đập, xơ đẩy đồng chí Phương hay các đồng chí khác trong tổ cơng
tác…” và “Trong khoảng 15 phút nam thanh niên không chấp hành
việc kiểm tra xử lý của tổ cơng tác, vị trí chốt A dừng mọi hoạt
động để xử lý còn chốt C, B bảo đảm việc phân luồng giao thông
tránh ùn tắc…” (Bút lục 117).
+ Tại bản báo cáo vụ việc và lời khai của các đồng chí tổ cơng
tác, khi sự việc xảy ra tổ công tác khác vẫn phân luồn và làm nhiệm
vụ bình thường vị trí chốt A dừng mọi hoạt động xử lý còn chốt B và
chốt C vẫn hoạt động bình thường. Thời gian tạm dừng cơng vụ là
rất ngắn khoảng 10 -15 phút, việc tạm dừng này là do có nhiều
người dân hiếu kì, dừng lại chứ khơng hoàn toàn do hành vi chửi bới
của bị cáo Hoàng. Điều này thể hiện hành vi chửi bới của bị cáo
2
chưa ảnh hưởng lớn đến mức tố công tác không thể thực hiện
nhiệm vụ, mà chỉ gây mất an ninh trật tự trong khoảng thời gian
ngắn cho đến khi bị khống chế. Đồng thời tổ cơng tác rất nhiều
đồng chí đang làm nhiệm vụ, nếu xử lý khôn khéo, chuyên nghiệp
thì việc xử lý rất nhanh chóng khơng để xảy ra tình trạng tụ tập
đơng người ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ.
Vì vậy, về mặt khách quan khơng có cơ sở để kết luận bị cáo
Hồng có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn
khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện cơng vụ của mình đối
với sự việc trong nội dung vụ án.
Thứ hai, Về mặt chủ quan
Nguyên nhân dẫn đến hành vi chửi bới, cãi vã, to tiếng của bị
cáo Hồng với cán bộ giao thơng khơng phải do lỗi cố ý trực tiếp
biết mình đang thực hiện hành vi cản trở người thi hành công vụ
nhưng vẫn cố tình thực hiện mà bởi các ngun do sau:
+ Hồn cảnh kinh tế của Bị cáo khó khăn, ban ngày Bị cáo
làm công nhân, tối về làm thêm chạy xe ôm mới đủ trang trải cuộc
sống;
+ Nhận thức pháp luật của bị cáo hạn chế, bị cáo nghĩ xe bị
cáo mua một cách hợp pháp, bị cáo có giấy tờ xe đầy đủ chỉ là để
qn ở nhà thì khơng bị giữ xe;
+ Phương tiện công cụ làm việc duy nhất để kiếm sống bằng
nghề xe ôm của Bị cáo bị thu giữ làm ảnh hưởng lớn đến công việc
mưu sinh của Bị cáo;
+ Bức xúc do có cán bộ công an mắng chửi bị cáo, cùng với
việc tổ công tác liên tục yêu cầu xuất trình giấy tờ trong khi bị cáo
Hồng đã nói rất rõ là để qn giấy tờ ở nhà.
Từ đó, có thể kết luận hành vi của bị cáo Hồng khơng đủ yếu
tố cấu thành tội “Chống người thi hành cơng vụ”. Vì lẽ đó, VKSND
quận Cầu Giấy không đủ cơ sở pháp lý để kết tội bị cáo Hoàng về
hành vi “Chống người thi hành công vụ” quy định tại khoản 1 Điều
330 Bộ luật hình sự.
Thứ ba, chứng cứ xác định hành vi phạm tội của Bị cáo
Hồng được thu thập khơng đầy đủ và khơng đúng quy định
của pháp luật và có những sai phạm về tố tụng
3
Tại tất cả Bản Kết luận điều tra vụ án hình sự của CQCSĐT và
Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đều kết tội, CQTHTT chỉ dựa trên
chứng cứ duy nhất là các Biên bản ghi lời khai để kết tội bị cáo
Hoàng về hành vi chống người thi hành cơng vụ,. Tuy nhiên, q
trình thu thập lời khai của cơ quan tiến hành tố tụng được thể hiện
tại hồ sơ vụ án đang có nhiều điểm thiếu sót và trái với quy định
của pháp luật cụ thể như sau:
Cán bộ lấy lời khai khơng có thẩm quyền: Căn cứ theo
Điều 37 và 38 BLTTHS, Điều tra viên mới có thẩm quyền lấy lời
khai, hỏi cung bị can còn các cán bộ điều tra chỉ có thẩm quyền ghi
biên bản lấy lời khai và Biên bản hỏi cung bị can theo sự phân công
của Điều tra viên. Thế nhưng, tại Biên bản lời khai của Ngơ Đình
Hồng (BL 55), Tại Biên bản ghi lời khai của anh Phương (BL 101,
102), Biên bản hỏi cung bị can (BL 61) và Biên bản ghi lời khai của
Nguyễn Lê Linh (BL 135) người lấy lời khai ở đây lại khơng hề có sự
tham gia của Điều tra viên mà chỉ có duy nhất tên của cán bộ điều
tra ghi lời khai.
Sự bất nhất trong thành phần lấy lời khai và thành
phần ký tên xác nhận: Tại Biên bản ghi lời khai (BL 58,59): thành
phần lấy lời khai chỉ có duy nhất ĐTV Mai Anh Tuấn nhưng phần ký
tên tại Biên bản thì lại khơng có chữ ký của ĐTV Mai Anh Tuấn mà
lại có chữ ký của cán bộ ghi lời khai Nguyễn Gia Vũ. Không những
thế, tại Biên bản ghi lời khai của anh Vũ Mạnh Nam (BL 122) bên
trên người được lấy lời khai ghi là Vũ Mạnh Nam nhưng bên dưới
người ký vào biên bản tại phần người khai lại tên là Nguyễn Văn
Lâm. Tương tự tại Biên bản ghi lời khai (BL 133), người khai ghi là
Cao Thị Phương Lan nhưng người ký biên bản tại phần người khai lại
là Nguyễn Ngọc Tú ký tên.
Khơng có Biên bản ghi lời khai của cán bộ Đinh Văn
Nguyện: Cán bộ trực tiếp lập biên bản tạm giữ tang vật, phương
tiện của Hoàng trong lúc xảy ra sự việc. Anh Nguyện là cán bộ
Hoàng gặp trực tiếp ngay sau khi được anh Phương yêu cầu đi vào
chốt A để lập biên bản và chứng kiến tồn bộ sự việc diễn ra vì vậy
có thể thấy anh Nguyện là một trong những nhân chứng vơ cùng
quan trọng xác định bị cáo Hồng có thực hiện hành vi phạm tội
hay không?. Tuy nhiên, trong toàn bộ hồ sơ vụ án CQTHTT đã bỏ
qua và không lấy lời khai của anh Nguyện là một thiếu sót vơ cùng
lớn làm ảnh hưởng đến sự thật tính khách quan của vụ án.
4
Cùng với đó là những vi phạm tố tụng của Cơ quan điều
tra mà Luật sư xin nêu ra như sau:
+ Thời điểm xảy ra vụ việc đến ngày Cơ quan Điều tra Công
an quận Cầu Giấy ra quyết định khởi tố vụ án hình sự là quá dài (cụ
thể là 11 tháng 12 ngày). Trong khi đó căn cứ theo Điều 147 Bộ
luật TTHS 2015 thì thời hạn kiểm tra, xác minh và ra quyết định
khởi tố vụ án hình sự hoặc khơng khởi tố vụ án hình sự hoặc tạm
đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố không quá 4 tháng (Khoản 1, khoản 2 của Điều này).
+ Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Cầu Giấy và Viện
kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy căn cứ vào khoản 1 Điều 330 Bộ
luật Hình sự 2015, sửa đổi năm 2017 để khởi tố vụ án, khởi tố bị
can và truy tố bị can Ngơ Đình Hồng về tội chống người thi hành
cơng vụ là khơng chính xác bởi vì vụ án xảy ra vào ngày
08/10/2017 tại thời điểm Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi năm
2009 đang có hiệu lực thi hành là hoàn toàn sai với quy định. Do
xét thấy khơng thuộc trường hợp có lợi cho người phạm tội quy định
tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị Quyết 41/2017/QH14 của Quốc Hội,
do đó mặc dù vụ án được khởi tổ, điều tra, truy tố sau ngày
01/01/2018 nhưng khơng thể áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015,
sửa đổi năm 2017.
+ Qua các biên bản cũng như tài liệu trong hồ sơ vụ án thì
thấy rất rõ sự sai trái trong các biên bản này về mặt nội dung lẫn
hình thức. Cụ thể tại: Biên bản lời khai của Ngơ Đình Hồng tại Trụ
sở Cơng an phường Mai Dịch lúc lấy lời khai là 00 giờ ngày
9/10/2018 nhưng kết thúc Biên bản lại là 1 giờ 30 phút ngày
9/10/2017; có cùng lúc 2 Biên bản hỏi cung Ngơ Đình Hồng lúc 9
giờ 00 ngày 25/9/2018 và cũng khơng có số biên bản rõ ràng; Biên
bản hỏi cung Ngơ Đình Hồng lúc 15 giờ 00 cũng khơng có số biên
bản; Tại sao có đến 3 Biên bản ghi lời khai của đồng chí cơng an
Trần Hồi Phương trùng nhau về thời gian khai (23h10p ngày
8/10/2017 - 00h10p ngày 9/10/2017; 23h30p ngày 8/10/2017 –
00h45p ngày 9/10/2017; 00h30p 9/10/2017 – 1h30p ngày
9/10/2017);
Như vậy, căn cứ vào Điều 86 BLTTHS chứng cứ chỉ được công
nhận làm căn cứ xác định hành vi phạm tội khi chứng cứ đó phải
được thu thập một cách hợp pháp đúng trình tự, thủ tục luật định.
Tuy nhiên, quá trình thu thập chứng cứ cụ thể ở đây là Biên bản hỏi
5
cung và Biên bản ghi lời khai của CQTHTT đang tồn tại nhiều thiếu
sót, sai phạm nghiêm trọng trình tự thủ tục. Vì vậy, việc CQTHTT
căn cứ vào các Biên bản lời khai và Biên bản hỏi cung để kết tội bị
cáo là khơng có căn cứ, khơng khách quan và hồn tồn khiên
cưỡng.
Ngồi ra Bị cáo Ngơ Đình Hồng cịn có lý lịch nhân thân tốt;
chấp hành u cầu của cán bộ, có thái độ hợp tác; nghiêm túc thực
hiện biện pháp khắc phục hậu quả (nộp phạt vi phạm hành chính
cho lỗi vi phạm giao thơng) và thực hiện hành vi trong trạng thái
tinh thần bị kích động. Bên cạnh đó, khi bị anh Phương và tổ cơng
tác giao thơng khống chế ghì xuống đất, do q đau đớn về mặt
thể chất kết hợp với trạng thái tinh thần bị đang bị kích động nên
theo bản năng tự vệ tự nhiên thân chủ của chúng tôi đã phản
kháng lại tổ cơng tác bằng hành vi túm tóc, đẩy cổ anh Phương để
thoát khỏi sự khống chế tuy nhiên khơng xảy ra thương tích gì.
Kính thưa Hội đồng xét xử, qua những lập luận và phân tích
như ở trên, để đảm bảo xét xử khách quan và có tính giáo dục,
nhân văn nhưng vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật
chúng tơi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tun Bị cáo Ngơ
Đình Hồng khơng phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo
quy định tại khoản 1 điều 330 Bộ Luật hình sự.
Trên đây là toàn bộ những lập luận, những quan điểm bào
chữa của chúng tơi đối với bị cáo Ngơ Đình Hồng trong vụ án.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Hội đồng xét xử, quý đại diện Viện
kiểm sát và những người tham dự phiên tòa đã chú ý lắng nghe./.
Người bào chữa
LS Bùi MinhTrình - LS
Nguyễn Anh Đài
6