Tải bản đầy đủ (.pdf) (95 trang)

Tội cướp tài sản theo luật hình sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (18.28 MB, 95 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

CAO THỊ THU HÀ

TỘI CƯỚP TÀI SẢN
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

TỘI CƯỚP TÀI SẢN
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Định hướng ứng dụng
Mã số: 60380104

Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Tường Vy
Học viên: Cao Thị Thu Hà
Lớp: Cao học Luật Phú n – Khóa 1

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Tội cướp tài sản theo Luật Hình sự Việt Nam”
là cơng trình nghiên cứu do chính tơi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của
TS. Lê Tường Vy. Các nội dung, thơng tin được trình bày trong luận văn là trung thực.
Tơi xin chịu hồn tồn trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2021
Tác giả

Cao Thị Thu Hà


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS năm 2015

Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

CQĐT

Cơ quan điều tra

HĐTP

Hội đồng thẩm phán

HĐXX

Hội đồng xét xử

HSPT


Hình sự phúc thẩm

HSST

Hình sự sơ thẩm

TAND

Tòa án nhân dân

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. XÁC ĐỊNH HÀNH VI DÙNG VŨ LỰC, ĐE DOẠ DÙNG VŨ
LỰC CỦA TỘI CƯỚP TÀI SẢN ............................................................................ 7
1.1. Quy định của pháp luật về hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực của
tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS 2015) ............................................................... 7
1.2. Một số vướng mắc trong thực tiễn xác định hành vi dùng vũ lực, đe doạ
dùng vũ lực của tội cướp tài sản........................................................................... 9
1.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác định hành vi dùng vũ lực, đe doạ
dùng vũ lực của tội “Cướp tài sản” ................................................................... 20
Kết luận chương 1 ................................................................................................... 23

CHƯƠNG 2. ĐỊNH TỘI DANH TRONG TRƯỜNG HỢP CHUYỂN HOÁ
TỘI PHẠM TỪ CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU SANG TỘI CƯỚP TÀI
SẢN ........................................................................................................................... 24
2.1. Quy định của pháp luật về chuyển hoá tội phạm từ các tội xâm phạm sở
hữu sang tội cướp tài sản .................................................................................... 24
2.2. Thực tiễn áp dụng về các trường hợp chuyển hoá tội phạm từ các tội
chiếm đoạt tài sản sang tội cướp tài sản ............................................................ 26
2.3. Giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật................................................. 39
Kết luận chương 2 ................................................................................................... 42
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 43
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Việt Nam đang xây dựng đất nước theo con đường pháp chế xã hội chủ nghĩa,
việc Việt Nam gia nhập các công ước quốc tế, các tổ chức thế giới dẫn đến việc hội
nhập quốc tế của Việt Nam đang ngày càng mạnh mẽ. Với đường lối đổi mới và phát
triển đất nước theo mơ hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đem
lại sự phát triển mạnh mẽ cho nền sản xuất xã hội. Việc phát triển kinh tế theo hướng
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đã làm nảy sinh những vấn đề phức tạp và tác động
trực tiếp đến mọi mặt của đời sống xã hội nhất là đảm bảo quyền sở hữu của nhân
dân, vì vậy Bộ luật hình sự Việt Nam đã quy định việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp quyền sở hữu của nhân dân. Tại điều 32 Hiến pháp năm 2013 cũng đã quy định
rằng: “Quyền sở hữu đối với tài sản là quyền quan trọng được pháp luật bảo vệ”.
Pháp luật hình sự là cơng cụ thể hiện sự kiên quyết ý chí của Nhà nước trong việc xử
lý các hành vi vi phạm pháp luật đối với quan hệ sở hữu.
Luật hình sự Việt Nam qua nhiều lần sửa đổi bổ sung thì có hiệu lực hiện

hành hiện nay là Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định
các tội xâm phạm sở hữu tại chương số XVI trong đó bao gồm 13 Điều và quy định
rõ hình thức, nội dung, hình phạt đối với 13 tội về xâm phạm sở hữu. Trong đó, tội
cướp tài sản (Điều 168 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bộ sung năm 2017) là tội
không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm
phạm hoặc đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của cơng dân và là loại tội
phạm đặc biệt phổ biến trong thời kỳ phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam hiện
nay. Về đối tượng thực hiện loại tội này phần lớn là các thanh thiếu niên mới lớn
suy nghĩ còn bồng bột, do mơi trường sống, cách giáo dục của gia đình, trường lớp
thiếu sự quan tâm dẫn đến sự lêu lỏng, sống thiếu trách nhiệm và sa ngã vào con
đường thực hiện tội phạm. Một khi đã thực hiện tội phạm thì khơng nghĩ đến hậu
quả xảy ra mà chỉ cần đạt được mục đích của việc thực hiện hành vi và tài sản
chiếm hữu do phạm tội mà có dẫn đến rất khó khăn đối với việc ngăn chặn loại tội
phạm này. Đối với loại tội phạm này sẽ gây nguy hiểm và gây ra tâm lý hoang
mang lo lắng trong xã hội.
Trong thời gian qua, tình hình thụ lý và giải quyết các vụ án “tội cướp tài
sản” tại các Tòa án nhân dân ngày càng gia tăng. Do đó tính cấp thiết phải có biện
pháp cải cách pháp luật nhằm răng đe và phòng ngừa đối với loại tội phạm này.


2
Hiện nay, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với tội phạm cướp tài sản vẫn
còn nhiều vướng mắc trong việc xác định dấu hiệu cơ bản của tội cướp tài sản là
hành vi dùng vũ lực, đe dọa dụng vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho
người bị tấn công không thể chống cự được để định tội và xảy ra sự nhẫm lẫn giữa
tội cướp tài sản với các tội về sở hữu khác có cùng dấu hiệu tương tự. Việc này dẫn
đến điều tra, truy tố, xét xử không đúng tội danh hoặc phải trả hồ sơ điều tra bổ
sung, hủy án làm vụ án kéo dài khơng mong muốn. Ngồi ra trên thực tế có nhiều
vụ án mà người phạm tội thực hiện hành vi cấu thành tội phạm khác nhưng diễn
biến hành vi có sự chuyển hóa tội phạm sang tội cướp tài sản. Trong luận văn này

học viên sẽ làm rõ các vấn đề dấu hiệu khách quan của tội cướp tài sản và các
trường hợp có sự chuyển hóa tội phạm sang tội cướp tài sản. Ngồi ra, luận văn sẽ
đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả của pháp luật điều chỉnh đối với tội phạm cướp
tài sản để góp phần ngăn chặn hành vi phạm tội xảy ra.
Chính vì vậy, học viên chọn đề tài: “Tội cướp tài sản theo pháp luật hình sự
Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Luật Hình sự - Tố tụng
hình sự.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian qua, việc nghiên cứu tình hình tội cướp tài sản và các biện
pháp đấu tranh phòng chống tội cướp tài sản đã được nhiều tác giả nghiên cứu,
đồng thời các cấp, các ngành cũng dành sự quan tâm nhiều đến loại tội này, nên có
nhiều cơng trình nghiên cứu. Cho đến nay đã có một số cơng trình nghiên cứu về
loại tội phạm này dưới những phạm vi và gốc độ khác nhau như:
Ở cấp độ giáo trình, có thể kể tên một số cơng trình sau: “Giáo trình Luật
Hình sự Việt Nam: Phần các tội phạm (quyển 1, 2)” của Trường Đại học Luật
TP.HCM, Nxb Hồng Đức năm 2013; “Giáo trình Luật Hình sự: Tập 2 – Phần các
tội phạm” của tác giả Phạm Mạnh Hùng, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội năm 2016;
“Giáo trình Luật Hình sự: Phần các tội phạm” của Trường Đại học Luật Hà Nội,
Nxb Công an nhân dân năm 2018.
Ở cấp độ sách chuyên khảo, có sách “Chương XX - Các tội xâm phạm sở hữu
trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm)” do GS.TS. Nguyễn
Ngọc Hòa (chủ biên), Nxb Công an nhân dân năm 2010; sách “Định tội danh đối
với các tội xâm phạm sở hữu (Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm
2009)” của tác giả Lê Đăng Doanh, Nxb Tư pháp năm 2011; Bình luận khoa học Bộ
luật hình sự phần các tội phạm của Đinh Văn Quế; “Luật hình sự Việt Nam phần


3
các tội phạm” do NXB Khoa học xã hội xuất bản năm 2014 của GS.TS. Võ Khánh
Vinh; TS. Đinh Văn Quế có cơng trình là cuốn “Bình luận khoa học BLHS (bình

luận chuyên sâu)” phần các tội phạm tập I, do NXB thành phố Hồ Chí Minh xuất
bản năm 2002
Ở cấp độ luận văn thạc sĩ, có đề tài Luận án tiến sĩ với đề tài Luận án thạc sĩ
Luật học với đề tài:
- Luận án thạc sĩ “Tội cướp tài sản theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn
tỉnh Quảng Ngãi” tác giả Phạm Thị Hà Châu năm 2016 người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Cao Thị Oanh. Nội dung luận văn viết về lý luận và thực tiễn tội cướp tài
sản trên địa bàn tỉnh Quãng Ngãi, giải quyết vướng mắc và nâng cao thực tiễn áp
dụng pháp luật về tội Cướp tài sản.
- Luận án thạc sĩ “Tội cướp tài sản theo luật hình sự Việt Nam, số liệu trên
địa bàn TP Hồ Chí Minh” tác giả Trần Hữu Nghĩa năm 2014, người hướng dẫn
khoa học PGS.TS Trịnh Quốc Toản của trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Nội dung
luận văn về lý luận và thực tiễn tội cướp tài sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh, nâng cao biện pháp phịng ngừa tội phạm cướp tài sản trên địa bản thành phố
Hồ Chí Minh.
- Luận án thạc sĩ “ Mặt khách quan của các tội xâm phạm về sở hữu theo luật
hình sự Việt Nam” tác giả Hoàng Ngọc Dinh năm 2016, người hướng dẫn khoa học
TS Đỗ Đức Hồng Hà của trường Đại học luật quốc gia Hà Nội. Nội dung luận văn
nghiên cứu về mặt khách quan của các tội sở hữu trong Luật hình sự Việt Nam.
- Luận án thạc sĩ “ Tội cưỡng đoạt tài sản theo luật hình sự Việt Nam” tác giả
Nguyễn Văn Thắng 2019, người hướng dẫn khoa hoc TS Lê Tường Vy của trường
Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung luận văn so sánh giữa tội cưỡng
đoạt tài sản và tội cướp tài sản qua đó kiến nghị hồn thiện pháp luật để định tội
danh đúng đối với tội cưỡng đoạt tài sản.
Ở góc độ các bài báo khoa học, có bài viết “Vấn đề định tội danh trong các tội
xâm phạm sở hữu” của tác giả Nguyễn Ngọc Chí đăng trên Tạp chí Nhà nước và
pháp luật số 112 năm 1997, bài viết “Bàn về định tội danh đối với một số tội xâm
phạm sở hữu” của tác giả Lê Văn Luật đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 01
năm 2006, bài viết “Xác định hành vi chiếm đoạt của các tội xâm phạm sở hữu có
tính chiếm đoạt” của tác giả Đỗ Ngọc Lợi đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 4 năm 2013,

bài viết “Cần sửa đổi, bổ sung một số vấn đề trong nhóm tội xâm phạm sở hữu của
BLHS năm 1999” của tác giả Lê Đăng Doanh, Phạm Tài Tuệ đăng trên Tạp chí Tịa


4
án nhân dân số 14 năm 2014, bài viết “Những điểm mới của các tội xâm phạm sở hữu
trong Bộ luật hình sự năm 2015” của tác giả Mai Thị Thanh Nhung đăng trên Tạp chí
Luật học số đặc biệt năm 2016, bài viết “Một số đề xuất hoàn thiện quy định về các
tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật Hình sự năm 2015” của tác giả Phan Anh Tuấn
đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 8 năm 2016; bài viết “Một số điểm mới của
Bộ luật Hình sự (sửa đổi) 2015 về các tội xâm phạm sở hữu” của tác giả Nguyễn
Trường Giang đăng trên Tạp chí Luật sư Việt Nam số 7 năm 2017, bài viết “Dấu hiệu
pháp lý và cách phân loại các tội xâm phạm sở hữu” của tác giả Nguyễn Trường
Giang đăng trên Tạp chí Luật sư Việt Nam số 11 năm 2017…
Các cơng trình nghiên cứu nói trên đã làm rõ những nội dung nhất định liên
quan đến tội cướp tài sản từ quy định pháp luật đến thực tiễn áp dụng pháp luật, tuy
nhiên, các cơng trình này đều chưa có cơng trình nào nghiên cứu về các vướng mắc
trong việc áp dụng dấu hiệu “hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực và hành vi
khác làm cho người bị tấn cơng lâm vào tình trạng khơng thể chống cự được” để
định tội danh đối với tội cướp tài sản và vướng mắc đối với trường hợp có sự
chuyển hóa tội phạm từ các tội xâm phạm sở hữu sang tội cướp tài sản. Do đó, việc
nghiên cứu đề tài “Tội cướp tài sản theo luật hình sự Việt Nam” sẽ đáp ứng được
yêu cầu về tính mới và tính thực tiễn cao. Bên cạnh việc kế thừa các kết quả nghiên
cứu trong các cơng trình đã cơng bố, nội dung đề tài sẽ phát triển, bổ sung và mở
rộng các vấn đề mới được quy định trong BLHS năm 2015, từ đó làm sáng tỏ các
vấn đề pháp lý và thực tiễn về Tội cướp tài sản, đặc biệt là vấn đề dùng dấu hiệu
hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực và hành vi khác làm cho người bị tấn công
không chống cự được để định tội danh đối với Tội cướp tài sản và quy định về
chuyển hóa tội phạm sang tội cướp tài sản.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích của việc nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích thực tiễn luận văn làm rõ hành vi khách
quan của tội cướp tài sản “ hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực và hành vi khác
làm cho người bị tấn cơng lâm vào tình trạng khơng chống cự được” qua đó phân
biệt với tội cưỡng đoạt tài sản, các tội phạm xâm phạm về sở hữu khác và các
trường hợp chuyển hóa tội phạm sang tội cướp tài sản. Từ đó đóng góp về mặt khoa
học để giải quyết những vướng mắc trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đối với
tội phạm cướp tài sản và áp dụng pháp luật về tội cướp tài sản, nâng cao hiệu quả
đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.


5
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đặt ra cho
mình các nhiệm vụ sau đây:
a. Phân tích các dấu hiệu hành vi khách quan dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực
ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn cơng lâm vào tình trạng
khơng thể chống cự được. Thực tiễn áp dụng và đưa ra kiến nghị.
b. Phân tích quy định của pháp luật về chuyển hóa tội phạm từ một số tội chiếm
đoạt tài sản sang tội cướp tài sản. Thực tiễn áp dụng và đưa ra giải pháp, kiến nghị.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định pháp luật và thực tiễn áp
dụng về hành vi khách quan “ hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực và hành vi
khác làm cho người bị tấn lâm vào tình trạng công không thể chống cự được” của
“Tội cướp tài sản” tại Điều 168 BLHS năm 2015 để định tội cướp tài sản. Quy định
pháp luật và thực tiễn việc chuyển hóa tội danh từ các tội khác sang tội cướp tài sản.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ luật hình sự. Những số liệu được thu
thập từ năm 2015 đến năm 2020 tại Tòa án nhân dân cả nước.

- Phạm vi về nội dung: Luận văn nghiên cứu áp dụng về Tội cướp tài sản
trong luật hình sự Việt Nam dưới góc độ luật hình sự.
- Phạm vi về thời gian: khảo sát thực tiễn áp dụng qui định về Tội cướp tài
sản từ năm 2015 đến năm 2020.
- Về địa bàn nghiên cứu: Khảo sát, nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương
pháp luận Mác- LêNin tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách
của Nhà nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việc nghiên cứu còn dựa trên
cơ sở lý luận khoa học của các lĩnh vực có liên quan như khoa học luật hình sự, luật
tố tụng hình sự.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng xun suốt tồn bộ luận
văn, qua đó phân tích quy định của pháp luật hình sự về các vấn đề liên quan đến
hoạt động định tội danh tại Bộ luật hình sự hiện hành và các văn bản pháp luật có
liên quan. Phương pháp tổng hợp được sử dụng song song với phương pháp phân
tích để tổng hợp và khái quát kết quả nghiên cứu.


6
- Phương pháp thống kê: sử dụng trong việc phân tích thực tiễn áp dụng
pháp luật.
- Phương pháp nghiên cứu bản án điển hình, bình luận án để đưa thực tiễn xét
xử vào cơng trình nghiên cứu: học viên lựa chọn những vụ án có nhiều tình tiết
phức tạp, nghiên cứu các vướng mắc, hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Đây là phương pháp nghiên cứu quan trọng để thực hiện đề tài.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Việc nghiên cứu các vấn đề các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng về
hành vi khách quan “ hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực và hành vi khác làm
cho người bị tấn công không chống cự được” của “Tội cướp tài sản” tại Điều 168
BLHS năm 2015 và các quy định về chuyển hóa tội phạm sang tội cướp tài sản có ý

nghĩa hết sức quan trọng và cần thiết trong việc đấu tranh, phòng chống loại tội
phạm này. Chính vì thế, nội dung của đề tài đáp ứng được điều kiện về tính mới
cũng như có khả năng ứng dụng cao.
Về lý luận, kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung, hồn thiện các
quy định pháp luật về vấn đề định tội danh và giải quyết tranh chấp liên quan đến
định tội đối với Tội cướp tài sản. Bên cạnh đó, đề tài có thể làm tài liệu tham khảo
cần thiết cho các nhà khoa học, các sinh viên, học viên cao học chun ngành luật
hình sự và những người làm cơng tác thực tiễn như luật sư, kiểm sát viên, điều tra
viên... Những kiến nghị của luận văn sẽ góp phần tích cực vào việc hoàn thiện các
quy định pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả xét xử các vụ án về Tội cướp tài
sản trong thực tế, vừa tránh bỏ lọt tội phạm, vừa tránh làm oan người vô tội.
7. Cơ cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của
luận văn được chia làm 2 chương:
Chương 1: Xác định hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực của tội cướp
tài sản.
Chương 2: Định tội danh trong trường hợp chuyển hóa tội phạm từ các tội
xâm phạm sở hữu sang tội cướp tài sản.


7
CHƯƠNG 1
XÁC ĐỊNH HÀNH VI DÙNG VŨ LỰC, ĐE DOẠ DÙNG VŨ LỰC
CỦA TỘI CƯỚP TÀI SẢN
1.1. Quy định của pháp luật về hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực
của tội cướp tài sản (Điều 168 BLHS 2015)
Tội “Cướp tài sản”1 theo Bộ luật Hình sự năm 2015 là hành vi dùng vũ lực,
đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn cơng
lâm và tình trạng khơng thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.
Trước BLHS 1985, văn bản pháp luật hình sự, các hướng dẫn về tội cướp tài

sản như Điều 4, Pháp lệnh Trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày
21/10/1970, Điều 3 Pháp lệnh Trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công
dân ngày 21/10/1970 đều chỉ quy định cướp là hành vi dùng bạo lực để chiếm đoạt
tài sản mà khơng có quy định về dấu hiệu đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có
hành vi khác làm người bị tấn cơng lâm vào tình trạng khơng thể chống cự được.
Khi xây dựng BLHS 1985, nhận thấy thực tiễn tội phạm không dùng vũ lực mà
dùng thủ đoạn khác nhưng tính chất nguy hiểm nếu truy cứu tội trộm, cưỡng đoạt
thì khơng đúng với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội nên nhà làm luật đã
đưa dấu hiệu hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hành vi khác làm người bị
tấn cơng lâm vào tình trạng khơng thể chống cự được là dấu hiệu cấu thành của tội
cướp tài sản. BLHS 1999, 2015 vẫn giữ nguyên nội dung này.
Dấu hiệu khách quan của tội cướp tài sản quy định tại BLHS 2015 bao gồm
các dạng hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, và hành vi khác
làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng khơng thể chống cự được để khống
chế người đang giữ tài sản nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản đó.
Hành vi dùng vũ lực2 là hành vi người phạm tội tác động vào thân thể của
người chủ sở hữu tài sản, người có trách nhiệm quản lý tài sản hoặc bất cứ người
nào cản trở việc chiếm đoạt tài sản của người phạm tội, làm cho những người đó
khơng thể kháng cự lại để người phạm tội thực hiện việc chiếm đoạt tài sản. Người
phạm tội dùng sức mạnh thể chất hoặc công cụ, phương tiện tác động lên chủ sở
hữu tài sản hoặc người được giao quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản, ví dụ như
dùng tay, chân đấm đá, dùng gậy, dao… đâm, chém người khác.
Điều 168 Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp (2019), Phương pháp định tội danh với 538 tội phạm quy định trong
Bộ luật hình sự 2015, được sửa dổi bổ sung năm 2017, tr.145.
1
2


8

Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc3 là hành vi dùng lời nói hoặc hành
động cụ thể của người phạm tội nhằm biểu hiện cho bị hại biết rằng vũ lực có thể
xảy ra ngay tức khắc nếu người bị tấn cơng có hành vi cản trở việc chiếm đoạt tài
sản của người phạm tội. Người phạm tội dùng lời lẽ, hoặc dùng công cụ, phương
tiện để uy hiếp tinh thần đối với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản để buộc họ
giao tài sản và chiếm đoạt, hành vi này, chủ yếu tác động về mặt tinh thần khiến cho
chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản sợ hãi mà giao tài sản. ví dụ: dí dao vào cổ,
dí súng vào bụng yêu cầu bị hại giao ngay tài sản nếu không sẽ bị đâm. Đe dọa
dùng vũ lực ngay tức khắc tức là vũ lực chưa xảy ra nên việc đánh giá người phạm
tội có dùng vũ lực hay khơng khi bị hại không giao ra tài sản là vấn đề phức tạp.
Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng khơng thể chống
cự4 là hành vi khơng phải dùng vũ lực, cũng không phải dùng vũ lực ngay tức khắc
nhưng làm người bị tấn công lâm vào tình trạng khơng thể chống cự được. Những
hành vi được thực hiện thơng qua cử chỉ, lời nói, thái độ, hoặc những thủ đoạn
khác. Các hành vi như cho uống thuốc mê, chất kích thích… khiến cho người khác
lâm vào tình trạng khơng thể chống cự để chiếm đoạt tài sản. Những hành vi này
thường không phải là những hành vi tác động bằng sức mạnh vật chất.
Bản chất hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực của tội cướp tài sản khác
với các tội khác trong chương các tội phạm về sở hữu là hành vi dùng vũ lực, đe
dọa dùng vũ lực hoặc hành vi khác là ngay tức khắc, có tính chất mãnh liệt là làm
cho người bị đe dọa thấy rằng vũ lực sẽ xảy ra ngay và họ không thể tránh khỏi nếu
không giao ra tài sản. Người bị đe dọa khơng có điều kiện để suy nghĩ, cân nhắc hay
tìm biện pháp ngăn chặn đối với hành vi mà người phạm tội đang đe dọa, sức mãnh
liệt của sự đe dọa làm cho ý chí chống cự của người bị đe dọa tê liệt.
Trên thực tế thường có sự nhầm lẫn về hành vi đe dọa dùng vũ lực giữa tội
cưỡng đoạt tài sản và tội cướp tài sản, dẫn đến việc định tội danh sai hoặc có quan
điểm khác nhau về việc định tội danh. Sự nhầm lẫn đó xuất phát từ hành vi đe dọa
dùng vũ lực ở tội cướp tài sản có tính chất mãnh liệt là làm cho người bị đe dọa thấy
rằng vũ lực sẽ xảy ra ngay, họ khơng hoặc khó có điều kiện tránh khỏi. Còn đối với
tội cưỡng đoạt tài sản, hành vi đe dọa dùng vũ lực là tại một thời điểm trong tương

lai, khơng có nguy cơ xảy ra ngay. Tội cưỡng đoạt tài sản khơng có tính chất nguy
hiểm bằng tội cướp tài sản. Sức mãnh liệt của sự đe dọa chưa đến mức có thể làm tê
3
4

Đồn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp (2019), tlđd (2), tr.145.
Đoàn Tấn Minh, Nguyễn Ngọc Điệp (2019), tlđd (2), tr.145.


9
liệt ý chí chống cự của người bị đe dọa mà chỉ có khả năng khống chế ý chí của họ.
Người bị đe dọa cịn có điều kiện suy nghĩ, cân nhắc để quyết định hành động5.
Ranh giới giữa hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng lực giữa hai tội cướp tài sản và
cưỡng đoạt tài sản chính là khoản cách về thời gian dùng vũ lực và mức mãnh liệt
của hành vi đe dọa dùng vũ lực.
1.2. Một số vướng mắc trong thực tiễn xác định hành vi dùng vũ lực, đe
doạ dùng vũ lực của tội cướp tài sản
Việc xác định hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để định
tội danh tội cướp tài sản trên thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc. Vì trong Chương
các tội phạm sở hữu ngồi tội cướp tài sản có dấu hiệu định tội là hành vi dùng vũ
lực, đe dọa dùng vũ lực thì cịn có các tội khác cũng có dấu hiệu khách quan tương
tự như các tội cưỡng đoạt tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản…. Tuy rằng
quy định pháp luật đã quy định rõ dấu hiệu khách quan, tính chất để phân biệt giữa
các tội phạm tuy nhiên trên thực tế áp dụng, hành vi của tội phạm ln phức tạp, có
tính khơng liên tục và là chuỗi hành vi liên tiếp. Hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng
vũ lực của tội phạm chưa rõ ràng dẫn đến việc xác định hành vi dùng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực có ngay tức khắc khơng vẫn cịn nhầm lẫn, sai lầm dẫn đến khởi tố,
truy tố sai tội danh và có nhiều quan điểm trái chiều nhau. Sau đây tác giả sẽ chứng
minh thông qua những vụ án cụ thể:
Vụ án 1:

Nội dung vụ án:6
Khoảng 20 giờ ngày 22/01/2019, Lương Văn D, Nguyễn Văn P, Triệu Văn B
cùng nhau đến quán Karaoke thuộc tổ 11, thị trấn Y để hát Karaoke. Khoảng 23 giờ
30 phút cùng ngày, B đi về trước còn lại D và P ở lại phịng hát. Do khơng có đủ
tiền để trả tiền hát nên D gọi điện thoại cho B quay lại góp tiền thanh tốn và đón P,
nhưng B khơng đồng ý và nói chỉ đón P ở khu vực trung tâm thị trấn. Bực tức trước
thái độ của B nên D đã nảy sinh ý định đánh cho B một trận cho bõ tức. Sau đó, D
chở P đến khu vực trung tâm thị trấn gặp B đang ngồi chờ trên xe mơ tơ biển kiểm
sốt 22K5-xxxx (xe của B), D liền tiến đến dùng chân phải đạp một phát trúng vào
hông bên trái của B làm B ngã và xe mơ tơ đổ xuống đường. Sau đó, D tiếp tục
dùng chân đạp liên tiếp hai phát vào sườn phía bên trái và dùng tay tát liên tiếp hai
LS. ĐINH VĂN QUẾ – Tạp chí Tịa án nhân dân ngày 08/3/2021
kstuyenquang.gov.vn/pHome/news/Nghien-cuu-Trao-doi/Vuong-mac-trong-viec-xac-dinh-toi-danh-ve-hanh vi-Cuop-tai-san-va-Cuong-doat-tai-san-762/
5
6


10
phát vào vùng mặt B và nói “có tiền để trả tiền hát khơng?” B nói “khơng có”. Lúc
này, D nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của B mang đi cầm cố để lấy tiền trả
tiền hát, D nói “khơng có tiền thì mang xe đi cắm”, B trả lời “xe khơng có giấy tờ”,
D tiếp tục nói “thế thì mày đi theo tao để viết giấy”. Sau đó, D dựng xe mơ tơ của B
lên, một mình điều khiển xe mơ tơ của B đi về hướng thị trấn Y. Đi được khoảng
10m, D quay lại thấy B không đi, D tiếp tục đe dọa “mày không đi tao đánh cho một
trận nữa bây giờ” và tiếp tục điều khiển xe mô tô của B đi trước. Sợ bị đánh tiếp, B
nhờ P điều khiển xe mô tô chở đi cùng D. Đi được một đoạn, B xin P điều khiển xe,
P đồng ý, B đã điều khiển xe đi thẳng đến Công an huyện Y trình báo sự việc.
Khi biết việc B đã báo Cơng an, lo sợ bị bắt nên D đã đưa xe mô tô của B cho
P để trả lại cho B nhưng do xe hết xăng không nổ được máy nên P đã gửi xe mô tô
vào quán Karaoke rồi đi về.

Q trình điều tra, Hồng Văn B từ chối giám định thương tích; Kết luận
định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y, kết
luận: xe mơ tơ biển kiểm sốt 22K5-xxxx tại thời điểm có giá trị là: 4.200.000đ
(Bốn triệu hai trăm nghìn đồng).
Trong quá trình giải quyết vụ án, hiện có nhiều quan điểm khác nhau về việc
xác định tội danh đối với Lương Văn D:
- Quan điểm thứ nhất: D phạm tội Cưỡng đoạt tài sản, quy định tại khoản 1
Điều 170 BLHS. Vì hành vi của D được tách làm hai giai đoạn riêng biệt, giai đoạn
đầu bực tức trước thái độ của B nên đánh cho bõ tức; giai đoạn hai là chiếm đoạt xe
mô tô, D chỉ đe dọa “mày không đi tao đánh cho một trận nữa bây giờ”.
- Quan điểm thứ hai: D phạm tội Cướp tài sản, quy định tại khoản 1, Điều
168 BLHS năm 2015. Vì D đã dùng vũ lực và tiếp tục đe dọa dùng vũ lực ngay tức
khắc đối với B làm cho B lâm vào tình trạng khơng chống cự được nhằm chiếm
đoạt tài sản.
Nhận xét, đánh giá
Hành vi dùng vũ lực của D trải qua hai giai đoạn: giai đoạn đầu bực tức trước
thái độ của B nên đánh cho bõ tức chưa có ý định chiếm đoạt tài sản; giai đoạn hai
nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mơ tơ của B. Do đó cần làm rõ mặt khách quan của
hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực trong trường hợp này qua hai giai đoạn thì
có phải là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hay việc dùng vũ
lực là trong một khoản thời gian trong tương lai, và mức độ đe dọa có đến mức làm
tê liệt ý chí của B buộc B phải giao ra tài sản hay chưa?


11
Đối với quan điểm 1, D phạm tội cưỡng đoạt tài sản. Đặc trưng cơ bản của
tội cưỡng đoạt tài sản là người phạm tội đã thực hiện hành vi uy hiếp tinh thần của
người có trách nhiệm về tài sản bằng những thủ đoạn đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc
thủ đoạn khác làm cho người sở hữu tài sản lo sợ mà giao ra tài sản7. “hành vi đe
dọa sẽ dùng vũ lực” ở tội cưỡng đoạt tài sản có thể bằng cử chỉ, hành động hoặc lời

nói nhưng việc dùng vũ lực không xảy ra ngay tức khắc8 mà xảy ra vào một thời
điểm trong tương lai. Trong tình huống trên hành vi dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ
lực của D tách ra làm hai giai đoạn. Giai đoạn 1: D bực tức vì thái độ của B khơng
chịu góp tiền hát karaoke nên tìm B đánh cho bỏ tức rồi hỏi B “có tiền để trả tiền
hát không”, lúc này D dùng vũ lực đối với B nhưng chưa có ý định chiếm đoạt tài
sản nên chưa cấu thành tội cướp tài sản được. Giai đoạn 2, khi B trả lời khơng thì D
nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của B mang đi cầm cố để lấy tiền trả tiền hát,
D tiếp tục đe dọa “mày không đi tao đánh cho một trận nữa bây giờ”. Như vậy D
không dùng vũ vực mà chỉ uy hiếp tinh thần của B nếu khơng đi thì sẽ bị đánh để B
đi theo D cầm cố xe ơ tơ của B. Do đó hành vi đe dọa dùng vũ lực trong trường hợp
này thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội Cưỡng đoạt tài sản tại Điệu 170 BLHS 2015.
Đối với quan điểm 2 là D phạm tội cướp tài sản. Hành vi của Lương Văn D
đã dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực đối với B như: dùng chân đạp vào hông bên
trái của B làm cho B ngã và mô tô đổ xuống đường, sau đó tiếp tục dùng chân đạp
hai phát vào sườn và dùng tay tát liên tiếp vào mặt của B. Liền ngay sau đó, D đã
nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của B; khi thấy B không đi, D tiếp tục đe dọa
dùng vũ lực ngay tức khắc “mày không đi tao đánh cho một trận nữa bây giờ”. Thực
tế vừa bị D đánh xong, do sợ bị đánh tiếp nên B buộc phải đi theo; đồng thời ngay
sau khi D dùng vũ lực đối với B thì D thực hiện hành vi lấy xe mô tô của B để mang
đi cầm cố, chỉ khi biết B báo Công an D mới trả lại xe mơ tơ, việc trả lại xe là nằm
ngồi ý muốn của D. Như vậy: Hành vi của D đã dùng vũ lực và tiếp tục đe dọa
dùng vũ lực ngay tức khắc đối với B làm cho B lâm vào tình trạng khơng chống cự
được để chiếm đoạt tài sản.
Tác giả đồng quan điểm với quan điểm số 2, hành vi của D đủ yếu tố cấu
thành tội Cướp tài sản, quy định tại khoản 1, Điều 168 Bộ luật hình sự vì:
Thứ nhất, xét hành vi của D dùng chân phải đạp một phát trúng vào hông bên
trái của B làm B ngã, đạp liên tiếp hai phát vào sườn phía bên trái và dùng tay tát
Đinh Văn Quế (2019), Bình luận Bộ luật hình sự 2015 – Phần các tội phạm chương sở hữu, Nxb, thông tin
và truyền thông.
8

Đinh Văn Quế (2019), tlđd (7), tr.122.
7


12
liên tiếp hai phát vào vùng mặt B là hành vi “dùng vũ lực”9 để buộc B đưa tiền hát
karaoke. D đã dùng vũ lực với mục đích chiếm đoạt tài sản của B, tuy nhiên B
khơng có tiền để đưa cho D.
Thứ hai, D nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của B nên buộc B đi theo Đ để
mang xe đi cầm, D có hành vi đe dọa “mày không đi tao đánh cho một trận nữa bây
giờ”, hành vi đe dọa là nối tiếp của hành vi dùng vũ lực ở giai đoạn đầu. Do đó, đã
uy hiếp tinh thần của B làm B nghĩ rằng hành vi dùng vũ lực sẽ được thực hiện ngay
nếu B không đi cùng D. Như vậy trong trường hợp này hành vi đe dọa của B là “đe
dọa dùng vũ lực ngay tức khắc”10 nhằm chiếm đoạt tài sản.
Từ những phân tích trên, hành vi của Nguyễn Văn D là dùng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản của B. Do đó D thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội
cướp tài sản tại khaonr 1 Điều 168 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017). Qua vụ án
trên ta nhận thấy trong một án, hành vi phạm tội của tội phạm trải qua nhiều giai đoạn
thì ngồi việc xem xét đánh giá hành vi qua từng giai đoạn thì cần đánh giá các hành
vi giữa các giai đoạn có quan hệ nhân quả hay khơng để định tội danh chính xác.
Vụ án 2: (Kèm theo phụ lục số 01)
Nội dung vụ án:11
Khoảng 19 giờ ngày 09/7/2018 trong khi đang uống rượu tại phòng trọ của anh
Dương Mạnh H ở thị trấn P, Dương Phước T, sinh năm 1986 gọi Hoàng Văn N, sinh
ngày 30/9/1994 vào uống rượu nhưng N khơng vào uống. Bực tức vì chuyện này nên
khoảng 21 giờ cùng ngày T rủ Nguyễn Duy H, sinh năm 1983 đi tìm anh N để đánh,
khi đi H mang theo một cây kiếm (làm bằng kim loại). Dương Phước T điều khiển
mô tô (xe của T) chở H tìm đến phịng trọ của chị Lê Thị T, sinh ngày 05/6/1994 thì
thấy chị T và N đang ngồi xem ti vi, cả hai vào đập cửa và dùng kiếm đe dọa yêu cầu
mở cửa phòng. Do quá lo sợ nên chị T ra mở cửa còn N trốn vào phòng vệ sinh. Ngay

sau khi vào được phòng trọ, T và H xông đến dùng tay, chân đánh anh N, anh N
khơng dám chống trả cịn chị T thì q hoảng sợ nên ngồi ở góc phịng. Một lúc sau T
đẩy anh N ra khỏi phòng nên anh N vùng bỏ chạy, H cầm kiếm đuổi theo nhưng
không kịp. Khi quay trở lại phòng H phát hiện trên mặt bàn có 01 điện thoại di động
Hành vi dùng vũ lực là hành vi người phạm tội tác động vào thân thể của người chủ sở hữu tài sản làm cho
người đó khơng thể kháng cự lại để người phạm tội thực hiện việc chiếm đoạt tài sản.
10
Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi cụ thể của người phạm tội nhằm biểu hiện cho người bị
tấn cơng biết rằng người phạm tội có thể sử dụng vũ lực ngay tức khắc nếu người bị tấn cơng có hành vi cản trở
việc chiếm đoạt tài sản của người phạm tội. Người phạm tội dùng lời lẽ, hoặc dùng công cụ, phương tiện để uy
hiếp tinh thần đối với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản để buộc họ giao tài sản và chiếm đoạt, hành vi này,
chủ yếu tác động về mặt tinh thần khiến cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản sợ hãi mà giao tài sản
11
/>9


13
liền lấy bỏ vào trong túi quần. Chị T phát hiện nhưng vì sợ nên khơng dám có phản
ứng gì. Lúc này T đang ngồi quay lưng về phía H nên không biết việc. H lấy điện
thoại của chị T. Sau khi lấy điện thoại H cầm kiếm đe dọa chị T đồng thời dùng chân
đá vào hông chị T, lúc này T nảy sinh ý định muốn giao cấu với chị T nên đe dọa
“Thôi chừ em cho anh thỏa mãn đi kẻo khơng thơi thằng đó chém chết”, khơng để chị
T kịp có phản ứng T đẩy chị T nằm ngửa ra và nằm đè lên người chị T, T hôn vào
miệng chị T đồng thời dùng hai tay lần xuống lưng quần của chị T thì bị chị T chống
cự quyết liệt, thấy vậy H đế dùng kiếm kề vào cổ chị T và đe dọa “Mi la tao chặt
chết”. Quá lo sợ chị T không tiếp tục chống cự lại mà van xin T đuổi H ra ngoài.
Trong lúc T đang đẩy H ra ngoài chị T đã vùng dậy chạy thốt ra khỏi phịng nhưng
bị vấp ngã, H liền chụp giữ chị T lại. Chị T la kêu cứu thì bị H dùng tay bịt miệng lại,
chị T cắn vào tay H và tiếp tục kêu cứu, ngay sau đó một số người dân chạy đến nên
T và H bỏ lại hung khí, mũ bảo hiểm, dép và lên xe mô tô bỏ trốn. H mang điện thoại

đi bán được 200.000 đồng, sử dụng để tiêu xài hết. Khi đang lẩn trốn thì H bị bắt theo
lệnh truy nã. Chị T trong lúc giằng co chống cự đã bị thương nhẹ, tổn hại 01% sức
khỏe. Anh N khơng bị thương tích gì đáng kể và khơng có u cầu xem xét xử lý
hình sự đối với T và H về việc gây thương tích cho mình.
Vật chứng vụ án thu giữ 01 cây kiếm làm bằng kim loại màu sáng trắng dài
58,5cm có lưỡi rộng 3,3cm, 01 mũ bảo hiểm xe máy, 01 đôi dép da màu nâu đen, 01
điện thoại di động hiệu Mobell màu đỏ đen. Kết quả định giá chiếc điện thoại có trị
giá 170.000 đồng.
Có các ý kiến về định tội danh như sau:
Chỉ xem xét đối với hành vi H chiếm đoạn điện thoại của chị T.
- Quan điểm 1: H phạm tội cướp tài sản theo khoản 2 Điều 168 BLHS 2015
vì H, T có hành vi dùng vũ lực đối với N, làm cho chị T bị tê liệt ý chí, khơng phản
kháng được và khơng bảo vệ được tài sản của mình.
- Quan điểm 2: H phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo Điều 172
BLHS 2015 vì lúc này T, H chỉ dùng vũ lực đối với anh N, H chỉ là người chứng
kiến sự việc, H chưa dùng vũ lực trực tiếp với chị T và cũng chưa có đe dọa dùng
vũ lực ngay tức khắc đối với chị T để buộc chị T giao tài sản. Việc H chiếm đoạt tài
sản là ngang nhiên, cơng khai mà T khơng có khả năng bảo vệ tài sản của mình.
Nhận xét, đánh giá:
Trong vụ án trên, chúng ta chỉ đánh giá về hành vi H chiếm đoạt tài sản của
chị T. H và T vì bực tức việc rủ N đi uống rượu mà N không đi nên mới mang cây


14
kiếm bằng kim loại đến phòng trọ chị T để tìm và đánh N. Ngay từ đầu T, H chỉ có
ý định tìm N để đánh chứ khơng có ý định muốn chiếm đoạt tài sản. Khi đến phòng
chị T, nhìn thấy H và T dùng hung khí đánh N nên chị T rất hoảng sợ. Khi H phát
hiện trên mặt bàn có 01 điện thoại di động liền lấy bỏ vào trong túi quần. Chị T phát
hiện nhưng vì sợ nên khơng dám có phản ứng gì. Sau khi tẩu thoát, H mang điện
thoại đi bán được 200.000 đồng, sử dụng để tiêu xài hết. Cần đặt ra vấn đề hành vi

H chiếm giữ điện thoại của chị T và bán được 200.000đ có cấu thành tội phạm hay
khơng và cấu thành tội gì?
Đối với quan điểm số 2, H phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Việc H
chiếm đoạt điện thoại của chị T dễ làm chúng ta nhầm lẫn với tội công nhiên chiếm
đoạt tài sản tại Điều 172 BLHS năm 2015 vì lúc chiếm đoạt chiếc điện thoại của chị
T, H chưa dùng vũ lực đối với chị T, H cũng chưa có yêu cầu buộc chị T phải giao
ra tài sản. Việc chị T để mặc cho H chiếm đoạt điện thoại của mình là vì khơng có
khả năng bảo vệ tài sản của mình. Tuy nhiên chúng ta cần xác định hành vi chiếm
đoạt điện thoại trên không phải là công nhiên chiếm đoạt tài sản vì các lý do sau:
- Dấu hiệu cơ bản của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là chiếm đoạt bằng
hình thức cơng khai trước sự chứng kiến của chủ sở hữu mà không dùng vũ lực
hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc bằng bất cứ một thủ đoạn uy hiếp tinh thần nào. Ở
đây việc chị T thấy N bị H đánh đã uy hiếp tinh thần làm chị T không dám kháng cự
để giành lại tài sản khi thấy H lấy điện thoại của mình. Không thỏa mãn dấu hiệu
của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản về việc không dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ
lực và uy hiếp về tinh thần.
- Hậu quả của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản giá trị
từ 2.000.000đ trở lên mới cấu thành tội phạm. Như vậy chiếc điện thoại trị giá
200.000đ chưa đủ cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
- Khi thực hiện hành vi dùng vũ lực ngay tức khắc H vẫn chưa có mục đích
chiếm đoạt tài sản, ý thức chiếm đoạt là sau khi dùng vũ lực uy hiếp N và chị T,
nhìn thấy điện thoại của chị T thì H mới nảy sinh ý định chiếm đoạt. Trường hợp
nếu bị hại bị dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc mà bỏ chạy để lại tài
sản thì người phạm tội mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản thì từng trường hợp
cụ thể cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản hoặc chiếm giữ trái phép12, tuy
nhiên trong trường hợp này tài sản vẫn trong tầm kiểm soát của chị T, chị T vẫn có
12

Đinh Văn Quế (2019), tlđd (7), tr.25.



15
thể giành lại nhưng vì bị uy hiếp tinh thần nên khơng cịn khả năng kháng cự đề
giành lại tài sản của mình. Từ những lý do trên thì H không phạm tội công nhiên
chiếm đoạt tài sản.
Đối với quan điểm 1, H phạm tội cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 BLHS
2015. Tội cướp tài sản là tội phạm cấu thành hình thức, do đó hậu quả khơng phải là
dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm. Chỉ cần có hành vi dùng vũ lực, đe dọa
dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác thì tội cướp tài
sản đã hồn thành. Trong vụ án trên, việc H chiếm đoạt điện thoại trị giá 200.000đ
đã đủ cấu thành tội cướp tài sản. Thời điểm H chiếm đoạt tài sản của chị T thì H, T
chưa dùng vũ lực đối với chị T, chưa đe dọa dùng vũ lực đối với chị T tuy nhiên
việc T, H dùng cây kiếm bằng kim loại đuổi đánh N đã gây cho chị T tâm lý hoảng
sợ nên khi H lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi quần thì chị T khơng dám ngăn cản.
Ngay sau khi chiếm đoạt tài sản H cầm kiếm đe dọa chị T đồng thời dùng chân đá
vào hông chị T. Như vậy hành vi chiếm đoạt tài sản của H thỏa mãn dấu hiệu định
tội tội cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 BLHS 2015.
Trong vụ án tác giả đồng quan điểm với quan điểm thứ nhất là H phạm tội
cướp tài sản theo khoản 1 Điều 168 BLHS 2015 vì việc H chiếm đoạt chiếc điện
thoại của chị T là ngay sau khi đuổi dánh anh N trước mặt của chị T. Chị T nhìn
thấy H cầm điện thoại của mình bỏ vào túi quần nhưng vì sợ nên khơng dám phản
ứng gì, mặt khác sau khi lấy điện thoại H cầm kiếm đe dọa chị T đồng thời dùng
chân đá vào hông chị T. Mặc dù H chưa dùng vũ lực đối với chị T nhưng việc H
dùng gậy đuổi đánh N đã làm chị T hoảng sợ, lâm vào tình trạng khơng chống cự
được. Như vậy trong trường hợp này hành vi của H là dùng hành vi khác làm cho
người bị tấn công lâm vào tình trạng khơng thể chống cự13 nhằm chiếm đoạt tài sản.
Trong vụ án trên hành vi dùng vũ lực của H không trực tiếp lên người chủ sở hữu
tài sản là chị T mà dùng vũ lực đối với N trước mặt chị T đã gián tiếp uy hiếp tinh
thần của chị T, làm chị T khơng cịn khả năng chống cự để mặc H chiếm đoạt tài
sản của mình. Như vậy, người phạm tội cướp tài sản không chỉ phạm tội cướp tài

sản khi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc trực tiếp đối với chủ sở hữu
tài sản mà có thể là hành vi khác, không dùng vũ lực nhưng trực tiếp tác động đối
với người sở hữu tài sản làm họ khơng cịn khả năng chống cự mà giao ra tài sản.
Là những hành vi được thực hiện thông qua cử chỉ, lời nói, thái độ, hoặc những thủ đoạn khác. Các hành vi
như cho uống thuốc mê, chất kích thích… khiến cho người khác lâm vào tình trạng khơng thể chống cự để
chiếm đoạt tài sản. Những hành vi này thường không phải là những hành vi tác động bằng sức mạnh vật chất
13


16
Vụ án 3: Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn S Tòa án nhân dân tỉnh Bắc
Giang. (Kèm theo phụ lục số 02)
Nội dung vụ án.14
Khoảng hơn 17 giờ ngày 05/7/2018, Nguyễn Văn S đang ở nhà thì Nguyễn Văn
Đ ở cùng thơn điều khiển xe ơ tơ biển kiểm sốt 99A- 20381 đến rủ S đi chơi, S đồng ý
và lên xe ngồi cạnh ghế lái. Khi đi đến tỉnh lộ 295 đoạn thuộc thôn N, xã H, huyện H,
tỉnh Bắc Giang thì Đ nhìn thấy anh Ngơ Văn L- sinh năm 1982 ở thôn Đ, xã B, huyện
H, tỉnh Bắc Giang đang đi xe mô tô trên đường. Do trước đó anh L nợ Đ
14.000.000đồng (mười bốn triệu đồng), Đ đã đòi nhiều lần nhưng anh L chưa trả nên
khi nhìn thấy anh L đang đi xe trên đường, Đ đã chặn xe của anh L lại mục đích để đòi
tiền anh L. Đ xuống xe dùng chân tay đấm đá vào người và nhặt một khúc gỗ ở rìa
đường vụt vào lưng anh L.Sau đó,Đ bắt anh L lên xe ô tô ngồi ở ghế sau của xe, đồng
thời Đ nhờ người dân dắt xe mô tô của anh L vào nhà chị Nguyễn Thị Lan A- sinh năm
1985 ở gần đó gửi rồi Đ điều khiển xe chở sắt và anh L đi sang địa phận tỉnh Bắc Ninh.
Trên đường đi, S thấy Đ đòi tiền anh L nên đã hỏi Đ thì được biết do anh L nợ tiền nên
Đ bắt anh L lên xe để đòi nợ. Khi đi đến cánh đồng gần Khu công nghiệp thuộc huyện
Yên , tỉnh Bắc Ninh thì Đ đỗ xe lại, Đ xuống xe kéo anh L ra khỏi xe rồi mở cốp xe lấy
01 chiếc gậy (cán xẻng) bằng kim loại đánh vào chân, tay của L đồng thời bắt anh L
gọi điện thoại cho gia đình phải đưa cho Đ 70.000.000đồng (bảy mươi triệu đồng) thì
Đ mới thả anh L về. Do bị Đ cưỡng ép trả nợ nên anh L đã nhiều lần gọi điện về cho

mẹ anh L là bà Nguyễn Thị N- sinh năm 1955 ở thôn Đ, xã B, huyện H, tỉnh Bắc
Giang bảo bà N chuẩn bị số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) để đưa cho Đ.
Vì sợ con trai bị đánh nên bà N đã vay của anh Đỗ Đức D- sinh năm 1974 ở thôn Đ, xã
B, huyện H, tỉnh Bắc Giang số tiền 70.000.000đồng (bảy mươi triệu đồng) để đưa cho
Đ. Qua điện thoại, Đ trao đổi trực tiếp và hẹn bà N ở nhà anh D rồi Đ gọi điện nhờ
Nguyễn Văn Nh- sinh năm 1988 ở cùng thôn đến lấy tiền hộ Đ nhưng bà N yêu cầu
phải gặp trực tiếp Đ nên không đưa tiền cho Nh. Sau đó, Đ và bà N hẹn gặp nhau tại
quán cà phê “G” ở thôn L, xã B, huyện H để đưa tiền. Lúc này, Đ điều khiển xe chở
anh L và s về điểm hẹn, khi đi đến khu vực cầu ĐX thì Đ gặp một xe Taxi nên đã thuê
xe taxi chở anh L đến ngã ba thơn L, xã B, cịn Đ và s đi xe ô tô theo sau. Đến khoảng
02 giờ 00 ngày 06/7/2018 thì Đ, S, anh L và bà N gặp nhau ở quán cà phê “G” Khi gặp
anh L, bà N thấy trên mặt và chân tay anh L có nhiều vết xước, bầm tím, chảy máu thì
Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2019/HSST ngày 20/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh
Bắc Giang
14


17
bà N đoán anh L đã bị Đ đánh nên bà N đồng ý trả cho Đ 70.000.000 đồng (bảy mươi
triệu đồng) và yêu cầu Đ phải viết biên nhận tiền cho bà N. Đ cầm tiền của bà N rồi
đưa cho S và N I bảo đếm xem có đủ không để Đ viết giấy biên nhận cho bà N. Khi S,
NI đếm đủ tiền và Đ viết xong giấy biên nhận thì bị Cơng an huyện Hiệp Hịa bắt quả
tang; Thu giữ tiền, giấy biên nhận tiền, xe ô tô, điện thoại của các đối tượng.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận do muốn đòi tiền anh L
nên đã bắt và đánh anh L để ép anh L gọi điện cho gia đình trả tiền cho Đ. Nguyễn
Văn S thừa nhận biết Đ bắt và đánh anh L để đòi tiền nhưng vẫn đi cùng và chứng
kiến việc Đ đánh anh L từ đầu đến cuối, khơng can ngăn và cịn đếm tiền cho Đ.
Kết quả kiểm tra dấu vết trên thân thể anh Ngơ Văn L ngày 06/7/2018
xác định: Bờ vai phải có vết bầm tím dại 25cm, rộng 04cm và một số vết xây
sát nhỏ ở vùng lưng. Khuỷu tay trái có vết xước nơng sưng nóng đỏ đau; khuỷu

tay phải có vết sước rộng 02 cm; phần cổ chân và dóng chân có 04 vết xước
nhỏ ngồi ra; trán bên trái có 01 vết xước hình chữ V; ngực phải có vết sước
dài 03cm. Quá trình điều tra Nguyễn Văn Đ và anh Ngô Văn L đều thừa nhận
các vết xây sát trên cơ thể anh L là do Đ đánh anh L để ép buộc anh L gọi điện
về cho gia đình mang trả tiền cho Đ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2019/HSST ngày 20/5/2019 của Tòa án
nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tuyên xử Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn
S phạm tội Cưỡng đoạt tài sản.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang kháng nghị bản án sơ thẩm với nội
dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng hủy một phần bản án hình
sự sơ thẩm để điều tra lại đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ và bị cáo Nguyễn Văn S về
tội “Cướp tài sản” quy định tại Điều 168 của Bộ luật hình sự.
Bản án phúc thẩm số 105/2019/HSPT ngày 15/8/2019 của Tòa án nhân dân
tỉnh Bắc Giang Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang;
Hủy một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2019/HSST ngày 20/5/2019 của Tòa án
nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang đối với Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Văn s
về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện
Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang để điều tra lại theo thủ tục chung.
Nhận xét, đánh giá:
Đánh giá hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực của Đ đối với L: Do trước
đó anh L nợ Đ 14.000.000đồng (mười bốn triệu đồng), Đ đã đòi nhiều lần nhưng anh
L chưa trả nên Đ đã chặn xe của anh L dùng chân tay đấm đá vào người và nhặt một


18
khúc gỗ ở rìa đường vụt vào lưng anh L. Sau đó, Đ mở cốp xe lấy 01 chiếc gậy (cán
xẻng) bằng kim loại đánh vào chân, tay của L đồng thời bắt anh L gọi điện thoại cho
gia đình phải đưa cho Đ 70.000.000đồng (bảy mươi triệu đồng) thì Đ mới thả anh L
về. Do bị Đ cưỡng ép trả nợ nên anh L đã nhiều lần gọi điện về cho mẹ anh L là bà
Nguyễn Thị N bảo bà N chuẩn bị số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) để

đưa cho Đ. Vì sợ con trai bị đánh nên bà N đã vay số tiền 70.000.000đồng (bảy mươi
triệu đồng) để đưa cho Đ.
Giữa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa với bản án phúc
thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, kháng nghị của Tịa án nhân dân tỉnh
Bắc Giang có 02 quan điểm khác nhau.
Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hịa nhận định Đ có hành vi
đe dọa dùng vũ lực với L để buộc mẹ của L là bà N phải giao cho Đ số tiền là
70.000.000đ nếu không muốn L bị đánh. Do đó thỏa mãn dấu hiệu khách quan của
tội cưỡng đoạt tài sản là hành vi người phạm tội đe dọa dùng vũ lực đối với người
bị hại nhằm buộc bị hại phải giao ra tài sản.
Kháng nghị của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và Bản án phúc thẩm của
Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang cùng quan điểm nhận định Nguyễn Văn Đ
nhận thức được anh Ngô Văn L nợ tiền mình, nếu khơng trả thì Đ có quyền kiện
ra Tòa án để giải quyết theo đúng pháp luật, nhưng Đ không làm vậy mà khi
thấy anh L thì Đ dùng ơ tơ chặn lại, dùng gậy gỗ đánh và bắt lên xe của Đ
sang một cánh đồng thuộc huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; tại đây Đ bắt anh L xuống xe,
dùng gậy sắt đánh và bắt anh L gọi điện về cho mẹ phải chuẩn bị 70 triệu đồng
để đưa Đ thì Đ mới thả anh L về; qua điện thoại anh L thì Đ nói với bà N là
mẹ anh L phải đưa đủ 70 triệu đồng, hẹn nhiều điểm đưa tiền, điểm cuối cùng là
quán cà phê “G”, tại đây Đ nhận tiền đưa cho s và NI đếm, Đ ghi giấy thì bị
bắt quả tang. Như vậy, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi bắt giữ, đưa đến nơi
vắng người qua lại, thực hiện hành vi dùng vũ lực để chiếm đoạt 70 triệu
đồng của anh L, bà N là mẹ đẻ anh L, đây là dấu hiệu đặc trưng về mặt khách
quan của tội “Cướp tài sản”. Do vậy, hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Đ đã
phạm vào tội “Cướp tài sản”. Nguyễn Văn S là người đồng phạm giúp sức
cho Nguyễn Văn Đ.
Tác giả thống nhất với quan điểm của Tòa án phúc thẩm và kháng nghị của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang rằng Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn S phạm
tội “Cướp tại sản” tại Điều 168 BLHS 2015 vì lý do:



19
Thứ nhất, hành vi của Đ là dùng ô tô chặn L lại, dùng gậy gỗ đánh và bắt lên
xe của Đ sang một cánh đồng thuộc huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; tại đây Đ bắt anh L
xuống xe, dùng gậy sắt đánh và bắt anh L gọi điện về cho mẹ phải chuẩn bị 70 triệu
đồng để đưa Đ thì Đ mới thả anh L về. Dấu hiệu “đe dọa dùng vũ lực” ở tội cưỡng
đoạt tài sản là hành vi có thể thực hiện bằng cử chỉ, hành động, lời nói … nhưng bằng
hình thức nào thì việc dùng vũ lực cũng không xảy ra ngay tức khắc 15. Tuy nhiên
hành vi của Đ là đã dùng vũ lực đối với L dùng cây sắt đánh vào lưng L, đe dọa tiếp
tục dùng vũ lực ngay tức khắc nếu L không giao tài sản nên buộc L phải gọi điện
nhiều lần cho mẹ mang tiền đến cho Đ. Do đó hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ
lực của Đ ở trên là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc.
Thứ hai, Nếu không xem xét hành vi Đ đã thực hiện qua từng giai đoạn mà chỉ
xem xét việc Đ buộc L gọi mẹ đem tiền đến nếu không muốn bị đánh thì chúng ta sẽ
bị nhầm lẫn với cấu thành tội Cưỡng đoạt tài sản. Chuỗi hành vi chặn xe L, Đ dùng
cây đánh sắt đánh vào lưng L và buộc L lên xe Đ chở đến khu đất trống ít người. Tại
đây Đ lấy cây gậy (cán xẻng) bằng kim loại đánh vào chân, tay của L đồng thời bắt
anh L gọi điện thoại cho gia đình phải đưa cho Đ 70.000.000đồng. Ngay từ hành vi
đầu tiên Đ chặn xe, dùng cây đánh vào lưng L đều vì mục đích buộc L trả số tiền L
nợ Đ là 14.000.000đ tuy nhiên L nói khơng có tiền trả nên Đ bắt L phải đi theo Đ. Đ
chở L đến khu đất vắng người, kéo L xuống, mở cốp xe lấy gậy tiếp tục đánh vào
chân, vào tay B buộc B phải gọi điện cho người nhà để đem tiền đến cho H. Như vậy
qua các giai đoạn thì Đ ln dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc đối với L
để buộc L giao tài sản. Vì L khơng có tiền nên Đ mới dùng vũ lực dùng gậy đánh vào
chân, tay của L để buộc L gọi về cho gia đình đem tiền đến. Mẹ của L vì sợ con bị
đánh nên vay tiền để đem đến cho Đ. Như vậy bằng việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ
lực ngay tức khắc Đ đã làm cho L lâm vào tình trạng khơng thể chống cự được và Đ
đã chiếm đoạt tài sản của L, mẹ L.
Qua vụ án trên ta thấy trong điều tra, truy tố xét xử các tội xâm phạm sở hữu
thì việc xác định hành vi khách quan của tội phạm để định tội danh là hết sức quan

trọng, nếu xác định khơng đúng thì dẫn đến việc điều tra, truy tố và xét xử sai. Đối
với tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Cướp tài sản” hành vi khách quan dùng vũ lực,
đe dọa dùng vũ lực là giống nhau tuy nhiên điều khác nhau cơ bản là việc dùng vũ
lực, đe dọa dùng vũ lực ở tội cướp tài sản là ngay tức khắc. Tuy nhiên việc xác định
15

Đinh Văn Quế (2019), tlđd (7), tr.122.


20
mức độ dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực như thế nào là ngay tức khắc hoặc không
ngay tức khắc trong cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Cướp tài sản” vẫn
chưa có sự phân định rõ ràng. Do đó cần có văn bản hướng dẫn để tạo sự thống nhất
và đồng bộ trong thực tiễn xét xử khi định Tội cướp tài sản.
1.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác định hành vi dùng vũ lực, đe
doạ dùng vũ lực của tội “Cướp tài sản”
Qua các vụ án phân tích trên cho chúng ta thấy việc nhầm lẫn trong việc xác
định tội cướp tài sản so với các tội phạm khác thuộc Chương các tội xâm phạm sở
hữu của các cơ quan có thẩm quyền xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:
- Thứ nhất, do xác định sai dấu hiệu dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực là “ngay
tức khắc” hoặc “không ngay tức khắc” sẽ dẫn đến tranh chấp tội danh giữa tội Cướp
tài sản và tội Cưỡng đoạt tài sản. Xét về hành vi khách quan, thì tội Cướp tài sản và
tội Cưỡng đoạt tài sản đều có dấu hiệu hành vi “đe dọa dùng vũ lực” để chiếm đoạt
tài sản. Tuy nhiên, hành vi “đe dọa dùng vũ lực” của tội Cướp tài sản là diễn ra ngay
tức khắc, làm tê liệt hồn tồn ý chí của bị hại nên buộc phải giao tài sản cho người
phạm tội. Còn đối với hành vi “đe dọa sẽ dùng vũ lực” của tội Cưỡng đoạt tài sản thì
hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực là “không ngay tức khắc” mà hành vi dùng vũ lực sẽ
vào một thời điểm trong tương lai, khơng làm tê liệt hồn tồn ý chí của bị hại, bị hại
vẫn có đủ thời gian để suy tính và lựa chọn phương án để thực hiện theo yêu cầu của
người phạm tội hay không. Trên thực tiễn xét xử còn nhầm lẫn giữa hai tội danh này,

dẫn đến việc định tội danh sai hoặc có quan điểm khác nhau về việc định tội danh.
- Thứ hai, dấu hiệu đặc trưng của tội cướp tài sản khác với các tội danh khác
trong Chương các tội xâm phạm sở hữu là dấu hiệu hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng
vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn cơng lâm vào tình trạng
khơng thể chống cự được nhằm làm cho bị hại tê liệt ý chí, khơng cịn khả năng phản
kháng mà giao tài sản của mình. Dấu hiệu “hành vi khác” làm cho người bị tấn cơng
lâm vào tình trạng khơng thể chống cự được trên thực tế có rất nhiều nhưng trường
hợp nào là hành vi làm cho người bị tấn cơng khơng chống cự được, trường hợp nào
khơng thì khó xác định và chưa có văn bản pháp luật nào quy định về “Hành vi khác”
này là loại hành vi nào. Thực tiễn xét xử có nhiều trường hợp người phạm tội không
dùng vũ lực mà dùng thủ đoạn nguy hiểm để chiếm đoạt tài sản mà nếu định tội
cưỡng đoạt tài sản hay trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì khơng đúng với
tính chất nguy hiểm của hành vi đã phạm tội. Do đó, một số tội khác trong Chương
các tội xâm phạm sở hữu như tội cướp giật tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, công


×