Tải bản đầy đủ (.pdf) (86 trang)

Quy định pháp luật về kiểm soát rủi ro tín dụng của công ty tài chính tín dụng tiêu dùng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.43 MB, 86 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ BÍCH PHƯỢNG

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SỐT RỦI RO TÍN DỤNG CỦA
CƠNG TY TÀI CHÍNH TÍN DỤNG TIÊU DÙNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SỐT RỦI RO TÍN DỤNG CỦA
CƠNG TY TÀI CHÍNH TÍN DỤNG TIÊU DÙNG
Chun ngành: Luật Kinh tế
Định hướng nghiên cứu
Mã số: 8380107

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS Bùi Xuân Hải
Học viên: Lê Thị Bích Phượng
Lớp: CHL Kinh tế, K30

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021



LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan Luận văn: “Quy định pháp luật về kiểm sốt rủi ro tín
dụng của cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng” là cơng trình nghiên cứu khoa học
chính tác giả dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Bùi Xuân Hải. Các kết quả
nghiên cứu trong luận văn là trung thực, tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú
thích tài liệu tham khảo và chưa từng được công bố trong bất kỳ cơng trình nghiên
cứu nào.
TP Hồ Chí Minh, ngày

tháng

Người cam đoan

Lê Thị Bích Phượng

năm 2021


BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Nội dung được viết tắt

Viết tắt

1

Trung tâm Thơng tin tín dụng quốc gia Việt Nam

CIC


2

Cơng ty tài chính

CTTC

3

Cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng

CTTCTD

4

Dự phòng chung

DPC

5

Dự phòng cụ thể

DPCT

6

Giải ngân trực tiếp

GNTT


7

Hợp đồng cho vay tiêu dùng

HĐCVTD

8

Hợp đồng tín dụng

HĐTD

9

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

NHNN

10

Ngân hàng thương mại

NHTM

11

Rủi ro tín dụng

RRTD


12

Sửa đổi, bổ sung

SĐBS

13

Tổ chức tín dụng

TCTD

14

Thơng tin tín dụng

TTTD

15

Xử lý rủi ro

XLRR

STT


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
1.1


Tên bảng
Minh hoạ quy trình thẩm định và phê duyệt cho
vay tiêu dùng tại CTTC Mirae Asset

Trang
42


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM
SỐT RỦI RO TÍN DỤNG CỦA CƠNG TY TÀI CHÍNH TÍN DỤNG TIÊU
DÙNG ......................................................................................................................... 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động cho vay tiêu dùng của cơng ty tài chính
tín dụng tiêu dùng ..................................................................................................7
1.2. Khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân, tác động của rủi ro tín dụng đối với
cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng.....................................................................8
1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng của cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng ..........9
1.2.2. Đặc điểm của rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tiêu dùng của cơng
ty tài chính tín dụng tiêu dùng ............................................................................11
1.2.3. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tiêu dùng
của cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng ............................................................15
1.2.4. Tác động của rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng.............................17
1.3. Khái niệm, đặc điểm, vai trị của kiểm sốt rủi ro tín dụng trong cho vay
tiêu dùng của cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng ..........................................19
1.3.1. Khái niệm kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của cơng ty
tài chính tín dụng tiêu dùng................................................................................19
1.3.2. Đặc điểm của kiểm sốt rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của cơng
ty tài chính tín dụng tiêu dùng ............................................................................21

1.3.3. Vai trị của kiểm sốt rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của cơng ty
tài chính tín dụng tiêu dùng................................................................................23
1.4. Chiến lược và biện pháp kiểm sốt rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu
dùng của cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng ..................................................24
1.4.1. Chiến lược kiểm sốt rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của cơng ty
tài chính tín dụng tiêu dùng................................................................................24
1.4.2. Biện pháp kiểm sốt rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng của cơng ty
tài chính tín dụng tiêu dùng................................................................................26


1.5. Cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu
dùng của cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng ..................................................27
1.5.1. Quy định của pháp luật điều chỉnh quản lý rủi ro tín dụng .....................27
1.5.2. Hệ thống quy định nội bộ của công ty tài chính tín dụng tiêu dùng về
quản lý rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng và hoạt động cho vay tiêu dùng
............................................................................................................................29
1.6. Sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật về kiểm soát rủi ro tín
dụng trong cho vay tiêu dùng của cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng ........30
1.7. Đặc điểm của pháp luật về kiểm sốt rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu
dùng của cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng ..................................................32
Kết luận Chương 1 .................................................................................................. 35
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SỐT RỦI RO TÍN DỤNG
CỦA CƠNG TY TÀI CHÍNH TÍN DỤNG TIÊU DÙNG: THỰC TRẠNG VÀ
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN .................................................................................. 36
2.1. Quy định về các giới hạn, hạn chế trong cho vay tiêu dùng và kiến nghị
hồn thiện .............................................................................................................36
2.1.1. Quy định về những trường hợp khơng được cho vay, hạn chế cho vay ...36
2.1.2. Quy định về xác định hạn mức rủi ro tín dụng.........................................37
2.1.3. Quy định về tổng dư nợ cho vay tiêu dùng đối với một khách hàng ........38
2.1.4. Kiến nghị hoàn thiện quy định về các giới hạn, hạn chế trong cho vay

tiêu dùng .............................................................................................................40
2.2. Quy định về kiểm soát hoạt động thẩm định và phê duyệt tín dụng và
kiến nghị hồn thiện ............................................................................................41
2.2.1. Tách biệt hoạt động thẩm định và phê duyệt tín dụng .............................41
2.2.2. Xây dựng các tiêu chí cho vay tiêu dùng làm cơ sở cho hoạt động thẩm
định và phê duyệt tín dụng .................................................................................43
2.2.3. Kiến nghị hồn thiện quy định pháp luật về kiểm soát hoạt động thẩm
định và phê duyệt tín dụng trong cho vay tiêu dùng ..........................................50


2.3. Quy định về giải ngân vốn vay và kiểm tra sử dụng tiền vay và kiến nghị
hoàn thiện .............................................................................................................51
2.3.1. Quy định về giải ngân vốn vay .................................................................51
2.3.2. Quy định về kiểm tra sử dụng tiền vay .....................................................52
2.3.3. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về giải ngân vốn vay và kiểm tra
sử dụng tiền vay trong cho vay tiêu dùng của cơng ty tài chính tín dụng tiêu
dùng ....................................................................................................................55
2.4. Quy định về phân loại nợ, trích lập dự phịng, sử dụng dự phịng để xử lý
rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng và kiến nghị hoàn thiện ...................57
2.4.1. Khái niệm về phân loại nợ, trích lập dự phịng rủi ro tín dụng ...............57
2.4.2. Quy định về nguyên tắc và phương pháp phân loại nợ............................58
2.4.3. Quy định về trích lập dự phịng rủi ro tín dụng và sử dụng dự phòng xử lý
rủi ro trong cho vay tiêu dùng của cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng ...........59
2.4.4. Một số hạn chế, bất cập về phân loại nợ, trích lập dự phịng, sử dụng dự
phịng để xử lý rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng và kiến nghị hoàn thiện
............................................................................................................................61
2.5. Quy định về biện pháp khác nhằm kiểm sốt rủi ro tín dụng trong cho
vay tiêu dùng ........................................................................................................66
2.5.1. Quy định về thứ tự thu hồi nợ...................................................................66
2.5.2. Quy định về cơ cấu lại thời hạn trả nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ

nguyên nhóm nợ .................................................................................................67
2.5.3. Quy định về chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn ..............................68
2.5.4. Quy định về biện pháp bảo đảm và xử lý tài sản trong cho vay tiêu dùng
............................................................................................................................69
Kết luận Chương 2 .................................................................................................. 70
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Từ năm 2007 đến nay, hoạt động cho vay tiêu dùng đã có sự phát triển mạnh
mẽ ở Việt Nam. Theo số liệu cơng bố của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN),
tính đến 31/12/2020, thị trường cho vay tiêu dùng có sự tham gia của 16 cơng ty tài
chính (CTTC), trong đó 12/16 CTTC chuyên ngành hoạt động tập trung vào lĩnh
vực tín dụng tiêu dùng. Đến năm 2020, dư nợ tín dụng tiêu dùng đã đạt mức 1,8
triệu tỷ đồng, chiếm 20% dư nợ cho vay nền kinh tế. Tính riêng nhóm các CTTC
tiêu dùng thì dư nợ đạt khoảng 130.000 tỷ đồng với hơn 30 triệu khách hàng được
phục vụ1. Với xu thế hiện nay, thị trường cho vay tiêu dùng ở Việt Nam được dự
báo tiếp tục phát triển không chỉ mở rộng về quy mô dư nợ cho vay mà tính chất
phức tạp của thị trường cũng tăng lên.
Song, các cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng (gọi tắt: cơng ty tài chính tiêu
dùng – viết tắt là CTTCTD) cũng đang phải đối mặt với những rủi ro cao hơn so với
ngân hàng thương mại (NHTM): các rủi ro từ hoạt động cho vay chủ yếu là tín chấp
hoặc có tài sản bảo đảm giá trị thấp, khách hàng vay thường có thu nhập trung bình
hoặc thấp, khơng ổn định, hiểu biết về tài chính hạn chế; các khoản vay thường có
giá trị nhỏ, ngắn hạn với chi phí khoản vay cao. Việc khách hàng vay khơng trả
hoặc khơng có khả năng trả một phần hoặc tồn bộ khoản vay (vi phạm nghĩa vụ
hợp đồng) được xem là một thách thức lớn đối với CTTCTD. Theo báo cáo tài

chính hợp nhất của Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank), nợ xấu
nội bảng năm 2019 của CTTC FE Credit ở mức 3.617 tỷ đồng so với 60.594 tỷ
đồng tổng dư nợ cho vay (chiếm tỷ lệ 5.97%). Năm 2018, con số này dừng lại ở
mức 3.185 tỷ đồng trên 53.270 tỷ đồng tổng dư nợ cho vay (chiếm tỷ lệ 5.9%).
Trong khi đó, nợ xấu tại hai CTTC khác là MCredit và HD SAISON lần lượt là 590
tỷ đồng trên 7.504 tỷ đồng tổng dư nợ cho vay (chiến 7,9%) và 682 tỷ đồng chiếm
6,2% trong tổng dư nợ cho vay. Trong cơ cấu nợ xấu của các CTTC, phần lớn là nợ
nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) và nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ)2. Những số liệu trên cho
thấy vấn đề kiểm sốt rủi ro tín dụng (RRTD) đã và đang đóng một vai trị cực kỳ
Huy Thắng, “Khung pháp lý cần sát thực tiễn hơn để thúc đẩy tín dụng tiêu dùng”, Kinhte/Khung-phap-ly-can-sat-thuc-tien-hon-de-thuc-day-tin-dung-tieu-dung/426861.vgp, truy cập ngày 23/05/2021.
2
Ngọc Bích, “Nợ xấu của FE Credit, MCredit, HD Saison đang như thế nào?”, truy cập ngày 22/09/2020.
1


2
quan trọng trong hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng tại tại các CTTCTD, có khả
năng tác động tới mức độ an toàn cũng như hiệu quả hoạt động của mỗi cơng ty.
Kiểm sốt RRTD bằng cơng cụ pháp luật là cách thức kiểm soát RRTD mà
bất kỳ tổ chức tín dụng (TCTD) nói chung đều phải tn thủ triệt để. Cơ quan
quản lý nhà nước đã ban hành nhiều quy định tạo khung pháp lý quan trọng cho
hoạt động cho vay cũng như hoạt động kiểm soát RRTD tại các TCTD. Tuy nhiên,
để điều chỉnh về hoạt động cho vay tiêu dùng của CTTC duy nhất chỉ có Thông tư
số 43/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của NHNN quy định về cho vay tiêu
dùng của CTTC và gần đây là Thông tư số 18/2019/TT-NHNN ngày 04/11/2019
của NHNN sửa đổi, bổ sung (SĐBS) một số điều của Thông tư số 43/2016/TTNHNN quy định về cho vay tiêu dùng của CTTC. Các vấn đề khác trực tiếp liên
quan đến kiểm soát RRTD tại CTTC như kiểm tra sử dụng tiền vay; phân loại nợ,
trích lập dự phịng RRTD… được thực hiện như đối với các NHTM. Trong khi đó,
với đặc thù của hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt Nam hiện nay thì RRTD
được đánh giá là cao hơn rất nhiều so với RRTD của các NHTM thì việc áp dụng

các quy định về kiểm soát RRTD như các NHTM dẫn đến áp dụng thiếu hiệu quả,
vơ hình chung tạo ra rào cản phát triển của các CTTCTD. Do đó, việc nghiên cứu
một cách tồn diện các quy định về kiểm sốt RRTD của CTTCTD vô cùng cần
thiết mang nhiều giá trị lý luận lẫn thực tiễn. Đây cũng là lý do tác giả chọn đề tài
nghiên cứu “Quy định pháp luật về kiểm sốt rủi ro tín dụng của cơng ty tài chính
tín dụng tiêu dùng”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua quá trình khảo sát, tổng hợp tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
“Quy định pháp luật về kiểm sốt rủi ro tín dụng của cơng ty tài chính tín dụng tiêu
dùng”, tác giả nhận thấy trong thời gian qua đã có một số cơng trình nghiên cứu như
sau:
Sách chuyên khảo
TS. Nguyễn Thị Kim Thanh (cb) (2014), Hoạt động cho vay tiêu dùng: Kinh
nghiệm quốc tế; Thực trạng và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam, NXB Hồng Đức:
Tài liệu này đã nêu lên một số vấn đề lý luận, khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động
cho vay tiêu dùng tại Việt Nam, kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, thực
trạng cho vay tiêu dùng tại Việt Nam và khuyến nghị chính sách về cho vay tiêu dùng.


3
Theo đó, cơng trình đã đề cập đến những vấn đề trên khía cạnh quản lý rủi ro như: mơ
hình kinh doanh, hồ sơ rủi ro của các CTTCTD trong mối tương quan với các NHTM,
quản lý rủi ro tín dụng tiêu dùng của NHTM và CTTCTD có liên quan đến nội dung
mà tác giả nghiên cứu trong luận văn. Tuy nhiên, cơng trình chưa khai thác sâu dưới
góc độ pháp luật về quản lý RRTD của các CTTCTD.
Luận án, luận văn, khóa luận:
- Lê Thị Ngân Hà (2011), Pháp luật về hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động
thẩm định cho vay của NHTM, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP.HCM:
Luận văn đã đề cập các vấn đề mang tính lý luận chung về thẩm định cho vay như
nội dung thẩm định cho vay, quy trình thẩm định cho vay và RRTD trong hoạt

động thẩm định cho vay của các NHTM. Luận văn đã nhận diện được vấn đề bất
cập và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện trong quy định của pháp luật hiện hành
về hạn chế RRTD trong khâu thẩm định cho vay, cụ thể về năng lực chủ thể của
bên đi vay, mục đích và phương án sử dụng vốn của bên đi vay, tài sản bảo đảm
tiền vay.
- Võ Thị Thu Oanh (2016), Pháp luật về hạn chế rủi ro tín dụng trong giai
đoạn giải ngân và giám sát sử dụng vốn vay của NHTM, Khóa luận, Trường Đại
học Luật TP. HCM: Khóa luận đã làm rõ đến các vấn đề mang tính lý luận chung
về RRTD trong giai đoạn giải ngân và giám sát sử dụng vốn vay của NHTM:
mục đích của giám sát sử dụng vốn vay, quy trình thực hiện giải ngân và giám
sát sử dụng vốn vay của NHTM. Bên cạnh đó, khóa luận nêu lên bất cập trong
quy định về phương tiện thanh toán để giải ngân vốn vay khi chưa có văn bản
nào định nghĩa cụ thể như thế nào là thanh toán trực tiếp cho bên thụ hưởng như
theo quy định của Thông tư số 09/2012/TT-NHNN ngày 10/04/2012 của NHNN
quy định việc sử dụng các phương tiện thanh toán để giải ngân vốn cho vay của
TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; chưa có hướng dẫn
cụ thể việc kiểm tra sử dụng vốn vay trong hoạt động giám sát sử dụng vốn mà
mỗi NHTM tự quy định trong văn bản nội bộ dẫn đến chưa đáp ứng được yêu
cầu hạn chế RRTD tại các NHTM.
Nhìn chung, các cơng trình nghiên cứu đề cập trên đây đều tập trung phân
tích các vấn đề dưới góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về
hạn chế rủi ro tại các NHTM ở từng giai đoạn riêng rẽ của q trình cấp tín dụng,


4
bao gồm: giai đoạn thẩm định và quyết định cấp tín dụng, giai đoạn giải ngân vốn
cho vay và giám sát sử dụng vốn vay của khách hàng.
Bài báo khoa học:
Hiện nay có rất nhiều bài báo khoa học được cơng bố trên các tạp chí
nghiên cứu chun ngành về tài chính ngân hàng lẫn pháp lý liên quan đến vấn đề

kiểm soát RRTD tại các TCTD. Tuy nhiên, một điều dễ nhận ra là mặc dù số
lượng bài báo khoa học nghiên cứu về quản lý RRTD nói chung và kiểm sốt
RRTD của các TCTD thì rất nhiều nhưng phần lớn đều tập trung nghiên cứu về
kiểm soát RRTD của các NHTM dưới góc độ tổng quan nhất. Dưới góc độ khoa
học pháp lý, có thể kể đến một số bài viết như: “Một số vấn đề của pháp luật về
phịng ngừa rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng tại NHTM” của tác giả Nguyễn
Xuân Bang trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2 (2015), “Bất cập trong pháp
luật điều chỉnh tổ chức, hoạt động của TCTD với việc hạn chế RRTD hiện nay”
của tác giả Phạm Thị Giang Thu trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10 (2015);
“Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hệ thống kiểm soát nội bộ của các chủ thể kinh
doanh ngân hàng tại Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Giang Thu trên Tạp chí Nhà
nước và Pháp luật số 4 (2017); “Chấm điểm tín dụng khách hàng cá nhân và
những thách thức của NHTM trong quản trị RRTD tiêu dùng” của tác giả Lê Nam
Long trên Tạp chí Ngân hàng số 10 (2014)… Xét về các bài viết có liên quan đến
kiểm sốt RRTD tại các CTTCTD thì chưa có sự nghiên cứu nào chuyên sâu.
Phần lớn các bài viết khoa học tập trung vào vấn đề lãi suất cho vay tiêu dùng của
CTTCTD, một số ít nghiên cứu đề cập đến việc quản lý, giám sát hoạt động tín
dụng tiêu dùng của CTTC.
Với đề tài “Quy định pháp luật về kiểm sốt rủi ro tín dụng của cơng ty tài
chính tín dụng tiêu dùng”, tác giả nghiên cứu chun sâu và tồn diện vấn đề kiểm
sốt RRTD, trong đó tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm của
RRTD và vai trò việc kiểm soát RRTD tại các CTTCTD; đặc trưng của pháp luật về
kiểm sốt RRTD trong các CTTCTD; phân tích các quy định của pháp luật về kiểm
soát RRTD và thực trạng áp dụng các quy định này tại các CTTCTD. Trên cơ sở đó,
tác giả sẽ đưa ra các giải pháp hồn thiện những điểm cịn hạn chế, bất cập trong
quy định pháp luật về kiểm soát RRTD tại các CTTCTD.


5
3. Mục đích nghiên cứu

Với việc lựa chọn đề tài “Quy định pháp luật về kiểm sốt rủi ro tín dụng của
cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng”, tác giả có những mục tiêu sau:
Một là, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cơ bản về RRTD, kiểm soát RRTD
trong hoạt động cho vay tiêu dùng của CTTCTD.
Hai là, phân tích thực trạng pháp luật về kiểm sốt RRTD trong hoạt động
cho vay tiêu dùng của CTTCTD.
Ba là, rút ra những kinh nghiệm, đề xuất định hướng hoàn thiện quy định
pháp luật về kiểm soát RRTD trong cho vay tiêu dùng của CTTCTD.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống lý thuyết liên quan đến kiểm
soát RRTD trong cho vay tiêu dùng của CTTCTD; những quy định pháp luật về
kiểm soát RRTD cho vay tiêu dùng của CTTCTD và thực tiễn áp dụng pháp luật về
kiểm soát RRTD trong cho vay tiêu dùng của các CTTCTD.
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Kiểm soát RRTD trong cho vay tiêu dùng của CTTCTD là vấn đề có thể
được nghiên cứu, tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Trong phạm vi của luận văn,
tác giả tập trung nghiên cứu khía cạnh pháp lý của kiểm soát RRTD trong một hoạt
động ngân hàng cụ thể của CTTCTD đó là cho vay tiêu dùng. Ở góc độ cụ thể,
phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm:
- Về không gian, tác giả nghiên cứu pháp luật về kiểm soát RRTD trong cho
vay tiêu dùng của CTTCTD ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng
đề cập đến một số kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát RRTD, đặc biệt là các khuyến
nghị của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Bank
Supervision - gọi tắt là Ủy ban Basel).
- Về thời gian, tác giả chủ yếu nghiên cứu quy định của pháp luật về kiểm
soát RRTD trong hoạt động cho vay tiêu dùng của CTTC đang có hiệu lực áp dụng
trên cơ sở Luật các TCTD năm 2010 (được SĐBS bởi Luật số 17/2017/QH14 ngày
20/11/2017), Nghị định của Chính phủ, Thơng tư của NHNN và các văn bản khác
có liên quan.



6
- Về lĩnh vực nghiên cứu, tác giả nghiên cứu pháp luật về kiểm soát RRTD
trong một hoạt động hết sức đặc thù của CTTCTD – cho vay tiêu dùng mà khơng
nghiên cứu pháp luật về kiểm sốt RRTD trong các hoạt động ngân hàng khác của
CTTCTD (như huy động vốn, cấp tín dụng thơng qua phát hành thẻ tín dụng, cho
vay hợp vốn…). Đồng thời, tác giả nghiên cứu thực trạng pháp luật về kiểm soát
RRTD trong cho vay tiêu dùng của CTTCTD.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả sử dụng kết hợp linh hoạt giữa các phương pháp
nghiên cứu khoa học, cụ thể:
Phương pháp phân tích: được sử dụng trong việc nghiên cứu các văn bản, tài
liệu đã có. Phương pháp này được sử dụng để phân tích các tài liệu, văn bản pháp
luật liên quan đến kiểm soát RRTD của CTTCTD từ tổng quát đến chi tiết. Đồng
thời, tác giả còn sử dụng phương pháp này để phân tích khi đề cập đến những khó
khăn, vướng mắc cũng như thực trạng áp dụng của các quy định này. Phương pháp
này được tác giả sử dụng ở cả chương 1 và chương 2 của luận văn.
Phương pháp tổng hợp: tác giả sử dụng để tổng kết, xâu chuỗi và đưa ra kết
luận về vấn đề đã phân tích. Phương pháp này được tác giả sử dụng ở cả chương 1
và chương 2 của luận văn.
Phương pháp so sánh: Tại chương 2 của luận văn, tác giả sử dụng phương
pháp này nhằm mục đích so sánh quy định pháp luật liên quan đến kiểm soát RRTD
trong hoạt động cho vay tiêu dùng của CTTCTD tại Việt Nam trong tương quan với
thông lệ quốc tế và/ hoặc một số nước trên thế giới nhằm tìm hiểu những điểm khác
biệt để học hỏi kinh nghiệm.


7
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SỐT RỦI RO

TÍN DỤNG CỦA CƠNG TY TÀI CHÍNH TÍN DỤNG TIÊU DÙNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động cho vay tiêu dùng của cơng ty tài
chính tín dụng tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng là hoạt động cấp tín dụng của CTTC nhằm tài trợ cho mục
đích tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính quan trọng giúp
người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương
tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế… Dưới góc độ pháp lý, theo quy
định của NHNN tại khoản 1 Điều 3 Thông tư số 43/2016/TT-NHNN (được SĐBS),
cho vay tiêu dùng được hiểu là việc CTTC cho vay bằng đồng Việt Nam đối với
khách hàng là cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vốn mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
cho mục đích tiêu dùng của khách hàng, gia đình của khách hàng đó với tổng dư nợ
cho vay tiêu dùng đối với một khách hàng tại CTTC đó khơng vượt q 100.000.000
đồng (một trăm triệu đồng).
CTTCTD là một trong ba loại hình CTTC chuyên ngành đang hoạt động hiện
nay cùng với CTTC bao thanh tốn và cơng ty cho th tài chính. Đối với
CTTCTD, hoạt động cho vay tiêu dùng cùng với cho vay trả góp và phát hành thẻ
tín dụng chiếm trên 70% dư nợ cấp tín dụng của tồn cơng ty. So với các hoạt động
cho vay khác của CTTCTD cũng như hoạt động cho vay của NHTM, cho vay tiêu
dùng của CTTCTD có các đặc điểm sau:
Một là, khách hàng vay là cá nhân. Những thơng tin cá nhân và tình hình tài
chính của cá nhân là những yếu tố quan trọng trong việc quyết định cho vay của
CTTCTD. Theo đó, khách hàng chủ yếu đến từ tầng lớp người tiêu dùng có thu
nhập thấp hoặc trung bình, khơng ổn định, hiểu biết về tài chính hạn chế và khơng
có hoặc chỉ có lịch sử tín dụng hạn chế với điểm tín dụng khơng cao. Khác với cho
vay phục vụ sản xuất, kinh doanh khác, vốn thường tập trung vào một số ít khách
hàng là doanh nghiệp, rủi ro cá thể đến từ một khách hàng có thể ảnh hưởng trực
tiếp đến tình trạng tài chính của TCTD cho vay thì đối với cho vay tiêu dùng, vốn
cho vay được phân bổ cho một lượng rất lớn các khách hàng với thu nhập thấp và
khơng ổn định, khi có bất kỳ biến động nào tác động đến nguồn tài chính để trả nợ
này cũng sẽ tác động đến tình hình tài chính của CTTCTD.



8
Hai là, mục đích vay khơng xuất phát từ mục đích kinh doanh mà nhằm phục
vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình. Do đó, nhu cầu vay tiêu dùng phụ
thuộc nhiều vào chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng, nhu cầu vay tiêu dùng
thường tăng lên, ngược lại khi nền kinh tế suy thối, tình trạng thất nghiệp tăng kéo
theo việc vay mượn phục vụ nhu cầu tiêu dùng giảm sút.
Ba là, nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ thu nhập, không nhất thiết
phải xuất phát từ hiệu quả của việc sử dụng khoản vay. Do vậy, những khách hàng
có việc làm, thu nhập ổn định là những yếu tố quan trọng để CTTCTD xem xét,
quyết định cấp tín dụng.
Bốn là, do quy mô các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản vay để mua ơ
tơ), chi phí để cho vay cao, hơn nữa đây là danh mục cho vay có rủi ro cao, do đó
lãi suất cho vay tiêu dùng thường cao hơn lãi suất của các loại cho vay khác.
Việc hiểu và nắm được đặc thù của cho vay tiêu dùng của CTTCTD sẽ khơng
chỉ có ý nghĩa trong việc nghiên cứu, tìm hiểu về RRTD trong hoạt động cho vay
tiêu dùng của CTTCTD, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích về các biện pháp,
phương pháp kiểm soát RRTD của các CTTCTD.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân, tác động của rủi ro tín dụng đối
với cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng
Khái niệm rủi ro trong hoạt động ngân hàng lần đầu tiên được NHNN đưa ra
tại Quy định về việc phân loại tài sản "có", trích lập và sử dụng dự phịng để xử lý
rủi ro (XLRR) trong hoạt động ngân hàng của TCTD được ban hành kèm theo
Quyết định số 488/2000/QĐ-NHNN ngày 27/11/2000 của NHNN. Theo đó, rủi ro
trong hoạt động ngân hàng của TCTD (sau đây gọi tắt là rủi ro) là những tổn thất có
thể xảy ra trong hoạt động ngân hàng3. Với định nghĩa này, phạm trù của rủi ro
được xác định là những tổn thất mà TCTD có thể gánh chịu khi tiến hành các hoạt
động ngân hàng. Trong bối cảnh khái niệm rủi ro thay đổi theo thời gian và cho đến
nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về rủi ro thì khái niệm trên do NHNN

đưa ra chỉ là một ví dụ cho nhóm định nghĩa tập trung vào xác xuất, theo đó rủi ro
được xem là nguy cơ xảy ra những sự kiện ngoàn mong muốn, có thể dẫn đến sự
tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến đạt
được. Trong khi đó, một số định nghĩa khác đề cập đến rủi ro như là một sự không
Khoản 1 Điều 2 Quy định về việc phân loại tài sản "có", trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong
hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng được ban hành kèm theo Quyết định số 488/2000/QĐ-NHNN.
3


9
chắc chắn về kết quả, vừa mang tích cực vừa mang tính tiêu cực và số cịn lại xem
rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được4.
Về phân loại rủi ro, theo Ủy ban Basel, rủi ro của các TCTD được phân thành
08 loại: rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro
hoạt động, rủi ro pháp lý và rủi ro danh tiếng. Trong phạm vi luận văn này, tác giả
tập trung phân tích các khía cạnh liên quan đến RRTD của một loại hình TCTD –
cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng trong một hoạt động ngân hàng cụ thể - cho vay
tiêu dùng; các dạng rủi ro khác trong hoạt động ngân hàng và mối liên hệ giữa
RRTD với các rủi dạng rủi ro còn lại sẽ khơng được đề cập.
1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng của cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng
Theo Ủy ban Basel, RRTD được hiểu là khả năng mà một bên đi vay ngân
hàng hoặc đối tác không thực hiện các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã
thỏa thuận trước đó5. Trong tài liệu Assessing Credit Risk, Ngân hàng Thế giới cho
rằng, RRTD là: (i) rủi ro vỡ nợ, trong đó bên đối tác sẽ khơng thực hiện đúng theo
cam kết; (ii) rủi ro tổn thất, trong đó bên đối tác khơng có khả năng thực hiện đúng
theo cam kết, người cho vay gánh chịu tổn thất, bao gồm tổn thất kế toán và tổn thất
kinh tế6. Một cách hiểu khác của Joël Bessis trong Risk Management in Banking
(2015), RRTD là những tổn thất do khách hàng khơng trả đuợc nợ hoặc sự giảm sút
chất lượng tín dụng của những khoản vay7. Còn theo Greuning và Bratanovic (1999,
trang 98) được trích bởi Nguyễn Thị Mai Quyên (2015), RRTD được định nghĩa là

nguy cơ mà bên đi vay khơng thể chi trả tiền lãi hoặc hồn trả vốn gốc so với thời
hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng (HĐTD). Đây là thuộc tính vốn có của hoạt
động ngân hàng. RRTD tức là việc chi trả bị trì hỗn, hoặc tồi tệ hơn là khơng chi
trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh
hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng8.
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN,
RRTD được định nghĩa như sau: RRTD trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có
khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không
4

Joël Bessis (2015), Risk Management in Banking - forth edition, John Wiley & Sons Ltd, tr.1.
Basel Committee on Bank Supervision (2000), Principles for the management of credit risk, Basel, tr. 1.
6
World Bank, “Assessing Credit Risk”, />E-AssessingCreditRisk-RobertWalker.pdf, truy cập ngày 07/03/2020.
7
Joël Bessis (2015), tlđd (4), tr.3.
8
Nguyễn Thị Mai Quyên (2015), Kiểm soát RRTD trong cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Quân đội –
Chi nhánh Đắk Lắk, Luận văn Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh, Đại học Đà Nẵng, tr.19.
5


10
có khả năng thực hiện một phần hoặc tồn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Khái
niệm này khơng đổi khi NHNN ban hành Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày
21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự
phịng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để XLRR trong hoạt động của TCTD để
thay thế cho Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN.
Nhìn chung, khơng có sự khác biệt nào đáng kể giữa khái niệm RRTD theo quy
định của NHNN Việt Nam và khái niệm được đưa ra bởi các tổ chức quốc tế cũng như

các học giả; tựu trung đều thể hiện RRTD là rủi ro mà bên được cấp tín dụng khơng
thực hiện hoặc khơng có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo cam kết.
Với các TCTD, RRTD được xác định cụ thể hơn tại các văn bản nội bộ, trong
đó chỉ rõ những hoạt động ngân hàng nào có thể phát sinh RRTD. Ví dụ: (i) Tại
VPBank, “RRTD được xem là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của VPBank do
khách hàng khơng thực hiện hoặc khơng có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn
bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Khoản nợ là số tiền VPBank đã gửi, đã giải ngân
từng lần theo thỏa thuận đối với nợ theo quy định hiện hành của VPBank”9; (ii) Với
FE Credit, RRTD được định nghĩa là “rủi ro gây tác động tiêu cực đối với thu nhập
và vốn của FE Credit do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác khơng
thực hiện đúng hoặc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, thỏa
thuận đã ký kết với FE Credit. Tại FE Credit, RRTD phát sinh từ các hoạt động: cho
vay khách hàng bán lẻ, gồm cho vay tiêu dùng, các sản phẩm thẻ tín dụng; cấp tín
dụng đối với khách hàng tự doanh; gửi tiền tại tổ chức tài chính, TCTD; các hoạt
động khác có phát sinh RRTD”10.
Liên quan đến RRTD của CTTCTD, các hoạt động ngân hàng có thể phát
sinh được xác định dựa trên phạm vi hoạt động của CTTCTD. Theo đó, CTTCTD
thực hiện hoạt động ngân hàng theo Điều 108 Luật các TCTD năm 2010 (được
SĐBS) và Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/05/2014 của Chỉnh phủ quy định
về hoạt động của cơng ty tài chính và cơng ty cho thuê tài chính (được SĐBS bởi
Nghị định số 16/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019). Cụ thể các hoạt động ngân hàng
mà CTTCTD được phép thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại
Nghị định số 39/2014/NĐ-CP (được SĐBS) bao gồm: nhận tiền gửi của tổ chức;
Khoản 2 Điều 1 Quy định phân loại tài sản có, trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD
ngày 28/05/2014 của VPBank.
10
Theo Chính sách Khung quản trị rủi ro ngày 18/05/2015 của FE Credit.
9



11
chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng, các giấy tờ có giá khác; phát
hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn của tổ
chức; vay vốn của TCTD, tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài theo quy
định của pháp luật; vay NHNN dưới hình thức tái cấp vốn theo quy định của Luật
NHNN; cho vay, bao gồm cả cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng; phát hành thẻ tín
dụng11. Trong đó, CTTCTD được phép hoạt động tín dụng tiêu dùng khi đáp ứng
các điều kiện về: (i) cho vay, bao gồm cả cho vay trả góp và cho vay tiêu dùng và
hoặc phát hành thẻ tín dụng; và (ii) dư nợ tín dụng tiêu dùng tối thiểu chiếm 70%
tổng dư nợ cấp tín dụng hoặc một tỷ lệ khác do NHNN quy định trong từng thời
kỳ12. Với các hoạt động ngân hàng mà CTTCTD được phép thực hiện, dễ dàng
nhận thấy hoạt động cấp tín dụng của CTTCTD được tiến hành thông qua nghiệp
vụ cho vay bao gồm cả cho vay trả góp và cho vay tiêu dùng, cấp tín dụng dưới
hình thức phát hành thẻ tín dụng và chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển
nhượng, giấy tờ có giá khác. Do đó, RRTD của CTTCTD có thể phát sinh từ các
hoạt động cấp tín dụng bao gồm cho vay trả góp và cho vay tiêu dùng, phát hành
thẻ tín dụng, chiết khấu, tái chiết khấu cơng cụ chuyển nhượng và các hoạt động
khác có phát sinh RRTD.
Từ các khái niệm về RRTD và phạm vi hoạt động của CTTCTD, tác giả rút
ra định nghĩa về RRTD trong cho vay tiêu dùng của CTTCTD như sau: Rủi ro tín
dụng trong cho vay tiêu dùng của cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng được hiểu
là tổn thất có khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của cơng ty tài chính tín dụng
tiêu dùng trong cho vay tiêu dùng, do khách hàng không trả được nợ hoặc khơng
có khả năng thực hiện một phần hay tồn bộ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết tại hợp
đồng tín dụng.
1.2.2. Đặc điểm của rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tiêu dùng của
cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng
RRTD trong hoạt động cho vay tiêu dùng của CTTCTD mang đầy đủ đặc
điểm của RRTD trong hoạt động cho vay của TCTD nói chung. Chính vì vậy, tác
giả đi sâu phân tích đặc điểm của RRTD trong hoạt động cho vay của TCTD và chỉ

ra những đặc điểm riêng biệt của RRTD trong cho vay tiêu dùng của CTTCTD. Cụ
thể như sau:
11
12

Khoản 4 Điều 15 Nghị định số 39/2014/NĐ-CP (được SĐBS)
Điểm b khoản 3 Điều 15 Nghị định số 39/2014/NĐ-CP (được SĐBS)


12
1.2.2.1. Đặc điểm của rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của tổ chức
tín dụng
Một là, RRTD là loại rủi ro được phát sinh trong quan hệ tín dụng và tồn tại
trong suốt quá trình cho vay của TCTD đối với khách hàng. Q trình cho vay
thơng thường bao gồm các giai đoạn: Tiếp nhận hồ sơ đề nghị cho vay của khách
hàng; thẩm định và quyết định cho vay; giải ngân; kiểm tra, giám sát việc sử dụng
vốn vay, trả nợ của khách hàng. Ở bất kỳ giai đoạn nào của quá trình này đều chứa
đựng các yếu tố có thể dẫn đến RRTD cho TCTD, có thể là yếu tố khách quan như
sự bất cập trong cơ chế, chính sách của Nhà nước, mơi trường pháp lý cho hoạt
động tín dụng chưa hồn thiện, cũng có thể yếu tố chủ quan đến từ khách hàng, bản
thân TCTD. Lấy ví dụ như khi thực hiện hồ sơ đề nghị vay vốn tại TCTD, việc
khách hàng vô ý hay cố ý cung cấp không đầy đủ các thông tin như thơng tin cá
nhân, mục đích sử dụng vốn, thu nhập hàng tháng… đều có thể dẫn đến những
quyết định cấp tín dụng thiếu đúng đắn. Chính vì các thông tin sai lệch như vậy đặt
trong bối cảnh sự yếu kém về nghiệp vụ của nhân viên tín dụng, quy trình cho vay
của TCTD với nhiều kẻ hở… làm cho các TCTD không thể nắm bắt được các yếu
tố dẫn đến rủi ro một cách toàn diện, đầy đủ. Nhận thức và vận dụng đặc điểm này,
khi thực hiện kiểm soát rủi ro cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, không chủ
quan với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào.
Hai là, RRTD là loại rủi ro mang tính tất yếu khách quan. Kinh doanh ngân

hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất
tín dụng ngân hàng. Theo V.Volker, Cựu Chủ tịch Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ (FED),
được PGS.TS Đinh Xuân Hạng dẫn lại, cho rằng: “Nếu ngân hàng khơng có những
khoản vay tồi thì đó khơng phải là hoạt động kinh doanh”13. Xuất phát từ bản chất
của tín dụng ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ chứa nhiều rủi ro, RRTD
trong hoạt động cấp tín dụng ln có khả năng xảy đến với TCTD bất kỳ lúc nào
trong suốt quá trình hoạt động. Bởi lẽ, TCTD vừa đóng vai trị là bên đi vay lại vừa là
bên cấp tín dụng cho khách hàng, do đó tính hiệu quả của việc sử dụng vốn vay của
bên đi vay tác động lớn đến hiệu quả trong kinh doanh tiền tệ của TCTD. Tính tất yếu
của RRTD trong hoạt động cấp tín dụng được thể hiện trường hợp khách hàng kinh
doanh thua lỗ, khơng có khả năng hoặc thiếu thiện chí trả nợ như đã cam kết với hệ
quả là nguồn vốn tín dụng của TCTD sẽ bị thất thốt do khơng thu hồi đầy đủ nợ gốc
Học viện Tài chính (2012), Giáo trình Quản trị tín dụng Ngân hàng thương mại, Đinh Xuân Hạng,
Nguyễn Văn Lộc, NXB Tài Chính, tr.214.
13


13
và lãi tiền vay. Ngược lại, trường hợp khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích đã
thỏa thuận, hồn trả đầy đủ nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn như đã cam kết thì TCTD
sẽ thu hồi được vốn và đảm bảo có lợi nhuận.
Do hiệu quả trong hoạt động cấp tín dụng của TCTD phụ thuộc rất lớn vào
tình trạng trả nợ của khách hàng, trong khi đó, các yếu tố như tình hình tài chính và
thiện chí trả nợ của khách hàng lại khơng phụ thuộc vào ý chí của TCTD. Hiểu đơn
giản, trong quan hệ cấp tín dụng nói chung, khi cấp tín dụng cho khách hàng, TCTD
ln mong muốn khách hàng hồn trả cả vốn gốc và lãi tiền vay trong thời hạn theo
thỏa thuận. Tuy nhiên, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tài chính để trả nợ của
bên đi vay lại nằm ngồi ý chí của TCTD dù trong q trình thẩm định và quyết
định cấp tín dụng, TCTD đã nhận thức được rủi ro này có thể xảy ra nhưng vẫn kỳ
vọng khả năng thực hiện nghĩa vụ đúng cam kết. Do vậy, việc khách hàng không

thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ bao gồm nợ gốc và nợ lãi khi đến
hạn hoặc mất khả năng tài chính để trả nợ mang tính khách quan.
Như vậy, RRTD trong cho vay tiêu dùng của các TCTD mang tính tất yếu và
tồn tại khách quan. Việc loại bỏ hồn tồn RRTD trong hoạt động cấp tín dụng là
khơng thể. Chính vì đặc tính này mà các TCTD cần phải chấp nhận RRTD ở mức
cho phép nếu mong muốn có được thu nhập phù hợp từ hoạt động cấp tín dụng.
Mức độ RRTD được TCTD chấp nhận là điều kiện quan trọng để điều tiết những
tác động tiêu cực của RRTD trong q trình quản lý RRTD nói chung.
Ba là, RRTD có khả năng gây ra tổn thất khi bên đi vay khơng thực hiện
nghĩa vụ của mình theo cam kết với TCTD. RRTD có khả năng gây ra tổn thất đối
với nợ của TCTD, gồm giảm thu nhập và giảm giá trị thị trường của vốn. Sở dĩ
RRTD được tiếp cận theo hướng xác suất (“khả năng”) vì đặc tính khó xác định
của RRTD. Cụ thể, RRTD có thể xảy ra hoặc không xảy ra, nếu xảy ra RRTD thì
xảy ra vào thời điểm nào và mức độ thiệt hại là bao nhiêu. Điều này mang ý nghĩa
rằng bất kỳ khoản vay nào cũng tiềm ẩn một RRTD đối với TCTD, ví dụ: một
khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất, một
TCTD có tỷ lệ nợ quá hạn thấp nhưng nguy cơ RRTD sẽ rất cao nếu danh mục đầu
tư tín dụng thiếu đa dạng mà chỉ tập trung vào một nhóm khách hàng tiềm ẩn
nhiều rủi ro. Cách tiếp cận này sẽ giúp cho hoạt động kiểm soát RRTD tại TCTD
được chủ động trong lựa chọn các biện pháp, cơng cụ nhằm phịng ngừa, giảm
thiểu tổn thất khi xảy ra rủi ro.


14
Bốn là, RRTD có thể được nhận diện, đo lường và kiểm sốt. Với bất kỳ
khoản cấp tín dụng nào thì RRTD cũng ln tiềm ẩn khả năng xảy ra. Tuy nhiên,
bằng các dấu hiệu, biểu hiện ra bên ngoài của RRTD như dấu hiệu về tài chính (thu
nhập, khoản nợ phải trả tại các TCTD khác, sự suy giảm chất lượng tín dụng…)
hoặc phi tài chính (thái độ, khả năng liên lạc của khách hàng…) mà các TCTD sớm
nắm bắt, xem xét, đánh giá mức độ, nguy cơ xảy ra RRTD hay khơng, nếu có xảy ra

thì mức độ tổn thất là bao nhiêu và cuối cùng là đưa ra biện pháp kiểm sốt phù
hợp. TCTD khơng thể triệt tiêu sự hình thành, tồn tại của RRTD mà chỉ có thể giảm
thiểu tần suất xuất hiện cũng như các tác động của RRTD thông qua các hoạt động
nhận diện các dấu hiệu rủi ro, lượng hóa mức độ, xác suất xảy ra rủi ro và kiểm soát
chúng bằng các kỹ thuật, cơng cụ, chính sách tương ứng.
1.2.2.2. Đặc điểm riêng của rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tiêu
dùng của cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng
Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động cho vay tiêu dùng của CTTCTD, RRTD
trong hoạt động cho vay tiêu dùng của CTTCTD có một số đặc điểm riêng biệt sau:
Một là, RRTD trong cho vay tiêu dùng của CTTCTD chịu sự tác động từ
nguồn thu nhập của khách hàng. Trong cho vay phục vụ nhu cầu sản xuất kinh
doanh, RRTD xảy ra khi khách hàng gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình
sử dụng vốn vay của TCTD. Nói cách khác, những rủi ro trong hoạt động sử dụng
vốn của khách hàng là nguyên nhân chủ yếu gây ra RRTD. Riêng đối với cho vay
tiêu dùng của CTTCTD, nguồn thu nhập của khách hàng mới là yếu tố ảnh hưởng
sâu sắc đến nghĩa vụ thanh toán của khách hàng đó. Nếu nguồn thu nhập này biến
động theo chiều hướng suy giảm như gặp sự đổ vỡ quan hệ gia đình, làm cho nguồn
thu nhập bị chia sẻ; bị ốm đau, tai nạn, mất việc làm không tạo ra thu nhập sẽ kéo
theo khoản nợ không được khách hàng thanh tốn đầy đủ và đúng hạn. Khi đó,
CTTCTD có thể phải đối mặt với RRTD do bên đi vay không thực hiện hoặc không
thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho CTTCTD.
Hai là, trong hoạt động cho vay tiêu dùng, CTTCTD chủ yếu chịu rủi ro hệ
thống mà ít bị ảnh hưởng bởi rủi ro cá thể. Rủi ro cá thể là loại RRTD xảy ra đối với
một khoản vay của một khách hàng cụ thể. Rủi ro hệ thống là loại RRTD xảy ra
không chỉ đối với một CTTCTD mà mang tính chất hệ thống, một khi rủi ro hệ thống
xảy ra thì tất cả các CTTCTD đều bị ảnh hưởng. Rủi ro hệ thống xuất phát từ sự thay


15
đổi chính sách cho vay bao gồm cả chính sách cho vay tiêu dùng, chính sách tiền tệ,

chính sách thuế; sự thay đổi của mơi trường kinh doanh, suy thối kinh tế; rủi ro lãi
suất… Bên cạnh đó, các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế ảnh hưởng đến rủi ro hệ thống
bao gồm: tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, tổng sản phẩm quốc nội (GDP), chỉ số giá
tiêu dùng (CPI) và các yếu tố bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh...
Trong hoạt động cho vay tiêu dùng thì CTTCTD chủ yếu chịu rủi ro hệ thống
mà ít bị ảnh hưởng bởi rủi ro cá thể14. Khác với cho vay phục vụ sản xuất, kinh doanh
khác, vốn thường tập trung vào khách hàng doanh nghiệp, do đó rủi ro cá thể đến từ
một khách hàng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng tài chính của TCTD cho
vay thì đối với cho vay tiêu dùng, vốn cho vay được phân bổ cho một số lượng rất lớn
các khách hàng với thu nhập thấp và không ổn định như vậy, khi có biến động nào đó
tác động đến nguồn tài chính để trả nợ kéo theo tác động rất lớn đối với tình hình tài
chính của CTTCTD. Để hạn chế rủi ro hệ thống, CTTCTD cần phải thực hiện tốt
cơng tác dự báo tình hình kinh tế vĩ mơ, tác động của lạm phát, tình hình thất nghiệp,
các chính sách sắp đến của NHNN cũng như các cơ quan quản lý nhà nước khác có
liên quan nhằm chủ động đưa ra các biện pháp kiểm soát RRTD phù hợp.
Tóm lại, RRTD của CTTCTD trong cho vay tiêu dùng chịu sự tác động bởi
những đặc tính cố hữu của đối tượng khách hàng, khoản vay tiêu dùng mà
CTTCTD cung cấp ra thị trường. Chính đặc điểm riêng biệt này tác động rất lớn đến
hoạt động kiểm soát RRTD của CTTC, quy định pháp luật có liên quan sẽ được tác
giả phân tích ở các phần sau.
1.2.3. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tiêu dùng
của cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng
Có nhiều ngun nhân dẫn đến khách hàng khơng thực hiện hoặc khơng có
khả năng thực hiện một phần hoặc tồn bộ nghĩa vụ trả nợ của mình theo cam kết
tại HĐTD đã ký kết với CTTCTD. Tùy góc độ nhìn nhận mà nguyên nhân gây ra
RRTD trong hoạt động cho vay tiêu dùng được chia ra làm nhiều nhóm khác nhau.
Việc nhận diện và phân tích các ngun nhận dẫn đến RRTD trong hoạt động cho
vay tiêu dùng có ý nghĩa hết sức lớn, vì đó là cơ sở cho các đối sách của CTTCTD
nói riêng, cơ quan quản lý nhà nước nói chung.
Bảo Duy, “Những rủi ro thường gặp trong cho vay tiêu dùng”, truy cập ngày 20/03/2020.

14


16
1.2.3.1. Nhóm nguyên nhân thuộc về khách hàng
Trong cho vay tiêu dùng, đối tượng mà CTTCTD phục vụ chỉ bao gồm khách
hàng là cá nhân trong đó đại đa số là những đối tượng có thu nhập trung bình và
thấp, khó tiếp cận nguồn vốn của NHTM với các yêu cầu khắc khe hơn về tính ổn
định của nguồn thu nhập để trả nợ, tài sản bảo đảm, phương án sử dụng vốn... Bên
cạnh đó, hoạt động cho vay tiêu dùng của CTTC khác biệt so với cho vay phục vụ
hoạt động sản xuất, kinh doanh, theo đó việc sử dụng vốn vay tiêu dùng không tạo
ra thu nhập, nguồn trả nợ chủ yếu từ các nguồn thu nhập khác của khách hàng. Vì
vậy, tính ổn định trong thu nhập của khách hàng cùng các yếu tố tác động đến sự ổn
định này như sự biến đổi môi trường kinh doanh, mất việc làm, suy giảm sức lao
động là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tài chính để trả nợ cho CTTCTD.
Ngồi ra, CTTCTD có thể phải đối mặt với các rủi ro đạo đức khi khách hàng có
hành vi gian lận, cố ý lừa đảo nhằm chiếm dụng vốn vay hoặc có thái độ thiếu thiện
chí, bất hợp tác để trả nợ.
1.2.3.2. Nhóm nguyên nhân thuộc về cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng
Ngun nhân RRTD từ phía CTTCTD là rất quan trọng, mang nặng tính chủ
quan vì CTTCTD ln là một bên chủ thể trong quan hệ cho vay tiêu dùng. Bất kỳ
hoạt động thiếu cẩn trọng đều có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề cho CTTCTD.
Cụ thể:
- Chính sách tín dụng của CTTCTD nếu không minh bạch sẽ làm cho hoạt
động tín dụng lệch lạc, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tạo ra khe
hở cho khách hàng có những hành vi vi phạm hợp đồng, thậm chí các hành vi vi
phạm pháp luật như làm giả hồ sơ vay vốn nhằm chiếm đoạt vốn vay.
- Đánh giá chưa đúng mức về khoản vay, về bên đi vay, coi nhẹ khâu kiểm
tra tình hình tài chính, khả năng thanh toán hiện tại và trong tương lai, nguồn trả nợ.
- Trình độ nhận biết RRTD của nhân viên tín dụng còn hạn chế và việc vi

phạm đạo đức nghề nghiệp: Nhân viên tín dụng mới nắm bắt được các thơng tin qua
dấu hiệu tài chính của khách hàng cịn các dấu hiệu phi tài chính thì các nhân viên
tín dụng chưa thu thập được hoặc chưa đủ kinh nghiệm để nhận biết và xử lý kịp
thời. Bên cạnh đó, khơng ít những trường hợp nhân viên tín dụng lợi dụng sự am
hiểu về quy trình sản phẩm, quy trình thẩm định đã cấu kết với các đối tượng bên
ngoài thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhằm chiếm đoạt vốn vay.


17
1.2.3.3. Nhóm ngun nhân khách quan từ mơi trường bên ngồi
Trong q trình khách hàng sử dụng tín dụng, có rất nhiều biến động khách
quan ngồi tầm kiểm sốt của cả CTTCTD lẫn khách hàng, làm cho khả năng tài
chính để trả nợ thay đổi. Đó có thể là những biến động đến từ điều kiện kinh tế vĩ
mô hoặc các sự kiện bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh; mơi trường chính trị và
pháp lý thay đổi. Trong các yếu tố kể trên, mức độ RRTD đối với CTTCTD phụ
thuộc nhiều nhất vào điều kiện kinh tế vĩ mơ. Trường hợp mơi trường kinh tế có
khó khăn và kéo dài thì sẽ có ảnh hưởng nhất định đến danh mục tín dụng, chất
lượng tín dụng bị suy giảm.
Nhìn chung, việc nắm bắt được nguyên nhân của RRTD trong hoạt động cho
vay tiêu dùng giúp cho CTTCTD đưa ra những biện pháp để kiểm soát, ngăn chặn
các yếu tố này; mặt khác sẽ giúp cho cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiệt các quy
định pháp luật để tạo mơi trường hoạt động ổn định, an tồn cho các CTTCTD nói
riêng, TCTD nói chung.
1.2.4. Tác động của rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng
1.2.4.1. Tác động của rủi ro tín dụng trong cho vay tiêu dùng đối với chính
cơng ty tài chính tín dụng tiêu dùng
Hoạt động cho vay tiêu dùng là hoạt động cơ bản của CTTCTD, đem lại
nguồn thu chủ yếu của các CTTCTD. Tuy nhiên, các nguồn thu từ loại hình tín
dụng này lại kèm theo RRTD. Cụ thể, việc không thu hồi được nợ bao gồm gốc, lãi
và các khoản phí làm cho nguồn vốn của CTTCTD bị thất thoát; kéo theo nợ xấu

tích tụ, chi phí trích lập dự phịng và xử lý nợ xấu năm sau cao hơn năm trước trong
khi đó CTTCTD vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn đã huy động. Nếu lợi nhuận
không đủ, CTTCTD phải dùng chính vốn tự có để bù đắp thiệt hại; trường hợp
nghiêm trọng hơn có thể làm cho hoạt động kinh doanh của CTTCTD bị thua lỗ, tác
động đến quá trình mở rộng hoạt động trong tương lai. Cùng với đó, tỷ lệ nợ q
hạn cao làm cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài chính của CTTCTD bị suy giảm,
dẫn đến giảm khả năng huy động vốn.
1.2.4.2. Tác động của RRTD trong cho vay tiêu dùng đối với hệ thống tài chính
Về ảnh hưởng đến hệ thống tài chính, rộng hơn là nền kinh tế, các nghiên cứu
về tác động của RRTD trong cho vay tiêu dùng đều chỉ ra rằng RRTD của
CTTCTD nói chung khơng là nguồn gốc dẫn đến rủi ro có hệ thống (systematic


×