Tải bản đầy đủ (.pdf) (218 trang)

Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong cưỡng chế thi hành án dân sự

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (28.45 MB, 218 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ LIÊN
QUAN TRONG CƢỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

TP HỒ CHÍ MINH - THÁNG 6 - NĂM 2021


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC CÓ LIÊN
QUAN TRONG CƢỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60380103

Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Vĩnh Châu
Học viên: Nguyễn Thị Hồng Nhung
Lớp: Cao học Luật Dân sự khóa 31

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021


iii


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tơi. Được thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Vĩnh Châu. Những tài liệu, số liệu
được sử dụng trong luận văn bảo đảm tính khách quan, chính xác, có chú thích rõ
ràng. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được cơng bố
trong các cơng trình khác. Tơi xin hồn tồn chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên
của mình.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Nhung


iv

LỜI CẢM ƠN
Với lịng kính trọng và sự tri ân sâu sắc, trước tiên tác giả xin gửi lời cảm ơn
chân thành đến quý Thầy, Cô Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã
trang bị cho tác giả nhiều kiến thức quý báu trong suốt thời gian qua.
Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn TS. Lê Vĩnh Châu đã hết lịng giúp
đỡ, hướng dẫn tận tình từ lúc định hướng chọn đề tài cũng như quá trình hồn thiện
nghiên cứu, ln động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp tác giả có thể
hồn thành luận văn này.
Tác giả cũng xin cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã luôn quan tâm giúp đỡ,
cung cấp rất nhiều số liệu, tài liệu và chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tế để giúp tác
giả có thể hồn thành nghiên cứu này.
Trân trọng!
Tuy Hịa, tháng 6 năm 2021
Tác giả luận văn


Nguyễn Thị Hồng Nhung


v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT

TỪ VIẾT TẮT

TỪ VIẾT THƢỜNG

01

BLDS 2015

Bộ luật Dân sự (Luật số 91/2015/QH13) ngày
24/11/2015

02

CHV

Chấp hành viên

03

GCNQSDĐ

Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất


04

Luật THADS 2014

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi,
bổ sung năm 2014).

05

Nghị định số
62/2015/NĐ-CP

06
Nghị định số
33/2020/NĐ-CP

07

Ngân hàng NN &
PTNT Việt Nam

Nghị định số 62/2015/NĐ-CP, ngày 18/7/2015
của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự
Nghị định số 33/2020/NĐ-CP, ngày 17/3/2020
về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Thi hành án dân sự

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thơn
Việt Nam

08

TAND

Tịa án nhân dân

09

THA

Thi hành án

10

THADS

Thi hành án dân sự

11

Thông tư liên tịch số
03/2012/TTLT-BTPBCA

Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BTP-BCA,
ngày 30/3/2012 quy định cụ thể việc phối hợp
bảo vệ cưỡng chế trong thi hành án dân sự


12

Thông tư liên tịch số

Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-


vi

02/2014/TTLT-BTP-

BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 của Bộ

BTC-BLĐTBXH-

Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương

NHNNVN

binh và Xã hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản,
thu nhập của người phải thi hành án và thực hiện
phong tỏa, khấu trừ để thi hành án.

13

Thông tư liên tịch số
11/2016/TTLT-BTP-

14


Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTPTANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 quy định

TANDTC-VKSNDTC

một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và
phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự.

Viện KSND

Viện Kiểm sát nhân dân


vii

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN CÓ LIÊN QUAN
TRONG CƢỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ .................................................... 11
1.1. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân ............................................................... 11
1.2. Trách nhiệm của cơ quan Công an ................................................................ 20
Kết luận chƣơng 1 .............................................................................................. 30
CHƢƠNG 2: TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC CÓ LIÊN QUAN
TRONG CƢỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ .................................................... 31
2.1. Trách nhiệm của Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác .......................... 31
2.2. Trách nhiệm của doanh nghiệp ..................................................................... 43
Kết luận chƣơng 2 .............................................................................................. 52
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 53
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC



1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến việc đẩy
mạnh công cuộc cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bằng việc ban hành nhiều chủ trương, đường lối
về cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết, trong đó, Nghị quyết số 49NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 đã xác định một trong những nhiệm vụ của cải cách tư pháp là hồn thiện
chính sách, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp, trong đó
nhấn mạnh “xây dựng cơ chế đảm bảo mọi bản án của Tịa án có hiệu lực pháp luật
phải được thi hành”.
Để bản án, quyết định được thi hành phải thông qua việc thi hành án, trong
lĩnh vực thi hành án dân sự, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ
sung năm 2014) là cơ sở pháp lý quan trọng để Chấp hành viên các cơ quan thi
hành án dân sự tổ chức thi hành các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án, Trọng
tài thương mại, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh1 nhằm đảm bảo việc thi hành án
dân sự có hiệu quả, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức, góp phần giữ vững tình hình an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội,
củng cố trật tự pháp luật và đảm bảo cho nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
được thực hiện theo tinh thần tại Điều 106 Hiến pháp năm 2013.“Bản án, quyết
định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá
nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp
hành”, khoản 1 Điều 19 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 “Bản án, quyết định của
Tịa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được cơ quan, tổ chức,
cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp
hành” và Điều 4 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm
2014)“Bản án, quyết định quy định tại Điều 2 của Luật này phải được cơ quan, tổ

chức và mọi công dân tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong
1

Điểm b khoản 1 Điều 116 Luật Cạnh tranh năm 2018 sửa đổi quy định tại Điều 26 Luật Thi hành
án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014). Cụ thể thay cụm từ “Hội đồng xử lý vụ việc cạnh
tranh” tại Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) bằng cụm từ “Chủ tịch Ủy
ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng giải quyết khiếu nại Quyết
định xử lý vụ việc cạnh tranh”.


2

phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải
chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án”.
Hiện nay, Chấp hành viên đại diện cho cơ quan thi hành án dân sự là chủ thể
được thực hiện quyền lực của nhà nước có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện
pháp cưỡng chế và lựa chọn biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phù hợp, vì
đây là quyết định được ban hành nhằm mục đích thi hành các bản án, quyết định
của Tòa án được tuyên nhân danh quyền lực nhà nước nên mọi chủ thể liên quan
đến thi hành án dân sự phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định này.
Tại Chương VIII và Điều 11 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa
đổi, bổ sung năm 2014) đã quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các
cơ quan, tổ chức và cá nhân trong hoạt động thi hành án dân sự nói chung và trong
cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng. Trong đó, có cơ quan thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về thi hành án dân sự; cơ quan có trách nhiệm phối hợp với cơ
quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên; cơ quan có trách nhiệm phối hợp và kiểm
sát hoạt động thi hành án dân sự; cơ quan có trách nhiệm hỗ trợ, thực hiện yêu cầu
của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên mà cụ thể đó là các mối quan hệ
phối hợp với chính quyền, cơ quan Cơng an, Tịa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân
dân, ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, Bảo hiểm xã hội, Tài nguyên và Môi

trường, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức, đoàn thể2. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng
ràng buộc trách nhiệm của các bên tham gia trong quan hệ phối hợp, hỗ trợ góp
phần nâng cao hiệu quả trong cơng tác thi hành án dân sự nói chung và trong cưỡng
chế thi hành án dân sự nói riêng.
Tuy nhiên, thực tiễn trong quá trình tổ chức và áp dụng các biện pháp cưỡng
chế thi hành án, cho thấy vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế cần thiết phải được
khắc phục, chẳng hạn:
- Các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân địa phương chưa chủ động
tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo giải quyết các nội dung liên
quan đến yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự; quá trình phối hợp giữa Ủy ban
nhân dân cấp xã với Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự cịn chưa tích cực
làm ảnh hưởng đến cơng tác cưỡng chế thi hành án dân sự.
2

Hoàng Thị Thanh Hoa, Hồ Qn Chính, Nguyễn Văn Nghĩa, “Bình luận Luật Thi hành án dân
sự”, NXB. Tư pháp - Hà Nội, năm 2019, tr.109.


3

- Cơ quan Công an phối hợp bảo vệ cưỡng chế thi hành án cịn chưa tích cực,
nhịp nhàng, viện nhiều lý do khơng chính đáng để khơng phê duyệt kế hoạch cưỡng
chế.
- Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng hỗ trợ cơ quan thi hành án
dân sự thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành án còn chưa hài hòa.
- Pháp luật thi hành án dân sự chưa quy định cụ thể trách nhiệm của doanh
nghiệp là nơi người phải thi hành án làm việc trong việc phối hợp với Chấp hành
viên, cơ quan thi hành án dân sự áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân
sự dẫn tới hiệu quả tổ chức thi hành án chưa cao.
Đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về hoạt động thi hành án dân sự, tuy

nhiên, phần lớn những cơng trình này tập trung nghiên cứu về nhiệm vụ, quyền hạn
của Chấp hành viên, về thủ tục thi hành án, về các biện pháp cưỡng chế trong thi
hành án dân sự… nhưng lại rất ít cơng trình nghiên cứu về phối hợp trong cưỡng
chế thi hành án dân sự.
Từ những lý do đó, để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thi hành án
dân sự, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong hoạt
động cưỡng chế thi hành án dân sự, tác giả chọn đề tài “Trách nhiệm của các cơ
quan, tổ chức có liên quan trong cƣỡng chế thi hành án dân sự” làm đề tài Luận
văn Thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài này đã có một số cơng trình nghiên cứu của các tác giả:
Giáo trình, sách chuyên khảo:
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình luật thi hành án dân sự
Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội. Trong cơng trình này, các tác giả trình
bày những vấn đề lý luận cơ bản về Luật THADS và phân tích làm rõ các quy định
của pháp luật THADS Việt Nam hiện hành; trong đó, xác định trách nhiệm phối
hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan THADS và CHV là nguyên tắc cơ
bản được quy định trong Luật THADS, đồng thời, nhấn mạnh vai trò của các mối
quan hệ giữa cơ quan THADS với Tòa án đã ra bản án, quyết định, với lực lượng
cảnh sát nhân dân, với chính quyền địa phương nơi người phải THA cư trú hoặc có
tài sản liên quan đến việc THA và mối quan hệ giữa cơ quan THADS với cơ quan,


4

tổ chức nơi người phải THA làm việc, nhận thu nhập là quan trọng nhất. Ngồi ra,
xác định vai trị của UBND các cấp trong THADS là rất lớn, trong đó, UBND cấp
tỉnh và cấp huyện tham gia vào hoạt động THADS với tư cách là cơ quan có thẩm
quyền quản lý, chỉ đạo và tổ chức việc thi hành án, còn UBND cấp xã tham gia
THA với tư cách là cơ quan phối hợp, hỗ trợ cơ quan THA thực hiện nhiệm vụ thi

hành án. Tuy nhiên, cơng trình nghiên cứu này chỉ đề cập lý luận chung về nguyên
tắc trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan THADS và
CHV, đồng thời, lý luận khái quát về vai trò của UBND các cấp, cơng trình khơng
đánh giá thực tiễn, chỉ ra bất cập, vướng mắc cùng hướng hồn thiện. Vì vậy, trên
cơ sở kế thừa các vấn đề lý luận mà cơng trình đã nêu ra, tác giả cần thiết phải đánh
giá thực tiễn, chỉ ra bất cập, vướng mắc và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về
trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan THADS và CHV.
- Hồng Thị Thanh Hoa, Hồ Qn Chính, Nguyễn Văn Nghĩa (2019), Bình
luận Luật Thi hành án dân sự, NXB Tư pháp, Hà Nội. Trên cơ sở các quy định của
Luật THADS hiện hành và có sự liên hệ, so sánh với các quy định pháp luật chuyên
ngành khác, các tác giả bình luận về trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân với cơ quan THADS và CHV trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan
có liên quan trong lĩnh vực THADS. Trong đó, chỉ ra những hạn chế, khó khăn,
vướng mắc về trách nhiệm phối hợp trong THADS giữa TAND các cấp, Công an,
Viện KSND các cấp, cơ quan đăng ký kinh doanh với cơ quan THADS và CHV và
đề ra các giải pháp bằng việc bổ sung các quy định pháp luật quy định về các vấn đề
đã nêu mà không bàn đến trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong
THADS.
- Lê Anh Tuấn (2019), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế thi
hành án dân sự, NXB Tư pháp, Hà Nội. Tác giả trình bày bao quát về hoạt động
cưỡng chế THADS. Về mặt lý luận, tác giả trình bày khái niệm, đặc điểm và ý
nghĩa của cưỡng chế THADS, bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra các tiêu chí đánh giá
hiệu quả; nguyên tắc cưỡng chế THADS và sự hình thành, phát triển các quy định
về cưỡng chế THADS ở Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau. Về mặt thực tiễn,
tác giả phân tích thực trạng và thực tiễn thực hiện pháp luật về cưỡng chế THADS ở
Việt Nam, những tồn tại, hạn chế trong cưỡng chế THADS như: còn một số lượng
lớn vụ việc cưỡng chế THADS không thành công; việc xác minh điều kiện THA và


5


cưỡng chế THADS trước khi áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS vẫn cịn sai sót;
việc thực hiện trình tự, thủ tục cưỡng chế THADS và xây dựng kế hoạch cưỡng chế
THADS cịn lúng túng,… Tác giả phân tích ngun nhân khách quan, chủ quan của
những tồn tại, hạn chế trên và đưa ra yêu cầu, giải pháp nâng cao hiệu quả cưỡng
chế THADS ở Việt Nam là hoàn thiện pháp luật, tổ chức thực hiện và bảo đảm các
điều kiện cần thiết để cưỡng chế THADS.
Luận án, luận văn:
- Trần Mạnh Quân (2013), Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt
Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác
giả đã làm sáng tỏ được cơ sở lý luận chung về pháp luật THADS ở Việt Nam và
nêu lên thực trạng về tổ chức và hoạt động THADS theo quy định của pháp luật.
Ngồi ra, tác giả cịn chỉ ra được những hạn chế mà pháp luật THADS gặp phải và
đưa ra các giải pháp hồn thiện, trong đó, đề cập khái quát đến thủ tục áp dụng từng
biện pháp cưỡng chế THA cụ thể; về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức
trong THADS. Tuy nhiên, các giải pháp hồn thiện chỉ phân tích ở mức độ khái
quát chung và không đi sâu vào các nội dung cụ thể, chưa đề cập đến những bất cập,
khó khăn, vướng mắc liên quan đến trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên
quan trong cưỡng chế THADS.
- Lê Ánh Dương (2017), Cưỡng chế thi hành án dân sự trên địa bàn huyện
Krông Nô, tỉnh Đăk Nông, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh. Luận văn viết về những vấn đề lý luận về cưỡng chế THADS, là các
quy định của pháp luật về cưỡng chế THADS và thực trạng thực hiện cưỡng chế
trong hoạt động THADS, tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của luận văn bó hẹp trong
thực tiễn thực hiện cưỡng chế THADS tại địa bàn một địa phương.
- Lê Thị Hồng Suy (2013), Nguyên tắc trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ
chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Trọng tâm nghiên cứu của luận văn là tập
trung làm rõ những vấn đề về nguyên tắc thực hiện trách nhiệm phối hợp của cơ
quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan THADS, CHV, tuy nhiên, tác giả tập trung

nghiên cứu mối quan hệ ở phạm vi rộng là tất cả sự phối hợp trong lĩnh vực
THADS chứ không đi sâu nghiên cứu về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có
liên quan trong cưỡng chế THADS.


6

- Nguyễn Quang Huy (2017), Sự phối hợp giữa các cơ quan trong thi hành
án dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường
Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn viết về sự phối hợp giữa các cơ quan trong
THADS trên tất cả các lĩnh vực của THA, đây là đề tài rộng có tính khái qt cao,
các vấn đề lý luận về sự phối hợp được tác giả đi sâu, tập trung phân tích. Tuy
nhiên, do là đề tài phân tích ở phạm vi rộng, trong khi đó vấn đề về trách nhiệm
phối hợp trong THA cụ thể ở một số tổ chức, cơ quan hữu quan chỉ là một nội dung
nhỏ và chưa được khai thác một cách sâu sắc, cụ thể.
- Cao Thị Luyến (2019), Trách nhiệm phối hợp trong việc xác minh điều kiện
thi hành án dân sự, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ
Chí Minh. Đề tài đi sâu vào việc phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn về trách
nhiệm phối hợp trong việc xác minh điều kiện THADS, trong đó, tập trung làm rõ
trách nhiệm phối hợp giữa UBND cấp xã; ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác;
Bảo hiểm xã hội và cơ quan tổ chức, người sử dụng lao động; Văn phòng, chi nhánh
văn phòng đăng ký đất đai; cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm với cơ quan
THADS và CHV trong việc xác minh điều kiện THADS. Như vậy, trong phạm vi
nghiên cứu của đề tài về trách nhiệm phối hợp trong THADS tác giả chỉ bàn đến thủ
tục xác minh điều kiện THADS và minh họa bằng một số mối quan hệ nêu trên chứ
không nghiên cứu đến hoạt động cưỡng chế trong THADS.
Bài viết tạp chí:
- Lê Dỗn Lâm (2017), Công tác phối hợp trong thi hành án dân sự và
những bài học kinh nghiệm, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề 9/2017,
tr.12-13, bài viết nêu khái quát thực tiễn mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THA

với Ban chỉ đạo THADS; với TAND, Viện KSND; lực lượng cơng an; các cơ quan
chun mơn như: Phịng Tài chính, Phịng quản lý đơ thị, Chi nhánh Văn phòng
Đăng ký đất đai, Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc nhà nước, Bảo hiểm xã hội trong
hoạt động THA nói chung, từ đó đúc kết bài học kinh nghiệm và đưa ra một số kiến
nghị. Tuy nhiên, cơng trình chưa nêu ra được những bất cập, hạn chế cũng như phân
tích sâu vào trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong cưỡng chế
THADS.
- Đinh Đức Trọng (2014), “Mối quan hệ phối hợp giữa chấp hành viên với
cơ quan hữu quan trong thi hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số


7

chuyên đề 3/2014, tr.10-13, bài viết chỉ ra các mối quan hệ giữa cơ quan thi hành
án, CHV với các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan, tuy nhiên bài viết khơng tập
trung đi vào phân tích từng mối quan hệ mà chỉ khẳng định vai trò của việc phối
hợp và minh họa bằng hai mối quan hệ là mối quan hệ giữa CHV với Kho bạc nhà
nước, Ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng và mối quan hệ giữa CHV, cơ
quan THA với cơ quan công an trong công tác cưỡng chế thi hành án, đồng thời đưa
ra kiến nghị hoàn thiện.
- Lê Thị Lệ Duyên (2012), “Bàn về quan hệ phối hợp giữa cơ quan thi hành
án với các cơ quan hữu quan trong thi hành án dân sự”, Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật, số 10/2012, tr.20-27, bài viết đã chỉ ra được: Vai trò, ý nghĩa của quan hệ phối
hợp trong THADS; căn cứ pháp lý của quan hệ phối hợp trong đó nêu lên nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan THADS và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
liên quan phối hợp với cơ quan THA trong việc THADS; Mối quan hệ phối hợp
giữa cơ quan THADS địa phương với các cơ quan nhà nước, các tổ chức có liên
quan trong THADS; Quan hệ phối hợp với các cơ quan chuyên môn ở địa phương
như: Cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường, cơ quan quản lý xây dựng đơ thị,
cơ quan tài chính, cơ quan thuế, ngân hàng, bảo hiểm xã hội, cơ quan quản lý doanh

nghiệp, cơ quan công an, viện kiểm sát và từ đó đưa ra một số yêu cầu đối với
CHV, cán bộ cơ quan THADS nhằm nâng cao hiệu quả của mối quan hệ phối hợp
trong cơng tác THADS. Có thể thấy, bài viết đã nêu ra được những vấn đề pháp lý
của mối quan hệ phối hợp. Tuy nhiên, trong bài viết những vấn đề về vướng mắc,
bất cập và hướng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ
chức có liên quan trong cưỡng chế THADS chưa được tác giả đề cập tới.
Nhìn chung, qua các cơng trình nghiên cứu nêu trên, các nhà nghiên cứu tập
trung nghiên cứu về THADS từ lý luận đến thực tiễn thi hành và đây là nguồn nhận
thức quan trọng để tác giả triển khai đề tài, rút ra được những vấn đề tiếp tục nghiên
cứu, định hướng cho việc nghiên cứu đề tài của mình. Trong cơng trình này, tác giả
có nhiệm vụ phải làm sáng tỏ về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan
trong cưỡng chế THADS ở góc độ thực tiễn có so sánh với pháp luật hiện hành để
đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế thi hành pháp luật về trách
nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong cưỡng chế THADS.


8

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, làm rõ quy định của pháp luật về trách nhiệm của các
cơ quan, tổ chức có liên quan trong cưỡng chế THADS, chỉ ra bất cập, vướng mắc,
nhằm đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và cơ chế thi hành pháp luật về trách
nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong cưỡng chế THADS.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống quy định của pháp luật về trách nhiệm
các cơ quan, tổ chức có liên quan trong cưỡng chế THADS;
- Đánh giá thực trạng áp dụng quy định của pháp luật hiện hành về trách
nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong cưỡng chế THADS;

- Kiến nghị, đề xuất giải pháp để hoàn thiện quy định của pháp luật về trách
nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong cưỡng chế THADS.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trong khuôn khổ của đề tài, tác giả chủ yếu tập trung phân tích, nghiên cứu
về những nội dung liên quan đến trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan
trong cưỡng chế THADS theo quy định pháp luật THADS Việt Nam. Cụ thể, tác
giả tập trung nghiên cứu các quy định của Luật THADS 2014, các văn bản hướng
dẫn thi hành và đặt trong mối tương quan với các văn bản pháp luật hiện hành như
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật các tổ chức tín dụng năm
2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Để đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật, tác giả đã viện dẫn một số việc
THA, từ hồ sơ THA của cơ quan THADS của một số địa phương, nhằm chỉ ra
những điểm còn tồn tại, hạn chế của pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật về trách
nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong cưỡng chế THADS.
Theo quy định của pháp luật THADS hiện hành, có nhiều cơ quan, tổ chức,
cá nhân có trách nhiệm phối hợp trong THADS, tuy nhiên trong phạm vi nghiên


9

cứu của đề tài, tác giả chỉ tập trung bàn về trách nhiệm phối hợp trong cưỡng chế
của: Uỷ ban nhân dân; Cơ quan Công an; Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác;
doanh nghiệp, mà khơng bàn đến các chủ thể có liên quan khác.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu luận văn được xuyên suốt đúng với mục đích và phạm vi đã
đặt ra, trong q trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp, cụ thể:
- Phương pháp phân tích: Phương pháp này được tác giả sử dụng để phân tích
các quy định của pháp luật liên quan đến đề tài nghiên cứu, nhằm làm rõ từng khía
cạnh pháp lý trong trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan

trong cưỡng chế thi hành án dân sự. Do vậy, trong toàn bộ luận văn đều sử dụng
phương pháp này, cụ thể tác giả sử dụng tại mục 1.1, 1.2 của chương 1 và mục 2.1
và 2.2 của chương 2.
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được tác giả sử dụng kết hợp với
phương pháp phân tích, để chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp của quy định
trong pháp luật hiện hành về trách nhiệm phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên
quan trong cưỡng chế thi hành án dân sự so với các giai đoạn trước đây. Phương
pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu trong mục 1.1 của chương 1 và mục 2.1 của
chương 2.
- Phương pháp lịch sử: Phương pháp này được tác giả sử dụng nhằm làm rõ sự
hình thành và phát triển của trách nhiệm phối hợp của các cơ quan có liên quan
trong cưỡng chế thi hành án dân sự, cụ thể là Uỷ ban nhân dân, cơ quan Cơng an,
Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác và doanh nghiệp nơi quản lý tài sản, thu
nhập của người phải thi hành án dân sự.
- Phương pháp tổng hợp: Được tác giả sử dụng để liên kết thông tin đã thu
thập được thành một chỉnh thể, từ đó rút ra các kết luận mà đề tài cần đạt được.
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong phần kết luận từng chương và kết
luận chung của luận văn.
- Phương pháp bình luận án: Phương pháp này được tác giả sử dụng trong việc
phân tích, bình luận các việc thi hành án thể hiện qua hồ sơ thi hành án của một số
cơ quan thi hành án dân sự, nhằm chỉ ra những vấn đề còn tồn tại, hạn chế, trên cơ
sở đó đề xuất hướng hồn thiện pháp luật. Phương pháp này được sử dụng xuyên


10

suốt luận văn, liên quan đến các nội dung đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật. Cụ
thể tại các mục 1.1, 1.2 của chương 1 và mục 2.1, 2.2 của chương 2.
5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề cơ bản về

trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong cưỡng chế THADS.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, học
tập về pháp luật THADS.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho những người làm
cơng tác thực tiễn có liên quan lĩnh vực THADS.
Những kiến nghị là cơ sở để hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của các cơ
quan, tổ chức có liên quan trong cưỡng chế THADS và thực tiễn thi hành.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn gồm có 02 chương:
Chương 1: Trách nhiệm của cơ quan có liên quan trong cưỡng chế thi hành
án dân sự.
Chương 2: Trách nhiệm của tổ chức có liên quan trong cưỡng chế thi hành
án dân sự.


11

CHƢƠNG 1: TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN CÓ LIÊN QUAN
TRONG CƢỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân
Theo quy định của Luật THADS 2014, UBND các cấp là một hệ thống cơ
quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác THADS. Bao gồm, UBND
cấp tỉnh, UBND cấp huyện, và UBND cấp xã3; nhiệm vụ, quyền hạn của UBND các
cấp trong việc tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật còn được
quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. UBND cấp tỉnh và
UBND cấp huyện còn thành lập Ban Chỉ đạo THADS để tham mưu cho Chủ tịch
UBND cùng cấp thực hiện việc quản lý nhà nước về công tác THADS, cụ thể tham
mưu cho Chủ tịch UBND cùng cấp chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có
liên quan trong THADS trên địa bàn; giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó

khăn phát sinh trong việc phối hợp; chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ
án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa
phương (Điều 3 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số
05/2016/TTLT-BTP-BCA-BTC-TANDTC-VKSNDTC, ngày 19/5/2016 của Bộ Tư
pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Tịa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân
tối cao quy định hoạt động của Ban Chỉ đạo THADS).
Trong THADS, UBND các cấp có vai trị rất lớn và mỗi cấp UBND có vị trí,
vai trị khác nhau. Đối với UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện với tư cách là cơ
quan quản lý nhà nước chung có thẩm quyền cao nhất ở địa phương, UBND cấp
tỉnh hoặc cấp huyện (tùy theo thẩm quyền thi hành thuộc về cơ quan THADS cấp
tỉnh hay cơ quan THADS cấp huyện) có nhiệm vụ, quyền hạn chỉ đạo cơng tác
THADS; chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ việc lớn, phức tạp; chỉ đạo
UBND cấp dưới, cơ quan THADS, các cơ quan chuyên môn phối hợp với các tổ
chức có liên quan… nhằm bảo đảm cho việc tổ chức THADS được thực hiện có
hiệu quả. Các cơ quan chuyên môn như cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường,
cơ quan quản lý xây dựng đô thị, cơ quan tài chính, cơ quan thuế… trong phạm vi
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình cũng tạo điều kiện thuận lợi giúp cơ
quan THADS hoàn thành nhiệm vụ, như: Cử người tham gia cưỡng chế, kê biên,
định giá tài sản để THA, lập thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản, xác nhận quyền
3

Điều 173, 174 và 175 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).


12

sở hữu tài sản, cung cấp thông tin liên quan đến tài sản. Như vậy, UBND cấp tỉnh
hoặc cấp huyện tham gia vào hoạt động THADS với tư cách là cơ quan có thẩm
quyền quản lý, phối hợp chỉ đạo và tổ chức việc THADS4.
UBND cấp xã thường là cơ quan trực tiếp quản lý, lưu giữ các thông tin liên

quan đến nhân thân, tài sản của đương sự. Do đó, để việc THADS đạt được hiệu
quả thì cơ quan THADS phải phối hợp chặt chẽ với UBND cấp xã thơng qua vai trị
của Chủ tịch UBND cấp xã. Là cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương, UBND cấp
xã có thể giáo dục, thuyết phục người phải THA tự nguyện thi hành án; cung cấp
các thông tin và xác nhận về địa chỉ, hoàn cảnh, nhân thân của người phải THA;
tham gia xác minh tài sản, thu nhập của người phải THA; tạo điều kiện thuận lợi
cho cơ quan THADS tổ chức THADS, đôn đốc các cơ quan, tổ chức hữu quan ở địa
phương phối hợp với cơ quan THADS trong việc THA; cử đại diện đến chứng kiến,
tham gia cưỡng chế hoặc xử lý tang vật, tài sản có liên quan đến việc THA; xác
nhận đơn xin miễn, giảm THA của người phải THA đối với các khoản án phí, tiền
phạt; trực tiếp THA đối với những vụ việc được cơ quan THADS cấp huyện chuyển
giao và các công việc khác theo quy định của pháp luật5.
Với qui định như trên của Luật, trong thực tiễn, đã dẫn đến một số bất cập,
vướng mắc liên quan đến trách nhiệm của UBND trong cưỡng chế THADS. Tính
bất cập chủ yếu xuất phát từ trách nhiệm của UBND cấp tỉnh và cấp huyện trong
việc chỉ đạo phối hợp THADS; việc phối hợp của UBND cấp xã và các cơ quan
chuyên môn của UBND các cấp trong THADS. Cụ thể:
Thứ nhất, việc tăng cường vai trò, chức năng của UBND các cấp trong công
tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực THADS là hết sức cần thiết, tuy nhiên, đây
không phải là cơ quan chuyên môn nên nếu gắn nhiệm vụ chỉ đạo chuyên môn
nghiệp vụ THA vào chức năng quản lý nhà nước của hệ thống chính quyền các cấp
sẽ ảnh hưởng đến tính độc lập trong hoạt động và thẩm quyền của CHV, cơ quan
THADS. Khi cơ quan THADS xin ý kiến về việc tổ chức cưỡng chế THADS, đa
phần, UBND các cấp dựa trên thông tin từ phía các cơ quan cung cấp để cho ý kiến

4

Trường Đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật thi hành án dân sự Việt Nam, Nguyễn Cơng
Bình, Bùi Thị Huyền (Chủ biên), NXB.Công an nhân dân, tr. 109.
5

Nguyễn Cơng Bình, Bùi Thị Huyền (Chủ biên), Tlđd(4), tr. 110.


13

chỉ đạo tạm hỗn cưỡng chế nhưng khơng có căn cứ theo quy định của Luật
THADS 2014.
Thứ hai, UBND các cấp là cơ quan chính quyền thực hiện chức năng quản
lý Nhà nước trên rất nhiều phương diện, không chỉ ở lĩnh vực THADS mà cịn
nhiều lĩnh vực khác. Vì vậy, trong thực hiện cưỡng chế THADS, khi cơ quan
THADS xin ý kiến UBND cấp huyện và cấp tỉnh, đa phần chỉ đạo cơ quan chuyên
môn phối hợp thực hiện nhưng khơng có biện pháp đơn đốc và phương pháp theo
dõi thực hiện, đồng thời, các cơ quan chuyên môn của UBND các cấp cũng thiếu
trách nhiệm trong việc phối hợp với CHV, cơ quan THADS, vì vậy, diễn ra tình
trạng chậm thực hiện, ảnh hưởng đến hoạt động THADS.
Thứ ba, phạm vi trách nhiệm của UBND cấp xã phối hợp với cơ quan
THADS trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THA rất lớn, trong khi đó khối
lượng cơng việc của cán bộ, công chức cấp xã ngày càng tăng. Trong việc phối hợp
cưỡng chế THADS, chỉ có một số trường hợp cán bộ, công chức cấp xã được chi trả
tiền bồi dưỡng theo quy định, còn lại căn cứ vào việc thực hiện nhiệm vụ công tác
họ phối hợp với cơ quan THADS trên tinh thần trách nhiệm, vì vậy, dẫn đến tình
trạng thiếu trách nhiệm trong quá trình phối hợp với CHV, cơ quan THADS trong
việc thực hiện nhiệm vụ THADS theo yêu cầu, đặc biệt là quá trình xác minh điều
kiện của đối tượng bị cưỡng chế THADS, chủ yếu UBND cấp xã cung cấp xác
minh và cung cấp thông tin cho CHV, cơ quan THADS dựa trên cảm tính, quan
điểm cá nhân và khơng có cơ sở, tài liệu hợp lý. Đây là một hoạt động chưa được
quy định cụ thể trong luật nhưng nó tồn tại phổ biến và hết sức quan trọng trong
cưỡng chế THADS, việc xác minh giúp CHV đánh giá được tình hình và xác định
việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS phù hợp, đồng thời, cung cấp thông tin
cho Cơng an trong q trình phối hợp với CHV, cơ quan THADS xây dựng kế

hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế trong THADS theo quy định tại Thông tư
liên tịch số 03/2012/TTLT-BTP-BCA bảo đảm cho việc thực hiện cưỡng chế
THADS thành công6.
Chẳng hạn:

6

Lê Anh Tuấn (2019), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cưỡng chế thi hành án dân sự, NXB.
Tư pháp - Hà Nội, tr.107.


14

1. Trên cơ sở Bản án số 07/2007/DS-PT ngày 14/9/2007 của TAND tỉnh Phú
Yên về vụ việc THA đối với ông Trần C, ngày 31/5/2011, Cục THADS tỉnh Phú
Yên ra Quyết định THA theo đơn yêu cầu số 26/QĐ-THA cho thi hành khoản
“Buộc vợ chồng ông Trần C và bà Trần Thị N phải trả cho ông Phạm Ngọc H số
tiền là 11.500USD”.
Ngày 28/01/2015, Cục THADS tỉnh Phú Yên tiến hành cưỡng chế kê biên,
xử lý tài sản là nhà ở và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất của vợ chồng ông
Trần C, bà Trần Thị N để thi hành án. Tài sản kê biên được thẩm định giá là
1.070.030.000đồng. Sau 10 lần giảm giá tài sản, ngày 20/7/2017, tài sản được bán
đấu giá thành với giá 730.000.000đồng. Người mua trúng đấu giá là ơng Hà Hồng
N, thành phố Tuy Hịa.
Sau khi có kết quả bán đấu giá thành, do vợ chồng ông C, bà N không tự
nguyện THA nên vào ngày 21/8/2018, Cục THADS tỉnh đã phối hợp với các ngành,
địa phương: Viện KSND tỉnh, Công an tỉnh, UBND xã An Chấn và các đoàn thể,
ban, ngành địa phương xã An Chấn tiến hành đến nhà của vợ chồng ơng C, bà N thì
nhà đóng cửa, cửa cổng khóa, nên khơng tiếp cận được ơng C, bà N để nắm bắt tình
hình thực tế của hai ông bà. Do đó, tổ công tác giao lại cho UBND xã An Chấn tiếp

cận, nắm tình hình và báo lại cho Cục THADS tỉnh.
Theo Báo cáo số 174/BC-UBND ngày 14/9/2018 của UBND xã An Chấn thì
vợ chồng ơng C và bà N thường xuyên đi khám bệnh và điều trị tại Bệnh viện Phục
hồi chức năng tỉnh Phú Yên. Quan điểm của UBND xã An Chấn:“nếu như cưỡng
chế THA đối với hộ ông Trần C, bà Trần Thị N sẽ khơng phù hợp bởi vì hai ơng bà
lớn tuổi, già yếu và thường xuyên bệnh đau.
Ngày 18/9/2018, Cục THADS tỉnh tiến hành kiểm tra, xác minh tại Bệnh
viện Phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên. Kết quả xác minh: Trong năm 2017, vào lúc
09 giờ ngày 06/10/2017, Khoa Phục hồi chức năng do Bác sỹ Trương Thị Xuân T,
chức vụ Trưởng khoa có tiếp nhận và điều trị bệnh nhân Trần C, 82 tuổi, địa chỉ:
Thôn Mỹ Quang Nam, xã An Chấn, huyện Tuy An nhập viện với căn bệnh: Thiểu
năng tuần hoàn não, hay đau đầu, mất ngủ, chóng mặt (bệnh người già) thời gian
điều trị 10 ngày, đến 16 giờ ngày 16/10/2017 ông Trần C xuất viện. Từ đó đến nay
Bệnh viện Phục hồi chức năng tỉnh Phú Yên không tiếp nhận bệnh nhân nào tên
Trần C - Trần Thị N. Điều đó chứng tỏ chính quyền địa phương (xã An Chấn)


15

khơng sát tình hình, vợ chồng ơng Trần C, Trần Thị N khơng có bệnh gì nghiêm
trọng và cũng khơng phải thường xuyên đi khám và điều trị ở Bệnh viện Phục hồi
chức năng tỉnh Phú Yên. Đến nay, điều kiện hỗn việc cưỡng chế giao tài sản khơng
cịn; người mua trúng đấu giá liên tục có đơn yêu cầu nhận tài sản.
Để đảm bảo quyền lợi của người mua trúng đấu giá tài sản theo quy định tại
Điều 103 Luật THADS năm 2014, Cục THADS tỉnh kiến nghị Phó Chủ tịch UBND
tỉnh có ý kiến chỉ đạo Cơng an tỉnh, Viện KSND tỉnh, Sở Y tế tỉnh, UBND xã An
Chấn và các cơ quan có liên quan cử lực lượng tham gia, phối hợp cùng Cục
THADS tỉnh để cưỡng chế giao tài sản cho người mua trúng đấu giá đối với vợ
chồng ông C, bà N trong tháng 10/2018 theo quy định pháp luật, hạn chế việc khiếu
nại đương sự.

Tuy nhiên, theo Báo cáo của UBND xã An Chấn thì vợ chồng ơng C, bà N
thường xun đi khám và điều trị bệnh tại Bệnh viện phục hồi chức năng; bà N bị
tai biến nhẹ, ông C thường xuyên bị cao huyết áp, đồng thời theo nhận định của cơ
quan chức năng thì việc tổ chức cưỡng chế thi hành sẽ tạo áp lực, ảnh hưởng đến
sức khỏe vợ chồng ơng C, bà N, dễ tạo thành điểm nóng. UBND tỉnh Phú Yên có
văn bản yêu cầu Cục THADS tỉnh tạm hoãn tổ chức cưỡng chế giao tài sản cho đến
khi vợ chồng ông C và bà N ổn định sức khỏe sẽ tổ chức thi hành án, đồng thời tiếp
tục phối hợp với Sở Y tế, cung cấp, nhận xét, đánh giá về tình hình sức khỏe của vợ
chồng ông C.
Theo Công văn số 2875/SYT-NVY ngày 05/12/2018 của Sở Y tế tỉnh Phú
Yên, nhận xét về tình trạng diễn biến bệnh của ông C, bà N như sau: cả hai người
thuộc diện người cao tuổi, có mắc các bệnh mạn tính kèm theo như tăng huyết áp,
cơn đau thắt ngực, hội chứng mạch máu não, di chứng tai biến mạch máu não…
thường xuyên dùng thuốc để điều trị trong thời gian dài. Do vậy, sẽ khó tiên lượng,
đánh giá chính xác về diễn biến bệnh của ơng C, bà N trong thời gian hiện tại và sắp
đến7.
Trong việc THADS trên, phía UBND xã thiếu trách nhiệm trong việc phối
hợp xác minh điều kiện cưỡng chế THADS, dẫn đến cung cấp thơng tin thiếu chính
xác cho cơ quan THADS và các cơ quan có liên quan. Trong khi đó, thực tế đây là
7

Quyết định số 02/QĐ-CTHA, ngày 10/12/2013 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên về
cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản.


16

điều kiện cực kỳ quan trọng giúp CHV đánh giá tình hình trước khi tổ chức cưỡng
chế THADS. Bên cạnh đó, UBND tỉnh Phú Yên chỉ đạo Cục THADS tỉnh tạm hỗn
cưỡng chế THADS vì lý do sức khỏe của người phải THA là chưa thuyết phục,

khơng có căn cứ theo quy định về hoãn THADS tại Điều 48 Luật THADS 2014.
Theo điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 48 Luật THADS 2014, Thủ trưởng cơ quan
THADS ra quyết định hoãn THA trong trường hợp người phải THA bị ốm nặng, có
xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên hoặc Thủ trưởng cơ quan THADS ra
quyết định hoãn THA khi nhận được yêu cầu hoãn THA của người có thẩm quyền
kháng nghị ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế THA đã được ấn định trong
quyết định cưỡng chế. Trường hợp cơ quan THA nhận được u cầu hỗn THA của
người có thẩm quyền kháng nghị ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được
ấn định trong quyết định cưỡng chế THA thì Thủ trưởng cơ quan THADS có quyền
quyết định hỗn THA khi xét thấy cần thiết. Trong khi đó, Sở Y tế tỉnh Phú Yên chỉ
nhận xét về tình hình sức khỏe của vợ chồng ơng C sẽ khó tiên lượng, đánh giá
chính xác về diễn biến bệnh của ơng C, bà N trong thời gian hiện tại và sắp đến, chứ
không kết luận là bị ốm nặng và cũng khơng có u cầu hỗn THADS của người có
thẩm quyền kháng nghị. Việc THA kéo dài hơn 10 năm đến nay vẫn chưa thi hành
xong, người mua trúng đấu giá chưa được giao tài sản, người được THA chưa được
THA theo quyền lợi được tuyên trong bản án và quyết định thi hành án dẫn đến phát
sinh nhiều đơn khiếu nại yêu cầu THA, bàn giao tài sản.
Từ bất cập trên, tác giả kiến nghị:
1. Sửa đổi khoản 2 Điều 173 và khoản 2 Điều 174 Luật THADS 2014 theo
hướng: Bỏ quy định UBND chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn,
phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội ở địa phương
theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan THADS.
Bởi lẽ, THADS là hoạt động tố tụng độc lập và thẩm quyền cưỡng chế
THADS đã được trao cho chức danh cụ thể là CHV thực hiện và chịu trách nhiệm
về việc làm của mình nên khơng thể thực hiện theo chỉ đạo của cơ quan, cá nhân
khác; bên cạnh đó, Thủ trưởng Cơ quan THADS là người có thẩm quyền ra quyết
định hỗn thi hành án, tuy nhiên, trên thực tế, quá trình THADS vẫn chịu sự chi
phối và tác động của chính quyền địa phương nên khơng thể độc lập trong q trình
thi hành án.



17

2. Bổ sung vào mục 2 của Chương IV quy định về Xác minh điều kiện cưỡng
chế THA trước khi ban hành kế hoạch cưỡng chế THA, cụ thể:
“1. Trước khi ban hành kế hoạch cưỡng chế thi hành án, Chấp hành viên
phải phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan xác minh điều kiện
cưỡng chế thi hành án.
2. Tùy theo từng trường hợp cụ thể, việc xác minh điều kiện cưỡng chế thi
hành án bao gồm các nội dung chính sau đây:
a) Địa điểm xác minh tại nơi sinh sống, thường trú, nơi làm việc của đối
tượng bị cưỡng chế; nơi cơ quan, tổ chức bị cưỡng chế thi hành án có trụ sở và
thành lập, bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó;
b) Xác minh về trình độ nhận thức hiểu biết pháp luật, tiền án, tiền sự của
đối tượng bị cưỡng chế (nếu có), biểu hiện thái độ chống đối, đối phó và các hành
vi trốn tránh khác của đối tượng bị cưỡng chế và gia đình; xác minh về quan hệ,
quan điểm của địa phương và thái độ của dư luận đối với vụ án và người bị cưỡng
chế thi hành án, làm rõ đối tượng bị cưỡng chế thi hành án và gia đình họ với
người có chức vụ, quyền hạn và uy tín ở địa phương từ trưởng xóm, trưởng bản,
trưởng thơn, già làng, linh mục, các thành viên trong chính quyền địa phương, như
quan hệ anh, em huyết thống, quan hệ thông gia, quan hệ bạn hữu, quan hệ làm ăn
ảnh hưởng đến sự phối hợp cưỡng chế thi hành án; quan điểm của địa phương và
thái độ của dư luận đối với vụ án như đồng tình hay khơng đồng tình với bản án,
quyết định, ủng hộ hay không ủng hộ thực hiện cưỡng chế thi hành án. Xác minh về
điều kiện, đặc điểm địa hình nơi cưỡng chế làm rõ địa hình xung quanh nơi cưỡng
chế, giao thơng đi lại; địa hình, địa vật hoặc chống đối của đương sự và những
người có liên quan trong gia đình, họ hàng, bạn bè của đối tượng bị cưỡng chế thi
hành án.
3. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác
minh điều kiện cưỡng chế thi hành án:

a) Cơ quan, tổ chức, công chức tư pháp - hộ tịch, địa chính - xây dựng - đơ
thị và mơi trường, cán bộ, cơng chức cấp xã khác và cá nhân có liên quan thực hiện
yêu cầu của Chấp hành viên và phải chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã
cung cấp. Nếu cung cấp nội dung chứa đựng thông tin khơng chính xác do ngun


18

nhân chủ quan dẫn đến không thể tổ chức cưỡng chế thi hành án mà phát sinh hậu
quả thì phải bị xử lý kỷ luật. Cán bộ, công chức cấp xã chịu trách nhiệm phối hợp
tiến hành xác minh điều kiện cưỡng chế thi hành án dân sự được chi trả thù lao,
tiền bồi dưỡng theo quy định;
b) Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin của đối tượng bị cưỡng
chế thi hành án và các thông tin khác có liên quan đến đối tượng bị cưỡng chế có
trách nhiệm cung cấp thơng tin khi Chấp hành viên có yêu cầu trong thời hạn 03
ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ trường hợp do sự kiện bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối
cung cấp thơng tin thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
4. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấp hoặc cung cấp
thông tin sai sự thật về điều kiện cưỡng chế thi hành án của đối tượng bị cưỡng chế
thi hành án thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, thanh toán các chi phí phát
sinh, trường hợp gây ra thiệt hại phải bồi thường.”
Bên cạnh bất cập, vướng mắc trên, trong thực tiễn còn tồn tại trường hợp
UBND các cấp chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp với cơ quan THADS
trong việc cung cấp thông tin về tài sản bị cưỡng chế kê biên, nhưng các cơ quan
này chưa phối hợp hiệu quả với cơ quan THADS, nhưng UBND các cấp cũng
khơng có biện pháp chỉ đạo quyết liệt đối với tình trạng này.
Chẳng hạn: Quá trình thi hành án, Chi cục THADS thị xã Sông Cầu đã ban
hành Quyết định số 06/QĐ-CCTHADS, ngày 15/7/2019 về cưỡng chế kê biên
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của vợ chồng ơng Nguyễn Chí Dũng,

bà Lê Thị Kim Trang, trong đó có nhà hàng Hịa Phát (gồm quyền sử dụng đất và
các tài sản gắn liền với diện tích đất 2.494,8m2) và tạm giao cho vợ chồng ơng
Hưng, bà Quyên quản lý, khai thác, sử dụng nhà hàng Hịa Phát đến khi có quyết
định của Chi cục THADS thị xã Sông Cầu và Quyết định số 04/QĐ-CCTHADS,
ngày 31/7/2019 về việc sửa đổi, bổ sung quyết định về thi hành án.
Theo quy định của pháp luật THADS, tài sản phải được thẩm định giá, bán
đấu giá ngay sau khi đã hoàn thành việc kê biên tài sản. Nhưng, hiện nay khối tài
sản quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất của nhà hàng Hòa Phát còn
gặp phải vướng mắc về giá trị pháp lý đối với phần cơng trình xây dựng trái phép và
phần đất đã xây dựng trái phép chưa chuyển mục đích sử dụng đất nên nhà, đất này


×