Tải bản đầy đủ (.pdf) (171 trang)

Luận văn quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (12.06 MB, 171 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

NGƠ THẾ ANH

QUYỀN U CẦU PHẢN TỐ CỦA BỊ ĐƠN
TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
ĐỊNH HƢỚNG ỨNG DỤNG

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

QUYỀN YÊU CẦU PHẢN TỐ CỦA BỊ ĐƠN
TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Định hƣớng ứng dụng
Mã số: 8380103

Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Văn Tiến
Học viên: Ngơ Thế Anh
Lớp: Cao học luật, Bình Thuận khóa 2

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021




LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ “Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong
giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự” là kết quả nghiên cứu của bản
thân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Văn Tiến mà khơng có
sự sao chép của bất kỳ luận văn, cơng trình nghiên cứu khoa học nào khác. Những
tài liệu có nội dung được tham khảo, trích dẫn trong luận văn đã được dẫn trong
phần trích dẫn và tài liệu tham khảo. Các bản án, quyết định được nêu trong luận
văn là chính xác, đúng sự thật.
Tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm về tính trung thực của luận văn.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày

tháng

Học viên

Ngơ Thế Anh

năm 2021


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS

Bộ luật dân sự

BLTTDS


Bộ luật Tố tụng dân sự

CAND

Công an nhân dân

HĐTP

Hội đồng thẩm phán

NXB

Nhà xuất bản

TAND

Tòa án nhân dân

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1. CĂN CỨ XÁC ĐỊNH YÊU CẦU PHẢN TỐ CỦA BỊ ĐƠN
TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ ........ 7
1.1. Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, ngƣời
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập .......................................... 7
1.2. Yêu cầu phản tố đƣợc chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một

phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập .............................................................................. 13
1.3. Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, ngƣời có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu đƣợc
giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án đƣợc chính
xác và nhanh hơn ................................................................................................ 18
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ........................................................................................ 24
CHƢƠNG 2. THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU PHẢN TỐ CỦA BỊ ĐƠN
TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ ...... 25
2.1. Thời điểm giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn ..................................... 25
2.2. Giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn ...................................................... 30
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................................ 37
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 38
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người, quyền công dân là một trong những nội dung quan trọng
của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013. Theo quy định
tại Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 thì “1.
Ở nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân
về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo
đảm theo Hiến pháp và pháp luật. 2. Quyền con người, quyền cơng dân chỉ có thể bị
hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phịng, an
ninh quốc gia, trật tự, an tồn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Từ
quy định trên cho thấy, công dân được Hiến pháp và pháp luật cho phép xử sự theo
những cách thức nhất định hoặc yêu cầu người khác thực hiện những hành vi nhất

định để thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của mình. Những cách thức xử sự, u cầu đó
phải đảm bảo không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội.
Trong các quyền con người được hiến pháp ghi nhận, quyền dân sự của cơng
dân có ý nghĩa rất quan trọng. Theo đó, cơng dân được phép xử sự theo một cách
nhất định hoặc được yêu cầu người khác thực hiện những hành vi nhất định để thỏa
mãn lợi ích của mình. Quyền năng này được đảm bảo bằng sự cưỡng chế của nhà
nước. Để bảo hộ cho các quyền dân sự của các chủ thể, Nhà nước quy định nhiều
biện pháp, cách thức bảo vệ quyền dân sự. Một trong các biện pháp đó là quyền yêu
cầu phản tố của bị đơn trong vụ án dân sự. Đây là cơ sở pháp lý để bị đơn thể hiện
quyền tự định đoạt của đương sự khi tham gia các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.
Quyền đưa ra yêu cầu của đương sự trong vụ án dân sự nói chung, quyền
yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
nói riêng, là nội dung quan trọng trong tố tụng dân sự nhằm tạo điều kiện cho bị
đơn chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Bộ luật Tố tụng
Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 thay thế
Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã bổ sung các quy
định nhằm hoàn thiện các quy định về quyền quyền yêu cầu phản tố của bị đơn
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Trong đó, các bảo về quyền
của bị đơn được quy định tại Điều 70, Điều 72, Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự
năm 2015.


2
Tuy nhiên, qua nghiên cứu và áp dụng về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, tác giả nhận thấy có những
bất cập, hạn chế cần phải bổ sung, hoàn thiện như sau:
Một, căn cứ xác định yêu cầu phản tố của bị đơn quy định tại Điều 72, Khoản
2 Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 chưa cụ thể, chi tiết. Hạn chế này làm
cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhận thức và áp dụng khác
nhau khi xét xử các vụ án dân sự có bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố.

Hai, thời điểm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn tuy đã quy định tại
Khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nhưng q trình áp dụng có
nhiều quan điểm khác nhau do chưa có sự khơng thống nhất trong quy định của
pháp luật với các yêu cầu về giải quyết vụ án dân sự.
Ba, thời điểm, số lần Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận cơng khai chứng cứ và hịa giải khi bị đơn có yêu cầu phản tố trong tố tụng
dân sự hiện nay vẫn chưa được quy định cụ thể, làm cho việc áp dụng pháp luật của
Tòa án gặp nhiều trở ngại khi giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân.
Xuất phát từ các lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Quyền yêu cầu phản tố
của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự” để làm đề tài
luận văn cao học của mình. Thơng qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả hy vọng với
những phân tích, đánh giá, kiến nghị có căn cứ là cơ sở đề nghị hoàn thiện các quy
định của pháp luật tố tụng dân sự về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai
đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự có các cơng trình nghiên cứu như sau:
- Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh (2018), “Giáo trình Luật tố tụng dân
sự Việt Nam”, Nhà xuất bản Hồng Đức. Trong cơng trình này, các tác giả nghiên
cứu về toàn bộ các quy định của luật TTDS trong đó có quyền yêu cầu phản tố của
bị đơn ở góc độ là quyền của đương sự và mang tính lý luận. Với định hướng là
cơng trình lý luận nên thực tiễn về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự cơng trình khơng đề cập;
- Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2021), “Sách tình huống Luật Tố
tụng dân sự (Bình luận bản án), Nhà xuất bản Hồng Đức. Trong cơng trình này, các


3
tác giả đã phân tích quy định của pháp luật về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn tại
Chủ đề 23 trang 432. Với các bản án cụ thể và phân tích của các tác giả, đây là cơ

sở để tác giả phát triển cơng trình của mình về lý luận và thực tiễn;
- Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2016), “Bình luận những điểm mới
trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015” (Nguyễn Thị Hoài Phương chủ biên), Nhà
xuất bản Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam xuất bản năm 2016. Với cơng trình
nghiên cứu này, các tác giả đã nêu, phân tích những điểm mới của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm
2011, trong đó có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự. Đây là nguồn nhận
thức để tác giả triển khai đề tài;
- Đặng Thanh Hoa (Chủ biên), Lưu Tiến Dũng (2020), “Lý giải một số vấn đề
của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 từ thực tiễn xét xử”, Nhà xuất bản Hồng Đức.
Trong cơng trình này, các nội dung nghiên cứu liên quan đến đề tài của tác giả tại
Vấn đề 1, Vấn đề 4, Vấn đề 5. Với sự bình luận về các vấn đề và lý giải trong cơng
trình, tác giả có thêm nguồn nhận thức để triển khai các vấn đề trong cơng trình;
- Trần Anh Tuấn (Chủ biên) (2017), “Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân
sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015” Nhà xuất bản Tư
pháp; Nguyễn Thị Hồng Nhung (Chủ biên) (2017), “Bình luận khoa học về những
điểm mới trong Bộ luật tố tụng dân sự 2015”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là những cơng trình nghiên cứu mang tính chất bình
luận những quy định của pháp luật tố tụng dân sự, cơ sở lý luận cũng như mối liên
hệ với thực tiễn, là nguồn nhận thức quan trọng để tác giả định hướng cho việc
nghiên cứu đề tài của mình.
- Hồng Thị Tuyết (2015), “Đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự hiện
hành”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong đề
tài này tác giả cũng tập trung nghiên cứu sâu một số khía cạnh về các điều kiện
năng lực, tư cách của đương sự, đồng thời cũng kiến nghị hoàn thiện một số quy
định chung về đương sự, quyền, nghĩa vụ của đương sự. Tuy nhiên, đề tài này cũng
nghiên cứu Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, do vậy
tính ứng dụng của đề tài này cũng không cao trong giai đoạn hiện nay.
- Trần Thị Diệu Linh (2017), “Quyền của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan trong tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng tại Tòa án”, Luận văn Thạc sĩ

luật học, Đại học Luật Hà Nội. Trong đề tài này, tác giả tập trung làm rõ các khái


4
niệm quyền tố tụng của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phân tích
thực trạng của quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, đề xuất kiến nghị hoàn
thiện những quy định pháp luật về quyền của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ
liên quan. Tuy nhiên, do đề tài này nghiên cứu rộng bao gồm hai chủ thể là bị đơn
và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và cũng chưa nghiên cứu sâu những quyền
đặc thù của bị đơn; đề tài triển khai khi Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 mới được
áp dụng trong thực tiễn thời gian ngắn nên cũng còn nhiều bất cập lớn mà tác giả
chưa đề cập đến, vì vậy vấn đề quyền của bị đơn trong tố tụng dân sự cũng chưa
được nghiên cứu thật sự chun sâu và tồn diện.
Nhìn chung, mỗi cơng trình có một cách nhìn khác nhau về quyền u cầu
phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Các cơng
trình này là nguồn tư liệu quan trọng, cần thiết để tác giả triển khai đề tài. Trên cơ sở
kế thừa nguồn nhận thức nói trên, tác giả tiếp tục nghiên cứu quy định của pháp luật,
thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, từ đó chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến những
hạn chế, bất cập để đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền yêu
cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án dân sự, cơng trình hướng đến các mục đích sau:
- Làm rõ thực trạng pháp luật về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai
đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, trong đó, chỉ rõ căn cứ xác định yêu cầu
phản tố của bị đơn quy định tại Điều 72, Khoản 2 Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự
năm 2015; thời điểm chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn tuy đã quy định tại
Khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; thời điểm, số lần Tòa án tiến
hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hịa giải

khi bị đơn có u cầu phản tố chưa hồn thiện.
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá các bản án, quyết định của Tòa án, luận văn
chỉ ra những hạn chế, vướng mắc của các quy định về quyền yêu cầu phản tố của bị
đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự cũng như thực tiễn áp
dụng pháp luật về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
sơ thẩm vụ án dân sự.


5
- Từ các bất cập, hạn chế của pháp luật, thực tiễn thi hành, luận văn đề xuất
các kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền yêu cầu phản tố của
bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn là các quy định của pháp luật về quyền
yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự,
thực tiễn áp dụng, bất cập, vướng mắc và các kiến nghị, nhằm hoàn thiện pháp luật
về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
dân sự.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm hai vấn đề chính là xác định về yêu cầu
phản tố của bị đơn và giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị
xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Từ các quy định về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn
bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, thực tiễn áp dụng pháp luật, những bất cập của pháp
luật, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu

khoa học cụ thể như sau:
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích: Phương pháp này được sử dụng trong hai chương
của luận văn để phân tích về quy định của pháp luật, thực tiễn áp dụng của Tòa án
nhân dân khi giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử
sơ thẩm vụ án dân sự.
- Phương pháp phân tích luật viết: Phương pháp này được sử dụng trong hai
chương nhằm đánh giá những quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật
Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và các văn bản hướng dẫn về quyền yêu cầu
phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.


6
- Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong toàn bộ nội
dung luận văn để tổng hợp kết quả nghiên cứu, chỉ ra bất cập, hạn chế từ đó đề xuất
một số kiến nghị nhằm hồn thiện pháp luật về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng được sử dụng để đối
chiếu quy định của pháp luật về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trước đây và hiện nay. Phương pháp này cũng
được áp dụng để đối chiếu kết quả giải quyết giữa các Tòa án về quyền yêu cầu
phản tố của bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ quy định của pháp luật về
giải quyết các vụ án dân sự, những bất cập và hướng hoàn thiện.
Luận văn làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, học tập về giải
quyết các vụ án dân sự.
Kết quả nghiên cứu nâng cao nghiệp vụ công tác của tác giả khi thực hiện
nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về giải quyết các vụ án dân sự tại Tòa án
nhân dân.

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chƣơng 1. Căn cứ xác định yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Chƣơng 2. Thủ tục giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.


7
CHƢƠNG 1
CĂN CỨ XÁC ĐỊNH YÊU CẦU PHẢN TỐ CỦA BỊ ĐƠN
TRONG GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1. Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn,
ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
Yêu cầu phản tố là một trong những quyền đặc thù của chủ thể bị kiện trong
vụ án dân sự. Theo tác giả Nguyễn Huy Đẩu, “Nếu lời thỉnh cầu là của bị đơn,
nghĩa là bị đơn không muốn giữ thế thủ nữa mà chuyển qua giai đoạn tấn công trở
lại, thì là đơn phản tố...Về nội dung đơn phản tố phải có liên thuộc với đơn chính
(đơn khởi kiện), chứ khơng thể được hồn tồn tự do, khơng ăn nhập với nội vụ”1.
Theo quan niệm này, phản tố là việc bị đơn kiện lại người đã khởi kiện mình và yêu
cầu kiện lại của bị đơn phải liên quan đến yêu cầu của người đã khởi kiện. Theo tác
giả Nguyễn Khánh Toàn, phản tố là quyền của bị đơn trong vụ án dân sự, là việc bị
đơn khởi kiện ngược lại người đã kiện mình, nhưng được xem xét, giải quyết cùng
với đơn khởi kiện của nguyên đơn trong vụ án vì việc giải quyết yêu cầu của hai
bên có yêu cầu chặt chẽ với nhau2. Tác giả Chu Xuân Minh cho rằng phản tố là
khởi kiện thêm vụ án khác, yêu cầu phản tố cũng là yêu cầu độc lập. Tuy nhiên, là
yêu cầu độc lập của bị đơn đối với nguyên đơn nên được gọi là “phản tố”3
Trong các văn bản pháp luật TTDS của Việt Nam, thuật ngữ “phản tố” lần
đầu xuất hiện trong BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011. Theo điểm c

Khoản 1 Điều 60 BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, bị đơn có quyền
“đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn nếu có liên quan đến yêu cầu của
nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ mà nguyên đơn yêu cầu”. Giải thích
về quyền phản tố của bị đơn, Điều 11 Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày
12/5/2006 của HĐTPTATC hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai
“Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” hướng dẫn: “Được coi là yêu cầu
phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, nếu u cầu đó độc lập, khơng cùng về yêu
cầu mà nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết. Trường hợp bị đơn có yêu cầu cùng
về yêu cầu của ngun đơn (như u cầu Tồ án khơng chấp nhận yêu cầu của
nguyên đơn hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn), thì đây là ý
Nguyễn Huy Đẩu (1962), Luật dân sự tố tụng Việt Nam, Nxb Khai trí, Sài Gịn, tr 59- 61.
Nguyễn Khánh Tồn (2011), Từ điển Tiếng Việt cỡ nhỏ, NXB. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr.671
3
Chu Xuân Minh (Thẩm phán TANDTC), ngày 30/12/2019
1
2


8
kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn”. Theo hướng dẫn này, phản tố là
việc bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn về một yêu cầu có liên quan đến vụ án mà
nguyên đơn đã kiện bị đơn. Về bản chất, yêu cầu phản tố cũng là yêu cầu khởi kiện,
nên yêu cầu này có thể được khởi kiện bằng vụ án độc lập.
Trong TTDS, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố hoặc có ý kiến phản
đối yêu cầu của nguyên đơn. Đây là hai quyền độc lập của bị đơn khi tham gia tố
tụng và có hai đường lối xử lý khác nhau. Bị đơn đưa ra ý kiến phản đối yêu cầu
của nguyên đơn là trường hợp bị đơn có yêu cầu cùng với yêu cầu của nguyên đơn
và đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, hoặc chỉ chấp nhận
một phần yêu cầu của nguyên đơn. Trong trường hợp này, Tịa án chấp nhận hoặc
khơng chấp nhận ý kiến của bị đơn tùy thuộc vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ

vụ án và kết quả tranh tụng.
Bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có yêu cầu độc lập và các yêu cầu
này đảm bảo các nội dung quy định tại Khoản 2 Điều 200 BLTTDS. Khoản 4 Điều
72 BLTTDS năm 2015 quy định bị đơn có quyền: “Đưa ra yêu cầu phản tố đối với
nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với
nghĩa vụ của nguyên đơn”. Khoản 1 Điều 200 BLTTDS năm 2015 quy định: “Cùng
với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên
đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập”. Điều 12 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày
03/12/2012 của HĐTPTATC hướng dẫn: “Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn
đối với nguyên đơn, đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có u cầu độc
lập nếu u cầu đó độc lập, khơng cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu Toà án giải quyết”.
Theo Khoản 2 Điều 201 BLTTDS năm 2015, bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu
phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc
lập. Tương ứng với từng yêu cầu của bị đơn, Tòa án xác định yêu cầu của bị đơn là
yêu cầu phản tố hoặc ý kiến phản đối của bị đơn.
Theo điểm a Khoản 2 Điều 201 BLTTDS năm 2015, yêu cầu phản tố của bị
đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
được chấp nhận khi yêu cầu này để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.


9
Với quy định về yêu cầu phản tố của bị đơn để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu
của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, qua
thực tiễn áp dụng, tác giả nhận thấy có bất cập là xác định tính chất bù trừ nghĩa vụ
đối với yêu cầu phản tố của bị đơn.
Theo Từ điển Tiếng Việt, bù trừ là lấy hơn bù kém cho đồng đều4. Theo Khoản

3 Điều 12 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của HĐTPTATC, yêu
cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có nghĩa vụ đối với nguyên đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và nguyên đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có nghĩa vụ đối với bị đơn; do
đó, bị đơn có u cầu Tồ án giải quyết để bù trừ nghĩa vụ mà họ phải thực hiện theo
yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Theo Điều 378 BLDS, trường hợp các bên cùng có nghĩa vụ về tài sản cùng
loại đối với nhau thì khi cùng đến hạn, họ không phải thực hiện nghĩa vụ đối với
nhau và nghĩa vụ được xem là chấm dứt, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Trường hợp giá trị của tài sản hoặc công việc không tương đương với nhau thì các
bên thanh tốn cho nhau phần giá trị chênh lệch. Những vật được định giá thành
tiền cũng có thể bù trừ với nghĩa vụ trả tiền.
Tính chất bù trừ nghĩa vụ đối với yêu cầu phản tố của bị đơn có thể xác định
dựa vào các yếu tố sau:
Một, yêu cầu bù trừ nghĩa vụ đối với yêu cầu phản tố của bị đơn phải là yêu
cầu độc lập đối với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có yêu cầu độc lập. Tính chất độc lập của yêu cầu phản tố là yêu cầu này phải xuất
phát từ một quan hệ pháp luật độc lập với quan hệ pháp luật do nguyên đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đề xuất. Quan hệ pháp luật do
nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có u cầu độc lập u cầu Tịa
án giải quyết có thể giống với quan hệ pháp luật do bị đơn đề xuất về hình thức,
loại, nhưng nội dung yêu cầu, chủ thể có nghĩa vụ phải có sự khác biệt.
Hai, nội dung yêu cầu phản tố của bị đơn nếu được Tòa án chấp nhận sẽ làm
giảm nghĩa vụ của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có u cầu độc lập. Tính chất bù trừ trong yêu cầu phản tố của bị đơn là loại
4

Bộ tư pháp – Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Nxb Tư pháp, tr 86.



10
trừ một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của bị đơn trong vụ án do nguyên đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đưa ra, nếu được Tòa án chấp
nhận. Sự bù trừ này xuất phát từ việc nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập cũng có nghĩa vụ đối kháng với bị đơn.
Ví dụ 1: Quyết định giám đốc thẩm số 29/2016/GĐT-DS ngày 29-6-2016
của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Đà Nẵng về “tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”5.
Nguyên đơn bà T khởi kiện bà H yêu cầu trả tiền vay 7.400.000.000 đồng. Bà
H khơng chấp nhận tồn bộ u cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng trong 04
khoản tiền mà nguyên đơn cho rằng bà vay, thực tế có khoản bà khơng vay của
ngun đơn, có khoản bà vay nhưng đã trả rồi. Ngồi ra bà H có u cầu phản tố yêu
cầu bà T trả cho bà 5.900.000.000 đồng mà bà đã chuyển vào tài khoản của bà T.
Trong vụ án này, tác giả nhận thấy:
Một, Bản án dân sư sơ thẩm số 75/2014/DS-ST ngày 22/9/2014 của Tòa án
nhân dân thành phố N, tỉnh K tuyên bác yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị
Thanh H về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị T trả số tiền 5.900.000.000 đồng vì cho
rằng do yêu cầu phản tố của bị đơn bà H trong vu án này khơng có liên quan đến
u cầu khởi kiện nên khơng có cơ sở để giải quyết là không đúng.
Hai, Bản án dân sự phúc thẩm số 27/2015/DS-PT ngày 07/4/2015 của Tòa án
nhân dân tỉnh K quyết định hủy phần quyết định của bản án sơ thẩm đối với nội
dung yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H về việc yêu cầu bà
Nguyễn Thị T trả nợ số tiền 5.900.000.000 đồng và tách yêu cầu này để giao về cấp
sơ thẩm giải quyết bằng vụ án khác là không đúng, khơng đảm bảo quyền lợi của
người có u cầu phản tố.
Ba, Quyết định giám đốc thẩm số 29/2016/GĐT-DS ngày 29-6-2016 của Tòa
án nhân dân cấp cao tại Thành phố Đà Nẵng đã tuyên hủy toàn bộ Bản án dân sự
phúc thẩm 27/2015/DS-PT ngày 07/4/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh K và hủy toàn
bộ Bản án dân sự sơ thẩm 75/2014/DS-ST ngày 22/9/2014 của Tòa án nhân dân

thành phố N, tỉnh K là có căn cứ. Vì cấp sơ thẩm chưa xem xét làm rõ về các khoản
nợ nêu trên, nhưng cho rằng khơng có liên quan đến quan hệ tranh chấp, từ đó bác
yêu cầu phản tố của bà H là không đúng.
5

Phụ lục 1.


11
Ví dụ 2: Bản án 876/2018/DS-PT ngày 28/09/2018 của Tịa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh về “tranh chấp tài sản”6.
Ngày 14/10/2015, bà Đỗ Thị Thùy H cho chị ruột là Đỗ Thị D vay 10.000 đô
la Mỹ. Do bà D vi phạm thời hạn thanh toán nên bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án
nhân dân Quận S buộc bà D trả 10.000 đô la Mỹ. Ngày 21/7/2016, bà D có đơn
phản tố yêu cầu trừ số tiền 63.509.000 đồng do bà chuyển cho ông Nguyễn Quang
Ca thông qua ông T, bà Ha chuyển vào Ngân hàng Agribank – Chi nhánh huyện
PQ, tỉnh BT để chuyển trả bà H và yêu cầu xem xét số tiền gốc và tiền lãi đã trả cho
bà H năm 2014 là 2.040 đô la Mỹ và năm 2015 là 2.400 đô la Mỹ.
Trong vụ án này, tác giả nhận thấy:
Một, Bản án dân sự sơ thẩm số 306/2018/DS-ST ngày 05/6/2018 của Toà án
nhân dân Quận S chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Thùy H là có cơ sở.
Bởi đây là hợp đồng vay tài sản và bà D là người vi phạm nghĩa vụ nên có trách
nhiệm trả tiền cho bà H.
Hai, Tòa án cấp sơ thẩm xác định yêu cầu của bà Đỗ Thị D đối với bà Đỗ Thị
Thùy H là yêu cầu phản tố là đúng. Yêu cầu này phù hợp với quy định tại điểm a
Khoản 2 Điều 201 BLTTDS năm 2015. Tuy nhiên, việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết
định “Đối với yêu cầu phản tố của bà Đỗ Thị D đối với bà Đỗ Thị Thùy H có liên
quan đến trách nhiệm của ông Nguyễn Văn V và ông Nguyễn Quang Ca nếu bà D
có yêu cầu khởi kiện sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác” là chưa giải quyết
triệt để các tranh chấp trong vụ án. Tuy Khoản 6 Điều 72 BLTTDS năm 2015 quy

định “Trường hợp yêu cầu phản tố hoặc u cầu độc lập khơng được Tịa án chấp
nhận để giải quyết trong cùng vụ án thì bị đơn có quyền khởi kiện vụ án khác”
nhưng quy định này khơng đồng nghĩa với việc khi Tịa án cấp sơ thẩm đã yêu cầu
và bị đơn đã nộp án phí về u cầu phản tố thì khơng được giải quyết yêu cầu trong
cùng một vụ án. Trong khi đó, Điều 201 BLTTDS năm 2015 quy định: “Thủ tục yêu
cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập được thực hiện theo quy định của Bộ luật này về
thủ tục khởi kiện của nguyên đơn”. Bản án 876/2018/DS-PT ngày 28/09/2018 của
Tịa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận định “Ngày 21/7/2016, bà D có đơn
phản tố và đã tạm nộp án phí phản tố về việc yêu cầu xem xét số tiền 63.509.000
đồng đã nộp vào tài khoản của ông Nguyễn Quang Ca tại Ngân hàng Agribank 6

Phụ lục 2.


12
Chi nhánh huyện PQ, tỉnh BT để chuyển trả cho bà H như đã nêu trên và số tiền
gốc và lãi đã trả năm 2014 là 2.040 đô la Mỹ, năm 2015 là 2.400 đơ la Mỹ nhưng
tịa án cấp sơ thẩm không xem xét yêu cầu phản tố của bà D là thiếu sót ảnh hưởng
đến quyền lợi của bị đơn” là có căn cứ và đúng luật.
Ba, Bản án 876/2018/DS-PT ngày 28/09/2018 của Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh quyết định: Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 306/2018/DS-ST ngày
05/6/2018 của Tòa án nhân dân Quận S; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm
xét xử lại theo quy định của pháp luật là đúng với quy định tại Điều 310 BLTTDS
năm 2015. Căn cứ để Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định như trên
xuất phát từ các lý do: (i) theo Khoản 4 Điều 72 BLTTDS năm 2015, bị đơn đưa ra
yêu cầu phản tố thì bị đơn có quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn; (ii) Theo Khoản 1
Điều 5 BLTTDS năm 2015, Tòa án phải giải quyết yêu cầu của bị đơn khi đã thụ lý
và giải quyết trong phạm vi yêu cầu đó; (iii) trong vụ án này, yêu cầu phản tố của bị
đơn có liên quan mật thiết với yêu cầu của bị đơn và có yếu tố bù trừ nghĩa vụ với
yêu cầu của nguyên đơn nên không thể “giải quyết bằng một vụ án khác” như bản

án sơ thẩm đã quyết định.
Từ thực tiễn trên, theo tác giả, điểm a Điều 200 BLTTDS về yêu cầu phản tố
để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập, hướng dẫn như sau:
«Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là yêu cầu của bị đơn đối với yêu
cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là
yêu cầu độc lập, xuất phát từ một quan hệ pháp luật độc lập với quan hệ pháp luật
do nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có u cầu độc lập đề xuất.
Thơng qua yêu cầu phản tố của bị đơn, Tòa án xác định có căn cứ khẳng định
nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cũng có
nghĩa vụ đối với bị đơn».
Yếu tố nổi bật trong việc xác định yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu
cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là
nghĩa vụ giữa các đương sự với nhau trong vụ án dân sự. Đây là nghĩa vụ song
phương giữa bị đơn với nguyên đơn; với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
yêu cầu độc lập hoặc với cả hai. Tính chất của nghĩa vụ đối với nhau giữa các
đương sự căn cứ vào Điều 378 Bộ luật Dân sự năm 2015.


13
1.2. Yêu cầu phản tố đƣợc chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận
một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập
Theo điểm b Khoản 2 Điều 200 BLTTDS năm 2015, khi bị đơn đưa ra yêu
cầu mà yêu cầu đó được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc
toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có u cầu
độc lập thì đó là u cầu phản tố.
Trước đây, Khoản 4 Điều 12 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày
03/12/2012 của HĐTPTATC, hướng dẫn: Yêu cầu phản tố của bị đơn dẫn đến loại

trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố
lại đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
và nếu u cầu đó được chấp nhận, thì loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn
bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có u cầu độc
lập vì khơng có căn cứ.
Với các quy định nêu trên, tác giả nhận thấy:
Thứ nhất, yêu cầu phản tố của bị đơn phải là yêu cầu độc lập với yêu cầu của
nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Thứ hai, yêu cầu phản tố của bị đơn nếu được chấp nhận, loại trừ một phần
hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
u cầu độc lập. Tính chất loại trừ nghĩa vụ là xuất phát từ việc các bên đều có
nghĩa vụ với nhau và đặt ra trong cùng một vụ án. Nếu yêu cầu của các bên được
Tòa án chấp nhận, nghĩa vụ của các bên đối với nhau có thể chấm dứt toàn bộ hoặc
chấm dứt một phần tuỳ thuộc vào quyết định của Tòa án. Nghĩa là, các bên khơng
phải thi hành án cho bên kia về tồn bộ hoặc một phần nghĩa vụ, nếu yêu cầu phản
tố của bị đơn được chấp nhận toàn bộ hoặc một phần. Căn cứ chấm dứt nghĩa vụ
quy định tại Khoản 5 Điều 372 BLDS năm 2015. Theo đó, nghĩa vụ chấm dứt khi
nghĩa vụ được bù trừ. Theo Điều 378 BLDS năm 2015, chấm dứt nghĩa vụ do bù trừ
nghĩa vụ khi: Các bên cùng có nghĩa vụ về tài sản cùng loại đối với nhau thì khi
cùng đến hạn họ không phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhau và nghĩa vụ được xem
là chấm dứt, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Qua thực tiễn thi hành về điểm b Khoản 2 Điều 200 BLTTDS năm 2015 về
yêu cầu phản tố của bị đơn nếu được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một


14
phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có yêu cầu độc lập, tác giả nhận thấy bất cập là việc xác định tính chất loại trừ nghĩa
vụ căn cứ vào yêu cầu phản tố của bị đơn. Về nguyên tắc, khi bị đơn đưa ra yêu cầu

trong vụ án dân sự có thể theo hai hướng: Giải quyết trong cùng một vụ án theo quy
định tại điểm b Khoản 2 Điều 200 BLTTDS năm 2015 hoặc theo Khoản 2 Điều 42
BLTTDS năm 2015. Để giải quyết vụ án theo điểm b Khoản 2 Điều 200 BLTTDS
năm 2015, Tòa án phải xác định cho được yếu tố “loại trừ việc chấp nhận một phần
hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
yêu cầu độc lập”.
Ví dụ 1: Bản án dân sự phúc thẩm số 47/2018/DS-PT ngày 08/6/2018 của
TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu về “tranh chấp hợp đồng đặt cọc; ủy quyền; chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”.7
Ơng H và ơng T có thỏa thuận miệng là ông T chuyển nhượng quyền sử dụng
đất cho ông. Hai bên đã lập hợp đồng đặt cọc, ông H đã thanh tốn cho ơng T
129.465.000 đồng tiền cọc, số tiền còn lại là 105.000.000 đồng, đồng ý cho trả dần
thành 05 đợt. Sau đó, nhận thấy ơng T ủy quyền cho ơng T1 định đoạt diện tích đất
trên và ông T1 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà L nên ông H đã khởi
kiện ông T yêu cầu ông T tiếp tục thực hiện hợp đồng, giao đất cùng bản chính giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong trường hợp do vi phạm pháp luật dẫn đến hợp
đồng chuyển nhượng khơng tiếp tục thực hiện thì u cầu ơng T hồn trả tiền đặt cọc
129.465.000 đồng. Sau khi bị kiện, ơng T có u cầu: Hủy hợp đồng đặt cọc bán đất
giữa ông H và ông; công nhận “Hợp đồng ủy quyền” giữa vợ chồng ông T và ông T1;
công nhận quyền sử dụng đất cho bà L theo hợp đồng chuyển nhượng đất.
Trong vụ án này, tác giả nhận thấy:
Một, Bản án dân sự sơ thẩm số 111/2017/DSST ngày 27-12-2017 của TAND
thành phố Vũng Tàu tuyên chấp nhận tồn bộ u cầu phản tố của ơng T là chưa
phù hợp. ơng T phản tố có 03 yêu cầu: (i) Hủy hợp đồng đặt cọc với ông H; (ii)
Công nhận Hợp đồng ủy quyền cho ông T1; (iii) Công nhận quyền sử dụng đất cho
bà L theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T1 với bà L.
Đối với yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc giữa ông T với ông H, theo tác giả
trường hợp này phải xác định yêu cầu hủy Hợp đồng đặt cọc của ông T là ý kiến
7


Phụ lục 3.


15
phản bác mà không phải yêu cầu phản tố. Bởi vì u cầu hủy Hợp đồng đặt cọc của
ơng T phát sinh từ yêu cầu khởi kiện thanh toán tiền cọc của ông H, yêu cầu này
không phải yêu cầu độc lập mà là hệ quả của việc xem xét yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Khi Tòa án xem xét yêu cầu đòi 129.465.000 đồng tiền cọc của nguyên
đơn thì sẽ đồng thời xem xét Hợp đồng đặt cọc giữa các bên. Trường hợp ông H
chưa giao tiền cọc cho ơng T theo như trình bày của ơng T, và các bên đã thống
nhất không thực hiện nội dung ghi tại Hợp đồng đặt cọc thì ơng T khơng phải thanh
tốn 129.465.000 đồng cho ơng H và u cầu hủy bỏ Hợp đồng đặt cọc của ông T là
hệ quả tất yếu. Như vậy, việc ông T không chấp nhận thanh tốn 129.465.000 đồng
cho ơng H và u cầu hủy bỏ Hợp đồng đặt cọc là ý kiến phản đối của ơng T đối với
u cầu thanh tốn một phần tiền cọc (129.465.000 đồng) của ông H chứ không
phải yêu cầu phản tố.
Hai, Tòa án cấp sơ thẩm xác định yêu cầu hủy bỏ Hợp đồng đặt cọc là yêu
cầu phản tố là chưa xem xét bản chất mối quan hệ giữa các bên. Tòa án cấp phúc
thẩm đã chỉ ra yêu cầu này không phải yêu cầu phản tố mà là ý kiến phản bác của bị
đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng lại khơng đưa ra lý giải vì sao.
Ba, đối với u cầu công nhận Hợp đồng ủy quyền giữa ông T với ông T1 và
công nhận quyền sử dụng đất của chị L thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất. Tòa án cấp phúc thẩm xác định đây là yêu cầu của bị đơn nhưng không
chỉ ra loại yêu cầu gì. Theo Tịa án cấp phúc thẩm, “hai nội dung cịn lại có liên
quan đến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông T và bà L, hai yêu cầu này
không trái với quy định của pháp luật, nên cần được chấp nhận để xem xét trong
cùng vụ án”. Trên cơ sở đối chiếu với các căn cứ về nội dung yêu cầu phản tố, tác
giả cho rằng hai yêu cầu này của bị đơn là yêu cầu phản tố. Bởi vì:
- Mặc dù cùng có đối tượng là một quyền sử dụng đất nhưng yêu cầu khởi
kiện của ông H xoay quanh mối quan hệ giữa ông H với ông T; các yêu cầu này của

bị đơn lại đề cập đến quan hệ của ông T với ông T1 và ông T, T1 với chị L.
- Yêu cầu công nhận Hợp đồng ủy quyền và công nhận quyền sử dụng đất
thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không “cùng với” yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn hay phụ thuộc vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nếu không giải quyết trong cùng vụ án này, ơng T hồn tồn có thể khởi kiện vụ án
khác để yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, yêu cầu này của bị đơn cũng có liên
quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cụ thể, trường hợp Tòa án chấp nhận


16
yêu cầu này của bị đơn sẽ dẫn đến Tòa án không thể chấp nhận yêu cầu khởi kiện
tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ơng H với ơng
T. Bởi vì, lúc này, Tịa án đã thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho chị L.
Ngoài ra, việc giải quyết yêu cầu này của bị đơn cũng liên quan đến việc giải quyết
yêu cầu khởi kiện thanh toán một phần tiền cọc trong Hợp đồng đồng đặt cọc giữa
ông H với ông T nhằm đảm bảo việc thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất giữa ơng H với ơng T vì cùng liên quan đến quyền sử dụng đất đang tranh
chấp, nếu Tòa án thụ lý giải quyết sẽ giúp vụ án được giải quyết triệt để hơn.
Ví dụ 2: Bản án số 16/2019/DS-PT ngày 19-3-2019 về tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi8.
Năm 2009, ơng Đồn C, bà Trần Thị L bị đơn thỏa thuận và lập hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Võ Sĩ M, lô B trong phần đất của bị đơn
khi được Nhà nước cấp đất tái định cư (Nhà nước thu hồi đất của bị đơn và đã thông
báo sẽ cấp đất tái định cư tại khu Làng Cá Sa Huỳnh) với giá 90.000.000 đồng.
Nguyên đơn đã trả đủ 90.000.000 đồng. Năm 2011, Nhà nước đã chỉ mốc giới vị trí
đất cấp cho bị đơn là 03 lô đất liền kề ở mặt tiền, bị đơn và anh Đồn Tấn L1 u
cầu phía nguyên đơn đưa thêm 30.000.000 đồng vì giá đất mặt tiền cao hơn, nguyên
đơn đồng ý đưa tiếp 20.000.000 đồng, còn 10.000.000 đồng khi nào làm thủ tục
chuyển nhượng xong thì đưa đủ. Lúc này bị đơn đã chỉ vị trí cũng như mốc giới
thửa đất chuyển nhượng cho phía nguyên đơn.

Ngày 05/6/2014 nguyên đơn có cho bà Nguyễn Thị M1, th diện tích đất
này làm mặt bằng bn bán. Tháng 10/2016 Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho bị đơn, nhưng phía bị đơn chỉ đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất thửa đất số 877 tờ bản đồ số 24 xã PT cho nguyên đơn nhưng không làm thủ tục
chuyển nhượng cho nguyên đơn. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải làm thủ tục
chuyển nhượng thửa 877 tờ bản đồ số 24 xã PT, huyện ĐP, tỉnh Quảng Ngãi cho
nguyên đơn.
Theo bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, khi lập hợp đồng,
Nhà nước chưa cấp đất cho bị đơn nên không có đất để giao cho nguyên đơn. Mặt
khác, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải lập thành văn bản có cơng
chứng, chứng thực; đất là của hộ gia đình bị đơn gồm nhiều thành viên nhưng chỉ
8

Phụ lục 4.


17
có bị đơn thỏa thuận chuyển nhượng là khơng đúng pháp luật. Vì vậy, bị đơn yêu
cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn và bị
đơn là vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
Trong vụ án này, tác giả nhận thấy:
Thứ nhất, Bản án dân sự sơ thẩm số 22/2017/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm
2017 của Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và không chấp nhận yêu
cầu của bị đơn về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là có căn cứ.
Thứ hai, Bản án dân sự phúc thẩm số 24/2018/DS-PT ngày 01/02/2018 của
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi quyết định: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số
22/2017/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2017 của Tịa án nhân dân huyện Đức Phổ;
khơng chấp nhận u cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của
bị đơn là chưa thật sự thuyết phục khi xem xét tồn bộ chứng cứ có trong vụ án, quy

định của pháp luật về giao dịch vô hiệu và yêu cầu của các bên đương sự.
Thứa ba, Quyết định giám đốc thẩm số 93/2018/DS-GĐT ngày 29/11/2018
của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tuyên hủy toàn bộ
Bản án dân sự phúc thẩm số 24/2018/DS- PT ngày 01/02/2018 của Tòa án nhân dân
tỉnh Quảng Ngãi, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử lại theo
thủ tục phúc thẩm là có cơ sở. Bởi, bản án phúc thẩm quyết định theo hướng bất lợi
cho nguyên đơn khi giao dịch trên được pháp luật điều chỉnh và thừa nhận.
Thứ tư, Bản án số 16/2019/DS-PT ngày 19-3-2019 về tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi (lần 2) sửa
một phần bản án dân sự sơ thẩm số 22/2017/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2017 của
Tòa án nhân dân huyện Đức Phổ; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Võ Sĩ M và bà Phùng Thị N; khơng chấp nhận tồn bộ u cầu phản tố của ơng
Đồn C, bà Trần Thị L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đoàn
Tấn L1, anh Đoàn Tấn N1, chị Đoàn Thị Thu V, chị Đoàn Thị Mỹ N2 về việc tuyên
bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 vô hiệu và giải
quyết hậu quả của hợp đồng vơ hiệu là có căn cứ và đúng pháp luật.
Thứ năm, u cầu của ơng Đồn C, bà Trần Thị L có phải là yêu cầu phản tố
theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 201 BLTTDS năm 2015? Trong vụ án này,
yêu cầu của bị đơn là yêu cầu phản tố và nếu được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc


18
chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn. Cơ sở cho lập luận này dựa vào các
yêu tố: (1) Yêu cầu của nguyên đơn là đề nghị Tòa án công nhận hiệu lực của hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng giữa nguyên đơn và bị đơn. (2) Yêu cầu phản
tố của bị đơn là đề nghị Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất là vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. (3) Yêu cầu phản tố của
bị đơn nhằm mục đích loại trừ việc chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn là
công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng. Nếu Tòa án tuyên
bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vô hiệu thì bị đơn khơng phải

thực hiện nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn. Ngược lại, bị
đơn có thể có lợi ích từ việc Tịa án tun bố giao dịch vô hiệu như giá trị đất tăng
thêm tại thời điểm tranh chấp và các lợi ích khác.
Từ bất cập trên, tác giả kiến nghị hướng dẫn điểm b Khoản 2 Điều 200
BLTTDS năm 2015 về yêu cầu phản tố của bị đơn nếu được chấp nhận dẫn đến loại
trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có u cầu độc lập, như sau:
«u cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần
hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
yêu cầu độc lập là yêu cầu độc lập của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là yêu cầu độc lập.
Thông qua yêu cầu của bị đơn, Tịa án xác định có căn cứ để xác định, nếu yêu cầu
của bị đơn được chấp nhận thì bị đơn được loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc
tồn bộ u cầu của ngun đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có u cầu
độc lập. Tính chất loại trừ trách nhiệm là sự bù trừ nghĩa vụ giữa các bên trong vụ
án dân sự. Cơ sở để loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của
nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là yêu cầu
phản tố của bị đơn và chứng cứ do bị đơn cung cấp hoặc do Tòa án thu thập theo
quy định của pháp luật».
1.3. Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, ngƣời có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu đƣợc
giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án đƣợc chính
xác và nhanh hơn
Theo điểm c Khoản 2 Điều 200 BLTTDS năm 2015, khi bị đơn đưa ra yêu
cầu mà yêu cầu và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan


19
có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một
vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn thì được xác

định là yêu cầu phản tố.
Theo Khoản 5 Điều 12 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012
của HĐTPTATC, hướng dẫn: Có sự liên quan giữa yêu cầu phản tố của bị đơn và
yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
là trường hợp hai yêu cầu này có mối quan hệ với nhau và nếu được giải quyết
trong cùng một vụ án, thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh
chóng hơn.
Với các quy định như trên về yêu cầu phản tố của bị đơn, tác giả nhận thấy:
Thứ nhất, phạm vi xét xử các vụ án dân sự của Tòa án là căn cứ vào yêu cầu
của đương sự. Đương sự có quyền quyết định việc đưa ra yêu cầu và Tịa án chỉ có
quyền giải quyết trong phạm vi u cầu của đương sự. Đối với yêu cầu phản tố, Tịa
án chỉ chấp nhận khi u cầu đó đáp ứng các tiêu chí quy định tại Khoản 2 Điều 200
BLTTDS năm 2015. Khi đương sự đưa ra yêu cầu, Tòa án nhận thấy u cầu của
đương sự khơng có cơ sở thì khơng chấp nhận và khơng giải quyết.
Xác định yêu cầu phản tố của bị đơn theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều
200 BLTTDS năm 2015 cũng theo định hướng trên và là nội dung quan trọng mà
Tịa án phải thực hiện. Dưới góc độ chung, các đương sự đều có quyền đưa ra yêu
cầu, nếu yêu cầu đó có căn cứ và hợp pháp. Bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố cũng như
vậy. Tuy nhiên, việc xác định giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau
thì chưa thật rõ về nội dung. Nói đến tính liên quan, hầu hết các sự kiện đều có mối
liên hệ với nhau. Một số sự kiện có tính bắc cầu, tiền đề, để xác lập mối quan hệ
chính. Vậy mức độ, phạm vi nào được xác định là có sự liên quan giữa yêu cầu
phản tố của bị đơn và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau? Về lý thuyết, nếu chia sự liên
quan thì có thể dựa vào mối liên hệ giữa các sự kiện, chia thành liên quan trực tiếp,
gián tiếp. Căn cứ vào hình thức của mối liên hệ chia thành liên quan về nội dung,
hình thức. Căn cứ vào mức độ, chia thành sự liên quan chủ yếu, thứ yếu. Với quy
định tại điểm c Khoản 2 Điều 200 BLTTDS năm 2015 chưa được hướng dẫn đầy
đủ, ngoài việc tham khảo hướng dẫn và ví dụ tại Khoản 5 Điều 12 Nghị quyết số

05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của HĐTPTATC.


20
Thứ hai, về xác định giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu
được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính
xác và nhanh hơn. Tương đồng với quy định này, Điều 4 Nghị quyết số 05/2012/NQHĐTP ngày 03/12/2012 của HĐTPTATC hướng dẫn: Được coi là “nhiều quan hệ
pháp luật có liên quan với nhau” để giải quyết trong cùng một vụ án khi thuộc một
trong các trường hợp: Việc giải quyết quan hệ pháp luật này đòi hỏi phải giải quyết
đồng thời quan hệ pháp luật khác; việc giải quyết các quan hệ pháp luật có cùng
đương sự và về cùng loại tranh chấp quy định trong một điều luật tương ứng.
Về nguyên tắc, khi Tòa án thụ lý mà yêu cầu phản tố của bị đơn liên quan
với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc
lập và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án
được chính xác và nhanh hơn thì Tịa án phải giải quyết trong cùng một vụ án mới
giải quyết triệt để các nội dung tranh chấp. Việc giải quyết như vậy tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo quyền lợi cho đương sự và đúng
pháp luật.
Ở góc độ nghiên cứu, có các quan điểm như sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Những vụ án khởi kiện về nhiều quan hệ pháp
luật mà các quan hệ pháp luật này có liên quan với nhau, giúp cho Tòa án giải quyết
vụ án được nhanh chóng, hiệu quả hơn thì các vụ án sẽ được nhập lại để giải quyết9.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Việc nhập vụ án và giải quyết yêu cầu phản tố
của bị đơn chỉ được tiến hành khi các vụ án phải có cùng nội dung sự việc, quan hệ
pháp luật tranh chấp và cùng nguyên đơn hoặc bị đơn. Các quan hệ pháp luật tranh
chấp trong các vụ án cũng có thể khác loại nhưng phải liên quan với nhau, việc giải
quyết trong một vụ án đảm bảo thời hạn giải quyết và bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của các đương sự10.
Các quan điểm này có điểm chung là những vụ án có quan hệ pháp luật liên

quan với nhau thì nhập chung để giải quyết nhằm đảm bảo sự nhanh chóng, hiệu
quả, đúng thời hạn và không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.
Hà Thị Mai Hiên – Trần Văn Biên (2012), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung năm 2011, Viện nhà nước và pháp luật, tr.94.
10
Thái Chí Bình (2014), “Hồn thiện quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về nhập, tách vụ án dân sự”, Tạp
chí Tịa án nhân dân (14), tr.16.
9


×