Tải bản đầy đủ (.docx) (18 trang)

phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (176.54 KB, 18 trang )

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................................................1
NỘI DUNG......................................................................................................................................1
I.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU

CỦA BỊ HẠI...............................................................................................................................1
1. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại..............................................1
2. Cơ sở của việc quy định Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại......................2
2.1 Cơ sở lý luận................................................................................................................2
2.2 Cơ sở thực tiễn............................................................................................................3
II.

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ KHỞI TỐ VỤ

ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA BỊ HẠI......................................................................3
1. Các trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu..............................................................3
2. Chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố....................................................................................4
3. Nội dung và hình thức yêu cầu khởi tố...........................................................................5
4. Hậu quả pháp lý của yêu cầu, không yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố..........................5
III.

THỰC TRẠNG THI HÀNH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO

HIỆU QUẢ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO
YÊU CẦU CỦA BỊ HẠI............................................................................................................7
1. Thực trạng thi hành các quy định pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu
của bị hại................................................................................................................................7
2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp luật về khởi
tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại.............................................................................9


KẾT LUẬN...................................................................................................................................10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................11
CHÚ THÍCH BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015.....................................................13


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTH

Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2015

S
BLHS
KTVA

Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Khởi tố vụ án


MỞ ĐẦU
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại là một quy định nhằm đảm bảo
quyền con người trong Luật tố tụng hình sự. Những quy định này được đặt ra để
hạn chế những tổn thương về tinh thần cho bị hại, tạo điều kiện cho bị hại có thể
cân nhắc tính tốn xem việc khởi tố vụ án có mang lại lợi ích cho họ hay khơng.
Nhận thấy được vai trị quan trọng đó, bởi vậy, trong bài tiểu luận này em xin được
phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về khởi tố vụ án hình sự theo
yêu cầu của bị hại từ đó đề xuất một số kiến nghị hồn thiện quy định pháp luật
hiện hành. Trong quá trình làm bài có thể có những sai sót, em rất mong các thầy
cơ có thể bỏ qua cho em và em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô để
em học thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hồn thiện tốt hơn về nhận thức của
mình đối với mơn Luật Tố tụng Hình sự. Em xin chân thành cảm ơn.

NỘI DUNG
I.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO
YÊU CẦU CỦA BỊ HẠI.
1. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại.
Bị hại là một chủ thể tham gia tố tụng hình sự, theo khoản 1 Điều 62

BLTTHS năm 2015 quy định “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất,
tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm
gây ra hoặc đe dọa gây ra.” So với BLTTHS năm 2003 thì BLTTHS năm 2015 đã
mở rộng phạm vi điều chỉnh với quy định của bị hại, ngồi cá nhân thì cơ quan, tổ
chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra cũng sẽ được coi là bị hại.
Về khái niệm Khởi tố vụ án hình sự được đưa ra trong Giáo trình Luật Tố
tụng hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội: Khởi tố vụ án hình sự là
giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định sự
1


việc xảy ra có hay khơng có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc ra
quyết định không khởi tố vụ án.1
Về mặt nguyên tắc, khi xác định có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm
quyền quyết định khởi tố vụ án hình sự, bảo đảm mọi tội phạm đều bị xử lý kịp
thời, buộc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải chịu trách nhiệm
hình sự. Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều tội phạm xảy ra gây thiệt hại không chỉ
về vật chất mà cả thiệt hại nghiêm trọng về tinh thần đối với bị hại. Việc khởi tố vụ
án hình sự, xử lý người phạm tội trong những trường hợp này mặc dù nhằm góp
phần giữ nghiêm kỷ cương và mang lợi ích cho xã hội nhưng chính việc khởi tố đó
có thể gây ra thêm những tổn thương về tinh thần cho bị hại. Để hạn chế những tổn
thương đó, BLTTHS quy định việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu bị hại để họ

cân nhắc có khởi tố vụ án hay khơng. Có thể hiểu, Khởi tố vụ án hình sự theo yêu
cầu của bị hại là trường hợp đặc biệt mà do tính chất của vụ án và vì lợi ích của bị
hại, cơ quan có thẩm quyền khơng tự ý khởi tố vụ án mà phụ thuộc vào ý chí của bị
hại thể hiện qua yêu cầu của họ. 2
2. Cơ sở của việc quy định Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại.
2.1 Cơ sở lý luận.
Cơ sở lý luận của việc hình thành quy định khởi tố vụ án hình sự theo yêu
cầu của bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam chính là sự kết hợp giữa quyền công
tố và quyền tư tố trong tố tụng hình sự trên cơ sở tiếp thu những điểm tiến bộ của
quyền tư tố trong tố tụng hình sự các nước trên thế giới, phù hợp với điều kiện
hoàn cảnh và nguyên tắc của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, tránh được việc
đề cao hoặc hạ thấp quyền buộc tội của tư nhân.

1

Hoàng Thị Minh Sơn (2021), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công
an Nhân dân.
2
Võ Thị Kim Oanh (2021), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí
Minh, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam

2


2.2 Cơ sở thực tiễn.
Thứ nhất, Hiến pháp năm 2013 quy định một nguyên tắc hiến định là khẳng
định sự tôn trọng bảo đảm quyền con người và quyền công dân (Điều 3). Quy định
khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại trong BLTTHS năm 2015 thể hiện sự
quan tâm của nhà nước ta đến quyền và lợi ích của những người trực tiếp bị thiệt
hại do hành vi phạm tội gây ra đồng thời là sự thể hiện việc triển khai nguyên tắc

hiến định về quyền con người và quyền công dân trong tố tụng hình sự.
Thứ hai, việc thiết lập quy định khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại còn
xuất phát từ cơ sở thực tiễn đó là điều kiện thực tế của nền tư pháp Việt Nam trong
quá trình hội nhập quốc tế.
Thứ ba, việc thiết lập quy định khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại trong tố
tụng hình sự Việt Nam cịn xuất phát từ nhu cầu thực tiễn các quan hệ xã hội cần
thiết phải có quy phạm pháp luật điều chỉnh. Việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu
cầu của bị hại xuất phát từ tính chất của vụ án và lợi ích của bị hại, cũng có thể có
lợi ích của người bị buộc tội.3
II.

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ
KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA BỊ HẠI.
1. Các trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu.
BLTTHS năm 2015 quy định có 10 tội thuộc trường hợp chỉ được KTVA

hình sự theo yêu cầu của bị hại: khoản 1 các Điều: 134, 135, 136, 138, 139, 141,
143, 155, 156 và 226 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) trong đó có 08
tội là tội ít nghiêm trọng, 02 tội là tội phạm nghiêm trọng, 06 tội thực hiện với lỗi
cố ý, 04 tội thực hiện với lỗi vơ ý. Có thể thấy, các tiêu chí được vận dụng khi đặt
ra quy định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu bị hại như sau:
3

Nguyễn Thanh Tùng (2019), Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại và thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

3


Xét về loại tội, đây là các tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng.

Trong đó có 08 tội phạm ít nghiêm trọng, 02 trường hợp là tội phạm nghiêm trọng
là tội Hiếp dâm theo khoản 1 Điều 141 BLHS và tội Cưỡng dâm theo khoản 1 Điều
143 BLHS. Nhưng các tội này xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của bị hại nên
cần xem xét ý chí, nguyện vọng của bị hại có muốn xử lý người thực hiện hành vi
xâm phạm đến mình hay khơng nhằm tránh việc xử lý gây thiệt hại thêm cho họ.
Xét về tính nguy hiểm cho xã hội, đây là các trường hợp hành vi có tính chất
nguy hiểm cho xã hội không cao. Khách thể bị xâm hại là những quan hệ xã hội có
liên quan trực tiếp đến bản thân bị hại như sức khỏe, danh dự nhân phẩm con người
và quyền sở hữu trí tuệ.
Xét về hậu quả của tội phạm đối với bị hại, tội phạm gây ra thiệt hại không
lớn. Đối tượng bị thiệt hại do các tội phạm gây ra chủ yếu là con người, nhưng có
thể là cơ quan, tổ chức, pháp nhân trong trường hợp cơ quan, tổ chức, pháp nhân là
chủ sở hữu của quyền sở hữu cơng nghiệp. Bên cạnh đó, hậu quả của việc khởi tố
vụ án trong các trường hợp này có thể gây ra những bất lợi nhất định đối với bị hại,
do vậy bị hại được lựa chọn cách thức xử lý đối với người thực hiện hành vi có dấu
hiệu tội phạm gây thiệt hại cho mình.
2. Chủ thể có quyền u cầu khởi tố.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS 2015 quy định “bị hại hoặc
người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần
hoặc thể chất hoặc đã chết” có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Quyền yêu
cầu KTVA hình sự đương nhiên và trước hết thuộc về bị hại bởi họ là người trực
tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra. Bị hại tham gia tố
tụng hình sự với địa vị pháp lý là người được Nhà nước bảo vệ các quyền và lợi ích
hợp pháp bị hành vi phạm tội xâm hại. Chính vì vậy, quyền u cầu khởi tố phải
được trao cho bị hại trước tiên. Trường hợp bị hại là người dưới 18 tuổi, người có
4


nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết là trường hợp bị hại chưa đủ
năng lực hoặc mất năng lực pháp luật thì người đại diện của bị hại có quyền yêu

cầu khởi tố vụ án. Yêu cầu của người đại diện có giá trị như yêu cầu của bị hại.
Yêu cầu KTVA hình sự của người đại diện của bị hại là yêu cầu độc lập, khơng phụ
thuộc vào ý chí của bị hại. Việc người đại diện của bị hại u cầu KTVA hình sự
khơng loại trừ việc bị hại tự mình yêu cầu KTVA hình sự.
3. Nội dung và hình thức yêu cầu khởi tố.
Nội dung yêu cầu khởi tố là yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự người
phạm tội, xử lý sự việc có dấu hiệu tội phạm. Thực tế hiện nay, yêu cầu KTVA
hình sự của bị hại hoặc người đại diện thường thể hiện qua đơn yêu cầu hoặc trình
bày trực tiếp và lập thành văn bản. Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
đều chấp nhận cả hai hình thức yêu cầu khởi tố này. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng
hình sự hiện hành chưa có quy định về nội dung yêu cầu KTVA hình sự, các cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cũng khơng ban hành mẫu đơn yêu cầu khởi
tố do vậy gây khơng ít khó khăn cho người u cầu khởi tố, vì nhiều trường hợp,
người u cầu khơng biết cách thể hiện chính xác ý chí của mình trong đơn.
4. Hậu quả pháp lý của yêu cầu, không yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố.
Hậu quả pháp lý của việc yêu cầu khởi tố trong các trường hợp KTVA hình
sự theo yêu cầu của bị hại là vụ án sẽ được khởi tố và giải quyết theo thủ tục chung.
Trong trường hợp KTVA thì tại phiên tịa xét xử sơ thẩm, bị hại hoặc người đại
diện hợp pháp của họ sẽ trình bày lời buộc tội tại phiên tịa (khoản 3 Điều 62
BLTTHS năm 2015). Bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày, bổ sung ý kiến
sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội (khoản 4 Điều 320 BLTTHS năm 2015). Bị
hại đã yêu cầu khởi tố phải chịu án phí hình sự sơ thẩm trong trường hợp vụ án
được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, mà sau đó Tịa án tun bố bị cáo khơng có

5


tội hoặc vụ án bị đình chỉ do người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu theo quy định
của BLTTHS.
Hậu quả của việc không yêu cầu khởi tố: Đối với các tội phạm chỉ được khởi

tố theo yêu cầu, việc không yêu cầu khởi tố là căn cứ để quyết định khơng KTVA
hình sự, hủy quyết định KTVA hình sự, đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án.
Hậu quả pháp lý của rút yêu cầu KTVA hình sự theo quy định tại khoản 2
Điều 155 BLTTHS năm 2015 là vụ án phải được đình chỉ nếu người yêu cầu khởi
tố tự nguyện rút yêu cầu. Hậu quả pháp lý này được cụ thể hóa bằng việc đình chỉ
điều tra hoặc đình chỉ vụ án, tùy theo giai đoạn tố tụng xảy ra sự kiện pháp lý rút
yêu cầu. Nếu vụ án đang ở giai đoạn điều tra thì Cơ quan điều tra ra quyết định
đình chỉ điều tra, nếu vụ án đã kết thúc điều tra và hồ sơ được chuyển sang Viện
kiểm sát thì Viện kiểm sát đình chỉ vụ án, nếu hồ sơ vụ án đã chuyển sang Tịa án
thì Tịa án đình chỉ vụ án. Nếu có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu
khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu
khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành
tố tụng đối với vụ án. Ngoài việc vụ án phải được đình chỉ, rút u cầu khởi tố cịn
có hậu quả pháp lý khác như không được yêu cầu khởi tố lại và chịu án phí. Khoản
3 Điều 155 BLTTHS năm 2015 quy định "Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã
rút u cầu tố khơng có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép
buộc, cưỡng bức". BLTTHS năm 2015 mở rộng phạm vi chủ thể khơng có quyền
u cầu khởi tố lại vụ án đối với cả người đại diện của bị hại. Quy định của
BLTTHS năm 2015 hợp lý hơn vì chủ thể của quyền rút yêu cầu KTVA là bị hại
hoặc người đại diện của họ, thì chủ thể khơng được yêu cầu khởi tố lại cũng phải là
bị hại hoặc người đại diện của họ.

6


III. THỰC TRẠNG THI HÀNH VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN
HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA BỊ HẠI.
1. Thực trạng thi hành các quy định pháp luật về khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của bị hại.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được khi thi hành các quy định pháp luật về
khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại, thì hiện nay trên thực tế vẫn còn tồn
tại một số bất cập như sau:
Thứ nhất, về các trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại: Thực
tế có những vụ án tội phạm được thực hiện với lỗi vô ý, bị hại và người thực hiện
hành vi phạm tội đã tự nguyện thỏa thuận và bị hại có đơn đề nghị khơng xem xét
xử lý trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên tội
phạm không thuộc trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại nên đề nghị
của bị hại không phải là căn cứ không khởi tố vụ án hình sự. Trường hợp này, cơ
quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong quá trình điều tra xác
định tội phạm thực hiện với lỗi vô ý, đồng thời căn cứ vào sự tự nguyện thỏa thuận
giữa bị hại và người thực hiện hành vi phạm tội, đề nghị miễn trách nhiệm hình sự
của bị hại đối với người thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra mới ra quyết
định đình chỉ điều tra, miễn trách nhiệm hình sự. Vì vậy, việc mở rộng thêm đối
với các tội danh khởi tố theo yêu cầu của bị hại là cần thiết.
Thứ hai, cùng là một tội danh cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe người khác nhưng khoản 6 điều 134 BLHS quy định có khung hình phạt nhẹ
hơn so với quy định tại khoản 1 điều 134 BLHS. (mức cao nhất của khung hình
phạt quy định tại khoản 6 Điều 134 BLHS là 02 năm tù, mức cao nhất của khung
hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 134 là 03 năm tù). Do vậy, khi đã thừa
nhận tội phạm quy định tại khoản 1 điều 134 chỉ được khởi tố theo yêu cầu bị hại
7


thì cũng nên coi khoản 6 Điều 134 là trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của
bị hại. Do đó, cần bổ sung vào điều 155 BLTTHS về trường hợp này. 4
Thứ ba, về việc yêu cầu khởi tố. Thứ nhất, Điều 155 BLTTHS năm 2015
không quy định thời hạn bị hại được quyền yêu cầu khởi tố, nghĩa là về nguyên tắc
họ có quyền yêu cầu KTVA bất cứ lúc nào, hồn tồn khơng bị giới hạn về mặt
thời gian. Trong khi đó, thời hạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm tối đa là 04

tháng (kể cả gia hạn). Từ đó phát sinh trường hợp quá thời hạn giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm nhưng bị hại khơng thể hiện ý chí là yêu cầu khởi tố hay không
yêu cầu khởi tố vụ án hình sự dẫn đến Cơ quan điều tra khơng thể ra quyết định
khởi tố vụ án hình sự vì chưa có yêu cầu của bị hại. Đây là một trong những
nguyên nhân làm cho việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Cơ quan điều
tra bị kéo dài mà chưa có cơ chế ràng buộc đối với bị hại. Thứ hai, BLTTHS năm
2015 không đề cập đến hình thức yêu cầu KTVA hình sự. Thực tế, không phải bị
hại nào cũng biết cách thức yêu cầu khởi tố, và khi có yêu cầu khởi tố, cơ quan có
thẩm quyền mỗi địa phương hướng dẫn khác nhau gây khó khăn cho bị hại, đối với
các vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì đây là một trong những tài
liệu quan trọng mà thiếu nó thì khơng thể khởi tố vụ án được.
Thứ tư, về việc không yêu cầu khởi tố: BLTTHS năm 2015 khơng địi hỏi tất
cả bị hại và người đại diện của họ đều yêu cầu thì mới được khởi tố vụ án hình sự
từ đó dẫn đến trường hợp vụ án có bị hại và người đại diện tham gia tố tụng nhưng
chi có bị hại hoặc người đại diện u cầu khởi tố, chủ thể cịn lại khơng yêu cầu
khởi tố. Lúc này, nếu chỉ căn cứ vào không yêu cầu khởi tố của một chủ thể mà
không khởi tố vụ án hình sự sẽ khơng bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của
người muốn yêu cầu khởi tố. Vì vây, quy định tai khoản 8 Điều 157 BLTTHS năm
2015 không được khởi tổ vụ án trong trường hợp bị hại hoặc người đại diện của họ
4

Phạm Mạnh Hùng (2019), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Lao động, tr 315 – 317.

8


không yêu cầu là không đúng. Việc không yêu cầu khởi tố là căn cứ để cơ quan có
thẩm quyền ra quyết định khơng khởi tố vụ án hình sự, hủy quyết định khởi tố vụ
án hình sự đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án khi đó là ý chí chung của bị hại và
người đại diện.5

Thứ năm, về trách nhiệm chi trả chi phí tố tụng theo khoản 3 Điều 136 BLHS
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quy định bị hại chịu án phí đúng trong
trường hợp bị hại là chủ thể yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên quy định này
khơng hợp lí trong trường hợp bị hại khơng u cầu khởi tố hoặc đã chết và việc
yêu cầu khởi tố do người đại diện hợp pháp của họ tự thực hiện. 6
2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của pháp
luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại.
Thứ nhất, pháp luật cần mở rộng thêm đối với các tội danh khởi tố theo yêu
cầu của bị hại để đạt được mục đích kết hợp hài hịa giữa lợi ích của bị hại với
người đại diện của họ và mục đích giáo dục người phạm tội.
Thứ hai, sửa đổi, bổ sung quy định về hình thức, nội dung và thủ tục yêu cầu
khởi tố, rút yêu cầu khởi tố. Để hạn chế trường hợp quá thời hạn giải quyết tố giác,
tin báo tội phạm do bị hại chậm yêu cầu khởi tố, cần quy định về thời hạn yêu cầu
KTVA. Một mặt nâng cao trách nhiệm, ý thức của bị hại trong việc cân nhắc yêu
cầu khởi tố hay không KTVA của mình, mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tránh tình
trạng vi phạm pháp luật. Về hình thức yêu cầu khởi tố và rút yêu cầu KTVA hình
sự phải được quy định chặt chẽ trong luật vì đây là tài liệu quan trọng khơng thể
thiếu trong q trình giải quyết vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại.
5

Hoàng Thị Vân Anh (2019), Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại và thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Kạn,
Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
6
Phạm Thái (2016), “Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại”, Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, (9), tr.
46 - 56.

9



Thứ ba, bổ sung quy định pháp luật nhằm đảm bảo việc không yêu cầu khởi
tố vụ án là ý chí chung của người bị hại và người đại diện của họ nhằm tháo gỡ khó
khăn vướng mắc trong trường hợp vụ án có bị hại và người đại diện mà trong đó có
chủ thể khơng u cầu, có chủ thể u cầu khởi tố.
Thứ tư, về án phí thì khoản 3 Điều 136 BLTTHS cần sửa đổi theo hướng:
trường hợp vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại hoặc của người đại diện của bị
hại, nếu tòa án tun bố bị cáo khơng có tội thì bị hại hoặc người đại diện của bị
hại phải trả án phí.
Thứ năm, tăng cường cơng tác giáo dục chính trị tư tưởng, công tác đào tạo,
bồi dưỡng kiến thức chuyên mơn, nâng cao trình độ cho các cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng, tăng cường trao đổi, tổng kết, rút kinh nghiệm các
vấn đề liên quan đến khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại.
KẾT LUẬN
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại là trường hợp đặc biệt của khởi
tố vụ án hình sự khi pháp luật trao cho bị hại quyền tự định đoạt việc đưa hành vi
có dấu hiệu tội phạm xử lý theo trình tự tố tụng hình sự thơng qua quyền u cầu
để bắt đầu q trình xử lý người phạm tội hoặc khơng u cầu khởi tố vụ án chấm
dứt quá trình giải quyết vụ án. Quy định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị
hại là cơ sở pháp lý quan trọng đã và đang phát huy vai trị tích cực trong thực tiễn
thể hiện sự quan tâm đến quyền tự quyết của cá nhân và các quy định pháp luật đó
cần được tiếp tục nghiên cứu, hồn thiện nhằm góp phần quan trọng trong việc bảo
vệ quyền và lợi ích của bị hại.

10


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
2. Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
3. Công văn 254/TANDTC-PC V/v người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu

cầu theo quy định tại Điều 155 của BLTTHS ngày 26 tháng 11 năm 2018.
4. Hoàng Thị Minh Sơn (2021), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Trường
Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an Nhân dân.
5. Võ Thị Kim Oanh (2021), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Trường
Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam.
6. Mai Thanh Hiếu (2021), Giáo trình Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, Trường Đại
học Mở Hà Nội, Nxb. Hải Phịng.
7. Nguyễn Đức Mai (2019), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự, Nxb.
Chính trị Quốc gia Sự thật.
8. Phạm Mạnh Hùng (2019), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015, Nxb Lao động, tr 315 – 317.
9. Nguyễn Tiến Long (2018), Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại trong
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luận văn thạc sĩ Luật học,
trường Đại học Luật Hà Nội.
10.Nguyễn Thanh Tùng (2019), Khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại và thực tiễn
thi hành tại thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật
Hà Nội
11.Hoàng Thị Vân Anh (2019), Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại và
thực tiễn thi hành tại tỉnh Bắc Kạn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học
Luật Hà Nội.
12.Phạm Thái (2016), “Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại”, Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, (9), tr. 46 - 56.
11


13.Vũ Gia Lâm (2017), “Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại - những
vướng mắc khi thực hiện và kiến nghị khắc phục”, Luật học, Trường Đại học
Luật Hà Nội, (12), tr. 28 - 37.
14.Vũ Tiến Sỹ, “Hiểu thế nào về rút yêu cầu khởi tố của bị hại theo BLTTHS năm
2015”, truy cập ngày 1/1/2022.

15. />truy cập ngày 1/1/2022.

12


CHÚ THÍCH BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015
Điều 62. Bị hại
1. Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ
quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.
2. Bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền:
a) Được thơng báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
c) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
d) Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
đ) Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;
e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người
định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
g) Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;
h) Tham gia phiên tịa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và
người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;
i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
k) Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
l) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân
thích của mình khi bị đe dọa;
m) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;

o) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại
diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.
13


4. Bị hại có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường
hợp cố ý vắng mặt khơng vì lý do bất khả kháng hoặc khơng do trở ngại khách
quan thì có thể bị dẫn giải;
b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng.
5. Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định tại
Điều này.
Cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện
theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ
chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều này.

Điều 136. Trách nhiệm chi trả chi phí tố tụng, lệ phí
1. Chi phí quy định tại khoản 4 Điều 135 của Bộ luật này do các cơ quan, người đã
trưng cầu, yêu cầu, chỉ định chi trả; trường hợp Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà
nước cử người bào chữa thì do Trung tâm này chi trả.
2. Án phí do người bị kết án hoặc Nhà nước chịu theo quy định của pháp luật.
Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tịa án. Mức án phí và căn cứ
áp dụng được ghi rõ trong bản án, quyết định của Tòa án.
3. Trường hợp vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, nếu Tịa án tun bố bị cáo
khơng có tội hoặc vụ án bị đình chỉ khi có căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155
của Bộ luật này thì bị hại phải trả án phí.
4. Đối với các hoạt động tố tụng do người tham gia tố tụng u cầu thì việc chi trả

lệ phí, chi phí theo quy định của pháp luật.

Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134,
135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có u cầu
của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược
điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
14


2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ,
trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý
muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu
cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với
vụ án.
3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì khơng có quyền
u cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Điều 157. Căn cứ khơng khởi tố vụ án hình sự
Khơng được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:
1. Khơng có sự việc phạm tội;
2. Hành vi không cấu thành tội phạm;
3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm
hình sự;
4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án
có hiệu lực pháp luật;
5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
6. Tội phạm đã được đại xá;
7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái
thẩm đối với người khác;

8. Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155,
156 và 226 của Bộ luật hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu
cầu khởi tố.

Điều 320. Trình tự phát biểu khi tranh luận
1. Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày luận tội; nếu thấy khơng có
căn cứ để kết tội thì rút tồn bộ quyết định truy tố và đề nghị Tịa án tun bố bị
cáo khơng có tội.
2. Bị cáo trình bày lời bào chữa; người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị
cáo; bị cáo, người đại diện của bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa.
15


3. Bị hại, đương sự, người đại diện của họ trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi
ích của mình; nếu có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ thì người này
có quyền trình bày, bổ sung ý kiến.
4. Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại
diện của họ trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội.

16



×