Phân tích những vấn đề pháp lý và thực tiễn thực
hiện chức năng tư vấn của Tịa án cơng lý quốc tế
Liên hợp quốc.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LHQ
ĐHĐ
HĐBA
Liên hợp quốc
Đại hội đồng
Hội đồng bảo an
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.........................................................................................................1
NỘI DUNG.....................................................................................................1
I.. .MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG TƯ VẤN CỦA TỊA
ÁN CƠNG LÝ QUỐC TẾ........................................................................................1
1.Định nghĩa chức năng tư vấn của Tịa án cơng lý quốc tế........................1
2.Cơ sở pháp lý về thẩm quyền tư vấn ICJ..................................................1
3.Đặc điểm của chức năng tư vấn của Tòa án công lý quốc tế....................2
II.THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHỨC NĂNG TƯ VẤN
CỦA TỊA ÁN CƠNG LÝ QUỐC TẾ.....................................................................2
1.Chủ thể có thẩm quyền yêu cầu tư vấn......................................................2
2.Nội dung pháp lý yêu cầu tư vấn................................................................3
3.Thủ tục tư vấn của Tịa án cơng lý quốc tế................................................4
4.Quyền quyết định của Tịa Công lý quốc tế...............................................5
5.Giá trị pháp lý của ý kiến tư vấn................................................................6
III. THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHỨC NĂNG TƯ VẤN CỦA TỊA ÁN
CƠNG LÝ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN......................7
1. Những thành tựu trong thực tiễn thực hiện chức năng tư vấn của Tịa
án cơng lý quốc tế.....................................................................................................7
2. Một số bất cập, hạn chế và kiến nghị hồn thiện quy định về chức năng
tư vấn của Tịa án công lý quốc tế...........................................................................8
KẾT LUẬN.....................................................................................................9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................10
CHÚ THÍCH CĂN CỨ PHÁP LÝ..............................................................11
MỞ ĐẦU
Tịa án cơng lý quốc tế bên cạnh vị trí pháp lý là cơ quan Tư pháp chính của
Liên Hợp Quốc cịn có thẩm quyền tư vấn pháp luật. Cả về phương diện khoa học, lý
luận và thực tiễn, cùng với thẩm quyền giải quyết tranh chấp quốc tế, thẩm quyền tư
vấn của ICJ đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển ngày càng hoàn thiện của
hệ thống pháp luật quốc tế trong hơn 2/3 thế kỷ hình thành, tồn tại và phát triển. Nhận
thấy được tầm quan trọng đó, bởi vậy, trong bài tiểu luận này em xin được trình bày
về đề tài “Phân tích những vấn đề pháp lý và thực tiễn thực hiện chức năng tư
vấn của Tịa án cơng lý quốc tế Liên hợp quốc”. Thơng qua sự phân tích quy định
pháp luật, em sẽ nêu ra thực tiễn thực hiện chức năng tư vấn của Tòa.
NỘI DUNG
I.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG TƯ VẤN CỦA TỊA ÁN
CƠNG LÝ QUỐC TẾ.
1. Định nghĩa chức năng tư vấn của Tòa án cơng lý quốc tế.
Tịa án Cơng lý quốc tế (ICJ) là cơ quan tư pháp chính của Liên hợp quốc, được
thành lập vào năm 1945 trên cơ sở kế thừa Tồ án Thường trực Cơng lý quốc tế với hai
chức năng cơ bản: (1) xét xử các tranh chấp phát sinh giữa các quốc gia – chủ thể của
luật quốc tế và (2) cho ý kiến tư vấn về những vấn đề pháp lý được yêu cầu bởi các cơ
quan chính và những tổ chức chuyên biệt của Liên Hợp Quốc.
Chức năng tư vấn pháp lý của Toà án quốc tế có thể được hiểu là việc Tồ án
đưa ra các ý kiến và câu trả lời đối với các câu hỏi pháp lý được đệ trình lên Tịa án và
các ý kiến tư vấn này của Tồ án khơng mang tính chất ràng buộc về mặt pháp lý
nhưng cũng được coi là một cách thức làm rõ những khúc mắc không chỉ đối với các
cơ quan trong LHQ mà còn cả các quốc gia khi tiến hành hoạt động của mình.
2. Cơ sở pháp lý về thẩm quyền tư vấn ICJ.
Thẩm quyền tư vấn của ICJ được thực hiện theo quy định tại Chương XIV Điều
96 Hiến chương Liên hợp quốc và được cụ thể hoá tại Chương IV (từ Điều 65 đến
Điều 68) Quy chế ICJ năm 1945; khoản 1 Điều 9, khoản 1 (điểm b, h, i) Điều 26 và
1
phần IV (từ Điều 102 đến Điều 109) Bộ Quy tắc của ICJ năm 1978 ; Mục 1 phần XII
của Hướng dẫn thực tiễn ngày 20/01/2009 (được sửa đổi, bổ sung ngày 21/3/2013). Về
bản chất, hoạt động tư vấn của Tịa ICJ là một thủ tục có vai trị quan trọng nhằm giải
đáp, làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý mà các cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu tư vấn
gặp phải trong khi thực hiện thẩm quyền của mình. Tư vấn pháp luật quốc tế là thẩm
quyền đặc biệt và riêng có của các tồ án thường trực ( ICJ và ITLOS - Toà án quốc tế
về Luật Biển được thành lập theo Phụ VI Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm
1982), cịn các tồ trọng tài vụ việc (ad hoc) khơng có thẩm quyền này.
3. Đặc điểm của chức năng tư vấn của Tòa án công lý quốc tế.
Thứ nhất, mặc dù không trực tiếp giải quyết các tranh chấp quốc tế, nhưng trên
thực tế, ý kiến tư vấn vẫn có ý nghĩa trong việc gián tiếp hỗ trợ giải quyết tranh chấp
quốc tế.
Thứ hai, ý kiến tư vấn cịn có ưu điểm là ít tốn kém về chi phí, thời gian và thủ
tục. Thơng thường, thời gian tiêu tốn của các Tồ án quốc tế đối với các tranh chấp
song phương giữa các quốc gia là từ 3 đến 4 năm, thậm chí có trường hợp Tồ án phải
mất 9 năm để giải quyết tranh chấp này. Đối với việc đưa ra các ý kiến tư vấn pháp lý,
các Toà án quốc tế thường chỉ mất từ 1 đến 2 năm.
Thứ ba, chức năng tư vấn cịn mang tính chất thiện chí và hồ bình hơn vì nó
khơng đi kèm theo rủi ro thua kiện so với việc giải quyết tranh chấp trực tiếp qua con
đường tố tụng.
Thứ tư, ý kiến tư vấn có thể là bước đệm chuẩn bị cho việc tố tụng vì các tun
bố chính thức của Tồ án có thể là cơ sở cho những lập luận cho những thủ tục tố tụng
tiếp theo.
II.
THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHỨC NĂNG TƯ VẤN
CỦA TỊA ÁN CƠNG LÝ QUỐC TẾ.
1. Chủ thể có thẩm quyền yêu cầu tư vấn.
Khoản 1 Điều 96 Hiến chương Liên Hợp Quốc và Điều 65 Quy chế Tòa án quốc
tế quy định chủ thể có thẩm quyền đề nghị Tịa ICJ cho ý kiến tư vấn là Đại hội đồng
2
và Hội đồng Bảo an, hai chủ thể có quyền yêu cầu ICJ tư vấn về bất kỳ một vấn đề
pháp lý nào. Theo Hiến chương, đây là quyền chứ không phải nghĩa vụ bắt buộc của
hai cơ quan này. Ngược lại, ICJ cũng khơng có thẩm quyền đưa ra ý kiến tư vấn nếu
không được ĐHĐ và HĐBA hỏi. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 96 quy định mở rộng
quyền yêu cầu tư vấn đối với các cơ quan khác của LHQ và các tổ chức chuyên môn. ở
bất kì thời điểm nào liên quan đến vấn đề pháp lý phát sinh trong phạm vi hoạt động
của mình.
Khác với các vụ tranh chấp giữa các quốc gia (contentious cases). Các cơ quan
khác của Liên hợp quốc và các tổ chức chuyên biệt cũng chỉ khi được Đại hội đồng và
Hội đồng Bảo an trao quyền thì mới có thể đề nghị Tòa ICJ cho ý kiến tư vấn. Phạm vi
xin ý kiến tư vấn của các cơ quan khác và tổ chức chuyên biệt của Liên hợp quốc cũng
hẹp hơn so với Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an. Các cơ quan khác và tổ chức chuyên
biệt đó chỉ có thể xin ý kiến về những vấn đề pháp lý thuộc phạm vi hoạt động của
mình trong khi Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an có quyền đề nghị Tòa ICJ tư vấn
trong bất kỳ lĩnh vực pháp lý nào. Điều 96 Hiến chương Liên hợp quốc 1945 quy định
rõ:
1. Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an có thể u cầu Tịa án Cơng lý Quốc tế đưa
ra ý kiến tư vấn trong bất kỳ vấn đề pháp lý nào.
2. Những tổ chức khác của Liên hợp quốc và những tổ chức chuyên biệt, bất kỳ
lúc nào được Đại hội đồng trao quyền, cũng có thể xin ý kiến tư vấn của Tòa về những
vấn đề pháp lý phát sinh trong phạm vi hoạt động của mình.
2. Nội dung pháp lý yêu cầu tư vấn.
Nội dung yêu cầu tư vấn phải là câu hỏi pháp lý dù mang tính lý thuyết hay liên
quan tới tranh chấp hiện hữu chẳng hạn như việc giải thích một điều khoản trong điều
ước về vấn đề nhất định.
Thứ nhất, yêu cầu tư vấn có thể là một câu hỏi nặng tính lý thuyết và khơng rõ
ràng. Ví dụ: Trong vụ Legality of Threat or use of Nuclear Weapons, yêu cầu tư vấn
được đặt ra đối với tòa bị cho là quá khái quát và mơ hồ, bởi không tồn tại một tranh
3
chấp cụ thể nào có liên quan. Tuy nhiên, ICJ đã nhắc lại lại kết luận của mình rằng,
chức năng tư vấn của Tịa khơng để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia mà chỉ
cung cấp tư vấn pháp lý cho cơ quan có u cầu, vì vậy, Tịa sẽ trả lời bất kỳ câu hỏi
pháp lý dù nặng tính lý thuyết.
Thứ hai, u cầu tư vấn có thể là một câu hỏi mang tính chính trị. Ví dụ: Lập
luận phản đối thẩm quyền tư vấn của ICJ trong vụ liên quan đến kết nạp thành viên
Quốc gia mới vào Liên Hợp Quốc những năm 1950. Việc tiếp nhận thành viên mới tại
LHQ sau chiến tranh thế giới thứ II vốn là một vấn đề gây tranh luận chính trị rất lớn,
theo đó, các quốc gia thường trực trong HĐBA thường sử dụng quyền biểu phủ quyết
veto của mình để ngăn cản kết nạp thành viên mới. Năm 1949 đại hội đầu đã tiến hành
hỏi ý kiến về việc kết nạp thành viên mới mà không cần khuyến nghị từ phía Hội đồng
Bảo an. Khi tư vấn ICJ đã kết luận khía cạnh chính trị của câu hỏi khơng làm mất đi
bản chất pháp lý của nó và tịa không quan tâm tới động cơ của cơ quan hỏi ý kiến tư
vấn hay vụ việc cụ thể dẫn đến câu hỏi tư vấn.1
Thứ ba, yêu cầu tư vấn thiếu tính rõ ràng do q trình soạn thảo gấp rút cũng
khơng làm mất đi thẩm quyền của ICJ. Thậm chí trong một số trường hợp Tòa còn
được quyền mở rộng, giải thích và đặt lại câu hỏi cho phù hợp với mục tiêu của cơ
quan yêu cầu tư vấn.
3. Thủ tục tư vấn của Tịa án cơng lý quốc tế.
Dựa trên cơ sở pháp lý được quy định từ Điều 65 đến Điều 68 của Quy chế ICJ
và thực tiễn tư vấn của ICJ, có thể khái quát việc ICJ thực hiện thẩm quyền tư vấn theo
03 bước sau đây:
Bước 1: Cơ quan, tổ chức yêu cầu gửi yêu cầu và hồ sơ, tài liệu liên quan đến
vấn đề tư vấn cho ICJ.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 65 Quy chế ICJ, các cơ quan, tổ chức yêu cầu
tư vấn phải gửi câu hỏi bằng văn bản và các hồ sơ, tài liệu liên quan đến vấn đề tư vấn
cho ICJ. Ví dụ: năm 1975, Đại hội đồng yêu cầu ICJ tư vấn về vấn đề liên quan đến
1
Nguyễn Tiến Đức, Đỗ Q Hồng (2017), Chức năng tư vấn của Tịa cơng lý quốc tế và gợi mở cho
Việt Nam, Nhà nước và Pháp luật, (3), tr 76 - 84.
4
quy chế pháp lý của vùng lãnh thổ Tây Sahara, văn bản, hồ sơ, tài liệu mà Đại hội đồng
gửi cho ICJ bao gồm: Thư của Tổng ký Liên hợp quốc gửi cho Chánh án của ICJ và
Nghị quyết số 3292 (XXIX) của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 13/12/1974 yêu cầu
ICJ tư vấn đối với câu hỏi “Tây Sahara (Rio de Oro et Sakiet El Hamra) vào thời điểm
chịu sự thuộc địa của Tây Ban Nha là lãnh thổ vô chủ hay không (tera nullius)?”.
Bước 2: Thư ký ICJ thông báo cho các quốc gia, cơ quan, tổ chức liên quan và
tổng hợp các hồ sơ, tài liệu liên quan đến yêu cầu tư vấn.
Theo quy định tại Điều 66 của Quy chế ICJ. Theo quy định tại Điều 66 của Quy
chế ICJ, sau khi nhận được yêu cầu tư vấn, thư ký của ICJ sẽ thông báo cho tất cả các
quốc gia có quyền tham gia. Ngồi ra, thư ký của ICJ sẽ gửi thông báo đặc biệt cho
quốc gia bất kỳ nào có quyền tham dự và bất kỳ tổ chức quốc tế nào có thể (theo ý kiến
của Chủ tịch, nếu ICJ không họp) cung cấp những tin tức về vấn đề cụ thể. Nếu quốc
gia có quyền tham dự tại ICJ mà khơng nhận được thơng báo đặc biệt, quốc gia đó có
thể bày tỏ nguyện vọng được đệ trình bản báo cáo bằng văn bản hoặc được nghe ICJ
thông qua quyết định về các vấn đề đó.
Các quốc gia và tổ chức quốc tế đã đệ trình báo cáo bằng văn bản hoặc bằng lời
cho ICJ sẽ được thảo luận các báo cáo đó theo hình thức, giới hạn và trong thời hạn do
ICJ hoặc Chủ tịch ICJ quyết định nếu như ICJ không họp. Trong thời hạn cần thiết, thư
ký của ICJ phải thông báo, tất cả báo cáo bằng văn bản đó cho các quốc gia và tổ chức
quốc tế đã gửi báo cáo tương tự”.
Bước 3: Ra kết luận tư vấn. Theo quy định tại Điều 67 Quy chế ICJ, ICJ sẽ đưa
ra kết luận tư vấn của mình trong phiên họp công khai đã được báo trước cho Tổng thư
ký và các đại diện của các thành viên Liên hợp quốc trực tiếp có liên quan và cho đại
diện của các quốc gia và các tổ chức quốc tế khác. Phiên họp này diễn ra tại trụ sở ICJ
tại La Haye dưới sự chủ trì của Chủ tịch ICJ.2
4. Quyền quyết định của Tịa Cơng lý quốc tế.
2
Ngơ Hữu Phước (2018), Thẩm quyền tư vấn pháp luật của Tòa án công lý quốc tế, Nhà nước và Pháp
luật, (7), tr. 52 - 61.
5
Theo quy định tại Điều 96 của Hiến Chương Liên Hợp Quốc, ICJ sẽ chấp nhận
cho ý kiến tư vấn nếu hội tụ 02 điều kiện tiên quyết: (1) cơ quan, tổ chức đó có quyền
yêu cầu cho ý kiến tư vấn; (2) câu hỏi yêu cầu tư vấn phải là một vấn đề mang tính
pháp lý.
Khoản 1 Điều 65 Quy chế của ICJ cũng quy định “Tịa có thể cung cấp ý kiến
Tịa án có thể có những kết luận tư vấn về một vấn đề pháp luật bất kỳ nào theo yêu
cầu của một cơ quan bất kỳ được chính Hiến chương Liên hợp quốc hay theo đúng bản
quy chế này, cho toàn quyền được yêu cầu”. Như vậy có thể hiểu trong trường hợp
thấy khơng phù hợp ICJ có quyền quyết định từ chối đưa ra ý kiến tư vấn. Tòa lập luận
chỉ từ chối trả lời tư vấn khi tồn tại một lý do thuyết phục ảnh hưởng tới chức năng tư
vấn của Tòa. Chẳng hạn khả năng tiếp cận tư liệu và bằng chứng liên quan tới vụ việc
cũng là một yếu tố Tịa có thể xem xét từ chối tư vấn hoặc câu hỏi của cơ quan xin tư
vấn đưa ra vượt quá yêu cầu chun mơn của Tịa; cơ quan, tổ chức khơng có quyền
yêu cầu ICJ tư vấn hoặc vấn đề cần tư vấn khơng thuộc phạm vi thẩm quyền của họ…
Ví dụ: Năm 1996, Tổ chức Y tế thế giới (WTO) đã yêu cầu ICJ tư vấn một vấn đề liên
quan đến “tính hợp pháp của việc sử dụng vũ khí hạt nhân trong xung đột vũ trang”.
Tuy nhiên ICJ đã từ chối đưa ra ý kiến tư vấn với lý do câu hỏi này không nằm trong
phạm vi hoạt động của WHO theo quy định tại khoản 2 điều 96 Hiến Chương Liên
Hợp Quốc.
5. Giá trị pháp lý của ý kiến tư vấn.
Các ý kiến tư vấn của ICJ chỉ mang tính chất khuyến nghị chứ khơng có giá trị
ràng buộc pháp lý. Nó thể hiện quan điểm của Tịa về các nguyên tắc pháp lý quốc tế
có liên quan tới câu hỏi, chứ không ràng buộc bất kỳ một quốc gia hay cơ quan nào
phải thực hiện hoặc không thực hiện một hành động nhất định. Ví dụ: Trong vụ
Western Sahara3, Toà ICJ cũng thừa nhận ý kiến tư vấn khơng ràng buộc pháp lý.
Mặc dù khơng có hiệu lực ràng buộc như phán quyết về việc giải quyết tranh
chấp giữa các quốc gia nhưng ý kiến tư vấn của ICJ vẫn có giá trị thực tiễn đăc biệt
quan trọng và trở thành một biện pháp ngoại giao, giữ gìn hịa bình cũng như là đóng
3
/>
6
góp vào sự phát triển của luật quốc tế. Bởi lẽ, để có được một kết luận tư vấn, ICJ phải
vận dụng, phân tích quan điểm của các quốc gia, các cơ quan, tổ chức quốc tế, các hồ
sơ, tài liệu được các bên liên quan gửi đến cho ICJ; viện dẫn, phân tích các quy định
pháp luật quốc tế để làm sáng tỏ vấn đề. Đồng thời, ICJ cũng liên hệ với các phán
quyết mà mình đã giải quyết trong thực tiễn để đưa ra một kết luận tư vấn thuyết phục
với các bên liên quan. Vì vậy, ý kiến của Tịa đương nhiên có sức nặng nhất định, giúp
các bên có liên quan hiểu và áp dụng luật pháp quốc tế hiệu quả hơn.
Trong một số trường hợp ý kiến tư vấn của tịa có thể mang tính chất bắt buộc
đối với các cơ quan và tổ chức hỏi ý kiến nếu có quy định ràng buộc từ trước đó. Ví
dụ: Điều VIII Cơng ước Ưu đãi Miễn trừ của LHQ, Điều IX Công ước Ưu đãi Miễn
trừ của các Cơ quan Chuyên môn quy định ý kiến tư vấn của Toà được chấp nhận là
ràng buộc giữa các bên. Ý kiến tư vấn của Toà ICJ liên quan tới phán quyết của Tồ
Hành chính thuộc Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cũng có giá trị bắt buộc.
III.
THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHỨC NĂNG TƯ VẤN CỦA TÒA ÁN CƠNG
LÝ QUỐC TẾ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HỒN THIỆN.
1. Những thành tựu trong thực tiễn thực hiện chức năng tư vấn của Tịa án
cơng lý quốc tế.
Trải qua hơn 75 năm thành lập, ICJ đã giải quyết và cho ý kiến tư vấn hơn 160
vụ việc, được đánh giá là một cơ quan tài phán quốc tế uy tín bậc nhất giúp hồ bình
giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, cũng như góp phần tích cực
cho sự phát triển của luật pháp quốc tế. 4 Trong các vấn đề pháp lý nói chung, Tòa đã
đưa ra các kết luận tư vấn về giải thích các bảo lưu của Cơng ước chống tội ác diệt
chủng, về vấn đề tính hợp pháp của việc các quốc gia sử dụng vũ khí nguyên tử trong
các cuộc xung đột vũ trang, giải thích các cơng ước hịa bình. Các kết luận tư vấn của
tịa cũng đóng góp vào việc giải quyết xung đột giữa các quốc gia như kết luận về quy
chế lãnh thổ của Tây Sahara và Tây Nam Phi, tính hiệu lực của các nghị quyết của Hội
đồng Bảo an…
4
/>
7
Các kết luận tư vấn của ICJ chính là sự tổng kết, đánh giá, phân tích cơ đọng,
thuyết phục, độ tin cậy về luật pháp quốc tế nên các cơ quan, tổ chức quốc tế và các
quốc gia có liên quan sẽ hiểu và áp dụng luật pháp quốc tế hiệu quả hơn. Qua đó, tác
động đến hiệu quả tuân thủ, thực thi pháp luật quốc tế của các chủ thể luật quốc tế tốt
hơn, từ đó làm giảm xung đột, tranh chấp, góp phần bảo vệ, duy trì hịa bình và an ninh
quốc tế.
Ví dụ: sau sự kiện Nghị viện của vùng lãnh thổ Kosovo ra tuyên bố độc lập
ngày 17/02/2008, Cộng hoà Serbia đã phản đối và khiếu nại lên Đại hội đồng Liên hợp
quốc. Ngày 08/10/2008, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã yêu cầu ICJ cho kết luận tư
vấn về tính hợp pháp trong tuyên bố độc lập của Kosovo. Ngày 22/7/2010, ICJ đã ra
kết luận tư vấn5 cho rằng, tuyên bố độc lập của Kosovo không vi phạm các nguyên tắc
chung của luật pháp quốc tế và cũng không vi phạm Nghị quyết 1244, vốn khơng xác
định tình trạng cuối cùng của Kosovo. Như vậy, ý kiến tư vấn của Tòa giúp các bên
hiểu và áp dụng luật pháp quốc tế hiệu quả hơn.
2. Một số bất cập, hạn chế và kiến nghị hoàn thiện quy định về chức năng tư
vấn của Tịa án cơng lý quốc tế.
Thứ nhất, quy định chỉ có Đại hội đồng và Hội đồng Bảo an mới được quyền
yêu cầu kết luận tư vấn của tòa về bất kỳ vấn đề pháp lý nào đã tỏ ra hạn chế. Việc mở
rộng thẩm quyền của Tịa án Cơng lý quốc tế là cần thiết và nên được xem xét một
cách kỹ lưỡng. Có nhiều ý kiến đề nghị nên mở rộng thẩm quyền của Tổng thư ký Liên
Hợp Quốc để có thể thêm chức năng yêu cầu kết bạn tư vấn của Tòa. Tổng thư ký với
chức năng đại diện Tổ chức Liên Hợp Quốc theo dõi quá trình duy trì hịa bình và an
ninh quốc tế là người phải hành động nhanh nhất, phải cử ngay đại diện của mình đến
các điểm nóng trên thế giới để ngăn ngừa các khủng hoảng quốc tế hơn ai hết cần có
thẩm quyền yêu cầu kết luận tư vấn của tòa.
Thứ hai, khi đề cập đến thủ tục kết luận tư vấn, đây là hình thức giúp đỡ giải
quyết các tranh chấp giữa các quốc gia với các tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức
quốc tế với nhau. Nhưng kết luận này khơng có giá trị bắt buộc. Hiệu lực của các kết
5
/>
8
luận tư vấn trông chờ vào nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia và thái độ của dư luận.
Liệu có cần tăng cường hiệu lực của chúng bằng các quy định các tổ chức quốc tế cũng
như có quyền được sử dụng thủ tục giải quyết tranh chấp không. Nếu ý kiến này được
chấp nhận thì tổ chức quốc tế với cá thành viên là quốc gia độc lập có chủ quyền có
quyền được chấp nhận trước thẩm quyền của tịa và có thể cử thẩm phán ad hoc được
khơng? Đây là những vấn đề chưa có câu trả lời và phụ thuộc vào hiệu quả của Tịa án
Cơng lý quốc tế. 6
KẾT LUẬN
Dù khơng có giá trị ràng buộc trong các ý kiến tư vấn của mình nhưng trên thực
tế, tầm quan trọng của các ý kiến tư vấn là không thể phủ nhận. Những tư vấn này có
giá trị quan trọng trong việc tạo ra nhận thức đúng đắn, thống nhất cũng như đóng vai
trị quan trọng trong việc pháp điển hóa các quy định của pháp luật quốc tế hiện đại.
Thơng qua sự phân tích, đánh giá, em đã nêu ra thực tiễn thực hiện chức năng tư vấn
của Tịa án cơng lý quốc tế Liên hợp quốc. Đồng thời cũng đã chỉ ra một số bấp cập
trong thực tiễn và nêu ra kiến nghị hoàn thiện. Trong q trình làm bài có thể có những
sai sót, em rất mong các thầy cơ có thể bỏ qua cho em và em rất mong nhận được ý
kiến đóng góp của thầy cơ để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoàn thiện
tốt hơn về nhận thức của mình đối với mơn Cơng pháp quốc tế. Em xin chân thành cảm
ơn.
6
PGS.TS Nguyễn Hồng Thao (2011), Tòa án cơng lý quốc tế, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật.
9
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hiến chương Liên hợp quốc.
2. Quy chế tòa án quốc tế.
3. Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật Quốc tế, Nxb. Cơng an nhân
dân.
4. PGS.TS Nguyễn Hồng Thao (2011), Tịa án cơng lý quốc tế, Nxb. Chính trị quốc
gia - Sự thật.
5. Ngô Hữu Phước (2018), Thẩm quyền tư vấn pháp luật của Tịa án cơng lý quốc tế,
Nhà nước và Pháp luật, (7), tr. 52 - 61.
6. Nguyễn Tiến Đức, Đỗ Q Hồng (2017), Chức năng tư vấn của Tịa công lý quốc
tế và gợi mở cho Việt Nam, Nhà nước và Pháp luật, (3), tr 76 - 84.
7. />8. />9. />10. />
10
CHÚ THÍCH CĂN CỨ PHÁP LÝ
QUY CHẾ TỊA ÁN QUỐC TẾ
Điều 65.
1. Tịa án có thể có những kết luận tư vấn về một vấn đề pháp luật bất kỳ nào theo yêu cầu
của một cơ quan bất kỳ được chính Hiến chương Liên hợp quốc hay theo đúng bản quy chế
này, cho toàn quyền được yêu cầu.
2. Các vấn đề mà kết luận tư vấn của Tòa án được sửa chữa dựa theo nó, được trình lên Tịa
án bằng đơn trình bày chính xác vấn đề để u cầu kết luận, kèm theo tất cả tài liệu có thể
dùng để làm sáng tỏ vấn đề.
Điều 66.
1. Thư ký Tòa án nhanh chóng báo tin về đơn có yêu cầu kết luận tư vấn cho tất cả các quốc
gia có quyền tham gia vào Tịa án.
2.Ngồi ra, thư ký Tịa án bằng cách giữ đặc biệt và trực tiếp thông báo cho một quốc gia bất
kỳ có quyền đến Tịa án cũng như cho một tổ chức quốc tế bất kỳ nào có thể (theo ý kiến của
Chủ tịch Tịa án, nếu như Tịa án khơng họp) cung cấp những tin tức về vấn đề cụ thể nào đó,
rằng Tịa án sẵn sàng nhận trong thời hạn Chủ tịch đã quy định, tất cả những tài liệu văn bản
báo cáo bằng lời trong phiên họp công khai được triệu tập nhằm mục đích đó.
3. Nếu như quốc gia có quyền đến Tịa án khơng nhận được thơng báo đặc biệt đã được nhắc
nhở ở điểm 2 của điều này thì quốc gia đó có thể bày tỏ nguyện vọng được đệ trình bản báo
cáo bằng văn bản hay được nghe Tịa án thơng qua quyết định về các vấn đề đó.
4. Các quốc gia và các tổ chức đệ trình các bản báo cáo bằng văn bản hay bằng lời hay cả
những quốc gia và những tổ chức này được phép thảo luận các bản báo cáo của các quốc gia
hay các tổ chức khác ở hình thức, giới hạn và trong thời hạn do Tòa án hay nếu như Tịa án
khơng họp, Chủ tịch Tịa án quy định trong từng trường hợp riêng biệt. Để đạt được mục đích
này Thư ký Tịa án thơng báo, trong thời hạn cần thiết, tất cả những bản báo cáo bằng văn
bản đó cho các quốc gia và các tổ chức đã gửi những bản báo cáo tương tự.
Điều 67. Tòa án đưa ra kết luận tư vấn của mình trong phiên họp công khai đã được báo
trước cho Tổng thư ký và các đại diện của các thành viên Liên hợp quốc trực tiếp có liên quan
và cho đại diện của các quốc gia và các tổ chức quốc tế khác.
11
Điều 68. Trong khi thực hiện các chức năng tư vấn của mình. Tịa án, ngồi những điều đã
nêu ra, lấy các phán quyết có liên quan đến các vụ việc tranh chấp trong quy chế này làm chủ
đạo, ở mức độ mà Tịa án cơng nhận là chúng áp dụng được.
HIẾN CHƯƠNG LIÊN HỢP QUỐC
Điều 92: Tòa án quốc tế là cơ quan tư pháp chính của Liên hợp quốc. Tòa án này hoạt động
theo một qui chế xây dựng trên cơ sở qui chế của Tòa án quốc tế thường trực. Qui chế của
Tòa án quốc tế kèm theo Hiến chương này là một bộ phận cấu thành của Hiến chương.
Điều 93:
1. Tất cả những thành viên Liên hợp quốc đương nhiên tham gia qui chế Tòa án quốc tế.
2. Những quốc gia không phải là thành viên Liên hợp quốc có thể tham gia qui chế Tịa án
quốc tế với những điều kiện do Đại hội đồng qui định, theo kiến nghị của Hội đồng bảo an
trong từng trường hợp một.
Điều 94:
1. Một thành viên Liên hợp quốc cam kết tuân theo phán quyết của Tòa án quốc tế trong mọi
vụ tranh chấp mà thành viên ấy là đương sự.
2. Nếu một bên đương sự trong một vụ tranh chấp không thi hành những nghĩa vụ mà họ phải
chấp hành theo phán quyết của Tịa án, thì bên kia có thể khiếu nại với Hội đồng bảo an. Hội
đồng bảo an nếu thấy cần thiết có thể có kiến nghị hoặc quyết định những biện pháp để làm
cho phán quyết này được chấp hành.
Điều 95: Khơng có điều khoản nào của Hiến chương này ngăn cản những thành viên Liên
hợp quốc đưa những vụ tranh chấp của họ ra xét xử trước các tòa án khác, chiếu theo những
điều ước hiện có, hoặc có thể được ký kết sau này.
Điều 96:
1. Đại hội đồng hay Hội đồng bảo an có thể hỏi ý kiến của Tịa án quốc tế về mọi vấn đề pháp
lý. Ý kiến của Tịa án quốc tế khơng có tính cách ràng buộc hay Hội đồng bảo an.
2. Tất cả các cơ quan khác của Liên hợp quốc và các tổ chức chuyên mơn, trong một lúc nào
đó, được Đại hội đồng cho phép cũng có quyền hỏi ý kiến Tịa án quốc tế về những vấn đề
pháp lý có thể đặt ra trong phạm vi hoạt động của họ. Ý kiến ấy cũng không ràng buộc các cơ
quan và tổ chức ấy.
12