BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
MAI MINH KHUÊ
THỪA KẾ THẾ VỊ CỦA CHÁU, CHẮT
THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ DỤNG DÂN SỰ
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
THỪA KẾ THẾ VỊ CỦA CHÁU, CHẮT
THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Định hướng Nghiên cứu
Mã số: 8380103
Người hướng dẫn khoa học: Ts. Nguyễn Xuân Quang
Học viên: Mai Minh Kh
Lớp: Luật Dân sự, Khóa 30
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tơi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và
trung thực.
Tác giả
Mai Minh Khuê
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt
Dịch nghĩa
1
BLDS
Bộ luật Dân sự
3
HĐTP
Hội đồng thẩm phán
2
TANDTC
Toà án nhân dân tối cao
TT
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ CỦA
CHÁU, CHẮT....................................................................................................... 8
1.1. Khái quát chung về thừa kế thế vị........................................................... 8
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm thừa kế thế vị .................................................. 8
1.1.2. Điều kiện hưởng thừa kế thế vị .......................................................... 18
1.2. Thừa kế thế vị của cháu, chắt khi cha mẹ không được quyền hưởng
di sản................................................................................................................ 23
1.2.1. Khái niệm về “cháu, chắt” trong quy định về thừa kế thế vị ............ 23
1.2.2. Các trường hợp không được quyền hưởng di sản ............................. 28
1.2.3. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thừa kế thế vị của
cháu, chắt khi cha mẹ không được quyền hưởng di sản .............................. 33
1.3. Sơ lược pháp luật Việt Nam về thừa kế thế vị từ thời Lê, Nguyễn
đến nay ............................................................................................................ 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ................................................................................... 41
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ
CỦA CHÁU, CHẮT VÀ ĐỊNH HƯỚNG - GIẢI PHÁP HOÀN THỆN
PHÁP LUẬT ....................................................................................................... 42
2.1. Thực trạng pháp luật thừa kế thế vị của cháu, chắt............................ 42
2.1.1. Thừa kế thế vị không giải quyết vấn đề thừa kế thế vị khi cha mẹ
khơng có quyền hưởng di sản thừa kế ......................................................... 42
2.1.2. Mâu thuẫn trong quan hệ giữa thừa kế thế vị và thừa kế ở hàng
thứ nhất ........................................................................................................ 44
2.1.3. Quy định hướng dẫn thừa kế thế vị đối với quan hệ con nuôi, quan hệ
thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế................................................. 47
2.1.4. Hệ quả ................................................................................................ 52
2.2. Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật ...................................... 55
2.2.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật ...................................................... 55
2.2.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật ........ 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ................................................................................... 61
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 62
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thừa kế là một trong những chế định quan trọng hàng đầu của BLDS
Việt Nam cũng như các nước trên thế giới. Ngay trong Hiến pháp - đạo luật
gốc của hệ thống pháp luật Việt Nam, thừa kế được ghi nhận là một quyền cơ
bản của công dân. Tại Hiến pháp 1959 quy định: “Nhà nước chiếu theo pháp
luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản tư hữu của cơng dân”1. Tiếp đó, Hiến pháp
1980 đã có sự kế thừa và sửa đổi phù hợp hơn với thực tiễn: “…Pháp luật bảo
hộ quyền thừa kế tài sản của công dân”2. Trải qua quá trình phát triển, Hiến
pháp 1992 tiếp tục ghi nhận và khẳng định “…Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu
hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”3.
Theo quy luật sinh tử, con người khi chết không thể mang theo những tài
sản mà họ tạo lập được khi cịn sống, vì vậy, lúc này sẽ phát sinh vấn đề về sự
chuyển dịch tài sản và quyền sở hữu của người đã chết cho những cá nhân, tổ
chức được quyền hưởng di sản thừa kế của người đó theo di chúc hoặc theo pháp
luật. Bởi vậy, thừa kế đóng vai trị quan trọng trong xã hội từ thời phong kiến
đến nay và được các nhà làm luật cân nhắc, xem xét để kịp thời sửa đổi, bổ sung
cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội từng thời kỳ.
Hiện nay, ở Việt Nam, chế định thừa kế được quy định cụ thể, rõ ràng
trong BLDS 2015, là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp liên
quan đến vấn đề thừa kế của cá nhân. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng những
quy định này trên thực tế vẫn còn bộc lộ những hạn chế, vướng mắc nhất định.
Thừa kế thế vị - một trường hợp đặc biệt của thừa kế theo pháp luật, với mục
đích chủ yếu là bảo vệ quyền nhận di sản của cháu, chắt của người để lại di sản
khi họ có cha, mẹ chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản. Với
sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam hiện nay, khối tài sản của công dân
ngày càng lớn và đa dạng hơn về chủng loại thì việc hồn thiện những quy định
cịn hạn chế của pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của người nhận di sản. Từ thực tế này, chế định thừa kế thế vị luôn nhận
Điều 19 Hiến pháp năm 1959.
Điều 27, Hiến pháp năm 1980.
3
Điều 25 Hiến pháp 1992.
1
2
2
được sự quan tâm của giới luật sư, các nhà nghiên cứu luật thông qua những
bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành4.
Một trong những khía cạnh đặc biệt của chế định thừa kế thế vị đó là
quyền thừa kế thế vị của cháu, chắt khi cha mẹ không được quyền hưởng di sản.
Theo quy định của pháp luật hiện hành khi cha hoặc mẹ của cháu hoặc chắt
không được quyền hưởng di sản của ông, bà hoặc cụ do có một trong các hành vi
được nêu tại khoản 1 Điều 621 BLDS năm 2015 sẽ kéo theo cháu hoặc chắt cũng
khơng thể được thay thế vị trí của cha mẹ để hưởng di sản của ông, bà hoặc cụ.
Quy định này sẽ không đảm bảo được quyền hưởng di sản của cháu và chắt bởi
lẽ bản thân họ khơng bị tồ án tước quyền hưởng di sản và không bị người để lại
di sản truất quyền hưởng di sản.
Có thể nói, vấn đề về thừa kế trong pháp luật Việt Nam hiện này đang
ngày càng được hoàn thiện với nhiều những điểm mới tiến bộ nhằm răn đe đồng
thời cũng để nâng cao đạo đức của người thừa kế với những điều kiện để được
hưởng quyền nhận di sản. Tuy nhiên, những quy định về người không được
quyền hưởng di sản chỉ nên áp dụng với chính những người có hành vi độc lập,
vì cháu hoặc chắt là những người khơng có lỗi và cũng khơng phải chịu trách
nhiệm về hành vi do cha mẹ gây ra.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Thừa kế thế
vị của cháu, chắt theo pháp luật dân sự Việt Nam” làm luận văn Thạc sĩ Luật
học. Đây là một đề tài có ý nghĩa quan trọng trên cả phương diện lý luận cũng
như thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
Qua tìm hiểu các cơng trình nghiên cứu khoa học về thừa kế thế vị của
cháu, chắt đã có nhiều cơng trình, bài viết về vấn đề thừa kế nói chung và thừa
kế thế vị nói riêng, có thể chia thành 3 nhóm lớn sau:
- Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo:
(i) Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân
sự năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Cơng an nhân
Nếng Ly (2013), Thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật,
Trường Đại học Cần Thơ, tr. 1: (truy cập ngày 10-06-2020).
4
3
dân: ở cơng trình này tập thể tác giả đã phân tích làm rõ nội dung của từng điều
luật cũng như bình luận các nội dung tích cực và phù hợp với thực tiễn thực
hiện; phát hiện những nội dung cịn hạn chế, chồng chéo để có định hướng hồn
thiện. Về nội dung thừa kế thế vị, tác giả Nguyễn Văn Cừ đã thể hiện quan điểm
về trường hợp thế vị khi cha mẹ không được quyền hưởng di sản đó là để bảo vệ
quyền được hưởng di sản của cháu (hay chắt) khi bản thân họ khơng bị tồ án
tước quyền, không bị người để lại di sản truất quyền hưởng di sản, họ có năng
lực pháp luật thừa hưởng thì pháp luật nên cho cháu được hưởng thừa kế thế vị
trừ khi chính họ cũng thuộc những trường hợp khơng được quyền hưởng di sản.
Ngồi ra, tác giả cịn có sự so sánh với Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931, Bộ Dân
luật Trung Kỳ và Bộ Dân luật Việt Nam Cộng hoà năm 1972 để làm rõ quan
điểm đưa ra. Có thể thấy, cơng trình nghiên cứu đã đưa ra cái nhìn tổng thể về
thừa kế thế vị và vướng mắc của điều luật này. Tuy nhiên vẫn chưa có những
phân tích cụ thể và hướng hồn thiện thực tiễn về thừa kế thế vị.
(ii) Đỗ Văn Đại (2016), Luật thừa kế Việt Nam - bản án và bình luận bản
án (tái bản lần thứ 4), Nxb. Hồng Đức: Cuốn sách cung cấp cho người đọc thông
tin thực tế gắn liền với lý luận và nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trên cơ sở
nghiên cứu thực tiễn xét xử về thừa kế theo pháp luật (cụ thể là thừa kế thế vị).
Tác giả đặt ra vấn đề về trường hợp khi cha mẹ không được quyền hưởng di sản,
chúng ta nên xem xét nghiên cứu: người có hành vi đáng lên án là cha mẹ thì tại
sao lại bắt con cháu phải gánh chịu? cũng như tư tưởng “quýt làm cam chịu” từ
trước đến nay được suy luận trên tinh thần điều luật. Bên cạnh đó, tác giả còn
viện dẫn pháp luật của một số quốc gia như pháp luật của Pháp được xây dựng
cách đây hơn 200 năm, BLDS của Pháp hiện hành, pháp luật Achentina, Áo,
Canada (Quếbếc) để người đọc thấy được sự khác nhau trong quy định về thừa
kế thế vị giữa pháp luật dân sự Việt Nam và của một số quốc gia khác trên thế
giới. Cơng trình nghiên cứu đem đến cái nhìn đa chiều về người thế kế thế vị của
pháp luật các quốc gia khác nhau. Mặc dù vậy, tác phẩm mới chỉ dừng lại ở việc
đặt vấn đề mà chưa đi sâu phân tích những vướng mắc của pháp luật hiện hành
cũng như kiến nghị cụ thể để hoàn thiện những bất cập.
(iii) Nguyễn Ngọc Điện (1999), Một số suy nghĩ về thừa kế trong Luật
Dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả phân tích và làm
4
rõ về thừa kế thế vị, trường hợp cháu hưởng thừa kế thế vị của ông, bà theo pháp
luật dân sự năm 1995. Ngồi ra, tài liệu cịn cung cấp những thơng tin hữu ích về
pháp luật so sánh của Pháp đối với vấn đề thừa kế thế vị. Tương tự như hai cuốn
sách trên, tác phẩm chưa có sự đề cập đến trường hợp thừa kế thế vị khi cha mẹ
không được quyền hưởng di sản.
(iv) Lê Minh Hùng (2019), Giáo trình pháp luật tài sản, quyền sở hữu
và thừa kế, Nxb. Hồng Đức, Hội luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh.
Giáo trình được sử dụng để giảng dạy cho sinh viên chuyên ngành luật ở các
cơ ở đào tạo luật trong cả nước, Giáo trình đã đề cập đến khái niệm thừa kế
thế vị và những người thừa kế thế vị, cung cấp người đọc cái nhìn tổng quan
về thừa kế thế vị cũng như sự khác biệt về quy định này tại BLDS năm 2005
và BLDS 2015 với quy định tại Điều 680 BLDS năm 1995. Sự trình bày này
có ý nghĩa quan trọng về chế định thừa kế thế vị. Nó thể hiện sự điều chỉnh
kịp thời của cơ quan lập pháp để phù hợp với thực tế, phản ánh bản chất của
thừa kế thế vị. Tuy nhiên với phạm vi của giáo trình vẫn chưa có sự đề cập và
phân tích trường hợp thế vị của cháu, chắt khi cha mẹ không được quyền
hưởng di sản.
- Nhóm luận văn: ở nhóm này có cơng trình nghiên cứu tiêu biểu như: Lê
Minh Hùng (2003), “Hoàn thiện chế định quyền thừa kế trong pháp luật dân sự
Việt Nam hiện hành”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật Thành phố Hồ
Chí Minh. Đề tài luận văn thạc sĩ này được tác giả phân tích một cách chi tiết và
đầy đủ từ lý luận đến thực tiễn pháp luật về thừa kế. Đặc biệt bằng sự dày công
nghiên cứu, tác giả đã giúp người đọc nhìn thấy được những vấn đề tồn tại trong
pháp luật về thừa kế trong BLDS năm 1995 để từ đó đề ra những giải pháp hoàn
thiện pháp luật. Vấn đề thừa kế thế vị cũng được tác giả đề cập thông qua việc
chỉ ra điểm hạn chế của BLDS 1995 về việc bỏ sót trường hợp chắt hưởng thừa
kế thế vị của các cụ. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của tác giả là toàn bộ chế
định quyền thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam nên mới chỉ dừng lại ở việc
khái quát các trường hợp không được quyền hưởng di sản.
- Nhóm các bài báo, tạp chí chun ngành luật: Các bài nghiên cứu thuộc
nhóm này chủ yếu được đề cập trên tạp chí nhưu Tạp chí Dân chủ và Pháp luật,
Tạp chí Tồ án nhân dân, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Luật học ….Trong
5
đó phải kể đến bài viết “Thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật dân sự” của
Ths. Đoàn Ngọc Hải đăng trên Tạp chí Tồ án; “Về việc cháu, chắt nội, ngoại
thừa kế thế vị và hướng dẫn di sản thừa kế theo hàng của ông, bà nội ngoại, các cụ
nội, ngoại” của Phùng Trung Tập, đăng trên Tạp chí Tồ án nhân dân số 24 năm
2005; “Hồn thiện quy định về thừa kế trong Bộ luật Dân sự” của Phạm Văn
Tuyết đăng trên Tạp chí Luật học (số Đặc san) năm 2003; Nguyễn Viết Giang
(2017), Thừa kế thế vị theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghề luật, số
5, 2017; Tạp chí Tồ án (2019), “Một số vướng mắc về người thừa kế theo pháp
luật và đề xuất, kiến nghị…
Đây thực sự là những cơng trình có giá trị lớn trong cả khoa học lý luận và
thực tiễn. Tuy nhiên, những cơng trình nghiên cứu này hoặc đề cập đến những
vấn đề mang tính khái quát chung về thừa kế thế vị chung chứ chưa nghiên cứu
một cách toàn diện, đầy đủ về vấn đề thừa kế thế vị của cháu, chắt hiện hành.
Thừa kế thế vị của cháu, chắt không phải là đề tài mới những với sự thay đổi
từng ngày, từng giờ của các quan hệ xã hội, quan hệ tài sản địi hỏi phải có
những quy phạm pháp luật mới để điều chỉnh. Do đó việc nghiên cứu kịp thời để
có hướng đề xuất các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề này cho phù hợp với
thực tiễn là hết sức cần thiết.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Từ việc nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành của BLDS về quyền
thừa kế thế vị của cháu, chắt và trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn xét xử ở Tồ án,
từ đó chỉ ra những hạn chế, bất cập, những quy định chưa rõ về vấn đề đang
nghiên cứu theo pháp luật hiện hành.
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, việc nghiên cứu phải giải
quyết được các vấn đề như: xây dựng và hoàn thiện khái niệm, nội hàm quyền
thừa kế thế vị của cháu và chắt trong trường hợp cha mẹ không được quyền
hưởng di sản; phân tích, đánh giá để làm rõ q trình phát triển những quy định
của pháp luật, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật để đưa ra những
giải pháp, hướng giải quyết phù hợp hơn, góp phần hồn thiện hơn nữa chế
định thừa kế thế vị nói chung cũng như quy định về quyền thừa kế thế vị của
cháu và chắt.
6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích các quy định về thừa kế thế vị của
cháu, chắt theo BLDS hiện hành, các văn bản hướng dẫn thi hành một số quy
định của BLDS, thực tiễn xét xử tại tồ án về các trường hợp khơng được quyền
hưởng di sản và hệ quả đến quyền thừa kế thế vị của cháu, chắt.
Đồng thời, đối với những vấn đề mà BLDS hiện hành và các văn bản
hướng dẫn thi hành một số quy định của BLDS chưa quy định hoặc có quy định
nhưng chưa rõ về thừa kế thế vị của cháu và chắt, tác giả sẽ nghiên cứu các vấn
đề cịn bất cập, trên cơ sở đó sẽ đề xuất, bổ sung để hoàn thiện pháp luật.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam từ trước
đến nay về thừa kế thế vị của cháu và chắt, từ Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ Dân
luật Trung kỳ, Bộ dân luật Việt Nam Cộng hoà 1972 đến những chế định thừa kế
trong BLDS 2015 nhưng chủ yếu là đi sâu nghiên cứu những quy định của pháp
luật hiện hành và các văn bản hướng dẫn có liên quan.
Ngồi ra, luận văn còn đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành
trong việc giải quyết các vụ án về thừa kế liên quan tại Tồ án, từ đó đưa ra
những kết luận nhất định.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích, phương pháp bình luận, phương pháp diễn giải
được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề chung về thừa kế thế vị
của cháu, chắt. Tác giả phân tích các khái niệm, đặc điểm, điều kiện thừa kế thế
vị; bình luận về các trường hợp khơng được quyền hưởng di sản, diễn giải các
quy định pháp luật hiện hành về thừa kế thế vị, lịch sử pháp luật Việt Nam về
thừa kế thế vị.
- Phương pháp đánh giá, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp,
phương pháp lập luận logic được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu thực tiễn
áp dụng pháp luật về thừa kế thế vị của cháu, chắt và định hướng, giải pháp hoàn
7
thiện. Tác giả sử dụng phương pháp đánh giá để đánh giá các quy định của pháp
luật về thừa kế thế vị hiện hành tìm ra các bất cập, nguyên nhân, từ đó sử dụng
phương pháp tổng hợp, quy nạp, lập luận để chốt lại vấn đề và đưa ra các giải
pháp hoàn thiện.
- Luận văn sử dụng phương pháp logic để sắp xếp các vấn đề được trình
bày trong luận văn một cách có hệ thống.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần cam đoan, mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung của Luận văn được kết cấu thành 2 chương:
Chương 1. Những vấn đề chung về thừa kế thế vị của cháu, chắt.
Chương 2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về thừa kế thế vị của cháu, chắt và
định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật.
8
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỪA KẾ THẾ VỊ CỦA CHÁU, CHẮT
1.1. Khái quát chung về thừa kế thế vị
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm thừa kế thế vị
Pháp luật nước ta từ thời xã hội phong kiến đến nay, thừa kế luôn là một
trong những chế định giữ vai trò quan trọng và được cân nhắc, xem xét, sửa đổi
phát triển, bổ sung cho phù hợp. Bởi lẽ đây là một trong những chế định có liên
quan đến sự dịch chuyển tài sản từ người chết cho người thừa kế của họ. Ở mỗi
quốc gia, Nhà nước sẽ thông qua pháp luật để điều chỉnh quan hệ thừa kế theo
mỗi chế độ nhất định và theo tình hình kinh tế xã hội cho phù hợp.
Ở Việt Nam, trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, đến nay,
BLDS 2015 là văn bản có nội dung quy định khá chi tiết về chế định thừa kế,
trong đó có thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật (trong thừa kế theo pháp
luật có chế định thừa kế thế vị). Ngồi việc được pháp điển hóa, các quyền thừa
kế của công dân cũng được đảm bảo hơn nhờ các quy định pháp luật. Theo đó,
thừa kế thế vị với mục đích bảo vệ quyền lợi của cháu (chắt) của người để lại di
sản trong trường hợp bố, mẹ của cháu (chắt) đã chết trước hoặc chết trong cùng
một thời điểm với người để lại di sản cũng được quy định bằng một điều luật cụ
thể tại Điều 652 BLDS 2015.
Về thuật ngữ “thừa kế”, theo cách hiểu thơng thường thì “thừa” và “kế”
đều có nghĩa là sự tiếp nối, thừa hưởng những cái có trước. Theo đó, “thừa kế”
trong thừa kế di sản là việc người còn sống được tiếp quản, thừa hưởng sử
dụng tiếp các tài sản của người đã chết để lại. Việc thừa kế chỉ thực hiện khi
người có tài sản đã chết5. Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường
Đại học Luật Hà Nội, “thừa kế” có nghĩa là “Sự chuyển dịch tài sản của người
chết cho người còn sống”6. Với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế, thừa kế có
mầm mống và xuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội về việc dịch
chuyển di sản được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống hay phong tục tập
Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), “Thừa kế thế vị theo quy định của pháp luật Dân sự”, Tạp Chí Tịa án Nhân
dân - Cơ quan điện tử của Tòa án Nhân dân tối cao: (truy cập ngày 14-06-2020).
6
Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb. Cơng an nhân dân, tr. 123.
5
9
quán riêng của bộ lạc, thị tộc. Nó được thể hiện ở sự dịch chuyển tài sản từ
người chết sang người sống7.
Việc dịch chuyển tài sản và thừa kế gắn liền với sự sở hữu, trong đó di sản
thừa kế thuộc quyền sở hữu của người để lại di sản trước khi qua đời và sau khi
phân chia di sản (theo di chúc hoặc theo pháp luật) thì phần di sản đó sẽ thuộc
quyền sở hữu của những người thừa kế. Có thể nói, sở hữu đóng vai trị quyết định
trong thừa kế, và ngược lại việc thừa kế cũng cố, duy trì quan hệ sở hữu tài sản từ
đời này qua đời khác giữa những người có quan hệ trực hệ với nhau. Pháp luật
hiện nay quy định hai hình thức trong thừa kế, đó là thừa kế theo di chúc và thừa
kế theo pháp luật. Thừa kế theo di chúc là một hình thức dịch chuyển tài sản theo
ý chí của người để lại di sản, tơn trọng quyền tự định đoạt của người này đối tài
sản của họ. Tuy nhiên, việc tự định đoạt tài sản dựa trên di chúc đơi khi khơng
hồn tồn khơng chịu tác động của pháp luật nếu di chúc của người để lại di sản
không hợp pháp theo quy định pháp luật. Chế định thừa kế theo pháp luật ra đời là
một trong những phương thức mà Nhà nước thay mặt người để lại di sản hay nói
cách khác là phỏng đốn ý chí của họ, phân chia di sản thừa kế cho những người
thừa kế thuộc những mối quan hệ mà theo quy định pháp luật hoặc phong tục tập
quán được pháp luật công nhận là được hưởng di sản thừa kế.
Nếu như ở thừa kế theo di chúc, người thừa kế theo di chúc có thể là cá
nhân hoặc pháp nhân và nếu là cá nhân thì có thể khơng phải là người có quan hệ
hơn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản. Tuy
nhiên, đối với thừa kế theo pháp luật thì chỉ có cá nhân mới được hưởng thừa kế
và các cá nhân này phải có một trong ba mối quan hệ với người để lại di sản:
quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng. Tuy nhiên, khơng
phải bất cứ cá nhân nào có một trong ba quan hệ này với người để lại di sản cũng
được hưởng thừa kế mà việc thừa kế được xác định theo hàng. Tương tự như
vậy, không phải ai trong các hàng thừa kế cũng được hưởng di sản mà điều này
còn phụ thuộc vào nguyên tắc ưu tiên của hàng thừa kế8.
Thừa kế là một quan hệ xã hội xuất hiện ngay từ thời kỳ sơ khai của xã hội
loài người, quá trình phát triển của thừa kế gắn liền với sự phát triển của lịch sử
Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập 1), Nxb. Cơng an Nhân dân, Hà
Nội, tr.297.
8
Đồn Thị Ngọc Hải (2019), tlđd (5).
7
10
loài người. Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, các quan hệ sở hữu trong
xã hội loài người thay đổi, kéo theo sự thay đổi và phát triển của quan hệ thừa
kế. Trong các xã hội khác nhau, thừa kế tài sản là thừa hưởng di sản của người
chết để lại. Việc thừa kế tài sản khơng tách rời sự hình thành, tồn tại của sở hữu
tư nhân và bản chất của thừa kế do sở hữu tư nhân quyết định.
Tương tự cách hiểu của từ “thừa kế”, từ “thế vị” theo nghĩ triết tự là thay
thế vị trí, theo nghĩa Hán - Việt thì “thế - nghĩa là thay thế”, “vị - nghĩ là ngôi vị,
vị trí”. Thừa kế thế vị là việc một người theo quy định của pháp luật được thay
thế vị trí của một người đã chết để hưởng di sản thừa kết của một người khác
chết sau đó. Nói cách khác thừa kế thế vị là “Thừa kế bằng việc thay vị trí để
hưởng thừa kế”.9
Như vậy, “thừa kế thế vị” nghĩa là thay thế vị trí của ai đó để thừa hưởng,
tiếp nối cái có trước, theo đó trong pháp luật về thừa kế, thì thừa kế thế vị là việc
thay thế vị trí của người nào đó thừa hưởng phần di sản được chia từ di sản của
người để lại di sản. Có thể nhận thấy rằng, thừa kế thế vị không dịch chuyển theo
hàng thừa kế mà dịch chuyển theo hướng trình tự nhất định theo phần thừa kế (lẽ
ra có người được hưởng), việc thừa kế thế vị chỉ xảy ra khi thỏa một số điều kiện
nhất định, do đó có thể nói đây là một trong những trường hợp thừa kế đặc thù
ngoài thừa kế theo pháp luật và thừa kế theo di chúc.
Luật của Hoàng đế Justinian thời La Mã cổ đại cũng quy định về thừa kế
thế vị: Trong trường hợp bố, mẹ chết trước ơng, bà thì cháu thay thế vị trí của bố
mẹ hưởng di sản của ơng, bà10. Cịn tại BLDS 2015, Điều 652 có quy định về
thừa kế thế vị như sau: “Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc
cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà
cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc
cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà
cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống”.
Căn cứ theo quy định pháp luật và việc phân tích các nội dung từ ngữ liên
quan đến chế định thừa kế, thì thừa kế thế vị theo quy định pháp luật dân sự là
Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), tlđd (6), tr. 125.
Phạm Thị Bích Phượng (2006), Thừa kế thế vị theo pháp luật Việt Nam hiện hành, Luận văn Thạc sĩ, Đại
Học Quốc Gia Hà Nội Khoa Luật, Hà Nội, tr.16.
9
10
11
việc các con được thay thế vào vị trí của cha, hoặc mẹ để hưởng di sản của ông,
hoặc bà hoặc các cụ. Phần di sản mà các con được hưởng là phần di sản mà cha
hoặc mẹ của họ được hưởng nếu còn sống nhưng do cha hoặc mẹ của họ đã chết
trước hoặc chết cùng thời điểm với ông, hoặc bà hoặc các cụ nên vị trí của phần
di sản này bị trống và thay thế bởi những người con (cháu hoặc chắt).
Quy định pháp luật thừa kế thế vị này nhằm bảo vệ trực tiếp quyền lợi của
cháu, chắt để có thể hưởng thừa kế di sản của ông, bà hoặc các cụ. Xét các thế hệ
trong thừa kế thế vị có thể thấy, quyền sở hữu tài sản có thể được dịch chuyển
qua bốn đời theo thứ tự từ các cụ đến ông, bà, đến cha, mẹ sau đó đến cháu và
chắt. Theo đó khi con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm
với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha, mẹ của cháu
được hưởng khi còn sống. Cha hoặc mẹ của cháu là người được thừa kế theo
pháp luật của người để lại di sản nhưng do không tồn tại vào thời điểm mở thừa
kế nên không được hưởng di sản, mà cháu sẽ là người thay thế cha hoặc mẹ để
nhận di sản từ người để lại di sản. Nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời
điểm với người để lại di sản, con hoặc cháu của người để lại di sản nếu cịn sống.
Và người thế vị trí được hiểu là cháu hoặc chắt của người để lại di sản và là
người thay thế vị trí của người được thế vị để nhận di sản từ người để lại di sản
lẽ ra người được thế vị được hưởng nếu còn sống11.
BLDS 2015 có quy định về người thừa kế, trong đó người thừa kế là cá
nhân phải là người cịn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống
sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời
điểm mở thừa kế12. Theo đó, trường hợp những người có quyền thừa kế di sản
của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không
thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi chung là chết cùng thời
điểm) thì họ khơng được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do
người thừa kế của người đó hưởng13. Tuy nhiên, pháp luật thừa kế Việt nam quy
định ngoại lệ đối với thừa kế thế vị, đó là trường hợp khi con của người để lại di
Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), tlđd (5).
Điều 613 BLDS 2015.
13
Điều 619 BLDS 2015.
11
12
12
sản chết trước hoặc chết cùng một thời điểm với người để lại di sản, thì quyền
thừa kế thế vị của cháu vẫn được đảm bảo và nếu cháu cũng đã chết trước hoặc
chết cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cũng tương tự, quyền thừa kế
thế vị của chắt cũng sẽ không bị xâm phạm. Quy định này so với quy định về
thừa kế thế vị tại Điều 680 BLDS 1995 có sự khác biệt. Điều 680 BLDS 1995
chỉ quy định thừa kế thế vị trong trường hợp con hoặc cháu chết trước người để
lại di sản mà không quy định đến trường hợp cháu hoặc chắt có được thừa kế thế
vị hay khơng nếu cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt chết cùng vào một thời
điểm với ông, bà nội, ngoại hoặc các cụ nội, ngoại14.
So sánh với trường hợp thừa kế theo di chúc, người thừa kế theo di chúc
đã chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì phần di chúc
đó vơ hiệu. Phần di sản khơng được định đoạt bởi di chúc đó sẽ được chia theo
pháp luật, trong trường hợp này thừa kế thế vị có thể phát sinh. Nói cách khác,
thừa kế thế vị không thể hiểu là thừa kế theo pháp luật mà được hiểu là trình tự
hưởng di sản do pháp luật quy định. Cháu và chắt trong trường hợp này khơng
thể được hiểu là thừa kế theo trình tự hàng thừa kế khi có sự kiện con của người
để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản thì cháu
hoặc chắt của người đó được hưởng thừa kế thế vị. Thừa kế thế vị khơng thể
hiểu là thừa kế theo pháp luật vì hiểu như vậy có nghĩa là cháu và chắt – mỗi
người trong số họ sẽ đều được hưởng một phần di sản ngang nhau và ngang bằng
với những người thừa kế cùng hàng khác khơng phân biệt giới tính, độ tuổi có
năng lực hành vi dân sự hay khơng,... Điều này trái với bản chất của người thừa
kế thế vị là tất cả những người thừa kế thế vị chỉ được hưởng chung một phần di
sản (kỉ phần) mà cha hoặc mẹ của họ được hưởng nếu còn sống15.
Tổng thể về quan hệ huyết thống, về quan hệ nuôi dưỡng giữa người để lại
di sản với con cháu của người đó là cơ sở xem xét xác định thừa kế thế vị.
(i) Về quan hệ huyết thống: quan hệ giữa cha - con, mẹ - con.
Thừa kế thế vị xét trên mối quan hệ huyết thống giữa người để lại di sản
và người thuộc hàng thừa kế thứ nhất là quan hệ cha con, mẹ con. Quan hệ
Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), tlđd (5).
Phùng Trung Tập, “Pháp luật thừa kế Việt Nam hiện đại, một số vấn đề bàn luận”, Nhà nước và Pháp Luật
số 07/2008, tr. 26-32: (truy cập ngày 02-07-2020).
14
15
13
cha - con, mẹ - con là quan hệ nhân thân không tách rời quan hệ nuôi dưỡng
nhau theo quy định của pháp luật. Quyền thế vị của người cháu, người chắt
của người để lại di sản dựa trên quan hệ huyết thống với người để lại di sản và
quyền được thừa kế di sản của ông, bà khi cha, mẹ của cháu cịn sống thì
được hưởng16.
(ii) Về quan hệ nuôi dưỡng: Quan hệ giữa con nuôi với cha, mẹ nuôi.
Nếu như quan hệ thừa kế thế vị giữa cha mẹ đẻ và con được xác định trên
cơ sở huyết thống thì quan hệ thừa kế thế vị giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi
được xác định trên quan hệ chăm sóc, ni dưỡng. Việc nhận con ni là việc
xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa các bên, vì vậy các quyền và nghĩa vụ phát
sinh giữa cha mẹ và các con nuôi cũng là quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và các
con đẻ theo quy định pháp luật hiện hành, khơng có sự phân biệt đối xử nào giữa
các con17.
Kế thừa và phát huy các quy định pháp luật về thừa kế kế vị, hiện nay việc
xác định quyền thừa kế đối với con nuôi và cha nuôi, mẹ nuội, cha đẻ, mẹ đẻ
được quy định tại Điều 653 BLDS 2015 quy định về quan hệ thừa kế giữa con
nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ: “Con nuôi và cha nuôi, mẹ ni
được thừa kế di sản của nhau và cịn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều
651, 652 của Bộ luật này”. Về việc hưởng di sản của người được nhận làm con
ni, ngồi việc được thừa kế từ cha, mẹ nuôi; người đã đi làm con ni của
người khác vẫn có quan hệ thừa kế với cha mẹ đẻ, ông bà nội ngoại, các cụ nội
ngoại, anh, chị, em ruột, cơ, dì, chú, bác, cậu ruột như người không đi làm con
nuôi. Về nội dung này cần lưu ý. Pháp luật đã thừa nhận quan hệ hôn nhân phát
sinh trước ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 mà khơng đăng ký kết hơn
thì cũng nên thừa nhận việc nuôi con nuôi thực tế được xác lập trước ngày này.
Việc nhận nuôi con nuôi từ sau ngày Luật hơn nhân và gia đình năm 1986 có
hiệu lực đến trước ngày 01/01/2011 mà khơng đăng ký tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thì được đăng ký trong thời hạn từ 01/01/2011 đến hết ngày
31/12/2015. Các trường hợp nhận nuôi con nuôi trước ngày 01/01/2011 mà chưa
đăng ký thì được đăng ký… Quy định như vậy vừa đảm bảo quyền và lợi ích của
16
17
Đồn Thị Ngọc Hải (2019), tlđd (5).
Khoản 3 Điều 68 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010.
14
các bên trong quan hệ nuôi con nuôi, đồng thời thể hiện sự thống nhất trong quy
định của pháp18.
Điều 78 Luật Hơn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “1. Cha ni, mẹ
ni, con ni có quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ, con được quy định trong Luật
này kể từ thời điểm quan hệ nuôi con nuôi được xác lập theo quy định của Luật
nuôi con nuôi”. Từ quy định trên, có thể thấy kể từ thời điểm được nhận làm con
ni thì giữa cha mẹ ni và con ni có đầy đủ các quyền thừa kế của nhau theo
quy định của BLDS. Do đó, nếu con ni chết trước cha, mẹ ni thì con của con
ni được nhận thừa kế thế vị như các cháu có quan hệ huyết thống với người để
lại di sản. Phương thức trên cũng được áp dụng cho các cháu là con đẻ của người
con riêng của vợ, của chồng. Nếu con riêng và cha dượng, mẹ kế đã thể hiện được
nghĩa vụ chăm sóc, ni dưỡng, u thương nhau như cha con, mẹ con19.
Trong Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán
TANDTC có quy định: “Con ni khơng đương nhiên trở thành cháu của cha,
mẹ của người nuôi dưỡng và cũng không đương nhiên trở thành anh, chị, em của
con đẻ của người ni. Do đó, con ni không phải là người thừa kế theo pháp
luật của cha, mẹ và con đẻ của người nuôi”20. Và tại tiểu mục a Mục 6 Nghị
quyết 02/HĐTP quy định: “Về phía gia đình cha ni, mẹ ni: con ni chỉ có
quan hệ thừa kế với cha nuôi, mẹ nuôi mà không có quan hệ thừa kế với cha, mẹ
và con đẻ của người ni. Trong trường hợp người có con ni kết hơn với
người khác thì người con ni khơng đương nhiên trở thành con ni của người
khác đó cho nên họ không phải là người thừa kế của nhau theo pháp luật”. Tại
tiểu mục b Mục 5 Nghị quyết số 02/HĐTP quy định: “Trong trường hợp con
nuôi chết trước cha ni, mẹ ni, thì con của người ni (tức là cháu của cha
nuôi, mẹ nuôi) được hưởng phần di sản mà đáng lẽ cha, mẹ của chắt được
hưởng nếu cha, mẹ của chắt còn sống vào thời điểm mở thừa kế”. Theo đó,
trường hợp khi con ni của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời
điểm với người để lại di sản, thì con đẻ của người con ni đó được hưởng thừa
kế thế vị, bởi lẽ giữa con đẻ của người con nuôi và người con ni có quan hệ
Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Cơng an nhân dân, Hà Nội, tr. 1015.
19
Đồn Thị Ngọc Hải (2019), tlđd (5).
20
Mục đ Mục 4, Nghị quyết 02/HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế năm 1990.
18
15
huyết thống với nhau, còn giữa cha mẹ của nười con đẻ với ông bà đã nhận nuôi
dưỡng cha mẹ họ lại có quan hệ ni dưỡng. Do vậy, người con đẻ của người
con nuôi được xem là cháu của ông bà đã nhận nuôi cha mẹ họ. Việc con đẻ của
người con nuôi được hưởng thừa kế thế vị đối với di sản của ông bà đã nhận
nuôi cha mẹ họ là hoàn toàn hợp lý.
Đối với trường hợp khi người con đẻ của người để lại di sản chết trước hoặc
cùng một thời điểm với người để lại di sản hoặc người con nuôi của người để lại
di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì người con
ni của người con đẻ của người để lại di sản hoặc con nuôi của người con ni
đó có được hưởng thừa kế thế vị hay không tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, con ni chỉ có quan hệ thừa kế với cha
ni, mẹ ni nhưng khơng có quan hệ thừa kế với cha mẹ và con đẻ của người
nhận nuôi con nuôi. Cha mẹ của người nhận nuôi con nuôi cũng không được
thừa kế của người con đó21. Theo quan điểm này, con ni sẽ khơng được thừa
kế thế vị từ cha mẹ (đẻ hoặc nuôi) của người nhận nuôi con nuôi.
Quan điểm thứ hai theo hướng ngược lại, bởi quan điểm nêu trên chỉ thực
sự thuyết phục nếu đối chiếu với hai bộ dân luật của đầu thế kỷ trước (được xây
dựng với nhiều ảnh hưởng của Pháp) nhưng chúng ta đang bàn về pháp luật hiện
hành của Việt Nam nên quan điểm như vậy là khơng có cơ sở pháp lý vững chắt.
Theo BLDS, “cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được
hưởng nếu còn sống…”. Ở đây, BLDS chỉ đề cập đến “cha hoặc mẹ” của cháu
mà không phân biệt là cha hoặc mẹ đẻ với cha hoặc mẹ nuôi nên có thể suy luận
cả hai trường hợp này đều thuộc diện thừa kế thế vị…Hơn nữa, khi bàn đến
“cháu” và muốn giới hạn cháu được hưởng di sản như quy định về hàng thừa kế
thứ hai (Điều 651 BLDS 2015), các nhà làm luật đã nói rõ là “cháu ruột” nên khi
quy định về thừa kế thế vị mà khơng đề cập tới cháu ruột thì chúng ta có thể hiểu
rằng các nhà làm luật không muốn giới hạn thế vị chỉ cho cháu ruột như quy
định về hang thừa kế thứ hai22. Mặt khác, có thể hình dung thừa kế thế vị trong
luật thực định Việt Nam như là một chế định đặc biệt cho phép thực hiện việc
Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (2017), tlđd (18), tr. 1015.
Đỗ Văn Đại (2016), Luật thừa kế Việt Nam, Bản án và bình luận bản án (tái bản lần thứ 4), Nxb. Hồng
Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tập 2, tr. 301, 302.
21
22
16
chuyển giao di sản như trong trường hợp người được thế vị còn sống ở thời điểm
mở thừa kế, dù người được thế vị là con hay cháu: một cách giả định, tài sản
“ghé qua” sản nghiệp của người được thế vị (nghĩa là thuộc quyền sở hữu của
người này) trước khi được giao cho người thế vị. Và cũng bởi vì người thừa kế
thế vị nhận di sản như thể đó là tài sản của người được thế vị nên sẽ rất hợp lý
việc cho con ni có quyền thế vị cha (mẹ) nuôi để nhận phần di sản mà người
sau này được hưởng nếu còn sống23.
Theo quan điểm của tác giả, con nuôi của một người không đương nhiên
trở thành cháu của cha mẹ (đẻ hoặc nuôi) của người nhận nuôi con nuôi. Trước
tiên cần xem xét một số quy định của pháp luật hiện nay.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 68 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
thì: “Giữa con ni và cha ni, mẹ ni có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ
và con được quy định tại Luật này, Luật Nuôi con ni, Bộ luật Dân sự và các
luật khác có liên quan”.
Luật Nuôi con nuôi quy định về hệ quả của việc nuôi con nuôi: “Kể từ
ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ ni và con ni có đầy đủ các quyền,
nghĩa vụ của cha mẹ và con; giữa con ni và các thành viên khác của gia đình
cha mẹ ni cũng có các quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp
luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp
luật có liên quan”24.
Theo quy định của Luật Hơn nhân và Gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha
nuôi, mẹ nuôi và con nuôi25 quy định: “1. Cha ni, mẹ ni, con ni có quyền
và nghĩa vụ của cha, mẹ, con được quy định trong Luật này kể từ thời điểm quan
hệ nuôi con nuôi được xác lập theo quy định của Luật Nuôi con nuôi”.
Theo các quy định trên, cùng với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình
năm 2014 tại các Điều 104, 106, 113, 114 thì con ni khơng có mối quan hệ về
các quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc chăm sóc, giáo dục, ni dưỡng nhau
đối với những người thân thích thuộc gia đình của bố, mẹ ni như, bố mẹ của
Nguyễn Ngọc Điện (1999), Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, tr. 90, 91.
24
Khoản 1 Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010.
25
Điều 78 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
23
17
cha, mẹ nuôi, anh, chị, em ruột của cha mẹ ni, chú, bác, cơ dì, cậu ruột của cha
mẹ ni. Hay nói cách khác, người con ni khơng thể là cháu ruột của những
người này, do vậy người con nuôi không thể là người thừa kế của những người
như trên. Tuy nhiên, người làm con ni người khác vẫn có quan hệ với gia đình
cha mẹ đẻ, cho nên họ là người thừa kế theo quy định tại Điều 651 và Điều 652
của những người thân thích (họ là người thừa kế thế vị của những người thân thích
trong gia đình của họ, mặc dù họ là làm con ni của người khác)26. Tuy nhiên,
theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì một người chỉ có thể làm con
nuôi của một hoặc của cả hai người là vợ chồng, theo đó vợ hoặc chồng hồn tồn
có thể được nhận con nuôi riêng trên cơ sở đây là quyền nhân thân của mỗi người,
do đó họ có quyền tự do nhận hay không nhận con nuôi mà không phụ thuộc vào
ý chí của người khác. Trong trường hợp này, quan hệ cha, mẹ, con, quan hệ thừa
kế chỉ phát sinh giữa người nhận con nuôi và con nuôi, quan hệ thừa kế thế vị chỉ
có thể được xác định giữa người nhận con nuôi và người được nhận nuôi, đối với
bố hoặc mẹ là người không nhận nuôi thì khơng phát sinh quan hệ thừa kế thế vị.
(iii) Một trường hợp nữa trong cơ sở quan hệ nuôi dưỡng giữa những
người không cùng quan hệ huyết thống là con riêng với cha kế, mẹ kế. Theo quy
định tại Điều 652 BLDS “trong trường hợp con của người để lại di sản chết
trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần
di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống”. Ở đây, văn bản sử
dụng từ “con của người để lại di sản” mà khơng nói rõ có bao gồm hay loại trừ
con riêng của chồng/vợ27.
Theo quy định tại Điều 654 BLDS 2015 quy định về quan hệ thừa kế giữa
con riêng và bố dượng, mẹ kế: “Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ
chăm sóc, ni dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau
và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật
này”. Về nguyên tắc, con riêng của cha kế, mẹ kế là những người khơng có huyết
thống nên không được thừa kế của nhau. Tuy nhiên, căn cứ theo quan hệ chăm sóc,
ni dưỡng như cha con, mẹ con thì những người này được quyền hưởng thừa kế
của nhau. Quy định này kế thừa các quy định về quan hệ thừa kế giữa con riêng và
26
27
Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), tlđd (5).
Đỗ Văn Đại (2016), tlđd (22), tr. 259.
18
bố dượng, mẹ kế của Điều 682 BLDS 1995 và Điều 27 Pháp lệnh thừa kế trước
đây. Theo Nghị quyết số 02/1990/NQ-HĐTP hướng dẫn Pháp lệnh thừa kế: “Nói
chung con riêng và cha kế, mẹ kế không được thừa kế di sản của nhau vì khơng có
quan hệ huyết thống với nhau. Tuy nhiên nếu cha kế, mẹ kế chăm sóc, ni dượng
con riêng thì cha kế, mẹ kế là người thừa kế hàng thứ nhất của con riêng; nếu con
riêng chăm sóc, ni dưỡng cha kế, mẹ kế thì con riêng là người thừa kế hàng thứ
nhất của cha kế, mẹ kế; nếu cha kế, mẹ kế chăm sóc, ni dưỡng con riêng và con
riêng cũng chăm sóc, ni dưỡng cha kế, mẹ kế thì họ là người thừa kế hàng thứ
nhất của nhau”. Có thể thấy, khi giữa con riêng, cha kế, mẹ kế có quan hệ chăm
sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con đã thể hiện được nghĩa cụ của nhau đối
với quan hệ cha con, mẹ con thì họ có quyền thừa kế nói chung và thừa kế thế vị nói
riêng. Quy định này của pháp luật là phù hợp với truyền thống tốt đẹp của dân tộc
ta. Việc thừa kế giữa cha kế, mẹ kế và con riêng không đơn thuần thể hiện về mặt
tình cảm mà cao hơn nó cịn cịn được ghi nhận như nghĩa vụ pháp lý.
Như vậy, quy định về thừa kế thế vị không chỉ phát sinh giữa những người
có quan hệ huyết thống mà cịn phát sinh giữa những người có quan hệ ni
dưỡng nhau, u thương nhau. Quy định trên có tính nhân đạo và nhằm để giáo
dục lòng nhân ái trong quan hệ giữa những thành viên trong một gia đình, mặc
dù giữa họ khơng có quan hệ huyết thống và pháp luật khơng quy định họ là
giám hộ theo pháp luật của nhau. Quy định trên của pháp luật phù hợp với đời
sống thực tế trong xã hội.
1.1.2. Điều kiện hưởng thừa kế thế vị
1.1.2.1. Thừa kế thế vị chỉ áp dụng cho trường hợp con, cháu trực hệ chết
trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản
Thừa kế thế vị là trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc
cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà
cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc
cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà
cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống28. Thừa kế thế vị là trường hợp
thừa kế đặc biệt, nên những người thừa kế thế vị cũng rất đặc biệt. Khi xét về
28
Điều 652 BLDS 2015.
19
hàng thừa kế thì họ khơng được hưởng di sản nhưng họ được nhận thay cho bố
(hoặc mẹ) của họ (là những người đáng ra được hưởng thừa kế nếu cịn sống).
Theo quy định thì thừa kế thế vị chỉ đặt ra khi thỏa mãn những điều kiện sau:
Thứ nhất, di sản mà ông, bà, cụ để lại phải được chia theo pháp luật. Theo
quy định của BLDS 2015 thì chế định thừa kế thế vị được sắp xếp trong chương
thừa kế theo pháp luật, do đó chỉ có trường hợp di sản được chia theo pháp luật
mới phát sinh thừa kế thế vị. Thừa kế thế vị sẽ không được xét đến nếu di sản
được dịch chuyển theo di chúc.
Thứ hai, con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm
với người để lại di sản thì cháu được thừa kế thế vị; cháu chết trước hoặc chết
cùng thời điểm với người để lại di sản thì chắt được thừa kế thế vị. Cơ sở để phát
sinh thừa kế thế vị chính là sự kiện cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt chết
trước hoặc chết cùng vào một thời điểm với ông, bà (nội, ngoại) hoặc các cụ
(nội, ngoại)29.
Thứ ba, theo quy định của Điều 613 BLDS 2015 thì cháu, chắt của người
để lại di sản phải còn sống hoặc chưa ra đời nhưng đã thành thai vào thời điểm
ông, bà, cụ chết mới được áp dụng chế định thừa kế thế vị.
(i) Cháu, chắt của người để lại di sản phải còn sống tại thời điểm mở thừa
kế: Nguyên tắc trong thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của những người đã
chết sang cho những người còn sống. Quyền thừa kế và quyền sở hữu sẽ khơng
có ý nghĩa nếu nó khơng được truyền lại cho người khác khi chủ sở hữu chết
hoặc di sản được truyền từ một người chết này sang một người chết khác. Một
người còn tồn tại trên thực tế mới có thể nhận di sản vì năng lực pháp luật dân sự
của một cá nhân chỉ tồn tại khi họ cịn sống30. Từ đó, họ có thể tự thân mình
hoặc thơng qua người đại diện để nhận di sản. Sau đó, người thừa kế sẽ thực hiện
quyền của mình đối với di sản đó bằng những hình thức nhất định.
(ii) Cháu, chắt của người để lại di sản sinh ra và còn sống sau thời điểm
mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Theo quy định
tại khoản 3 Điều 16 BLDS 2015, “Năng lực pháp luật của cá nhân có từ khi cá
29
30
Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), tlđd (5).
Khoản 3 Điều 16 BLDS 2015.