Tải bản đầy đủ (.pdf) (134 trang)

Biện pháp khẩn cấp tạm thiwuf cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (28.14 MB, 134 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ PHƢƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
ĐỊNH HƢỚNG ỨNG DỤNG

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Định hƣớng ứng dụng
Mã số chuyên ngành: 8380103

Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Thanh Hoa
Học viên: Nguyễn Thị Phƣơng
Lớp: Cao học luật, Bình Thuận, Khóa 2

TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn “Biện pháp khẩn cấp tạm thời – Cấm thay đổi hiện
trạng tài sản đang tranh chấp” là kết quả quá trình tự nghiên cứu của riêng tôi,
dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đặng Thanh Hoa, không sao chép kết quả
của bất kỳ luận văn nào trước đó. Nội dung luận văn có tham khảo các tài liệu,


thơng tin, bản án theo danh mục tài liệu tham khảo thể hiện trong luận văn. Tơi xin
chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Học viên

Nguyễn Thị Phƣơng


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt

Chữ được viết tắt

1

BLDS

Bộ luật Dân sự

2

BLTTDS

Bộ luật Tố tụng dân sự

3

BPBĐ

Biện pháp bảo đảm


4

BPKCTT

Biện pháp khẩn cấp tạm thời

5

GCNQSD

Giấy chứng nhận quyền sử dụng

6

HĐCNQSD

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng

7

HĐXX

Hội đồng xét xử

8

Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP ngày
Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP 24/9/2020 của Hội đồng Thẩm phán
TANDTC


9

TAND

Tòa án nhân dân

10

TANDTC

Tòa án nhân dân tối cao

11

UBND

Ủy ban nhân dân


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1. ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CẤM THAY ĐỔI HIỆN
TRẠNG TÀI SẢN ĐANG TRANH CHẤP............................................................. 7
1.1. Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh khi có yêu cầu áp dụng biện
pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp .....................................8
1.2. Trách nhiệm dự kiến và tạm tính tổn thất hoặc thiệt hại thực tế có thể
xảy ra để thực hiện biện pháp bảo đảm ............................................................15
1.3. Xác định ngân hàng để ngƣời yêu cầu áp dụng biện pháp cấm thay đổi
hiện trạng tài sản đang tranh chấp gửi tài sản bảo đảm .................................21

Kết luận Chƣơng 1 .................................................................................................. 27
CHƢƠNG 2. THỦ TỤC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CẤM THAY ĐỔI HIỆN
TRẠNG TÀI SẢN ĐANG TRANH CHẤP........................................................... 28
2.1. Xác định chủ thể bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm thay đổi
hiện trạng tài sản đang tranh chấp....................................................................28
2.2. Thời hạn sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.....................................33
2.3. Giải quyết việc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm thay đổi hiện
trạng tài sản đang tranh chấp tại bản án sơ thẩm ...........................................37
Kết luận Chƣơng 2 .................................................................................................. 44
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
BPKCTT nói chung, biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh
chấp nói riêng ra đời nhằm tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo
vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo tồn tình
trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải
quyết vụ án hoặc việc thi hành án. Thực tiễn áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện
trạng tài sản đang tranh chấp trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cho
thấy số lượng đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT của đương sự được Tòa án ra quyết
định áp dụng có tỷ lệ thấp, nguyên nhân là do thực tiễn áp dụng pháp luật cịn nhiều
khó khăn, vướng mắc.
Quy định của luật về BPKCTT hiện nay còn chung chung, nhiều vấn đề
chưa được hướng dẫn cách thức thực hiện, điều kiện và thủ tục để Tòa án ban
hành quyết định áp dụng BPKCTT nói chung, biện pháp cấm thay đổi hiện trạng

tài sản đang tranh chấp nói riêng chưa được quy định chặt chẽ. Trong đó, vấn đề
về xác định chủ thể bị áp dụng BPKCTT; điều kiện áp dụng trong đó có điều kiện
về nghĩa vụ thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh sự cần thiết của
việc áp dụng BPKCTT; về việc dự kiến và tạm tính thiệt hại có thể xảy ra, tạm
tính giá trị tài sản bị áp dụng BPKCTT, hủy bỏ BPKCTT tại bản án hay vấn đề về
việc gửi tài sản bảo đảm vào tài khoản phong tỏa của ngân hàng trên thực tiễn còn
nhiều hạn chế, vướng mắc nên phát sinh nhiều cách hiểu và quan điểm giải quyết
khác nhau.
Với điều kiện phát triển của kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay, các quan
hệ về dân sự diễn ra ngày càng nhiều và phức tạp, đặc biệt là các tranh chấp liên
quan đến tài sản, do có sự xung đột về lợi ích nên một hoặc các bên đương sự
thường tìm cách tẩu tán tài sản, hủy hoại chứng cứ, làm thay đổi hiện trạng tài sản
đang tranh chấp. Do đó, để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án thì đương sự trong
vụ án có u cầu Tịa án áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang
tranh chấp theo khoản 8 Điều 114 và Điều 122 BLTTDS năm 2015 nhằm bảo vệ
chứng cứ, bảo tồn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại khơng thể khắc phục
được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án thì BLTTDS năm
2015 và các văn bản hướng dẫn cũng vì vậy cần được hồn thiện để hướng đến


2
việc áp dụng đúng pháp luật thống nhất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự, thuận lợi cho Tòa án trong giải quyết vụ án dân sự.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, học viên đã chọn “Biện pháp khẩn cấp
tạm thời – Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp” làm đề tài nghiên
cứu cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
BPKCTT là một trong những vấn đề được nhiều tác giả nghiên cứu, tìm hiểu
ở các góc độ khác nhau, nhưng hầu hết các tác giả mới chỉ nghiên cứu các vấn đề
chung của BPKCTT về lý luận và thực tiễn mà chưa có một cơng trình khoa học

nào nghiên cứu về BPKCTT cụ thể, trong đó có biện pháp cấm thay đổi hiện trạng
tài sản đang tranh chấp. Thơng qua q trình nghiên cứu và tìm hiểu đề tài luận văn,
học viên nhận thấy có các cơng trình nghiên cứu như sau:
2.1. Giáo trình, sách chuyên khảo
(1) Giáo trình Luật tố tụng dân sự (2018), Tịa án nhân dân tối cao, Học viện
tòa án, NXB. Đại học quốc gia Hà Nội.
(2) Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam (2019), Trường Đại học Viện
kiểm sát Hà Nội, NXB. Chính trị quốc gia sự thật.
(3) Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam (2018), Trường Đại học Luật
Tp. Hồ Chí Minh, NXB. Hồng Đức.
(4) Đặng Thanh Hoa (2020), Pháp luật tố tụng dân sự tình huống và phân
tích phần thủ tục giải quyết vụ án dân sự, NXB. Hồng Đức.
2.2. Luận án, luận văn
(1) Trần Phương Thảo (2012), “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng
dân sự Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội.
(2) Nguyễn Văn Hải (2016), “Biện pháp khẩn cấp tạm thời tiền tố tụng theo
pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
(3) Nguyễn Trọng Bình (2018), “Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong
tố tụng dân sự và thực tiễn tại các Tòa án nhân dân ở tỉnh Sơn La”, Luận văn Thạc
sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội.


3
(4) Nguyễn Thị Hoa (2020), “Buộc thực hiện biện pháp bảo đảm trong quá trình
giải quyết vụ án dân sự”, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
2.3. Bài viết trên các Tạp chí
(1) Thái Chí Bình (2020), “Khó khăn, vướng mắc qua việc áp dụng một vài
biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Tố tụng dân sự và kiến nghị hồn thiện”, Tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp số 12/2020.
(2) Nguyễn Thị Thu Thủy, Lê Hải An (2017), “Về điều kiện áp dụng biện

pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng dân sự”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật,
số 08/2017.
(3) Dương Tấn Thanh (2019), “Bàn về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời khi vụ án đang tạm đình chỉ”, Tạp chí kiếm sát số 02/2019.
(4) Bích Phượng, Hồng Ngọc (2019), “Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
trong quá trình giải quyết vụ án dân sự”,Tạp chí tịa án điện tử.
(5) Nguyễn Trần Bảo Uyên (2020), “Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
trong phần quyết định của bản án sơ thẩm”, Tạp chí tịa án điện tử.
(6) Dương Tấn Thanh (2020), “Biện pháp khẩn cấp tạm thời trong tố tụng
dân sự và vướng mắc trong thực tiễn”, Tạp chí Tịa án điện tử.
Nhiều cơng trình trên đây đã nêu lên được sự ra đời, phát triển và những khó
khăn, vướng mắc của BPKCTT và có nhiều kiến nghị có tính khả thi cho việc sửa
đổi và hoàn thiện pháp luật nhưng chỉ dừng lại ở khía cạnh về lý luận và thực tiễn
về thủ tục chung hoặc khía cạnh nhỏ nhằm nêu lên những hạn chế, vướng mắc. Đến
nay vẫn chưa có một cơng trình khoa học hay bài viết nào chun sâu phân tích,
đánh giá về điều kiện và thủ tục áp dụng và các vấn đề khác liên quan đến biện pháp
cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.
Việc lựa chọn đề tài “Biện pháp khẩn cấp tạm thời – Cấm thay đổi hiện trạng
tài sản đang tranh chấp” trên cơ sở kế thừa kinh nghiệm của các cơng trình khoa
học, bài viết trước đây, nhưng đây là đề tài nghiên cứu theo hướng ứng dụng nhằm
kiến nghị hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật, xuất phát từ thực tiễn áp dụng
BPKCTT nói chung và biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp
nói chung nhiều năm qua của BLTTDS hiện hành của Việt Nam và thực tiễn giải
quyết của Tòa án các địa phương.


4
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu khái qt quy định pháp luật tố tụng dân sự về BPKCTT, từ đó làm

sáng tỏ các quy định cụ thể về biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh
chấp. Tìm hiểu thực tiễn xét xử tại Tịa án có những khó khăn, vướng mắc khi vận
dụng quy định pháp luật đối với biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang
tranh chấp. Đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm
quyền lợi cho đương sự trong vụ án.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp, phân tích, luận giải và đánh giá tổng quan quy định pháp luật về
BPKCTT;
- Tìm ra những khó khăn, bất cập khi áp dụng quy định pháp luật về biện
pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp trong q trình giải quyết vụ
án dân sự tại Tịa án;
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về BPKCTT và đối với biện
pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, các quy định của BLTTDS
năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành về BPKCTT đối với biện pháp cấm
thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp được quy định tại Chương VIII BLTTDS
trong giải quyết vụ án dân sự tại Tịa án, phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật thơng
qua các bản án, quyết định của Tịa án, đánh giá tính hiệu quả trong áp dụng pháp
luật của biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp trong giải quyết
vụ án dân sự, từ đó phát hiện những hạn chế, vướng mắc khi áp dụng luật vào thực
tiễn giải quyết các vụ án dân sự tại Tịa án và đề xuất hồn thiện pháp luật.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của luận văn, học viên kết hợp nghiên cứu các quy định của
luật và nghiên cứu những vướng mắc phát sinh trong áp dụng các quy định về điều
kiện và thủ tục áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp


5

theo quy định tại khoản 8 Điều 114 và Điều 122 BLTTDS năm 2015 trong thực tiễn
giải quyết các vụ án dân sự tại Tịa án cấp sơ thẩm, thơng qua việc phân tích các tình
tiết, nội dung quy định của pháp luật hiện hành, bản án, quyết định của Tồ án trong
nhiều vụ án, giữa các Tịa án khác nhau, với một vấn đề nhưng có nhiều cách hiểu, có
nhiều quan điểm giải quyết khác nhau, đồng thời cũng đưa ra nhìn nhận chung về
việc áp dụng pháp luật về BPKCTT, nhưng không đơn thuần bị hạn chế trong khuôn
khổ biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, mà từ đó có cách nhận
thức tổng thể đối với BPKCTT được quy định tại BLTTDS hiện hành.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được học viên sử dụng trong luận văn gồm phương
pháp phân tích được học viên sử dụng xuyên suốt luận văn nhằm phân tích các quy
định của pháp luật về điều kiện và thủ tục áp dụng BPKCTT. Đồng thời, học viên
cũng vận dụng để phân tích những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng pháp luật để
từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Phương pháp so sánh được học viên áp dụng tại mục 1.1, 2.3 để so sánh,
đánh giá tồn diện nhằm phân tích ưu điểm và hạn chế của các quy định pháp luật
hiện hành, để nhận định về thực tiễn áp dụng pháp luật vào quá trình giải quyết án.
Phương pháp bình luận được sử dụng để phân tích các bản án, quyết định của
Tịa án trong khi giải quyết, từ đó học viên thấy được bất cập, chưa thống nhất trong
nhận thức về điều kiện và thủ tục áp dụng BPKCTT.
Sau cùng, học viên sử dụng phương pháp tổng hợp để giúp người đọc dễ
dàng nắm bắt được các vấn đề mà học viên trình bày, hơn nữa là để đưa ra những
kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về BPKCTT nói chung và biện pháp
cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp nói riêng.
6. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài trong thực tiễn
6.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề cịn bất cập, vướng mắc về
nhận thức pháp luật của người có thẩm quyền (Thẩm phán, HĐXX) và đương sự
đối với việc áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp như
nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh sự cần thiết phải áp dụng BPKCTT

thuộc về đương sự hay Tòa án, việc dự kiến và tạm tính thiệt hại có thể xảy ra hay


6
việc thực hiện BPBĐ tại ngân hàng hoặc hủy bỏ BPKCTT trong bản án sơ thẩm...
nhằm mục đích quyết định áp dụng BPKCTT của Tòa án được ban hành đúng đắn,
bảo vệ quyền lợi của các bên đương sự hoặc người thứ ba. Từ đó, đề xuất những
giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về BPKCTT.
6.2. Giá trị của đề tài ứng dụng
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký, Luật sư, các tổ chức,
cá nhân có nhu cầu nghiên cứu có thể tham khảo và vận dụng trong quá trình giải
quyết, bảo vệ quyền lợi cho đương sự, khách hàng và bản thân khi tham gia tố tụng
trong vụ án và có u cầu Tịa án áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản
đang tranh chấp.
Tuy nhiên, do nhận thức của học viên về quy định của luật còn hạn hẹp, nên
chắc chắn khơng tránh khỏi nhiều thiếu sót, hạn chế trong lập luận, diễn giải. Vì
vậy, học viên rất mong được đón nhận sự đóng góp, sự chỉ dạy của Quý Thầy, Cơ
để luận văn này được hồn thiện hơn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận từng chương và kết luận chung cũng như danh
mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm hai chương cụ thể như sau:
Chương 1. Điều kiện áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản
đang tranh chấp.
Chương 2. Thủ tục áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang
tranh chấp.


7
CHƢƠNG 1
ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CẤM THAY ĐỔI HIỆN TRẠNG

TÀI SẢN ĐANG TRANH CHẤP
Khoản 1 Điều 111 BLTTDS năm 2015 quy định trong quá trình giải quyết vụ
án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân
khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 của BLTTDS có quyền yêu cầu Tịa án đang
giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều BPKCTT quy định tại Điều 114 của
BLTTDS để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng,
sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo vệ tình trạng hiện có
tránh gây thiệt hại khơng thể khắc phục được, bảo đảm cho việc giải quyết vụ án
hoặc việc thi hành án.
Tuy nhiên, việc áp dụng BPKCTT nói chung và đối với biện pháp cấm thay
đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp nói riêng có thể gây thiệt hại đến quyền, lợi
ích hợp pháp của người bị áp dụng. Do đó, để đảm bảo việc áp dụng BPKCTT đúng
đắn, Thẩm phán hoặc HĐXX cần phải xem xét thận trọng, đúng đắn và đầy đủ các
điều kiện để xem xét áp dụng yêu cầu BPKCTT của đương sự.
Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp là một trong những biện
pháp được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người
đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây
dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó. Do đó, đối với
biện pháp này bên cạnh việc xác định quyền yêu cầu của các chủ thể, pháp luật tố
tụng dân sự còn đặt ra các điều kiện khi yêu cầu áp dụng để xem xét và áp dụng
đúng đắn yêu cầu của đương sự, ngăn ngừa sự lạm dụng quyền yêu cầu áp dụng
BPKCTT từ phía người yêu cầu với các điều kiện về: cung cấp tài liệu, chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu áp dụng BPKCTT là cần thiết; dự kiến và tạm tính thiệt hại
thực tế có thể xảy ra; buộc người yêu cầu áp dụng BPKCTT thực hiện biện pháp
bảo đảm...; ngoài ra, áp dụng BPKCTT còn phải thỏa mãn các điều kiện khác như:
tài sản bị yêu cầu áp dụng BPKCTT phải là tài sản đang tranh chấp; người đang
chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng
thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó...
Trong phạm vi chương 1, học viên đi sâu phân tích, bình luận, đánh giá các
quy định của pháp luật hiện hành về các điều kiện để Tòa án xem xét áp dụng biện



8
pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp theo yêu cầu của đương sự và
trên cơ sở các vụ án của các Tịa án có áp dụng biện pháp này mà học viên thu thập
được. Trên cơ sở đó học viên sẽ đưa ra các quan điểm cá nhân, phân tích và bình
luận về những hạn chế, vướng mắc thường gặp trong thực tiễn áp dụng pháp luật
của Thẩm phán, HĐXX từ đó có những đề xuất cụ thể.
1.1. Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh khi có yêu cầu áp dụng
biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp
Quy định về BPKCTT tại Chương VIII của BLTTDS năm 2015 và hướng
dẫn tại Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP không chỉ cho phép đương sự chủ động thực
hiện quyền và nghĩa vụ nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, mà cịn
làm cơ sở để Thẩm phán, HĐXX xem xét quyết định áp dụng BPKCTT một cách
đúng đắn. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết yêu cầu áp dụng BPKCTT tại Tòa án còn
tồn tại một số hạn chế, vướng mắc. Theo quy định tại Điều 135 BLTTDS năm 2015
thì biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp chỉ được áp dụng khi
có đơn yêu cầu của đương sự, đây khơng phải là BPKCTT mà Tịa án có thể tự ban
hành quyết định áp dụng BPKCTT. Tuy nhiên, việc người u cầu Tịa án áp dụng
BPKCTT có bắt buộc phải cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ chứng minh cho
yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp hay khơng thì trong thực tiễn xét xử vẫn cịn có
quan điểm vận dụng khác nhau.
Để tìm hiểu và làm rõ vấn đề này, học viên đưa ra một vụ án do TAND Tp.
Đ, tỉnh L đã thụ lý và giải quyết như sau:
Vụ án 11
Nguyên đơn - cụ L xác định diện tích đất 1073m2 (diện tích theo GCN là
771,52m2) tọa lạc tại Phường 8, Tp. Đ, tỉnh L là tài sản thuộc quyền sử dụng chung
của cụ L và các con của cụ L và chính Ngun đơn đã cho rằng việc mình chuyển
nhượng diện tích đất cho Bị đơn - bà G là không hợp pháp do khi chuyển nhượng
đất cho Bị đơn thì những người con của Nguyên đơn đều không biết. Nên Nguyên

đơn đã khởi kiện yêu cầu Tòa án: (i) hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất đề ngày 22/4/2019 đã ký kết giữa cụ L với bà G (hiện bà G là người đang
chiếm hữu, sử dụng diện tích đất này); (ii) địi lại quyền sử dụng diện tích 771,52m2
đất; (iii) hủy GCNQSD đất số CT 307285 ngày 07/11/2019 đứng tên bà G. Vụ án đã
được Tòa án nhân dân Tp. Đ, tỉnh L thụ lý ngày 20/12/2019.
1

Nguồn: TAND Tp. Đ, tỉnh L


9
Trong q trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông N (con của Nguyên đơn) tự ý dùng máy cày xới, gieo trồng bắp trên diện tích
771,52m2 đất đang tranh chấp. Do đó, ngày 03/3/2020 Bị đơn đã có đơn u cầu
Tịa án áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp theo quy
định tại Điều 122 BLTTDS năm 2015 đối với ơng N2. Ngồi đơn u cầu, Bị đơn
không cung cấp bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào cho Tịa án và cũng khơng có đơn u
cầu Tịa án hỗ trợ thu thập chứng cứ.
Tuy nhiên, để xem xét yêu cầu áp dụng BPKCTT của Bị đơn, ngày 04/3/2020
và ngày 05/3/2020 Thẩm phán cũng đã tiến hành kiểm tra hiện trạng tài sản đang
tranh chấp và xác minh thông tin liên quan, lấy ý kiến của Nguyên đơn và ông N về
sự việc đã diễn ra, cùng với sự tham gia của đại diện UBND phường nơi tài sản đang
tranh chấp tọa lạc. Sau đó, Tịa án cũng đã ban hành Quyết định buộc thực hiện biện
pháp bảo đảm số 86/2020/QĐ-BPBĐ ngày 05/3/2020 đối với Bị đơn, buộc Bị đơn
phải gửi tài sản có giá trị là 15.000.000 đồng vào tài khoản phong tỏa tại Ngân hàng
H – Chi nhánh tỉnh L3.
Trên cơ sở Bị đơn thực hiện biện pháp bảo đảm, ngày 10/3/2020 Tòa án đã
ban hành Quyết định áp dụng BPKCTT số 91/2020/QĐ-BPKCTT cấm thay đổi
hiện trạng tài sản đang tranh chấp theo Điều 122 BLTTDS năm 20154. Đến ngày
10/3/2021, Nguyên đơn có đơn xin rút tồn bộ u cầu khởi kiện nên Tịa án đã ra
quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ngày 10/3/20215 và ban hành Quyết

định hủy bỏ quyết định áp dụng BPKCTT cũng vào ngày 10/3/2021, Bị đơn đã
được nhận lại tài sản bảo đảm là số tiền 15.000.000 đồng6.
Với vấn đề đã nêu trên, đối với vụ án 1 thực tiễn có một số quan điểm như sau:
Quan điểm 1: Tòa án thu thập chứng cứ để xem xét và giải quyết yêu cầu áp
dụng BPKCTT của đương sự mà khơng bắt buộc đương sự phải có đơn yêu cầu Tòa
án thu thập chứng cứ
Quan điểm này nhấn mạnh rằng trường hợp đương sự không cung cấp được
chứng cứ chứng minh cho yêu cầu áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản
đang tranh chấp là cần thiết và cũng khơng làm đơn u cầu Tịa án thu thập chứng cứ
2

Xem phụ lục 1.
Xem phụ lục 2.
4
Xem phụ lục 3.
5
Xem phụ lục 4.
6
Xem phụ lục 5.
3


10
nhưng để giải quyết yêu cầu áp dụng BPKCTT của đương sự và nhằm bảo vệ chứng
cứ, bảo tồn tình trạng hiện có của tài sản đang tranh chấp và đảm bảo cho việc giải
quyết đúng đắn vụ án thì Thẩm phán, HĐXX có thể tự mình thu thập chứng cứ.
Đây dường như chính là quan điểm giải quyết của Tòa án trong vụ án 1.
Quan điểm này dựa vào các luận điểm sau:
Một là, căn cứ khoản 3 Điều 106 BLTTDS năm 2015 quy định “[...] khi xét
thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản

lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án”.
“Cần thiết” theo từ điển tiếng Việt có nghĩa là “rất cần, khơng thể không làm,
việc cần thiết phải giải quyết sớm”7. BPKCTT được áp dụng một cách khẩn cấp, do
đó khi Tịa án nhận được đơn yêu cầu của đương sự nhưng họ không cung cấp được
hoặc cung cấp chưa đầy đủ tài liệu, chứng cứ để chứng minh mặc dù đã cố gắng
thực hiện nhưng không thể thu thập được chứng cứ thì Tịa án ra quyết định thu
thập chứng cứ.
Do đó, trong vụ án trên dù Bị đơn – bà G khơng có đơn đề nghị Tịa án thu
thập chứng cứ nhưng Thẩm phán vẫn tiến hành xem xét hiện trạng của tài sản đang
tranh chấp và xác minh thông tin để xác thực tính có thật lời trình bày của bà G.
Nếu căn cứ vào việc bà G không cung cấp được chứng cứ chứng minh mà ra thông
báo không chấp nhận yêu cầu áp dụng BPKCTT của bà G thì BLTTDS năm 2015
đã khơng đưa ra quy định nêu trên.
Ngoài ra, đối với biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp,
nếu Thẩm phán hoặc HĐXX chỉ căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do đương sự cung
cấp mà không được kiểm chứng, thẩm tra lại để xác định tính hợp pháp của chứng
cứ và trình bày của đương sự là có thật thì chưa đủ cơ sở để áp dụng biện pháp cấm
thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; không ràng buộc được trách nhiệm của
Thẩm phán, HĐXX trong việc xem xét một cách đúng đắn yêu cầu áp dụng BPKCT
thì việc xem xét đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT của bà G sẽ mang tính chất chủ
quan, phiến diện.
Hai là, về nguyên tắc cho dù đương sự không cung cấp được chứng cứ chứng
minh cho việc áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp là
cần thiết thì Tịa án căn cứ được các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải
7

Nguồn: />

11
quyết, hậu quả pháp lý có thể chấp nhận hoặc khơng chấp nhận u cầu áp dụng

BPKCTT. Có nghĩa là Tòa án vẫn phải giải quyết yêu cầu của đương sự mà không
được từ chối giải quyết; căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để Tịa
án quyết định chấp nhận hoặc khơng chấp nhận yêu cầu của đương sự. Theo đó,
khoản 4 Điều 91 BLTTDS năm 2015 quy định “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra
chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc khơng đưa ra đủ
chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập
được trong hồ sơ vụ việc”.
Như vậy, áp dụng pháp luật vào vụ án 1 việc bà G khơng cung cấp được
chứng cứ thì Tịa án khơng có quyền từ chối giải quyết hay trả lại đơn yêu cầu áp
dụng BPKCTT của bà G, mà căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án Thẩm phán
xem xét đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT theo hướng chấp nhận hoặc không chấp
nhận yêu cầu áp dụng BPKCTT của bà G.
Quan điểm 2: Đương sự không thu thập được chứng cứ nhưng được quyền
làm đơn đề nghị Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu áp
dụng BPKCTT của mình nếu có lý do chính đáng
Quan điểm này dựa trên các luận điểm sau:
Trước hết, căn cứ khoản 2 Điều 106 BLTTDS năm 2015 quy định “Trường
hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà
vẫn khơng tự mình thu thập được thì có thể đề nghị Tịa án ra quyết định yêu cầu cơ
quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho
việc giải quyết vụ việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn”. Đây là quy định về
chứng cứ và chứng minh quy định tại Chương VII của BLTTDS năm 2015, nên
được áp dụng xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án dân sự và trong đó bao
gồm cả BPKCTT. Do đó, trường hợp nếu đã thực hiện các biện pháp cần thiết để
thu thập chứng cứ chứng minh nhưng khơng thu thập được thì đương sự có quyền
làm đơn đề nghị Tòa án hỗ trợ thu thập, việc Tòa án có chấp nhận hỗ trợ thu thập
chứng cứ hay khơng cịn tùy thuộc lý do chính đáng mà đương sự đưa ra.
Tiếp đến, tại Chương VIII của BLTTDS năm 2015 quy định về các BPKCTT
và Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP hướng dẫn một số quy định về BPKCTT của
BLTTDS không quy định về trách nhiệm của Tòa án trong việc hỗ trợ thu thập

chứng cứ cho đương sự có yêu cầu áp dụng BPKCTT, nhưng điều này đã được


12
BLTTDS quy định tại các phần khác của BLTTDS (cụ thể tại khoản 2 Điều 6 và
khoản 2 Điều 106 BLTTDS năm 2015) nên không cần phải quy định riêng đối với
BPKCTT. Do đó, đây khơng phải lý do để Tòa án từ chối hỗ trợ đương sự thu thập
chứng cứ chứng minh cho yêu cầu áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài
sản đang tranh chấp nếu đề nghị hỗ trợ có lý do chính đáng.
Như vậy, trong vụ án trên, để được Tòa án chấp nhận yêu cầu áp dụng biện
pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp thì trước hết bà G phải tự mình
thu thập và cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu áp dụng BPKCTT là
cần thiết. Tuy nhiên, nếu không thể cung cấp được chứng cứ vì lý do chính đáng thì
pháp luật vẫn có quy định cho phép bà G có quyền đề nghị Tịa án hỗ trợ thu thập
tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu áp dụng BPKCTT của mình hoặc căn
cứ vào chức năng, quyền hạn của mình Tịa án tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ
để xem xét yêu cầu của đương sự. TAND Tp. Đ trong trường hợp này đã giải quyết
theo hướng Tịa án tự mình thu thập chứng cứ để xem xét yêu cầu áp dụng biện
pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp của đương sự trong khi đương
sự khơng có đơn đề nghị Tòa án hỗ trợ.
Quan điểm 3: Đương sự phải có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để
chứng minh yêu cầu áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh
chấp của mình là cần thiết
Nói cách khác, nếu đương sự khơng cung cấp được hoặc cung cấp không đầy
đủ tài liệu, chứng cứ thì Thẩm phán ra thơng báo khơng chấp nhận yêu cầu áp dụng
BPKCTT. Quan điểm này dựa vào các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện
hành, cụ thể:
Thứ nhất, khoản 1 Điều 91 BLTTDS năm 2015 quy định “Đương sự có u
cầu Tịa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp,
giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ

và hợp pháp” và khoản 1 Điều 133 BLTTDS quy định “Tùy theo yêu cầu áp dụng
BPKCTT mà người yêu cầu phải cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho
sự cần thiết phải áp dụng BPKCTT đó”.
Như vậy, đối với biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp
do đương sự có yêu cầu áp dụng (khơng thuộc BPKCTT Tịa án tự mình áp dụng)
thì việc cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc áp dụng là cần thiết là


13
nghĩa vụ bắt buộc đối đương sự có yêu cầu và khơng có trường hợp loại trừ; các tài
liệu, chứng cứ phải thỏa mãn các dấu hiệu về việc tài sản đang tranh chấp có nguy
cơ hoặc có dấu hiệu bị thay đổi hiện trạng. Điều đó đồng nghĩa với việc trong vụ án
trên, nếu bà G không cung cấp được chứng cứ, chứng minh thì Tịa án khơng có cơ
sở để xác định yêu cầu áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh
chấp của bà G là có căn cứ để áp dụng.
Thứ hai, điểm a khoản 1 Điều 10 Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP quy định
“Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT,
Thẩm phán phải xem xét đơn và các chứng cứ kèm theo chứng minh cho việc cần
thiết phải áp dụng BPKCTT ... nếu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu áp dụng
BPKCTT chưa đầy đủ thì Thẩm phán yêu cầu họ cung cấp bổ sung tài liệu, chứng
cứ trong thời hạn 24 giờ, kể từ thời điểm nhận được yêu cầu của Thẩm phán”.
Ngoài ra, Chương VIII của BLTTDS năm 2015 và văn bản hướng dẫn khơng có
quy định về trách nhiệm của Tịa án trong việc nhiệm hỗ trợ đương sự thu thập
chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu áp dụng BPKCTT, nên việc thu thập chứng
cứ hoàn toàn thuộc về trách nhiệm của đương sự. Do đó, đối với vụ án 1 lẽ ra bà G
phải có trách nhiệm bổ sung tài liệu, chứng cứ cho Tòa án trong thời hạn 24 giờ kể
từ thời nhận được yêu cầu của Thẩm phán, nếu hết thời hạn này bà G không không
cung cấp được hoặc cung cấp không đầy đủ chứng cứ chứng minh cho việc áp dụng
biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp là cần thiết thì Tịa án
đương nhiên khơng chấp nhận đơn u cầu áp dụng BPKCTT của bà G.

Nhận xét và quan điểm giải quyết của học viên đối với vụ án 1:
Học viên cơ bản thống nhất với quan điểm 2 và quan điểm 3 nêu trên, bởi lẽ:
Một. Về nguyên tắc trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng
minh là nghĩa vụ của đương sự (Điều 6 BLTTDS năm 2015), khơng phải là nhiệm
vụ của Tịa án; Tòa án chỉ thu thập chứng cứ trong một số trường hợp và có điều
kiện (khoản 2 Điều 106 BLTTDS năm 2015). Tịa án khơng có nghĩa vụ phải thực
hiện thay nghĩa vụ thu thập chứng cứ cho người yêu cầu áp dụng BPKCTT, mà cụ
thể trong vụ án 1 là yêu cầu áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang
tranh chấp của bà G để nhằm bảo vệ quyền lợi cho bà G, trong khi việc áp dụng
BPKCTT có thể gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc người thứ ba.
Hai. Trong hoạt động tố tụng dân sự Thẩm phán, HĐXX không nên áp dụng
pháp luật một cách dập khn, máy móc; BPKCTT bên cạnh vai trị là cơng cụ bảo


14
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, thì cịn đóng vai trị quan trọng để Tịa
án giải quyết đúng đắn và nhanh chóng vụ án do đó việc Tòa án hỗ trợ thu thập
chứng cứ trong BPKCTT là cần thiết. Bởi, thực tiễn cho thấy việc thu thập chứng
cứ chứng minh yêu cầu áp dụng BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang
tranh chấp không dễ dàng, khơng chỉ khó khăn do hành vi của người bị áp dụng có
thể làm cho tài sản thay đổi hiện trạng dưới nhiều hình thức khác nhau, khó nắm
bắt; việc thu thập chứng cứ từ cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý và lưu giữ tài
liệu gặp nhiều khó khăn; thời hạn áp dụng BPKCTT ngắn nên đương sự khơng có
nhiều thời gian để bổ sung chứng cứ chứng minh (chỉ bổ sung chứng cứ trong 24
giờ kể từ thời điểm Thẩm phán yêu cầu). Hơn nữa, với trình độ hiểu biết pháp luật
của người dân cịn hạn chế, không phải đương sự nào cũng biết cách thu thập những
tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện
trạng tài sản đang tranh chấp từ cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Nói cách khác, học viên khơng đồng tình với quan điểm 3 nêu trên, bởi lẽ:
Trước hết, BLTTDS đã quy định đương sự nghĩa vụ cung cấp chứng cứ,

Tòa án chỉ thu thập chứng cứ khi đương sự có yêu cầu. Vậy nếu Tòa án tiến hành
thu thập chứng cứ ngay cả khi đương sự khơng có đơn đề nghị thu thập thì các quy
định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh quy định tại Điều 6, Điều 91
và Điều 106 BLTTDS năm 2015 khơng cịn ý nghĩa và trên thực tế khơng khơng
có hiệu lực.
Tiếp đến là, yêu cầu áp dụng BPKCTT là yêu cầu của một bên đương sự,
nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một bên đương sự có yêu cầu,
việc áp dụng có thể gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc người thứ ba,
do đó khơng thể áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 91 và khoản 3 Điều 106
BLTTDS năm 2015 để xác định là trường hợp xét thấy cần thiết Tòa án ra quyết
định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ cho Tòa án được.
Với vụ án nêu trên, Bị đơn - bà G có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp
cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp nhưng không cung cấp được chứng
cứ chứng minh là không đúng với quy định về chứng cứ và chứng minh tại Điều 91
và khoản 1 Điều 133 BLTTDS năm 2015. Như vậy, bà G đã thực hiện quyền được
yêu cầu áp dụng BPKCTT nhưng không thực hiện nghĩa vụ về cung cấp chứng cứ
để chứng minh u cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Với hành vi của ông N,
bà G hồn tồn có đủ thời gian và điều kiện để thu thập chứng cứ để cung cấp cho


15
Tịa án như: hình ảnh, video... nên có thể xác định bà G chưa áp dụng các biện pháp
cần thiết để thu thập chứng cứ cung cấp cho Tòa án.
Do đó, theo học viên thì để việc áp dụng BPKCTT trong trường hợp trên đảm
bảo đúng quy định của pháp luật bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả
các đương sự (người yêu cầu và người bị áp dụng) thì Bà G cần thiết phải thực hiện
như sau: (1) thu thập chứng cứ chứng minh cho yêu cầu áp dụng biện pháp cấm
thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp như hình ảnh, video hoặc tài liệu khác có
nội dung tương ứng với lý do đã nêu trong đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT; (2) nếu
khơng thu thập được chứng cứ thì bà G phải làm đơn đề nghị Tòa án thu thập chứng

cứ, nội dung đơn phải nêu rõ lý do vì sao bà G khơng tự mình thu thập được chứng
cứ và nộp kèm theo tài liệu chứng minh đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng
không thu thập được chứng cứ.
Như vậy có thể thấy rằng, vấn đề chứng cứ và chứng minh trong BPKCTT nói
chung và đối với biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp quy định
tại BLTTDS năm 2015 và Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP mới chỉ dừng lại ở quy
định về nghĩa vụ chứng minh của người yêu cầu áp dụng BPKCTT, chưa có quy định
nào về hậu quả pháp lý của việc không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ chứng
cứ để chứng minh cho yêu cầu áp dụng BPKCTT của đương sự, trách nhiệm của Tòa
án (Thẩm phán, HĐXX) trong việc hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ...
Trên cơ sở phân tích luận giải như trên, học viên đề xuất hoàn thiện pháp
luật liên quan đến việc áp dụng BPKCTT nói chung trong đó có biện pháp cấm thay
đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp như sau:
Cần có quy định riêng về chứng cứ và chứng minh trong áp dụng BPKCTT
bởi đây một trình tự, thủ tục độc lập và có tính đặc thù mang tính chất “khẩn cấp”
và “tạm thời”. Vấn đề chứng cứ và chứng minh nếu áp dụng theo trình tự, thủ tục
quy định tại Chương VII của BLTTDS năm 2015 là khơng tương thích, dẫn đến
trên thực tiễn giải quyết yêu cầu áp dụng BPKCTT của đương sự có nhiều quan
điểm xử lý khác nhau, thiếu sự thống nhất trong cách hiểu và áp dụng pháp luật.
1.2. Trách nhiệm dự kiến và tạm tính tổn thất hoặc thiệt hại thực tế có
thể xảy ra để thực hiện biện pháp bảo đảm
Quy định buộc người yêu cầu áp dụng BPKCTT phải thực hiện BPBĐ là để
bảo đảm quyền lợi của người bị áp dụng BPKCTT hoặc người thứ ba nếu trong


16
trường hợp việc áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp
không đúng gây ra thiệt hại cho họ. Điều 136 BLTTDS năm 2015 quy định tài sản
bảo đảm phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả
của việc áp dụng BPKCTT không đúng. Tuy nhiên, Chương VIII của BLTTDS về

BPKCTT chưa có quy định cụ thể về việc dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có
thể có thể xảy ra, mà chỉ được hướng dẫn của văn bản dưới luật. Theo đó, vấn đề dự
kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra thuộc về Tòa án (Thẩm phán,
HĐXX) hay đương sự (người yêu cầu và người bị áp dụng) thì thực tiễn áp dụng
pháp luật còn nhiều quan điểm khác nhau. Để làm rõ vấn đề này, học viên nêu ra
một vụ án do TAND quận B thụ lý giải quyết, trong đó có áp dụng biện pháp cấm
thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp theo yêu cầu của nguyên đơn sau đây.
Vụ án 28
Nguyên đơn - ông T, bà H và bà N có quyền sử dụng đất tọa lạc tại khu phố
H, phường M, quận B, thành phố C (bên trong đất của bị đơn). Để đi ra đường cơng
cộng thì Ngun đơn buộc phải sử dụng lối đi duy nhất có hình chữ “L” (chiều rộng
1m, tổng diện tích là 25m2) là phần đất thuộc quyền sử dụng của Bị đơn – ông K và
bà X, từ tháng 4/2020 Bị đơn không cho Nguyên đơn sử dụng lối đi này. Do đó,
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tịa án: Buộc Bị đơn mở lối đi có diện tích như nêu
trên và tự nguyện hỗ trợ giá trị quyền sử dụng đất với số tiền 38.000.000 đồng cho
Bị đơn (theo Kết luận định giá tài sản thì lối đi diện tích 25m2 có giá trị 37.500.000
đồng). Vụ án đã được TAND quận B thụ lý ngày 12/10/2020.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn biết được Bị đơn có ý định xây
dựng tường rào kiên cố ngang lối đi đang tranh chấp, ngày 03/11/2020 người đại
diện hợp pháp của Ngun đơn - ơng E có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp
cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp theo quy định tại Điều 122
BLTTDS đối với Bị đơn9. Cùng ngày 03/11/2020, Thẩm phán ra Quyết định số
07/2020/QĐ-BPBĐ buộc Nguyên đơn phải thực hiện BPBĐ là gửi khoản tiền
30.000.000 đồng vào tài khoản phong tỏa tại Ngân hàng T10. Sau khi Nguyên đơn
thực hiện xong BPBĐ thì ngày 05/11/2020, TAND quận B đã ban hành Quyết định
áp dụng BPKCTT số 08/2020/QĐ-BPKCTT11.
8

Nguồn: TAND quận B.
Xem phụ lục 6.

10
Xem phụ lục 7.
11
Xem phụ lục 8.
9


17
Tại Bản án số 21/2021/DS-ST ngày 15/4/2021, TAND quận B giải quyết
BPKCTT có nội dung: “Tiếp tục duy trì quyết định áp dụng BPKCTT số 08/2020/QĐBPKCTT ngày 05/11/2020 của Tòa án nhân dân quận B về việc cấm thay đổi hiện
trạng tài sản đang tranh chấp cho đến khi phát sinh các căn cứ chấm dứt hiệu lực của
quyết định theo quy định của pháp luật”12.
Đối với vụ án 2, học viên đề cập một số quan điểm giải quyết như sau:
Quan điểm 1: Việc dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra là trách
nhiệm của Thẩm phán, ý kiến của đương sự (nếu có) chỉ mang tính chất tham khảo
Đây cũng là quan điểm của Tịa án trong vụ án 2.
Nói cách khác, nếu người yêu cầu áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng
tài sản đang tranh chấp không dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra thì
đây cũng khơng phải là điều kiện để Tịa án không chấp nhận yêu cầu áp dụng
BPKCTT của họ.
Quan điểm này dựa vào các luận điểm sau:
Một là, căn cứ khoản 1 Điều 136 BLTTDS năm 2015 quy định “Người yêu
cầu Tòa án áp dụng một trong các BPKCTT quy định tại các khoản 6, 7, 8, 10, 11,
15 và 16 Điều 114 của Bộ luật này phải nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được
bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác hoặc gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có
giá do Tịa án ấn định nhưng phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể
phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời...”.
Quy định này được hiểu là BLTTDS không quy định đương sự phải có trách
nhiệm dự kiến và tạm tính tổn thất hoặc thiệt hại có thể xảy ra; hơn nữa, chỉ có Tịa

án (Thẩm phán hoặc HĐXX) mới có quyền ấn định mức tài sản bảo đảm, đương sự
chỉ là người có nghĩa vụ thực hiện theo quyết định của Tịa án. Do đó, song song
với quyền được ấn định tài sản bảo đảm thì trách nhiệm dự kiến và tạm tính thiệt
hại thực tế có thể xảy ra của Thẩm phán, HĐXX không thể tách rời, nên việc đương
sự có dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra nếu có chỉ mang tính chất
tham khảo để Tịa án ấn định tài sản bảo đảm “tương đương với tổn thất hoặc thiệt
hại có thể xảy ra” và ban hành quyết định buộc thực hiện BPBĐ đúng đắn. Trong
12

Xem phụ lục 9.


18
vụ án 2, trước khi ra quyết định buộc nguyên đơn thực hiện BPBĐ với số tiền
30.000.000 đồng, Thẩm phán không yêu cầu đương sự (nguyên đơn và bị đơn) dự
kiến và tạm tính thiệt hại có thể xảy ra, mà Thẩm phán tự mình dự kiến và tạm tính
tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh tương đương với khoản tiền 30.000.000 đồng
(tương đương với 80% giá trị của tài sản đang tranh chấp).
Hai là, căn cứ Điều 13 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP quy định “2. Để ấn
định một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá tương đương với tổn
thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng BPKCTT khơng
đúng thì Thẩm phán hoặc HĐXX phải dự kiến và tạm tính có tính chất tương đối
thiệt hại thực tế có thể xảy ra nhưng khơng thấp hơn 20% giá trị tạm tính của tài
sản bị áp dụng BPKCTT, trừ trường hợp có chứng cứ rõ ràng chứng minh tổn thất
hoặc thiệt hại thấp hơn 20% giá trị tạm tính của tài sản bị áp dụng BPKCTT. 3.
Thẩm phán hoặc HĐXX đề nghị người yêu cầu áp dụng BPKCTT dự kiến và tạm
tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra. Trường hợp, hỏi ý kiến của người bị áp dụng thì
đề nghị họ dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra”.
Theo hướng dẫn này thì đối với người yêu cầu áp dụng biện pháp cấm thay
đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp thì việc dự kiến và tạm tính tổn thất hoặc thiệt

hại thực tế có thể xảy ra đối với đương sự chỉ mang tính “đề nghị” nên đương sự có
thể thực hiện hoặc khơng thực hiện; ngược lại, để ấn định tài sản bảo đảm tương
đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh thì Thẩm phán hoặc HĐXX
“phải” dự kiến và tạm tính có tính chất tương đối tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát
sinh. Do đó, hiểu theo từ điển tiếng Việt thì “đề nghị” là một động từ có nghĩa là
“nêu lên để thảo luận hay nhận xét”, do đó khơng có ý nghĩa xác định nghĩa vụ bắt
buộc phải thực hiện13, vì vậy ý kiến của đương sự chỉ là tài liệu, chứng cứ để Thẩm
phán hoặc HĐXX xem xét để dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra.
Ba là, Thẩm phán hoặc HĐXX đề nghị người yêu cầu áp dụng biện pháp cấm
thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp và người bị yêu cầu áp dụng biện pháp
cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế
có thể xảy ra, nhưng họ dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra quá cao
hoặc quá thấp hoặc không dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra được,
cụ thể như: người yêu cầu áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang
13

/>B B%87t


19
tranh chấp dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra thấp nhằm nộp tài sản
bảo đảm thấp, người bị áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng TSĐTC thì dự
kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra cao để nhằm làm cho người yêu cầu
áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp không đủ khả
năng thực hiện BPBĐ dẫn đến Tịa án sẽ khơng áp dụng BPKCTT. Do đó, việc dự
kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra chỉ bắt buộc với Thẩm phán hoặc
HĐXX trong mọi trường hợp, ý kiến của đương sự chỉ mang giá trị tham khảo.
Quan điểm 2: Người yêu cầu áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài
sản đang tranh chấp phải có nghĩa vụ dự kiến và tạm tính thiệt hại có thể xảy ra để
Thẩm phán hoặc HĐXX xem xét ấn định tài sản bảo đảm (đồng thời cũng là quan

điểm của học viên)
Quan điểm này đặc biệt nhấn mạnh việc dự kiến và tạm tính tổn thất hoặc
thiệt hại có thể xảy ra thì người yêu cầu áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng
tài sản đang tranh chấp phải có nghĩa vụ bắt buộc thực hiện, tuy nhiên đối với chủ
thể bị áp dụng BPKCTT thì việc việc dự kiến và tạm tính thiệt hại có thể xảy ra
không đương nhiên là trách nhiệm của họ.
Quan điểm này dựa vào các luận điểm sau đây:
Thứ nhất, khoản 1 Điều 113 BLTTDS năm 2015 quy định “Người yêu cầu
Tòa án áp dụng BPKCTT phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của
mình; trường hợp yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng mà gây thiệt hại cho
người bị áp dụng BPKCTT hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường”. BLTTDS
năm 2015 đặt ra cho đương sự được quyền được yêu cầu Tòa án áp dụng BPKCTT
và đồng thời cũng quy định rõ trách nhiệm bồi thường trong áp dụng BPKCTT,
điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định trách nhiệm của đương sự trong
trường hợp Tòa án áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh
chấp theo yêu cầu của đương sự khi xảy ra thiệt hại đối với người bị áp dụng
BPKCTT hoặc người thứ ba. Do đó, người yêu cầu áp dụng biện pháp cấm thay đổi
hiện trạng tài sản đang tranh chấp phải có trách nhiệm tạm tính và dự kiến tổn thất
hoặc thiệt hại thực tế có thể xảy ra, đây là quyền nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ
của người yêu cầu áp dụng BPKCTT, thông qua việc tạm tính và dự kiến thiệt hại
thực tế có thể xảy ra thì người u cầu áp dụng BPKCTT nắm bắt được được các
nguy cơ có thể gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc người thứ ba nếu
yêu cầu áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp của họ


20
được Tịa án chấp nhận nhưng khơng đúng pháp luật và đây cũng là cơ sở để giúp
họ xem xét kỹ lưỡng việc nên hay khơng nên u cầu Tịa án áp dụng biện pháp
cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, tránh sự tùy tiện và lạm dụng
quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT.

Thứ hai, người yêu cầu áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang
tranh chấp là đương sự có tranh chấp về tài sản trong vụ án nên hơn ai hết họ là người
nắm rõ thơng tin, tài liệu và tình trạng của tài sản đang tranh chấp, nên việc dự kiến và
tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra mà họ thực hiện sẽ đảm bảo tính khách quan và
chính xác; ngược lại, Thẩm phán hoặc HĐXX chỉ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do
đương sự cung cấp để dự kiến và tạm tính tổn thất và thiệt hại có thể xảy ra trong nhiều
trường hợp khơng đánh giá được hết các nguy cơ gây thiệt hại và mức thiệt hại. Do đó,
đương sự dự kiến và tạm tính thiệt hại có thể xảy ra sẽ là cơ sở để Thẩm phán hoặc
HĐXX dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra phù hợp hơn.
Theo đó, trong vụ án 2 việc Thẩm phán buộc người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn là ông E thực hiện việc gửi tài sản bảo đảm là khoản tiền 30.000.000
đồng, mà không yêu cầu ông E dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra là
thiếu sót, trong vụ án này Thẩm phán cũng nên đề nghị người bị áp dụng BPKCTT
dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra để xem xét sẽ đầy đủ và toàn diện
hơn. Trong hồ sơ vụ án cũng khơng có chứng cứ nào thể hiện rõ ràng thiệt hại có
thể xảy ra tương đương với 30.000.000 đồng (khoảng 80% giá trị của tài sản bị áp
dụng BPKCTT), đây hoàn toàn theo ý chí chủ quan của Thẩm phán nên chưa thật
sự thuyết phục, do đó việc yêu cầu đương sự dự kiến và tạm tính thiệt hại có thể xảy
ra là vấn đề cần thiết.
Như vậy, theo quan điểm 2 phải xác định việc dự kiến và tạm tính thiệt hại
thực tế có thể xảy ra được xem là trách nhiệm bắt buộc đối với người yêu cầu áp
dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp phải thực hiện để
được Tòa án chấp nhận áp dụng BPKCTT, bởi đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến
việc thực hiện BPBĐ – là một trong những điều kiện để Tòa án áp dụng biện pháp
cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, nếu khơng có sự bắt buộc sẽ nảy sinh
sự tùy nghi của Tòa án, thiếu trách nhiệm của người yêu cầu áp dụng BPKCTT.
Trên cơ sở phân tích luận giải như trên, học viên đề xuất hoàn thiện pháp
luật liên quan đến trách nhiệm dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra khi
áp dụng BPKCTT không đúng như sau:



×