BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
LÊ THÀNH LẬP
TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CƠNG CỘNG
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CƠNG CỘNG
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chun ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Định hƣớng ứng dụng
Mã số: 8380104
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phan Anh Tuấn
Học viên: Lê Thành Lập
Lớp: Cao học Luật, Bạc Liêu Khóa 1
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi với sự
hướng dẫn của TS. Phan Anh Tuấn.
Các thơng tin trích dẫn trong Luận văn đã được nêu rõ nguồn gốc. Các kết
quả trình bày trong Luận văn là trung thực và chưa được cơng bố trong bất cứ cơng
trình khoa học nào trước đây.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thành Lập
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật Hình sự
TAND
Tịa án nhân dân
TNHS
Trách nhiệm hình sự
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
CHƢƠNG 1. DẤU HIỆU HẬU QUẢ “GÂY ẢNH HƢỞNG XẤU ĐẾN AN
NINH, TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI” ................................................................6
1.1. Quy ịnh c a ph p uật hình sự v dấu hiệu hậu quả “gây ảnh hƣởng
xấu ến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” c a tội gây rối trật tự công cộng .... 6
1.2. Thực tiễn áp dụng dấu hiệu hậu quả “gây ảnh hƣởng xấu ến an ninh,
trật tự, an toàn xã hội” c a tội gây rối trật tự công cộng ................................. 8
1.3. Giải pháp nhằm xác ịnh úng hậu quả “gây ảnh hƣởng xấu ến an
ninh, trật tự, an toàn xã hội” c a tội gây rối trật tự công cộng ...................... 20
Kết luận Chƣơng 1 ..................................................................................................24
CHƢƠNG 2. ĐỊNH TỘI DANH TỘI GÂY RỐI TRẬT TỰ CÔNG CỘNG ...25
2.1. Quy ịnh c a pháp luật v dấu hiệu ịnh tội c a Tội gây rối trật tự công
cộng....................................................................................................................... 25
2.2. Thực tiễn ịnh tội danh Tội gây rối trật tự công cộng ............................. 28
2.2.1. Đối với trường hợp người phạm tội gây rối trật tự công cộng và dẫn đến
chết người ...........................................................................................................28
2.2.2. Đối với trường hợp người phạm tội gây rối trật tự cơng cộng và có hành
vi gây thương tích cho người khác. ....................................................................35
2.2.3. Đối với trường hợp người phạm tội gây rối trật tự cơng cộng và có hành
vi hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản .............................................37
2.2.4. Đối với trường hợp người phạm tội gây rối trật tự cơng cộng mà có hành
vi chống lại người đang thi hành công vụ ..........................................................42
2.3. Giải pháp nhằm xác ịnh úng tội danh Tội gây rối trật tự công cộng . 43
Kết luận Chƣơng 2 ..................................................................................................47
KẾT LUẬN ..............................................................................................................48
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn
tài
Gây rối trật tự công cộng là xâm phạm trật tự ở nơi công cộng, vi phạm vi
tắc, nếp sống văn minh, cản trở hoạt động lành mạnh, bình thường của người khác ở
nơi cơng cộng. Trật tự cơng cộng là tình trạng ổn định, có tổ chức, có kỷ luật ở nơi
đơng người, phục vụ chung cho mọi người trong xã hội. Ngoài ra, hành vi phạm tội
cịn đe dọa xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác.
Bộ Luật hình sự năm 2015 được Quốc hội thông qua 27/11/2015 quy định
hành vi gây rối trật tự công cộng là tội phạm, quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự
và đến năm 2017 sửa đổi, bổ sung vẫn giữ nguyên tên và Điều luật theo Bộ luật
Hình sự năm 2015, được coi là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu
tranh phịng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơng dân, tổ chức; góp phần
duy trì trật tự an tồn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được
sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an tồn, lành mạnh, mang tính nhân
văn cao. Đồng thời, pháp luật hình sự góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây
cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh và quy định hành vi
gây rối trật tự công cộng là tội phạm.
Hành vi gây rối trật tự công cộng diễn biến ngày càng phức tạp và có xu
hướng ngày càng tăng trong những năm gần đây. Quá trình xử lý loại tội phạm này
lại gặp khơng ít khó khăn, các Cơ quan tiến hành tố tụng có quan điểm khác nhau
dẫn đến tranh chấp tội này với nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân
phẩm, danh dự của con người; với nhóm các tội xâm phạm sở hữu và nhóm các tội
xâm phạm trật tự quản lý hành chính. Hiện nay, Tội gây rối trật tự công cộng quy
định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và chưa
có văn bản nào hướng dẫn. Do đó, việc nghiên cứu thực tiễn xét xử để hồn thiện,
hướng dẫn pháp luật hình sự nói chung, cũng như tội phạm quy định tại Điều 318
Bộ luật Hình sự hiện hành nói riêng là vơ cùng cần thiết và quan trọng.
Xuất phát từ cơ sở đó, nên tác giả quyết định chọn đề tài “Tội gây rối trật tự
công cộng theo Luật hình sự Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của
mình. Từ đó, tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp để tháo gỡ những vướng
2
mắc hiện nay mà các cơ quan tiến hành tố tụng gặp phải khi tiến hành xử lý hình
sự tội phạm này.
2. Tình hình nghiên cứu
tài
Các cơng trình nghiên cứu về Tội gây rối trật tự công cộng hiện nay rất hạn
chế và chưa có cơng trình nào nghiên cứu một cách tập trung, đầy đủ và hệ thống.
Tội gây rối trật tự công cộng hiện đã được nghiên cứu, đề cập đến trong nhiều cơng
trình nghiên cứu khoa học ở các nhóm tài liệu khác nhau như:
- Các giáo trình luật hình sự của các cơ sở đào tạo luật như: (1) Trường Đại
học Luật TP.Hồ Chí Minh (2015), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần Các tội
phạm, Nxb Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, TP.HCM; (2) Trường Đại học Luật
Hà Nội (2017), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam- Phần Các tội phạm, Nxb Cơng
an nhân dân, Hà Nội; (3) Võ Khánh Vinh (Chủ biên) (2012), Giáo trình Luật hình
sự Việt Nam- Phần Các tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; (4) Lê Cảm (Chủ
biên) (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần Các tội phạm, Khoa Luật,
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội; ... Các giáo trình
này cung cấp những kiến thức lý luận cơ bản về dấu hiệu pháp lý của Tội gây rối
trật tự công cộng làm cơ sở tham khảo cho luận văn nghiên cứu về lý luận và quy
định của pháp luật hình sự về tội này.
- Các sách bình luận khoa học luật hình sự có đề cập đến tội gây rối trật tự cơng
cộng- có thể đến như : (1) Đinh Văn Quế (2005), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Phần các tội phạm, Tập IV, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ
Chí Minh; (2) Nguyễn Đức Mai (2010), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 1999
sửa đổi, bổ sung năm 2009, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; (3) Trần Văn Biên, Đinh
Thế Hưng (2017), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017), NXB. Thế Giới, Hà Nội; (4) Nguyễn Đức Mai và những người khác (2018),
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017, NXB. Chính trị Quốc
gia Sự thật, Hà Nội; (5) Nguyễn Ngọc Hịa (Chủ biên) (2018), Bình luận khoa học Bộ
luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Quyển 2, Phần các tội phạm,
NXB. Tư pháp, Hà Nội; (5) Phạm Mạnh Hùng (2019), Bình luận khoa học Bộ luật
Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Phần các tội phạm, NXB. Lao
động, Hà Nội ... Các sách bình luận này giúp cho việc nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý
của tội gây rối trật tự cơng cộng đầy đủ và chính xác hơn.
Sách và giáo trình nêu trên có nội dung chủ yếu chỉ dừng lại ở việc phân tích
các dấu hiệu pháp lý của Tội gây rối trật tự công cộng. Đây là tài liệu quan trọng
3
cho luận văn tham khảo khi nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý, lý luận về Tội gây rối
trật tự cơng cộng theo luật hình sự Việt Nam.
- Về luận văn Thạc sỹ có liên quan đến đề tài tại trường Đại học Luật TP. Hồ
Chí Minh có thể kể đến: Phan Vũ Linh (2011), Phòng ngừa tội gây rối trật tự công
cộng trên địa bàn thành phố Cần Thơ, Luận văn thạc sĩ Luật học ,trường Đại học
Luật Tp. Hồ Chí Minh.
- Các bài viết về Tội gây rối trật tự cơng cộng đăng trên các tạp chí chun
ngành có thể kể đến như: (1) Quách Thành Vinh (2003), “Điều 198 BLHS năm
1985 và Điều 245 BLHS năm 1999 quy định tội "gây rối trật tự cơng cộng"”, Tịa
án nhân dân, Số 7- tr.14-16; (2) Đỗ Đức Hồng Hà (2005), “Xử lý đối với hành vi
dùng vũ lực chống người thi hành cơng vụ ở nơi cơng cộng”, Tịa án nhân dân, Số
7, tr.25-27; (3) Vũ Thành Long (2005), “Tội gây rối trật tự cơng cộng khơng có
người bị hại”, Tòa án nhân dân, Số 15, tr.09-11; (4) Nguyễn Thanh Hải (2018),
“Xử lý tội gây rối trật tự công cộng: Cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn”, Luật
sư Việt Nam, Số 7 (52), tr. 37 – 39; (5) Bùi Ai Giôn (2019), “Về tội gây rối trật tự
công cộng quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tòa án nhân dân, Số
15, tr. 25 – 28 ...
Các bài viết trên đã nhận diện và làm sáng tỏ một số vấn đề về khái niệm, đặc
trưng, các dấu hiệu pháp lý của tội gây rối trật tự công cộng và thực tiễn điều tra,
truy tố, xét xử hình sự; phân tích, đối chiếu và phân biệt với một số tội phạm khác
trong Bộ luật hình sự và đề xuất giải pháp hoàn thiện
Như vậy, qua các cơng trình nghiên cứu về Tội gây rối trật tự cơng cộng theo
Luật Hình sự Việt Nam, tác giả có một số nhận xét sau:
- Các cơng trình trên đã nghiên cứu được một số vấn đề như dấu hiệu pháp lý
của Tội gây rối trật tự công cộng, đề cập và đánh giá một số bất cập trong quy định
và vướng mắc trong áp dụng quy định về Tội gây rối trật tự công cộng theo quy
định của BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 cũng như đưa ra được một số kiến
nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện tội này.
- Đồng thời, các cơng trình nghiên cứu trên cũng chỉ ra vẫn còn một số nội
dung đang tiếp tục nghiên cứu, đang tồn tại một số ý kiến khác nhau như vấn đề
định tội danh gây rối trật tự công cộng, dấu hiệu hậu quả “gây ảnh hưởng xấu” và
các dấu hiệu định tội khác của Tội gây rối trật tự cơng cộng theo quy định của Bộ
luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017.
4
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Tội gây rối trật tự cơng cộng theo Luật
hình sự Việt Nam” làm luận văn Thạc sỹ vì đề tài này cịn nhiều vấn đề cần tiếp tục
nghiên cứu và có ý nghĩa thực tiễn.
3. Mục ích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục ích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, đánh giá những bất cập, vướng mắc khi áp dụng trong
thực tiễn quy định về Tội gây rối trật tự công cộng, đề tài sẽ đưa ra những kiến nghị
hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về tội này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ chủ
yếu sau đây:
- Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về Tội gây rối trật tự công cộng.
- Chỉ ra những vướng mắc, hạn chế trong việc quy định và áp dụng các quy
định của luật hình sự về Tội gây rối trật tự công cộng
- Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về Tội gây rối
trật tự công cộng
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là Tội gây rối trật tự công cộng
theo quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Luận văn nghiên cứu Tội gây rối trật tự công cộng trên
phạm vi cả nước.
+ Về thời gian: Luận văn nghiên cứu các vụ án Tội gây rối trật tự công cộng
từ năm 2015 đến năm 2020.
5. Phƣơng pháp uận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phƣơng ph p uận
Đề tài này được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin với phép duy vật biện chứng, các quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà
nước về đấu tranh phịng chống tội phạm.
5.2. Phƣơng ph p nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để phân tích, đánh giá các vụ
án xét xử trong thực tiễn và đánh giá các quy định của pháp luật. Qua đó, phân tích
5
quy định của pháp luật hình sự hiện hành về các vấn đề liên quan đến hoạt động định
tội của Tội gây rối trật tự công cộng chủ yếu là quy định tại Bộ luật Hình sự hiện
hành và các văn bản pháp luật có liên quan. Phương pháp tổng hợp được sử dụng
song song với phương pháp phân tích để tổng hợp và khái quát kết quả nghiên cứu.
- Phương pháp bình luận án được sử dụng để bình luận các bản án trong thực
tiễn xét xử vào nội dung đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh cách áp dụng pháp luật hình
sự liên quan đến Tội gây rối trật tự cơng cộng để từ đó chỉ ra những điểm khơng
thống nhất trong việc áp dụng các dấu hiệu định tội của tội này trong các bản án.
6. Dự kiến kết quả nghiên cứu và ịa chỉ ứng dụng kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của Luận văn đã chỉ ra được những vướng mắc trong
thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
năm 2017) về việc xác định hậu quả “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an
toàn xã hội” và định tội danh Tội gây rối trật tự cơng cộng, từ đó, đưa ra các kiến
nghị có cơ sở lý luận và thực tiễn để giải quyết các vướng mắc đó. Vì vậy, kết quả
nghiên cứu có thể được sử dụng để tham khảo trong việc hoàn thiện pháp luật, cũng
có thể sử dụng để các Cơ quan tiến hành tố tụng nâng cao chất lượng áp dụng quy
định của Bộ luật Hình sự về Tội gây rối trật tự công cộng.
Những kết quả nghiên cứu của Luận văn đạt được cịn có thể làm tài liệu
tham khảo cho các học viên khác và cho những người có quan tâm trong q trình
cơng tác, học tập và nghiên cứu.
7. Bố cục c a uận văn:
Ngồi lời nói đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm 02
chương:
Chƣơng 1. Dấu hiệu hậu quả “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an
toàn xã hội”.
Chƣơng 2. Định tội danh Tội gây rối trật tự công cộng.
6
CHƢƠNG 1
DẤU HIỆU HẬU QUẢ “GÂY ẢNH HƢỞNG XẤU ĐẾN
AN NINH, TRẬT TỰ, AN TỒN XÃ HỘI”
1.1. Quy
u t hình sự v dấu iệu
u quả “gây ả
ưở g
xấu ế an ninh, tr t tự, an toàn xã ội”
tội gây rối tr t tự công ộ g
Tội gây rối trật tự được quy định tại Điều 318 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2017) quy định như sau:
“Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật
tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị
kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà cịn vi phạm, thì bị phạt tiền từ
5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm
hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.
Như vậy dấu hiệu hậu quả “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn
xã hội” là dấu hiệu định tội của Tội gây rối trật tự công cộng. Đây là dấu hiệu mới
của tội gây rối trật tự công cộng trong BLHS năm 2015 so với quy định về tội này
trong BLHS năm 1999. Vấn đề hiểu dấu hiệu “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật
tự, an tồn xã hội” như thế nào thì hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn về dấu này.
Trước đây, Tội gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 245 BLHS năm
1999 quy định: “Người nào gây rối trật tự công cộng gây hậu quả nghiêm trọng
hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa
được xoá án tích mà cịn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu
đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”
thì dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” được hướng dẫn tại Nghị quyết
02/2003/HĐTPTANDTC của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày
17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS như sau:
“Hành vi gây rối trật tự công cộng mà để hậu quả xảy ra thuộc một trong
các trường hợp sau đây bị coi là “gây hậu quả nghiêm trọng” và phải chịu trách
nhiệm hình sự:
a. Cản trở, ách tắc giao thông đến dưới 2 giờ;
b. Cản trở sự hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân;
c. Thiệt hại về tài sản có giá trị từ mười triệu đồng trở lên;
d. Chết người;
7
đ. Người khác bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ thương tật từ
31 % trở lên;
e. Nhiều người bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ thương tật
của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ
41% trở lên;
g. Người khác bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ thương tật từ
21% đến 30% và còn thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm triệu đồng trở lên;
h. Nhiều người bị thương tích hoặc bị tổn hại sức khoẻ với tỷ lệ thương tật
của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ
30% đến 40% và còn thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm triệu đồng trở lên.
Ngồi các hậu quả xảy ra về tính mạng, sức khoẻ và tài sản được hướng dẫn
trên đây, thực tiễn cho thấy có thể cịn có hậu quả phi vật chất như có ảnh hưởng
xấu đến việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, gây ảnh
hưởng xấu đến an ninh, ngoại giao, đến trật tự, an toàn xã hội…
Trong các trường hợp này phải tuỳ vào từng trường hợp cụ thể để đánh giá
mức độ của hậu quả do tội phạm gây ra có phải là nghiêm trọng hay khơng”.1
Như vậy, có thể thấy u cầu về hậu quả để cấu thành tội gây rối trật tự công
cộng giữa BLHS 1999 và BLHS 2015 đã có sự thay đổi từ “gây hậu quả nghiêm
trọng” thành “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an tồn, xã hội”. Điều đó cho
thấy, cấu thành cơ bản của tội gây rối trật tự công cộng theo khoản 1 Điều 318
BLHS năm 2015 có điểm khác so với khoản 1 Điều 245 BLHS năm 1999, có nghĩa
là theo BLHS năm 2015 chỉ cần hành vi gây rối trật tự công cộng “gây ảnh hưởng
xấu” là đã phạm tội chứ không nhất thiết phải là “gây hậu quả nghiêm trọng” như
quy định của BLHS năm 1999.
Tuy nhiên, hậu quả của việc gây rối trật tự công cộng “gây ảnh hưởng xấu đến
an ninh, trật tự, an toàn xã hội” theo quy định tại Điều 318 BLHS năm 2015 thì hiện
nay vẫn chưa có văn bản nào quy định hoặc hướng dẫn cụ thể mặc dù BLHS năm 2015
đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Điều này đã gây khó khăn cho các cơ quan
tiến hành tố tụng trong thực tiễn áp dụng pháp luật về Tội gây rối trật tự cơng cộng. Do
đó, trong thời gian chờ văn bản quy định, hướng dẫn áp dụng pháp luật thì các Cơ quan
tiến hành tố tụng khi áp dụng dấu hiệu “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội”
tại Điều 318 BLHS năm 2015 cần tham khảo dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng”
1
Tiểu mục 5.1 của Nghị quyết 02/2003/HĐTPTANDTC của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS.
8
theo hướng dẫn tại tiểu mục 5.1 của Nghị quyết 02/2003/HĐTPTANDTC của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số
quy định của BLHS để xử lý đối với những hành vi gây rối trật tự công cộng, bảo đảm
theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội.
Tuy nhiên, để bảo đảm tính nghiêm minh, thống nhất của pháp luật, Tịa án
nhân dân Tối cao cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về dấu hiệu định tội
“gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” của tội gây rối trật tự công
cộng (Điều 319 BLHS năm 2015) để giúp cho các Cơ quan tiến hành tố tụng khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội
phạm và làm oan người vô tội.
1.2. Thực tiễn áp dụng dấu hiệu hậu quả “gây ảnh hƣởng xấu ến an
ninh, trật tự, an toàn xã hội” c a tội gây rối trật tự cơng cộng
Hiện nay, trong q trình giải quyết các vụ án vẫn còn nhận định chung
chung về hậu quả “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”. Đặc
biệt, trong các bản án của các Tịa án có quan điểm khác nhau khi xét xử về dấu
hiệu này. Tác giả xin nêu một số vụ án điển hình sau:
Vụ án thứ nhất:
Bản án số 361/2019/HS-PT ngày 28/6/2019 của TAND cấp cao tại Thành
phố Hồ Chí Minh.
Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
“Khoảng 16 giờ ngày 22-4-2018, tại hẻm 237 T, Phường X1, uận Y, Thành
phố Hồ Chí Minh, Trần Thế T1 và Nguyễn Minh S mâu thuẫn với nhau trong việc
cá cược được thắng thua bằng hình thức đá gà, dẫn đến cự cãi và T1 đã bỏ về nhà.
Tại thời điểm trên, Lê Kim Long V (tự V mụn) điều khiển xe Honda SH biển số
59S2-194.84 đến hẻm 237 T thì gặp Lê uốc B và Phan Văn T1, T1 cho V biết T1
đã say rượu, qua đá gà rồi cãi nhau và thách thức đánh nhau với S. Nghe vậy, V
điện thoại cho T1 về việc tại sao đến hẻm nhà V quậy. T1 nói bị S c ng một số
người đuổi đánh. Sau đó, V kêu S điện thoại cho T1 để giảng hoà. S gọi điện thoại
cho T1 thì dẫn đến hai bên chửi nhau và thách thức đánh nhau. S định đi một mình
gặp T1 nhưng Huỳnh Hữu Thanh N1 (bạn của T1) không đồng ý và nói nên gọi điện
thoại kêu nhiều người c ng đi. Nghe N1 nói vậy, S và V gọi điện thoại cho Nguyễn
Anh V, Nguyễn Đăng H2, Phan Trọng N2, Đào Tấn H2, Hoàng Văn Q, Đào uốc
A, Đào Tuấn K và Bùi Anh T2 đến hẻm 237 đường T để đi đánh nhau với nhóm của
T1. Lúc này, Phạm Vũ Trường N (tự B) điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vision
9
biển số 66F-369.16 từ nhà số 79/116A T, Phường X, uận Y (nhà của chị Đặng
Ngọc Vi T3) đi công chuyện. Khi chạy xe ngang qua hẻm 237 T, N nhìn thấy nhóm
của S đang tập trung rất đơng. N dừng xe hỏi S có chuyện gì, S kể cho N nghe
chuyện mâu thuẫn với T1. N biết là nhóm S chuẩn bị đi đánh nhau, nên N cũng
muốn tham gia giúp S. N ngồi ở hẻm một lúc thì thấy có một người chạy xe gắn máy
chở theo một bao mã tấu, dao tự chế đến để dưới đất, những người có mặt đến lấy
hung khí và khẩu trang che mặt. Thấy vậy, N cũng lấy một con dao tự chế dài
khoảng 1,6m (bằng ống tuýp sắt tròn) và một khẩu trang đeo vào rồi bỏ xe của
mình lại hẻm 237 T, lên xe gắn máy của một thanh niên đeo khẩu trang (khơng biết
là ai) chạy theo nhóm của S ra đường Trường Sa. Khi đến chân cầu L, N xuống xe
cùng nhóm S chạy qua cầu xơng vào chém nhóm của T1. Nhóm của T1 bỏ chạy
được một đoạn thì Ngơ Giang Tuấn (nhóm của T1) quay lại lấy từ trong túi xách ra
một khẩu súng bắn trúng vào người của Huỳnh Hữu Thanh N1. Thấy vậy, N cùng
đồng phạm bỏ chạy, khi gần đến chân cầu L thì cả nhóm dừng lại và ném đá vào
nhóm bên kia. Sau đó, mọi người bỏ chạy, N lên xe của thanh niên (không rõ lai
lịch) ngồi sau cầm con dao tự chế chạy về hẻm 237 T. N xuống xe bỏ dao tự chế lại
chỗ để hung khí lúc đầu, lấy xe gắn máy chạy về nhà, rồi bỏ trốn. Đến ngày 23-42018, Huỳnh Hữu Thanh N1 tử vong tại bệnh viện.
Tại bản Kết u n giám định số 440-18/KLGĐ-PY ngày 15-5-2018 của Phịng Kỹ
thu t hình sự - Cơng an TP.Hồ Chí Minh kết u n giám định pháp y tử thi Huỳnh Hữu
Thanh N1, nguyên N chết: Do sốc mất máu không hồi phục bởi vết thương đạn bắn tại
v ng ngực trái sụn sườn 6-xuyên thủng cơ hoành, gan, dạ dày, tụy và động mạch chủ
bụng. Nhóm máu O. Trong máu của Huỳnh Hữu Thanh N1 khơng tìm thấy ma túy.
Ngày 04-5-2018, Cơ quan CSĐT - Cơng an TP. Hồ Chí Minh ra quyết định
khởi tố vụ án “Giết người”, “Gây rối trật tự công cộng”; quyết định khởi tố bị can
đối với Ngô Giang T3 về tội “Giết người”, Trần Thế T1, Nguyễn Đức T4, Nguyễn
Mạnh H3, Nguyễn Đỗ Hoàng N2, Lê Kim Long V, Nguyễn Minh S, Chien Gia P,
Nguyễn Quang V2, Nguyễn Anh V, Nguyễn Đăng H2, Phạm Vũ Trường N, Phan
Trọng N2, Đào Tấn H2, Hoàng Văn Q, Đào uốc A, Đào Tuấn K, Bùi Anh T2 về
tội “Gây rối trật tự cơng cộng”
Ngày 08-11-2018, Tịa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa vụ án
ra xét xử và tuyên phạt đối với các bị cáo Trần Thế T và Nguyễn Minh S mức án 04
năm t ; Nguyễn Đỗ Hoàng N2, Chien Gia P, Nguyễn Quang V2 với mức án 02 năm
06 tháng t ; Nguyễn Đức T4, Nguyễn Mạnh H3 với mức án 02 năm t ; Lê Kim
10
Long V với mức án 02 năm 06 tháng t cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05
năm (về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 408/2018/HSST ngày 0811-2018). Ngô Giang T3, Nguyễn Anh V, Nguyễn Đăng H2, Phan Trọng N2, Đào
Tấn H2, Hoàng Văn Q, Đào uốc A, Đào Tuấn K, Bùi Anh T2 và Phạm Vũ Trường
N bỏ trốn nên ngày 13-7-2018, Cơ quan CSĐT- Cơng an TP. Hồ Chí Minh ra quyết
định truy nã đối với các bị can trên. Ngày 12-10-2018, Phạm Vũ Trường N bị Công
an Phường 9, uận 3 bắt theo quyết định truy nã. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra,
Phạm Vũ Trường N đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng thu giữ: Đã được xử lý tại Bản án số 408/2018/HSST ngày 08-112018 của Tịa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Về dân sự: Gia đình nạn N
Huỳnh Hữu Thanh N1 có chị Huỳnh Thị Mộng T5 là đại diện yêu cầu bồi thường số
tiền 264.000.000 đồng;
Bản Cáo trạng số 32/CT-VKS-P2 ngày 16-01-2019, Viện kiểm sát Nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Vũ Trường N về tội “Gây rối trật
tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2017.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 44/2019/HS-ST ngày 06-3-2019 của Tòa án
Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định: Tuyên bố bị cáo: Phạm Vũ Trường
N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” .
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ
sung năm 2017; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ
sung năm 2017.
Xử phạt: Phạm Vũ Trường N 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn t tính từ ngày
12/10/2018. Ngồi ra bản án sơ thẩm cịn tun án phí và quyền kháng cáo theo
luật định.
Ngày 20-3-2019, bị cáo Phạm Vũ Trường N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt với lý do là mức án quá nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo.”2
Tại phần nhận định bản án nêu trên, bản án nhận định như sau: Hành vi phạm
tội của bị cáo Phạm Vũ Trường N là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến trật
tự công cộng, nếp sống văn minh, làm mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang
mang cho người dân địa phương. Bị cáo không làm chủ được bản thân, bị lôi kéo, rủ
rê sử dụng hung khí nguy hiểm để giải quyết mâu thuẫn, làm ảnh hưởng xấu đến tình
2
Bản án số 361/2019/HS-PT ngày 28/6/2019 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, https://congbobanan.
toaan.gov.vn/2ta337070t1cvn/chi-tiet-ban-an
11
hình trật tự trị an ở địa phương nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng
nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.
* Nhận xét, nh giá và vƣớng mắc ặt ra từ vụ án:
Tại phần nhận định của bản án, Hội đồng xét xử của Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng chỉ nhận định chung chung là hành vi của bị cáo
là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự cơng cộng, làm ảnh hưởng xấu
đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Mà khơng nhận định cụ thể làm ảnh
hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương là như thế nào.
Luật chỉ quy định dấu hiệu hậu quả của tội phạm là “gây ảnh hưởng xấu đến
an ninh, trật tự, an tồn xã hội” nhưng chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể thế nào về
mặt định lượng để có thể dễ dàng áp dụng trên thực tế. Trong vụ án này, bị cáo N đã
tham gia đánh nhau giữa hai nhóm trong đó có gây ra một người chết là N1. Đây là
dấu hiệu tương tự - dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” của tội gây rối trật tự công
cộng được hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2003/HĐTPTANDTC của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 17/4/2003 như đã nêu ở trên.
Vụ án thứ hai:
Bản án số 31/2020/HS-PT ngày 13/5/2020 của TAND tỉnh Bắc Ninh.
Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
“Chiều ngày 11/7/2019, Nguyễn Văn H cùng một số người bạn đến quán
karaoke Tr ở thơn M, xã L để hát. Q trình hát, nhóm của H có yêu cầu anh Vi
Văn Đ là quản lý của quán karaoke Tr gọi cho 2 nhân viên nữ để bấm bài và rót
bia. Anh Đ gọi điện cho chị Nguyễn Thị Huyền Tr và bảo chị Tr cho 02 nhân viên
bấm bài đến phục vụ khách. Sau đó, chị Tr bảo chị Đinh Thị Ngọc Á và chị Nguyễn
Ánh T đến quán karaoke Tr bấm bài và rót bia cho khách. Trong q trình hát, H
và chị Á, chị T có xảy ra mâu thuẫn về việc bấm bài và rót bia. Sau khi hát xong,
chị Á và chị T đi về trước cịn nhóm của H xuống thanh tốn thì H khơng đồng ý
thanh tốn tiền nhân viên bấm bài và rót bia cho chị Á, chị T. H yêu cầu anh Đ gọi
nhân viên bấm bài quay lại để nói chuyện. Anh Đ gọi điện cho chị Tr để bảo chị Tr
cùng nhân viên bấm bài đến nói chuyện. Khoảng 17 giờ 05 phút cùng ngày, chị Tr
và chị Á đi xe mô tô đến quán karaoke Tr. Thấy chị Tr và chị Á đi đến, H xông vào
dùng tay phải cầm chiếc dép da của H tát vào mặt và đầu chị Tr, chị Á và chửi chị
Tr, chị Á. Thấy vậy, mọi người lao vào can ngăn và đẩy H ra khỏi quán karaoke Tr.
Tuy nhiên, H tiếp tục cầm dép xông vào để đánh chị Tr và chị Á. Anh Đ đẩy H ra
ngồi đường khơng cho H đánh chị Tr và chị Á nữa thì bị H dùng dép đập vào sau
12
gáy. Bị đánh, anh Đ sợ hãi buông H ra thì H tiếp tục lao vào trong quán để đánh
chị Tr và chị Á nhưng bị mọi người can ngăn đẩy H ra ngoài đường. Lúc này chị Tr
đang cầm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 6 trên tay thì H đứng ngồi
đường cầm dép ném trúng tay làm chiếc điện thoại rơi xuống đất và vỡ màn hình. H
đứng ngồi đường chửi bới to tiếng làm người dân tụ tập đông người can ngăn, gây
ảnh hưởng việc cản trở đi lại của người dân. H tiếp tục lao vào quán karaoke Tr để
đánh chị Tr và chị Á nhưng bị mọi người can ngăn nên H chạy sang phía rìa đường
đối diện nhặt một chiếc gậy bằng gỗ dài khoảng 1,2m, hình hộp vng cầm ở tay
phải chạy về phía quán karaoke Tr để đánh chị Tr. Vừa chạy H vừa nói: “Hơm nay
bố đánh chết chúng mày”. Thấy vậy, mọi người xông vào can ngăn. Anh Nguyễn
Văn Kh xông vào giằng chiếc gậy từ tay H và ném sang bên kia đường. H vẫn đứng
ngoài đường, chửi bới to tiếng với chị Tr, chị Á. Đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng
ngày, sau khi nhận được tin báo, lực lượng Công an xã Long Châu và Công an
huyện Yên Phong xuống hiện trường và yêu cầu H cùng những người liên quan về
trụ sở Công an xã Long Châu để giải quyết những H không chấp hành mà vẫn đứng
ngoài đường chửi bới to tiếng. Hành vi H chửi bới, to tiếng ở ngoài đường giao
thông, gần khu vực chợ M đã làm tụ tập đơng người, gây ảnh hưởng đến tình hình
an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến sinh hoạt, buôn bán, đi lại giao
thơng bình thường của những người dân khu vực đường làng thôn M. Công an
huyện Yên Phong phải tăng cường lực lượng đến để ổn định tình hình, giải quyết vụ
việc. Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, sự việc mới được giải quyết.
Tại bản Kết luận định giá số 81/KL-ĐG ngày 18/9/2019 của Hội đồng định
giá trong tố tụng hình sự huyện Yên Phong kết luận: 01 chiếc điện thoại di động
nhãn hiệu iPhone 6 đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình, có giá trị phần thiệt hại tại
thời điểm xảy ra vụ việc là 500.000”.3
Tại phần nhận định bản án nêu trên nhận định: Hành vi của bị cáo đã gây mất
trật tự nơi cơng cộng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.
Do vậy, Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Gây rối trật tự
công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng,
gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần xử lý nghiêm
mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
3
Bản án số 31/2020/HS-PT ngày 13/5/2020 của TAND tỉnh Bắc Ninh, />2ta601811t1cvn/chi-tiet-ban-an
13
* Nhận xét, nh giá v vụ án:
- Trong vụ án này, tình tiết định tội “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự
xã hội” của tội gây rối trật tự cơng cộng được xác định bởi các tình tiết “... Hành vi
H chửi bới, to tiếng ở ngoài đường giao thông, gần khu vực chợ M đã làm tụ tập
đơng người, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng
đến sinh hoạt, bn bán, đi lại giao thơng bình thường của những người dân khu
vực đường làng thôn M. Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, sự việc mới được giải
quyết. ”. Như vậy, từ vụ án này cho thấy thực tiễn cũng việc cản trở giao thông
cũng là một trong các trường hợp của “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã
hội” của tội gây rối trật tự công cộng.
Vụ án thứ ba:
Bản án số 36/2020/HS-ST ngày 06/5/2020 của TAND thành phố Long
Xuyên, tỉnh An Giang.
Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
“Khoảng 00 giờ ngày 29 tháng 01 năm 2020, Cao Thị Cẩm Nh là nhân viên
quán S ở khóm 7, phường M L, thành phố L X đi ra hẻm phía sau quán Sam Club
chơi đánh bài cào được thắng thua bằng tiền với Phan Hoàng T và khoảng 10
thanh niên không rõ họ tên, địa chỉ. Nh và T khai mỗi ván bài có nhiều người tham
gia với tổng số tiền khoảng 2.000.000 đồng. Trong lúc đánh bài, T và Nh cự cãi dẫn
đến đánh nhau, T dùng tay đánh vào mặt, dùng chân đạp vào người và sử dụng
khẩu súng bắn đạn cao su bắn 01 phát vào tay phải của Nh. Nh bỏ chạy thì T tiếp
tục bắn thêm 02 phát nhưng khơng trúng. Sau đó, Nh được Nguyễn Thái B đưa đến
Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang cấp cứu, điều trị đến ngày 30 tháng 01
năm 2020 ra viện.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 đầu đạn cao su, 02 vỏ đạn. Ngày 29 tháng 01 năm
2020, Ủy ban nhân phường M L, thành phố L X, tỉnh An Giang có Cơng văn số 01
đề nghị xử lý đối tượng có hành vi gây rối trật tự công cộng vào ngày 29 tháng 01
năm 2020 tại khu vực khóm 7, phường M L, thành phố L X. Ngày 30 tháng 01 năm
2020, Nh có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 41/2020/TgT ngày 07 tháng 02
năm 2020 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, xác định:
Dấu hiệu chính qua giám định: Sẹo niêm mạc mơi dưới kích thước 03 x
1.5cm: 01%. Thương tích do vật tày tác động gây ra.
14
- Sẹo mặt sau 1/3 dưới cẳng tay phải kích thước 02x1.8cm, sẹo có dạng trịn,
bờ nham nhở, sẹo khuyết mất da, ở giữa chưa lành lộ mơ mỡ cịn rỉ dịch, rìa trịn
sậm đen, vận động bình thường: 07%. Thương tích do hỏa khí tầm kề gây ra.
- Bầm đ i trái khơng tồn tại: 00%. Thương tích do v t tày tác động gây ra.
Tỉ ệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 08%. Ngày 05
tháng 02 năm 2020, T bồi thường thiệt hại cho Nh với số tiền 60.000.000 đồng và
Nh có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự nên ngày 25 tháng 3 năm 2020 Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L X đã ra quyết định khơng khởi tố vụ
án hình sự.
Ngày 19 tháng 02 năm 2020, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
thành phố L X đầu thú. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L
X khám xét nơi ở của T tại số 28/21, tổ 3, khóm Tr A, phường M Th, thành phố L X
thu giữ 01 khẩu súng bằng kim loại màu trắng, bên trái thân súng có chữ
STREAMER-2014-RBD9, báng súng bằng nhựa màu nâu, có hộp tiếp đạn bên trong
có hai viên đạn để trong túi xách màu đen có dây kéo.
Kết luận giám định số 1661 ngày 06 tháng 3 năm 2020 của Phân viện khoa
học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, xác định:
- Khẩu súng ngắn hiệu “STREAMER 2014-RBD9: Cỡ nòng 9mm gửi giám
định là cơng cụ hỗ trợ, khơng phải vũ khí qn dụng, sử dụng bắn với loại đạn 9mm
x 22mm đến cơ thể người có thể gây thương tích. Tiến hành bắn thử nghiệm với
khẩu súng nêu trên kết quả đạn nổ;
- 02 viên đạn màu vàng, 02 vỏ đạn màu vàng và 01 viên hình cầu màu đen
gửi giám định thuộc loại cở 9mm x 22mm, sử dụng để bắn với khẩu súng nêu trên;
- 02 vỏ đạn màu vàng gửi giám định được bắn ra từ khẩu súng gửi giám định;
- Không đủ cơ sở để kết luận đầu đạn màu đen có phải do khẩu súng gửi
giám định bắn ra hay không.”4
* Tại phần nhận định của Bản án nhận định như sau:
Hành vi phạm tội của bị cáo T đã gây náo loạn tại khu đông dân cư trong
đêm khuya, làm mất trật tự, trị an tại địa phương, đe dọa xâm hại đến sức khỏe,
tính mạng và tài sản của người dân, ảnh hưởng xấu đến đời sống bình thường của
xã hội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến
sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần
4
Bán số 36/2020/HS-ST ngày 06/5/2020 của TAND thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, https://congbobanan.
toaan.gov.vn/2ta596803t1cvn/chi-tiet-ban-an
15
có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm đảm bảo mục đích
răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
* Nhận xét, nh giá và vấn
ặt ra từ vụ án:
- Trong vụ án này tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội”
của tội gây rối trật tự công cộng được xác định bởi các tình tiết “Hành vi phạm tội
của bị cáo T đã gây náo loạn tại khu đông dân cư trong đêm khuya, làm mất trật tự,
trị an tại địa phương, đe dọa xâm hại đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của người
dân, ảnh hưởng xấu đến đời sống bình thường của xã hội.”. Tác giả cho rằng trong
vụ án này vì việc T dùng súng bắn đạn cao su (công cụ hỗ trợ) bắn chị Nh gây tổn
thương cơ thể 8% và chị Nh có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự - để xác định
là “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội” của tội gây rối trật tự công cộng
để xử lý bị cao về tội này là có phần khiên cưỡng. Tác giả cho rằng trong vụ án này
dấu hiệu “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội” là chưa đảm bảo.
Vụ án này cũng đặt ra vấn đề cần phải hướng dẫn chi tiết, cụ thể dấu hiệu
“gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội” của tội gây rối trật tự công cộng để
phân biệt hành vi gây rối trật tự cơng cộng khi nào thì xử lý hình sự, khi nào thì xử
lý hành chính. Dấu hiệu “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội” có tính
định tính nên cần phải định lượng cao nhất có thể để đảm bảo phân biệt nêu trên,
đảm bảo yêu cầu của nguyên tắc pháp chế trong áp dụng pháp luật hình sự.
Vụ án thứ tƣ:
Bản án số 16/2020/HS-ST ngày 14/7/2020 của TAND huyện Gị Cơng Tây,
tỉnh Tiền Giang.
Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
“Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 02/3/2020, sau khi đã uống rượu say, bị cáo
Đỗ Thanh T điều khiển xe mô tô hiệu Air Blade biển số 63B5-381.07 chạy trên đường
uốc lộ 50 hướng từ thành phố Mỹ Tho về thị xã Gị Cơng. Khi gần đến ngã ba Đồng
Sơn thì xảy ra va chạm với xe ôtô tải biển số 65M-0714 do anh Lê Văn Đ điều khiển
đang chạy quay đầu xe (lúc này trên xe có vợ anh Đ là chị Huỳnh Thị P) làm bị cáo
té ngã xuống đường chảy máu càm, tay, chân. Anh Đ nhìn thấy bị cáo khơng bị gì và
anh Đ cho rằng do bị cáo điều khiển xe chạy nhanh thắng gấp, tự té ngã, nên anh Đ
tiếp tục điều khiển xe chạy về hướng thành phố Mỹ Tho. Khi thấy anh Đ không dừng
lại để giải quyết, bị cáo tức giận và điều khiển xe mô tô đuổi theo. Khi đến ngay chốt
đèn xanh đỏ ngã tư đường uốc lộ 50 - đường Nguyễn Văn Cơn - đường Giếng nước
thuộc ấp Bình Hịa Đơng, xã Bình Nhì, huyện Gị Cơng Tây, tỉnh Tiền Giang thì bị
16
cáo điều khiển xe mô tô vượt lên rồi chặn ngang đầu xe tô tải của anh Đ. Bị cáo chửi
anh Đ, do kính cửa xe đang mở, bị cáo xơng vào dùng tay đánh anh Đ, tiếp đó bị cáo
đi vào nhà bà Trần Thị Huỳnh M lấy một con dao dài 28cm, đi ra đâm anh Đ nhiều
cái, anh Đ né tránh và dùng tay đỡ làm rớt cái dao trong ca bin xe. Sau đó bị cáo tiếp
tục chửi thề, la lối gây mất trật tự công cộng. Tiếp đến bị cáo lấy bình xịt hơi cay
đang để trên baga xe mô tô hai bánh biển số 63B5- 451.65 của Thái Nhật T (bạn của
bị cáo) xịt vào mặt anh Đ và chị P, sau khi xịt xong thì bị cáo ném bỏ vào hàng rào
trước cửa Điện lực huyện Gị Cơng Tây. Lúc này có một số người bạn của bị cáo đến
can ngăn và yêu cầu anh Đ điều khiển xe đến đầu đường Giếng nước - uốc lộ 50 để
giải quyết. Tại đây bị cáo tiếp tục chửi thề, mở cửa xe ô tô dùng tay đánh, lôi kéo anh
Đ xuống xe, nhưng anh Đ khơng xuống. Lúc này có lực lượng Cơng an thị trấn Vĩnh
Bình đến giải quyết, bị cáo tiếp tục đi lịng vịng xe ơ tơ tải 65M-0714 chửi thề, la lối
gây mất trật tự. Sau đó, Đỗ Thị Cẩm T (T bánh mì) là chị ruột của bị cáo đến (do anh
Huỳnh Lâm B là bạn của bị cáo điện thoại). Khi đến T ngăn cản không cho bị cáo
đánh anh Đ, nhưng đến khi T thấy bị cáo bị chảy máu, nên T tức giận xông lại cabin
đưa tay đánh trúng nhẹ vào anh Đ thì được lực lượng Công an can ngăn. Lúc này bị
cáo tiếp tục đi lòng vòng trên đường chửi bới, đến khoảng 18 giờ thì anh B chở bị
cáo đến Trung tâm y tế huyện Gị Cơng Tây điều trị vết thương. Bị cáo có hành vi
đánh, chém, xịt hơi cay vào người anh Đ và chị P, nhưng 02 người không ai bị
thương tích gì. Bị cáo đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 27/4/2020, Cơ quan
cảnh sát điều tra ra uyết định truy nã bị can số 722, đến ngày 04/5/2020 bị cáo ra
đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam đến ngày đưa vụ án ra xét xử. Trong quá trình điều
tra bị cáo thừa nhận về hành vi phạm tội của mình”.5
* Tại phần nhận định bản án nêu trên nhận định:
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi
dùng dao để đâm và dùng bình xịt hơi cay xịt vào người tham gia giao thông, mặc
dù hậu quả xảy ra khơng gây thương tích gì cho họ nhưng hành vi của bị cáo đã
xâm phạm đến an toàn giao thông công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự chung.
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gị Cơng Tây đã truy tố bị cáo về tội danh
“Gây rối trật tự cơng cộng” với tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự là đủ căn cứ, đúng người thực hiện hành vi phạm
tội và đúng pháp luật.
5
Bản án số 16/2020/HS-ST ngày 14/7/2020 của TAND huyện Gị Cơng Tây, tỉnh Tiền Giang, https://congbobanan.
toaan.gov.vn/2ta567294t1cvn/chi-tiet-ban-an
17
* Nhận xét, nh giá và vấn
ặt ra từ vụ án:
Cũng như vụ án thứ ba, vụ án này cũng đặt ra vấn đề là các tình tiết của vụ án
có đủ gây ra hậu quả “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội” của tội gây rối
trật tự công cộng hay không. Theo quan điểm của tác giả, hành vi của bị cáo T trong
vụ án này chỉ cần xử lý hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng là đủ sức để
răn đe. Vụ án này cũng đặt ra vấn đề cần phải hướng dẫn chi tiết, cụ thể dấu hiệu
“gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội” của tội gây rối trật tự công cộng để
phân biệt hành vi gây rối trật tự cơng cộng khi nào thì xử lý hình sự, khi nào thì xử
lý hành chính.
Vụ án thứ năm:
Bản án số 70/2020/HS-ST ngày 13/5/2020 của TAND thành phố Thủ Dầu
Một, tỉnh Bình Dương.
Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
“Khoảng 08 giờ ngày 27/8/2019, Lê Thị Kiều L mặc đồ tang ễ (quần, áo v
khăn trắng) đến trụ sở Ban tiếp công dân tỉnh B (Ban tiếp cơng dân), thuộc Văn
phịng Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh B. Tại đây, L đứng phía trước cổng chính của
trụ sở Ban tiếp cơng dân và có h nh vi la hét, dùng những ời nói ăng mạ cán bộ tiếp
dân, ực ượng Công an, v.v...Đồng thời, L đi ra lòng đường Cách Mạng Tháng Tám
la hét để nhằm thu hút sự chú ý của những người tham gia giao thơng v người dân
có mặt xung quanh gần trụ sở Ban tiếp cơng dân. Mặc dù, sau đó L đã được những
cán bộ có mặt tại trụ sở Ban tiếp công dân nhắc nhở, đề nghị chấm dứt h nh vi gây
rối của mình nhưng L khơng chấp h nh m cịn xơng tới gần cổng chính của trụ sở
Ban tiếp công dân, dùng hai tay xô đẩy cổng chính, m cổng chính ngã đổ xuống nền
đất. Nh n được tin báo của quần chúng nhân dân về vụ việc trên nên vào lúc 09 giờ
00 phút ngày 27/8/2019, Công an phường Chánh Nghĩa đến hiện trường và p biên
bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Thị Kiều L về h nh vi gây rối tr t tự công
cộng. Cùng ng y 27/8/2019, ông Nguyễn Ho ng T đại diện Ban tiếp công dân đã
giao nộp 01 thẻ nhớ (USB) ghi ại hình ảnh của Lê Thị Kiều L thực hiện h nh vi gây
rối, phá phách tại trụ sở Ban tiếp công dân cho Cơng an phường Chánh Nghĩa. Sau
đó, Cơng an phường Chánh Nghĩa chuyển to n bộ hồ sơ vụ việc v đối tượng Lê Thị
Kiều L cùng 01 thẻ nhớ (USB) đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an th nh phố
Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 27/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu
Một đã tiến hành khám nghiệm hiện trường tại Trụ sở Ban tiếp công dân, ghi nhận:
18
Phía trước cổng ra vào trụ sở có 01 cửa xếp nằm cách hai cột cổng đầu bên trái 0,6
mét, đầu bên phải 0,5 mét. Cửa xếp có kích thước (7,2 x 0,57 x 2,4) mét nằm dọc
dưới sân trụ sở, đầu cửa xếp hướng vào trong cửa chính trụ sở, cách bậc tam cấp
lên cửa chính trụ sở 4,2 mét. Tại hiện trường cịn phát hiện 01 (một) bó dây điện
nằm ở cuối cửa xếp đã bị đứt hoàn toàn, dây diện được luồn nằm giữa khung sắt
xếp chéo ở phần dưới cửa xếp có kích thước đường kính 01 cm, chiều dài 7,3 mét.
Phía bên phải cổng chính, phía sau trụ cổng cách trụ cổng 0,6 mét có 01 bó dây
diện, một đầu được bỏ vào ống nhựa phi 27 cắm thẳng xuống đất, một đầu bó dây
điện đưa lên khỏi mặt đất cách 0,21 mét và bị đứt hoàn toàn.
Ngày 28/8/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một
ra uyết định trưng cầu giám định số 531, trưng cầu giám định đoạn camera và trích
xuất thành bản ảnh diễn biến vụ gây rối trật tự công cộng do Lê Thị Kiều L Thực hiện.
Ngày 22/9/2019, Phịng Kỹ thuật hình sự, Cơng an tỉnh Bình Dương có Biên bản trích
xuất dữ liệu hình ảnh số 163/BBGĐ-PC09. Đối với thiệt hại từ hành vi Lê Thị Kiều L
phá phách xơ đổ cổng chính trụ sở Ban tiếp công dân, ngày 20/11/2019 Cơ quan Cảnh
sát điều tra, Công an 3 thành phố Thủ Dầu Một đã có yêu cầu định giá tài sản số 81,
yêu cầu định giá chi phí kiểm tra, sữa chữa cổng. Ngày 20/11/2019 Hội đồng định giá
tài sản, Ủy ban nhân dân thành phố Thủ Dầu Một có Kết luận số 350/KLTS, kết luận:
Chi phí kiểm tra, sửa chữa dây điện của cổng trụ sở Ban tiếp công dân là 300.000
đồng. Hiện nay, Ban tiếp cơng dân và gia đình Lê Thị Kiều L đã thương lượng, thỏa
thuận giải quyết nên Ban tiếp cơng dân khơng có u cầu gì khác đối với L. Ngồi ra,
q trình điều tra cịn xác định được ngoài hành vi phạm tội gây rối trật tự công cộng
vào ngày 27/8/2019 tại trụ sở Ban tiếp cơng dân nêu trên thì trước đó Lê Thị Kiều L
thường xuyên đến trụ sở Ban tiếp công dân để khiếu nại uyết định số 3319/ ĐUBND ngày 07/7/2014 của Chủ tịch UBND thị xã Dĩ An về việc giải quyết đơn khiếu
nại của Lê Thị Kiều L về áp giá đền bù đất, chính sách tái định cư và yêu cầu Hội đồng
bồi thường giải phóng mặt bằng dự án xây dựng Đại học uốc gia Thành phố Hồ Chí
Minh hỗ trợ thêm tiền bồi thường diện tích 8.124 m2 đất nông nghiệp; cấp thêm 01
suất đất tái định cư và kiến nghị một số vấn đề có liên quan đến việc triển khai thực
hiện dự án nâng cấp, mở rộng đường Đặng Văn Mây, địa chỉ tại khu phố Đông Chiêu,
phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Đối với hành vi khiếu nại
uyết định số 3319/ Đ-UBND ngày 07/7/2014 của Chủ tịch UBND thị xã Dĩ An và
yêu cầu Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng dự án xây dựng đại học uốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ thêm tiền bồi thường diện tích 8.124 m2 đất nơng
19
nghiệp và cấp thêm 01 suất đất tái định cư của Lê Thị Kiều L, ngày 15/7/2016 Chủ tịch
UBND tỉnh Bình Dương đã có uyết định về việc giải quyết đơn khiếu nại khiếu nại
(lần hai) số 1836/ Đ-UBND với nội dung: Bác đơn khiếu nại của Lê Thị Kiều L. Đối
với kiến nghị một số vấn đề có liên quan đến việc triển khai thực hiện Dự án nâng cấp,
mở rộng đường Đặng Văn Mây, ngày 25/01/2018 Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương đã
có Văn bản số 360/UBND-BTCD u cầu Chủ tịch UBND thị xã Dĩ An kiểm tra, rà
soát, giải quyết trả lời và hướng dẫn Lê Thị Kiều L thực hiện quyền khiếu nại, khởi
kiện theo trình tự quy định của pháp luật. Sau đó UBND thị xã Dĩ An đã trả lời, hướng
dẫn cho Lê Thị Kiều L và ngày 03/01/2019 tổ chức đối thoại, giải thích cho L nắm rõ
quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo nhưng L không thực hiện theo hướng dẫn mà
thường xuyên đến trụ sở Ban tiếp công dân thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng,
làm mất an ninh, trật tự tại các buổi tiếp công dân định kỳ. Ngày 25/6/2018, Công an
phường Chánh Nghĩa đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 200.000
đồng đối với Lê Thị Kiều L theo quyết định số 89/ Đ-XPVPHC về hành vi “gây mất
trật tự tại trụ sở cơ quan” được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 5 của Nghị định
167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự; an tồn xã hội; phịng chống tệ nạn xã hội;
phịng cháy và chữa cháy; phịng chống bạo lực gia đình. 4 Sau khi bị xử phạt vi phạm
hành chính thì Lê Thị Kiều L không chấp hành quyết định xử phạt và tiếp tục nhiều lần
đến trụ sở Ban tiếp công dân để la hét, chửi bới. Đến ngày 19/6/2019, UBND tỉnh Bình
Dương đã có Thơng báo số 117/TB-UBND về việc từ chối tiếp cơng dân, theo đó Chủ
tịch UBND tỉnh Bình Dương đã từ chối tiếp nội dung khiếu nại, tố cáo của Lê Thị Kiều
L. Lê Thị Kiều L đã nhận được thông báo về việc từ chối tiếp công dân nhưng không
đồng ý với thông báo này và vẫn tiếp tục nhiều lần đến trụ sở Ban tiếp cơng dân để
khiếu nại, đồng thời có những hành vi gây rối trật tự công cộng.”6
* Tại phần nhận định bản án nêu trên nhận định: Vào khoảng thời gian từ 08
đến 09 giờ 00 phút ngày 27/8/2019, trong lúc Ban tiếp cơng dân tỉnh B, thuộc Văn
phịng UBND tỉnh B đang làm việc, bị cáo Lê Thị Kiều L đã có hành vi đứng trước
cổng chính của Trụ sở Ban tiếp cơng dân la hét, dùng những lời nói lăng mạ cán bộ
tiếp dân và lực lượng Công an; đồng thời bị cáo đi ra lòng đường Cách Mạng
Tháng Tám la hét nhằm thu hút sự chú ý của những người tham gia giao thơng và
người dân có mặt gần trụ sở Ban tiếp cơng dân. Sau đó bị cáo có hành vi phá
6
Bản án số 70/2020/HS-ST ngày 13/5/2020 của TAND thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương,
/>
20
phách, dùng hai tay xơ đẩy cổng chính của Trụ sở Ban tiếp công dân ngã đổ xuống
nền đất. Hành vi của bị cáo Lê Thị Kiều L gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an
ninh, trật tự, an tồn xã hội tại địa phương. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đủ
yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự cơng cộng” với tình tiết định khung là “có
hành vi phá phách” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.
* Nhận xét, nh giá và vấn
ặt ra từ vụ án:
Trong vụ án này, cơ sở để xử lý hình sự đối với bị cáo L là có hành vi gây rối
trật tự cơng cộng “gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội
tại địa phương”. Tuy nhiên, việc đánh giá thế nào là “gây ảnh hưởng xấu đến tình
hình an ninh, trật tự, an tồn xã hội tại địa phương” còn chưa được cụ thể và chi tiết,
mang tính chất chủ quan của người áp dụng pháp luật.
Như vậy, các vụ án tác giả nêu trên các bị cáo đều bị truy tố, xét xử về Tội gây
rối trật tự công cộng theo Điều 318 BLHS năm 2015 với dấu hiệu hậu quả là “gây
ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an tồn xã hội tại địa phương”. Tuy
nhiên, Tịa án các địa phương đều nhận định các bị cáo “gây ảnh hưởng xấu đến tình
hình an ninh, trật tự, an tồn xã hội tại địa phương” nhưng không nêu cụ thể hậu quả
gây ảnh hưởng xấu là như thế nào dẫn đến áp dụng mang tính chủ quan của người áp
dụng và có thể dẫn đến việc tùy tiện trong việc áp dụng, vi phạm nguyên tắc pháp
chế. Vì vậy, theo tác giả cần có văn bản hướng dẫn cụ thể và chi tiết về dấu hiệu định
tội “gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an tồn xã hội tại địa phương”
của tội gây rối trật tự công cộng theo quy định tại Điều 318 BLHS năm 2015.
1.3. Giải pháp nhằm xác ịnh úng hậu quả “gây ảnh hƣởng xấu ến an
ninh, trật tự, an toàn xã hội” c a tội gây rối trật tự công cộng
Từ các vướng mắc của các vụ án mà tác giả đã phân tích tại Mục 1.2 của
Luận văn cho thấy cần có văn bản hướng dẫn cụ thể và chi tiết về dấu hiệu định tội
“gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an tồn xã hội” của tội gây rối
trật tự công cộng theo quy định tại Điều 318 BLHS năm 2015.
Nguyên nhân của các các vướng mắc nêu tại Mục 1.2 của Luận văn về dấu
hiệu định tội “gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội” của
tội gây rối trật tự công cộng xuất phát từ các nguyên nhân sau:
- Thứ nhất, dấu hiệu định tội “gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự,
an tồn xã hội” của tội gây rối trật tự công cộng (Điều 318 BLHS năm 2015) là một
dấu hiệu mới thay thế cho dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” của tội gây rối trật tự