BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỐ CHÍ MINH
LA HỒNG NGÂN
GIAO NỘP, TIẾP CẬN CHỨNG CỨ
TRONG THỦ TỤC SƠ THẨM DÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỐ CHÍ MINH
GIAO NỘP, TIẾP CẬN CHỨNG CỨ
TRONG THỦ TỤC SƠ THẨM DÂN SỰ
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Định hƣớng nghiên cứu
Mã số CN: 8380103
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Tiến
Học viên: La Hồng Ngân
Khóa: CHL – K30
TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ
thẩm dân sự” là cơng trình nghiên cứu khoa học của riêng tơi, được thực hiện
dưới sự hướng dẫn khoa học của Ts. Nguyễn Văn Tiến.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
trung thực và chưa từng được cơng bố dưới bất kỳ hình thức nào.
Tơi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Tp. Hồ Chí Minh ngày
tháng
Tác giả
La Hồng Ngân
năm 2021
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Từ đƣợc viết tắt
BLDS 2015
Bộ luật Dân sự năm 2015
BLTTDS 2015
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
TTDS
Tố tụng dân sự
TAND
Tòa án nhân dân
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIAO NỘP, TIẾP CẬN
CHỨNG CỨ TRONG THỦ TỤC SƠ THẨM DÂN SỰ ........................................ 9
1.1. Khái niệm, đặc điểm về giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ
thẩm dân sự ......................................................................................................... 9
1.1.1. Khái niệm.................................................................................................. 9
1.1.2. Đặc điểm của việc giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm
dân sự ............................................................................................................... 14
1.2. Ý nghĩa của quy định về giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ
thẩm dân sự ....................................................................................................... 17
1.3. Nội dung hoạt động giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm
dân sự ................................................................................................................. 19
1.3.1. Giao nộp chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự .................................. 19
1.3.2. Tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự ................................... 25
Kết luận chƣơng 1 ................................................................................................... 29
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ GIAO NỘP, TIẾP CẬN
CHỨNG CỨ TRONG THỦ TỤC SƠ THẨM DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ
HOÀN THIỆN ......................................................................................................... 30
2.1. Về việc xác định tài liệu, chứng cứ đã đƣợc giao nộp bảo đảm đủ cơ sở
để giải quyết vụ việc dân sự và kiến nghị hoàn thiện pháp luật...................... 30
2.2. Về quyền tiếp cận chứng cứ của đƣơng sự và kiến nghị hoàn thiện
pháp luật ............................................................................................................ 38
2.3. Về số lần tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, cơng khai
chứng cứ và kiến nghị hồn thiện pháp luật .................................................. 42
2.4. Về nội dung phiên họp, nội dung biên bản về kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, cơng khai chứng cứ và kiến nghị hồn thiện pháp luật ................. 49
2.5. Về sự vắng mặt của đƣơng sự, thơng báo kết quả phiên họp và kiến
nghị hồn thiện pháp luật ................................................................................ 52
2.6. Về thời điểm bị đơn có yêu cầu phản tố, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có yêu cầu độc lập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật.................. 58
Kết luận chƣơng 2 ................................................................................................... 65
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Chứng minh, chứng cứ là một trong những nguyên tắc cơ bản của
BLTTDS 2015 và để thực hiện nguyên tắc này, một trong những thủ tục tố tụng
cơ bản phải thực hiện là giao nộp, tiếp cận chứng cứ. Giao nộp chứng cứ là
quyền, đồng thời cũng là nghĩa vụ của đương sự; tiếp cận chứng cứ là quyền của
đương sự được quy định trong quá trình a án giải quyết vụ án.
Pháp luật hiện hành còn quy định hẩm phán được phân công giải quyết
vụ án phải tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải. Việc quy định về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ và hòa giải là một trong những nội dung bảo đảm
nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. Đây là quy định mới, có ý nghĩa quan trọng
nhằm bảo đảm tiếp cận các tài liệu, chứng cứ của vụ án để thực hiện quyền tranh
tụng của mình. Tuy nhiên, một số quy định về giao nộp, tiếp cận chứng cứ được
BLTTDS 2015 vẫn cịn những bất cập trong q trình áp dụng thực tiễn. Những
vấn đề đó là:
Thứ nhất, về thời điểm mở phiên họp. Pháp luật TTDS chỉ quy định thời
điểm mở phiên họp trong phạm vi giai đoạn chuẩn bị xét xử mà không quy định
cụ thể mốc thời điểm bắt đầu có thể ra thơng báo mở phiên họp để tiến hành mở
phiên họp. Vì vậy Thẩm phán có thể tổ chức phiên họp vào bất cứ thời điểm nào
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sau khi Thẩm phán cho rằng tài liệu chứng cứ đã
đầy đủ, nội dung quan hệ tranh chấp đã được xác định rõ. Bên cạnh đó, pháp luật
TTDS cũng khơng quy định số lần mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, cơng khai chứng cứ và hịa giải. Điều này tạo ra sự không thống nhất giữa
các Thẩm phán và sự chủ quan của đương sự khi khơng có trách nhiệm nhanh
chóng giao nộp chứng cứ, cũng như cố tình giao nộp chứng cứ nhiều lần để trì
hỗn q trình giải quyết vụ án nhằm gây ra bất lợi cho đương sự khác.
hứ hai, về nội dung phiên họp. Trình tự phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ hẩm phán phải công bố các tài liệu chứng cứ của
các bên đương sự giao nộp, của Tòa án thu thập được. Tuy nhiên, pháp luật
2
không quy định rõ cách thức công bố như thế nào nên gây khó khăn trong q
trình áp dụng pháp luật.
Thứ ba, về sự vắng mặt của đương sự và thông báo kết quả phiên họp.
Điều kiện để tiến hành phiên họp trong trường hợp đương sự vắng mặt phải thỏa
mãn cả hai điều kiện đó là: điều kiện thứ nhất, phải được sự đồng ý của các
đương sự có mặt và điều kiện thứ hai là việc tiến hành phiên họp đó khơng ảnh
hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Tuy nhiên, vấn đề cần phải
xem xét đó là như thế nào thì được coi “việc tiến hành phiên họp không ảnh
hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt”. Đây là quy định không rõ
ràng, hiện nay, vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về vấn đề trên nên trong thực tế
áp dụng còn nhiều lúng túng và không thống nhất.
Thứ tư, về thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập. Thời điểm
đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan cũng liên quan đến phiên họp. Theo đó, bị đơn có quyền đưa
ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền yêu cầu độc
lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai
chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, thực hiện quy định này trong thực tiễn, vẫn còn
nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến áp dụng không thống nhất, ảnh hưởng đến
quyền và lợi ích hợp hợp của các đương sự trong vụ án.
Thứ năm, về quyền tiếp cận tài liệu chứng cứ của đương sự liên quan đến
phát sinh yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập. Thực tiễn cho thấy nhiều trường hợp
đương sự không sao gửi tài liệu cho nhau, đương sự chỉ biết được các chứng cứ
thông qua phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hịa
giải. Điều này có thể gây bất lợi cho đương sự vì có trường hợp chỉ khi được tiếp
cận các chứng cứ, đương sự mới có thể nắm bắt được tồn bộ nội dung vụ án, từ
đó phát sinh yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập sau phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng theo pháp luật hiện hành
thì u cầu của đương sự khơng được chấp nhận.
Với những bất cập trên, việc cần nghiên cứu đưa ra các giải pháp sửa đổi,
bổ sung nhằm góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật là cần thiết. Bên cạnh
đó kiến nghị biện pháp thống nhất việc áp dụng pháp luật về phiên họp kiểm tra
3
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để nhằm thực hiện có hiệu quả vấn
đề này trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự.
Chính vì vậy, việc chọn đề tài “Giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục
sơ thẩm dân sự” làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học là hết sức cần thiết và mang
tính thời sự, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay hệ thống TAND đang thụ lý giải
quyết các vụ án dân sự ngày càng nhiều về số lượng và phức tạp về nội dung.
II. Tình hình nghiên cứu đề tài
hực tiễn thời gian qua cho thấy vấn đề về chứng cứ nói chung và về
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, cơng khai chứng cứ nói riêng cũng đã
có nhiều nghiên cứu đề cập. Tuy nhiên, về thủ tục giao nộp, tiếp cận chứng cứ
cũng chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể:
- rường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), “Giáo trình luật
tố tụng dân sự Việt Nam”, NXB Hồng Đức. Giáo trình giới thiệu những kiến
thức cơ bản của tố tụng dân sự như: Khái niệm, các nguyên tắc cơ bản của Luật
tố tụng dân sự; chủ thể quan hệ pháp luật tố tụng dân sự; thẩm quyền của Tòa án;
chứng cứ và chứng minh; án phí và các chi phí tố tụng khác; các biện pháp khẩn
cấp tạm thời; thủ tục giải quyết vụ án dân sự và thủ tục giải quyết việc dân sự
trong tố tụng dân sự nhằm tổng hợp, nghiên cứu, đánh giá về các quy định của
pháp luật hiện hành; giáo trình đã có sự phân tích những vấn đề cơ bản về chi
phí tố tụng khác trong BLTTDS. Tuy nhiên, vì đây là giáo trình nên chủ yếu là
nghiên cứu về vấn đề lý luận khơng trình bày về thực tiễn và bất cập về việc thực
hiện các quy định này.
- ưởng Duy Lượng (2009), Pháp luật Tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Tác giả phân tích, bình luận từng vụ việc cụ thể
đã phải xử đi xử lại nhiều lần do vi phạm pháp luật về tố tụng như: Thẩm quyền
giải quyết tranh chấp đất đai; chứng cứ và chứng minh trong việc giải quyết
đúng đắn các vụ việc dân sự; việc xác định người được tham gia tố tụng để bảo
đảm cho vụ án được công bằng; việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời
nhằm đảm bảo nhu cầu cấp bách của đương sự trong việc bảo tồn tình trạng tài
sản và chứng cứ hoặc để bảo đảm việc thi hành án. Sau mỗi vụ việc, tác giả đều
đưa ra những nhận xét, những kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Trong suốt q
trình phân tích, bình luận ít đề cập đến phiên tòa phúc thẩm dân sự.
4
- Đồn Tấn Minh và Nguyễn Ngọc Điệp (2016), “Bình luận khoa học
BLTTDS 2015” Nhà xuất bản Lao động năm 2016. Với phương pháp bình luận
mới, được dựa trên việc tổng kết kinh nghiệm xét xử của cá nhân, công trình
nghiên cứu đã kiến giải nhiều vấn đề phức tạp, giải thích khá chi tiết, dễ hiểu
và sát với thực tế từng điều luật cụ thể, giúp cho người đọc dễ dàng tiếp cận
vấn đề khi nghiên cứu Bộ luật này, cũng như nâng cao được kiến thức pháp lý
về lĩnh vực tố tụng dân sự, để có thể vận dụng hiệu quả trong việc áp dụng Bộ
luật nói trên.
- Phan Thị Thu Hà (2018), “Những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện
quy định của BLTTDS 2015 về chứng minh, chứng cứ và một số đề xuất, kiến
nghị”, Tạp chí Tòa án số 08/2018. Bài viết nêu lên những vướng mắc, khó khăn
về chứng minh, chứng cứ theo quy định của BLTTDS và đưa ra một số đề xuất,
kiến nghị góp phần hồn thiện các quy định của BLTTDS. Tuy nhiên, nội dung
chỉ đề cập đến những vướng mắc về tạm ứng chi phí giám định, chi phí định giá
trong trường hợp Tòa án tự quyết định trưng cầu giám định, định giá và vướng
mắc về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, từ đó đưa ra một số đề xuất, kiến nghị
mà khơng nghiên cứu về chi phí tố tụng khác trong TTDS.
- rường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2016), “Bình luận những điểm
mới trong BLTTDS 2015” (Nguyễn Thị Hoài Phương chủ biên), Nhà xuất bản
Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam xuất bản năm 2016. Với cơng trình nghiên
cứu này, các tác giả đã nêu bật lên được những điểm mới của BLTTDS 2015 so
với BLTTDS 2004, trong đó, có bình luận về phiên họp kiểm tra việc giao nộp,
tiếp cận, công khai chứng cứ, tác giả đã giải thích và phân tích những quy định
về phiên họp đồng thời tập trung bình luận các quy định này. Cơng trình nghiên
cứu giúp người đọc nắm được quy trình tố tụng mới trong pháp luật dân sự hiện
hành là tổ chức phiên họp giao nộp, tiếp cận, cơng khai chứng cứ và hịa giải.
Tuy nhiên, cơng trình chỉ đi sâu vào phân tích quy định pháp luật mà chưa làm
rõ những vướng mắc còn tồn đọng.
Hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm trong quá trình giải
quyết vụ án dân sự, Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả rương Việt Hồng
(2014), trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh và Hoạt động thu thập
5
chứng cứ trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học của Hà Thái
hơ (2011) trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh và các bài viết, tạp chí:
“Một số vấn đề về chứng cứ, chứng minh trong BLTTDS 2015 và thực tiễn áp
dụng” của tác giả Nguyễn Thị Hương, Tạp chí TAND, số 11/2018; “Bàn về
phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vụ án dân
sự” của tác giả Đặng Thanh Hoa, tạp chí TAND, số 10/2017; “Quyền tiếp cận
chứng cứ và quyền yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự tại “Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải” của tác giả Phan Nguyễn Bảo Ngọc, Tạp chí TAND, số 13/2017; “ hời hạn
giao nộp chứng cứ của đương sự và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ theo quy định của BLTTDS 2015” của tác giả Bùi Thị
Huyền, Tạp chí Kiểm sát số 10, tháng 5/2016.
Các bài viết nói trên chủ yếu nghiên cứu về quyền tiếp cận chứng cứ, thời
hạn giao nộp chứng cứ và phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ trên những
khía cạnh khác nhau. Các luận văn thạc sỹ cũng chủ yếu nghiên cứu về cung cấp
chứng cứ, về hoạt động thu thập chứng cứ trên cơ sở BLTTDS 2004, được sửa
đổi bổ sung năm 2011, nhưng chưa tiếp cận những quan điểm mới của BLTTDS
2015 nên phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và
những quy định về giao nộp, tiếp cận chứng cứ chưa được bàn sâu và cần có
những kiến nghị nhằm tháo gỡ những vướng mắc cịn tồn đọng trong q trình
áp dụng pháp luật trên thực tiễn.
III. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Cơng trình làm rõ về lý luận đối với hoạt động giao nộp, tiếp cận chứng
cứ và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong
giai đoạn sơ thẩm vụ án dân sự. hực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng về
giao nộp, tiếp cận chứng cứ và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ trong giai đoạn sơ thẩm vụ án dân sự cũng được phân
tích, đánh giá, từ đó đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về thủ tục
giao nộp, tiếp cận chứng cứ và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ. Đồng thời tác giả đưa ra những kiến nghị để giúp việc áp
6
dụng pháp luật tại các Tòa án thống nhất, đạt hiệu quả, đảm bảo nguyên tắc
tranh tụng, quyền tiếp cận chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự trong vụ án. Đồng thời, đảm bảo giải quyết vụ án đúng trình tự, thủ
tục pháp luật tố tụng, nâng cao hiệu quả, chất lượng giải quyết vụ án, giải
quyết vụ án được nhanh chóng, chính xác, công minh trên cơ sở các tài liệu,
chứng cứ trong hồ sơ vụ án.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về giao
nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự.
- Phân tích, đánh giá về thực trạng pháp luật hiện hành về giao nộp, tiếp
cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự.
- Phân tích, đánh giá về thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật hiện
hành về giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về giao nộp, tiếp
cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự.
IV. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng Việt Nam
hiện hành về giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự. Đồng
thời, thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng cũng được phân tích, đánh giá để chỉ
ra những bất cập, hạn chế của pháp luật, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện
pháp luật về giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự.
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu về giao nộp, tiếp cận chứng cứ
trong thủ tục sơ thẩm dân sự. Giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong các thủ tục khác
không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
V. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu trong đề tài gồm có phương pháp phân tích luật
viết, bình luận, so sánh, tổng hợp, cụ thể:
7
Phương pháp phân tích được sử dụng tại cả chương 1 và chương 2 của
luận văn để chia nhỏ các vấn đề lý luận, thực tiễn thành từng chi tiết, khía cạnh
nhỏ để nghiên cứu, giải thích nhằm tìm hiểu sâu sắc, toàn diện vấn đề.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng tại cả chương 1 và chương 2 của
luận văn để liên kết lại các dữ kiện đã phân tích nhằm đúc kết, hệ thống lại đầy
đủ tồn bộ vấn đề.
Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật được sử dụng chủ yếu tại
chương 1 của luận văn để làm rõ đặc điểm, nội dung các quy định pháp luật về
giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự.
Phương pháp đánh giá được sử dụng chủ yếu tại chương 2 của luận văn để
nêu quan điểm, nhận định của tác giả về thực trạng áp dụng pháp luật tại các bản
án, thông báo tố tụng của một số Tòa án được dẫn chứng tại luận văn.
Phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu tại chương 1 của luận văn để
đối chiếu đưa ra những điểm giống nhau, điểm khác biệt giữa kết quả nghiên
cứu của tác giả so với những nghiên cứu trước đây và sử dụng tại chương 2 để
đánh giá ưu, nhược điểm của các quan điểm trong việc áp dụng pháp luật trên
thực tiễn.
VI. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Luận văn giải quyết vấn đề cơ bản của giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong
thủ tục sơ thẩm dân sự và việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn. Kết quả của cơng
trình hướng đến:
Thứ nhất, là tài liệu tham khảo sử dụng trong quá trình học tập, làm khóa
luận, luận văn, báo cáo, bài báo, nghiên cứu khoa học về giao nộp, tiếp cận
chứng cứ hoặc về quy định phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, cơng khai
chứng cứ và hịa giải.
Thứ hai, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật còn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng về giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong
thủ tục sơ thẩm dân sự. Từ đó phát triển đề tài khả thi trong thực tiễn, góp phần
đảm bảo tính thống nhất trong q trình áp dụng pháp luật, bảo đảm sự công bằng,
nghiêm minh của pháp luật, đồng thời bảo đảm quyền lợi của các đương sự.
8
Thứ ba, nâng cao kỹ năng nghiên cứu khoa học của tác giả. Việc hồn
thành luận văn nâng cao trình độ tri thức, khả năng tư duy nghiên cứu lý luận cơ
bản, rèn luyện khả năng vận dụng các kỹ năng, phương pháp phân tích, so sánh,
tổng hợp, hệ thống hóa và khoa học chuyên sâu.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, lời cam đoan, mục lục, danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn gồm có 02 chương sau:
Chƣơng 1. Những vấn đề cơ bản về giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ
tục sơ thẩm dân sự
Chƣơng 2. Thực trạng pháp luật về giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ
tục sơ thẩm dân sự và kiến nghị hoàn thiện.
9
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIAO NỘP, TIẾP CẬN CHỨNG CỨ
TRONG THỦ TỤC SƠ THẨM DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm về giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục
sơ thẩm dân sự
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm chứng cứ trong tố tụng dân sự
Theo ừ điển iếng Việt, chứng cứ là “cái được dẫn ra để làm căn cứ xác
định điều gì đó là có thật”1. Theo ừ điển pháp luật của Đại học Oxford: “Chứng
cứ để chứng minh sự tồn tại hoặc không tồn tại của sự thật nào đó. Chứng cứ bao
gồm lời khai, tài liệu chứng cứ, vật chứng và tin đồn đã được xác thực.”2. Theo
các khái niệm trên, chứng cứ là căn cứ để xác định, chứng minh một điều gì đó
là có thật.
Trong khoa học pháp lý, có nhiều quan điểm khác nhau về chứng cứ. Theo
tác giả Nguyễn hị Mai Phương, “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những
thông tin, sự kiện, tình tiết có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác giao nộp, xuất trình cho Tịa án trong q trình tố tụng hoặc do Tịa án thu
thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng
làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định
yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp.”3. Theo quan
điểm này, chứng cứ bao gồm những thơng tin, sự kiện, tình tiết có thật được
đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp cho Tòa án hoặc Tòa án thu
thập để làm căn cứ xác định yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp.
Theo Điều 55 BLTTDS Liên bang Nga: Chứng cứ trong vụ án dân sự là
những gì được thu thập theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định mà Tịa án
căn cứ vào đó để xác định có hay khơng có các tình tiết làm cơ sở cho những yêu
cầu hay sự phản đối yêu cầu của các bên cũng như những tình tiết khác có ý
Hồng Phê (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr.192
Elizabeth A. Martin (2002), A dictionary of Law, NXb. Oxford New York, tr. 187
3
Nguyễn Thị Mai Phương (2018), Giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt
Nam hiện nay từ thực tiễn xét xử tại TAND quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn, Học viện
Khoa học Xã hội, tr.9
1
2
10
nghĩa để giải quyết đúng đắn vụ án.4 Theo khái niệm này, chứng cứ là những gì
được thu thập theo luật định, Tòa án dùng làm căn cứ để xác định sự tồn tại của
các tình tiết nhằm để chứng minh yêu cầu của các bên, hoặc các tình tiết liên
quan đến vụ án.
Chứng cứ theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam được quy định đầu tiên
tại BLTTDS 2004. Điều 93 BLTTDS 2015 kế thừa và phát triển khái niệm
chứng cứ trong BLTTDS 2004. Theo đó, “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là
những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp,
xuất trình cho Tịa án trong q trình tố tụng hoặc do Tịa án thu thập được theo
trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để
xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự
phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”.
Với quy định trên, so với trước đây, pháp luật hiện hành quy định thêm về
“xuất trình” chứng cứ. Quy định này mở rộng phạm vi thu thập, sử dụng chứng
cứ của Tòa án trong việc ban hành phán quyết xác định các tình tiết khách quan
của vụ án, cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ
và hợp pháp.
Chứng cứ và nguồn chứng cứ là hai mặt không thể tách rời. Chứng cứ bắt
buộc phải được rút ra từ một trong những nguồn do luật định và được thu thập
theo trình tự đã quy định. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các chủ thể
chứng minh phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về chứng cứ, thu
thập chứng cứ. Đối với những thông tin không được rút ra từ các nguồn do
pháp luật quy định, không được thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng theo
đúng quy định thì khơng được coi là chứng cứ, không được sử dụng để giải
quyết vụ việc dân sự.
Trong TTDS, nguồn chứng cứ, quy định tại Điều 94 BLTTDS 2015. So
với quy định của BLTTDS 2004, thì BLTTDS 2015 đã quy định bổ sung ba loại
nguồn chứng cứ: Dữ liệu điện tử; văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do
người có chức năng lập; văn bản công chứng, chứng thực. Cùng với việc quy
định bổ sung như trên, BLTTDS 2015 không quy định tập quán là một loại
4
Nguyễn Ngọc Khánh, Trần Văn Trung (2005), BLTTDS Liên Bang Nga, Nxb ư Pháp, tr.79
11
nguồn chứng cứ nhằm phù hợp với thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự. Đây
là điểm tiến bộ lớn của BLTTDS 2015.
Như vậy, có thể hiểu chứng cứ là những gì phản ánh sự thật khách quan,
được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do
Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục từ các nguồn chứng cứ do luật tố tụng
dân sự quy định, được kiểm tra, đánh giá và sử dụng để làm căn cứ giải quyết
các yêu cầu của đương sự, xác định sự thật khách quan của vụ việc dân sự.
1.1.1.2. Khái niệm giao nộp, tiếp cận chứng cứ
Theo ừ điển iếng Việt, giao nộp là “nộp cho cơ quan có trách nhiệm
thu giữ”5. Theo khái niệm này, giao nộp là hành động nộp thứ gì đó cho cơ quan
được quy định có nhiệm vụ thu giữ chúng. Trong tố tụng dân sự, giao nộp chứng
cứ là hoạt động tố tụng mà đương sự phải thực hiện khi tham gia tố tụng để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Về tiếp cận chứng cứ, BLTTDS 2015 hiện hành khơng có điều khoản nào
định nghĩa cụ thể “tiếp cận chứng cứ” là gì mà thuật ngữ này chỉ xuất hiện trong
“phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”.
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, tiếp cận là hành động đến gần, tiến sát gần, ở gần,
kề cạnh6. Theo tác giả Đỗ Xuân Lân, tiếp cận là quá trình tương tác giữa chủ thể
này với một chủ thể khác nhằm đạt được một mục tiêu xác định. ương ứng với
tiếng Việt, tiếng Anh có từ “accessibility” với nghĩa là khả năng đi đến được,
khả năng có thể tiến gần đến. Theo Luật Tiếp cận thông tin 2016, “tiếp cận thông
tin” là việc đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin7. Theo khái niệm
này, “tiếp cận chứng cứ” là khả năng đương sự được trực tiếp tiếp xúc chứng cứ,
tìm hiểu chứng cứ của vụ án dân sự thông qua việc được biết, ghi chép, sao chụp
tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ.
Như vậy, giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong TTDS là hoạt động tố tụng
của đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ thông tin hồ sơ vụ án và
được biết chứng cứ thông qua việc được ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án.
Hồng Phê (2003), tlđd (1), tr.393
Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hố - Thơng tin, tr. 1637.
7
Khoản 3 Điều 2, Luật tiếp cận thông tin 2016.
5
6
12
1.1.1.3. Khái niệm thủ tục sơ thẩm dân sự
Trong lịch sử tồn tại và phát triển hàng nghìn năm, các nhà nước phong
kiến và quân chủ ở Việt Nam đã nhận thức được vai trò của luật pháp và quan
tâm, đầu tư cho việc ban hành pháp luật. ừ “Bắc kỳ Pháp viện biên chế" được
công bố bằng Nghị định ngày 02/12/1921, nhiều quy định về tố tụng được xây
dựng trong thời kỳ này đã thể hiện những triết lý về tố tụng được trải nghiệm và
đúc kết từ thực tế cuộc sống, chẳng hạn như quy định về sự phân cấp thẩm
quyền xét xử, thuật ngữ “sơ thẩm” đã được sử dụng để quy định về cấp xét xử
(Điều 6 Bắc kỳ Pháp viện biên chế: Toà án sơ cấp có thẩm quyền sơ thẩm và
chung thẩm nếu giá ngạch khơng q 30 đồng bạc). Qua q trình lịch sử hình
thành hệ thống pháp luật lâu dài với nhiều sự thay đổi, pháp luật tố tụng dân sự
Việt Nam hiện hành vẫn ghi nhận từ “sơ thẩm”.
Theo phụ bản “Pháp luật danh-từ giải nghĩa” của sách “Lược khảo về Bộ
luật mới Bắc kỳ”, “sơ thẩm” là phàm việc án thuộc về quyền tòa nào xét xử đầu
tiên, mà khi xét xử rồi, lệ còn được kháng cáo, gọi là sơ thẩm8. Theo từ điển Hán
Việt, “sơ thẩm” là từ ghép Hán Việt mang nghĩa là xét xử lần thứ nhất9, trong đó
“sơ” có nghĩa là lần đầu, vừa mới, bắt đầu10; “thẩm” là thẩm tra xét hỏi, xét xử11.
ại từ điển Luật học, “sơ thẩm vụ án dân sự” là xét xử lần đầu vụ án dân sự12.
Theo các khái niệm trên, thủ tục sơ thẩm dân sự là cấp xét xử lần thứ nhất, là cấp
xét xử đầu tiên trong khi giải quyết vụ việc dân sự.
Theo ừ điển Luật học: hủ tục xét xử sơ thẩm là cách thức, trình tự tiến
hành xét xử lần đầu đối với một vụ án hoặc xét xử lại vụ án từ đầu theo quyết
định của hội đồng xét xử phúc thẩm, hội đồng xét xử giám đốc thẩm hoặc hội
đồng xét xử tái thẩm13. Cách định nghĩa này là hoàn toàn đầy đủ và phù hợp với
quy định pháp luật hiện hành.
Như vậy, thủ tục sơ thẩm dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các hoạt động tố tụng bao gồm các hoạt động khởi kiện, yêu cầu và thụ lý
Nguyễn Văn Điển, Nguyễn Hữu Tiến (1923), Lược khảo về Bộ luật mới bắc kỳ, Nhà in Kim-Đức-Giang, tr. 227
Từ điển Hán Nôm, truy cập lúc 20 giờ 34
phút ngày 22/9/2020
10
Từ điển Hán Nôm, truy cập lúc 20 giờ 40 phút ngày 22/9/2020
11
Từ điển Hán Nôm, 22/9/2020
12
Viện khoa học pháp lý Bộ ư pháp (2006), Từ điển luật học, Nxb. Từ điển Bách Khoa, Nxb. ư pháp, tr. 676
13
Viện khoa học pháp lý Bộ ư pháp (2006), tlđd (12), tr.731
8
9
13
vụ việc dân sự; chuẩn bị xét xử, xét đơn yêu cầu; xét xử, mở phiên họp xét đơn
yêu cầu ở cấp giải quyết đầu tiên.
1.1.1.4. Khái niệm về giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm
dân sự.
Trong TTDS, những tin tức, dấu vết về các tình tiết, sự kiện của vụ
việc dân sự được thể hiện dưới những hình thức nhất định do Tịa án sử dụng
làm cơ sở giải quyết vụ việc dân sự được gọi là chứng cứ. “Chứng cứ với tư
cách là “linh hồn” của tố tụng và là nền tảng cơ bản để giải quyết các vụ
việc dân sự”14.
Xét về bản chất pháp lý, những suy đốn của Tịa án dựa vào những dấu
vết vật chất, phi vật chất không phải là chứng cứ mà là đối tượng chứng minh.
Vì tính đặc trưng của chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật, là tình
tiết, sự thật khách quan nên Tịa án căn cứ vào tồn bộ các tình tiết, sự kiện, dữ
liệu, thông tin, tài liệu, sự việc liên quan đến vụ việc dân sự để đánh giá, xác
định, rút ra đâu là chứng cứ “sự thật khách quan”, nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo
vệ công lý, đảm bảo sự thật khách quan, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
được bảo vệ.
Hoạt động giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong TTDS là hoạt động quan
trọng được thực hiện trong quá tố tụng khi đương sự thực hiện quyền chứng
minh của mình. Hoạt động này thực hiện thông qua biện pháp theo quy định
của pháp luật tố tụng dân sự đan xen với hoạt động thu thập chứng cứ, kiểm tra,
đánh giá chứng cứ. Đây là quá trình cơng dân bảo vệ quyền của mình tại cơ
quan tư pháp cùng với việc Tòa án thực hiện nhiệm vụ của mình theo quy định
của luật.
ừ phân tích trên, giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân
sự là hoạt động tố tụng của đương sự trong việc tìm hiểu, ghi nhận, thu thập các
thơng tin, tài liệu, chứng cứ từ những sự việc, sự kiện pháp lý cụ thể liên quan
đến quyền lợi của đương sự theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng quy định
nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự.
Nguyễn Minh Hằng (2009), Hoạt động chứng minh trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb. Chính
trị hành chính, Hà Nội, tr.9.
14
14
1.1.2. Đặc điểm của việc giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ
thẩm dân sự
Giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự có các đặc
điểm sau:
Thứ nhất, hoạt động giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm
dân sự là hoạt động diễn ra sau khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự.
Vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự là các tranh
chấp, yêu cầu nảy sinh từ các quan hệ hôn nhân và gia đình, lao động, kinh
doanh, thương mại và dân sự. Đối với vụ án dân sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức
có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật có quyền khởi kiện u
cầu Tịa án giải quyết vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình,
của người khác hoặc bảo vệ lợi ích cơng cộng, lợi ích nhà nước. Thụ lý vụ án
dân sự là hoạt động tố tụng của Tịa án có thẩm quyền trong việc chấp nhận
đơn khởi kiện của người khởi kiện để tiến hành xem xét và giải quyết các yêu
cầu, tranh chấp của các chủ thể có yêu cầu trong lĩnh vực dân sự.
Theo quy định, khi nộp đơn khởi kiện, đương sự ngoài việc nộp đơn cịn
phải đính kèm tài liệu chứng cứ để chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình. Tùy
thuộc vào từng loại tranh chấp mà đương sự nộp các tài liệu, chứng cứ tương ứng.
Sau khi Tòa án thụ lý, đương sự có quyền biết tài liệu, chứng cứ thơng
qua hoạt động tiếp cận chứng cứ. Trong quá trình a án giải quyết vụ việc dân
sự, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc phản đối u cầu của
người khác, bảo vệ lợi ích cơng cộng, lợi ích của Nhà nước, đương sự có nghĩa
vụ phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và
hợp pháp. rường hợp tài liệu, chứng cứ đã giao nộp chưa đầy đủ, Thẩm phán
có quyền yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung. Hoạt động tiếp cận chứng cứ
thông qua phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và
hòa giải và diễn ra sau khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự.
Thứ hai, việc giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự
phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.
Tuân thủ pháp luật là cơ sở bảo đảm sự công minh, dân chủ của hoạt động
tố tụng, nâng cao hiệu quả hoạt động của TAND trong việc giải quyết các vụ
15
việc dân sự, đảm bảo cho các đương sự thực hiện được các quyền tố tụng nhằm
bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự15. Đối với hoạt động giao nộp, tiếp cận
chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự cũng phải tuân thủ nguyên tắc này.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện khơng chỉ có quyền u cầu TAND
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà cịn có
quyền u cầu TAND bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền cơng
dân, bảo vệ lợi ích nhà nước. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền yêu
cầu TAND bảo vệ mọi lợi ích mà họ cho là hợp pháp phát sinh từ quan hệ pháp
luật dân sự, không phụ thuộc vào việc lợi ích đó đã được pháp luật điều chỉnh
hay chưa.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện khơng chỉ có quyền u cầu TAND
bảo vệ u cầu TAND bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thuộc phạm vi điều
chỉnh của pháp luật dân sự nhưng chưa có điều luật quy định thì TAND khơng
được từ chối giải quyết mà phải giải quyết yêu cầu đó trên cơ sở áp dụng phong
tục, tập quán, tương tự pháp luật, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án
lệ, lẽ công bằng.
Thứ ba, việc giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự là
quyền và nghĩa vụ của đương sự.
Giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự trước hết là
quyền của đương sự. Theo đó, để bảo vệ quyền của mình, đương sự phải giao
nộp chứng cứ để chứng minh u cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Trên
cơ sở quyền tự định đoạt, đương sự lựa chọn các chứng cứ phù hợp để bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình mà khơng bị thúc ép hay ràng buộc bởi bất kỳ
cơ quan, tổ chức, cá nhân nào khác. Quyền được biết, được ghi chép, sao chụp
tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ là quyền quan trọng của đương sự.
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, Tịa án có trách nhiệm xây
dựng hồ sơ vụ án một cách đầy đủ nhằm giải quyết vụ án một cách toàn diện,
kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng trên cơ sở xem xét đầy đủ,
khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố
rường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nguyễn
Thị Hoài Phương, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr. 27
15
16
tụng16. Trách nhiệm xây dựng hồ sơ vụ án khi thụ lý giải quyết của Tịa án
được thực hiện thơng qua việc thu thập tài liệu, chứng cứ để đưa vào hồ sơ.
Trong pháp luật TTDS, hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án là do đương sự
và cơ quan, tổ chức cá nhân khác cung cấp hoặc có thể do Tịa án tiến hành thu
thập thơng qua những hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ trong một số
trường hợp nhất định theo quy định pháp luật tố tụng.
Theo pháp luật TTDS, việc thu thập chứng cứ của đương trong các vụ
việc dân sự còn là nghĩa vụ của đương sự. Khi yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của mình với tư cách là người trực tiếp tham gia vào các
quan hệ pháp luật nội dung, đương sự là người hiểu rõ nhất vì sao họ có u
cầu đó, vì vậy, họ phải cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu hay
phản tố của mình là có căn cứ. Chứng cứ chính là cơ sở của yêu cầu hay phản
đối của các bên trong vụ việc nên sẽ tìm mọi cách để khẳng định chứng cứ đó
có giá trị chứng minh. Nếu đương sự đưa ra yêu cầu mà không đưa ra được
chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc đưa ra những chứng cứ
khơng có giá trị chứng minh thì Tịa án sẽ căn cứ vào các chứng cứ có trong
hồ sơ để giải quyết vụ án và đương sự phải chịu hậu quả về việc không nộp
hoặc nộp không đầy đủ chứng cứ. Hậu quả rõ nét nhất là yêu cầu của đương
sự sẽ bị Tòa án bác bỏ. ương tự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ
lợi ích cơng cộng, lợi ích của Nhà nước, lợi ích hợp pháp của người khác thì
phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, u cầu của mình là
có căn cứ và hợp pháp.
Tòa án chỉ thu thập tài liệu, chứng cứ do cá nhân, cơ quan, tổ chức khác
quản lý mà đương sự không thể thu thập được nên họ yêu cầu Tòa án thu thập tài
liệu, ra quyết định trưng cầu giám định, định giá tài sản17. Đây là một trong
những biện pháp thu thập chứng cứ của đương sự khi tham gia vụ án dân sự.
Quy định này phù hợp với nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS: “Tịa án có
trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ và chỉ tiến hành thu
thập, xác minh chứng cứ trong những trường hợp do Bộ luật này quy định”18.
Khoản 1 Điều 15 BLTTDS 2015 và khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức TAND năm 2014.
Điểm e, g khoản 1 Điều 97 BLTTDS 2015.
18
Khoản 2 Điều 6 BLTTDS 2015.
16
17
17
Điều này cho thấy, “trách nhiệm hỗ trợ” đương sự trong việc thu thập chứng cứ
của Tòa án là “bắt buộc” khi đương sự có đơn yêu cầu và đương sự đã áp dụng
các biện pháp thu thập nhưng không thể tự mình thu thập tài liệu, chứng cứ mà
họ không phải là người quản lý, lưu giữ những tài liệu, chứng cứ đó. Với quy
định mở này sẽ đem lại sự chủ động, tích cực cho hẩm phán nói riêng của Tịa
án nói chung trong hoạt động tố tụng dân sự, hướng tới việc giải quyết vụ án
được chính xác, hiệu quả; còn thể hiện “nhiệm vụ đặc trưng của Tịa án” nhằm
trợ giúp đương sự nói chung, giúp đỡ “người yếu thế” nói riêng, trong q trình
thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền lợi ích chính đáng được pháp luật bảo vệ.
1.2. Ý nghĩa của quy định về giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục
sơ thẩm dân sự
Giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự là hoạt động tố
tụng quan trọng trong thủ tục sơ thẩm dân sự và có các ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, là cơ sở để Tòa án thụ lý vụ án.
Để thực hiện quyền khởi kiện, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện phải
làm đơn khởi kiện, kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng
minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm, nếu không thể
nộp đầy đủ vì lý do khách quan thì vẫn phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có. Đây là
điều kiện bắt buộc mà người khởi kiện phải thực hiện.
Tùy theo từng loại tranh chấp, phạm vi yêu cầu mà đương sự giao nộp
chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện phù hợp. Ví dụ: tranh chấp về quyền sở hữu
tài sản đương sự phải có giấy tờ hoặc chứng cứ chứng minh về quyền sở hữu tài
sản hợp pháp; tranh chấp về giao dịch, hợp đồng dân sự thì phải có các chứng cứ
chứng minh về việc có sự giao kết giữa các bên. Tòa án xác định thẩm quyền
giải quyết khi người khởi kiện có quyền lợi bị xâm phạm và chứng cứ kèm theo.
Thứ hai, là cơ sở để đương sự bảo vệ quyền của mình tại Tịa án.
Trong tố tụng dân sự, để tiếp cận được sự thật khách quan và làm sáng tỏ
nội dung vụ việc dân sự thì phải có chứng cứ. Giao nộp, tiếp cận chứng cứ là
hoạt động chứng minh cơ bản của đương sự. Theo quy định, nguyên đơn đưa ra
yêu cầu phải chung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của họ. Bị đơn
phản đối yêu cầu của nguyên đơn thì phải đưa ra các chứng cứ chứng minh cho
18
sự phản đối đó là có cơ sở. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ
chứng minh cho yêu cầu độc lập của họ bằng chứng cứ mà họ cung cấp. Khi
đương sự đưa ra yêu cầu mà không đưa ra được chứng cứ để chứng minh cho
u cầu của mình thì sẽ khơng được Tịa án bảo vệ.
TAND được Nhà nước thành lập và giao cho chức năng, nhiệm vụ bảo vệ
công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích
Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Trong tố tụng dân sự,
khi các tổ chức, cơ quan, tổ chức có các quyền và lợi ích hợp pháp về dân sự cần
được bảo vệ bằng quyền lực Nhà nước thì họ có quyền gửi đơn khởi kiện, đơn
yêu cầu đến TAND theo thủ tục tố tụng luật định19.
BLTTDS quy định cơ chế thuận lợi cho đương sự tiếp cận công lý. Quyền,
nghĩa vụ của đương sự phát sinh từ hoạt động khởi kiện thông qua hành vi gửi
đơn đến TAND của nguyên đơn và được bảo đảm trong suốt quá trình tố tụng
giải quyết vụ án dân sự tại TAND. Cơ chế bảo đảm quyền và nghĩa vụ của
đương sự là nguyên tắc quyết định và định đoạt trong tố tụng dân sự. Đây là một
trong những nguyên tắc đặc thù trong tố tụng dân sự20. Theo đó, nguyên đơn,
người đưa ra u cầu, bằng ý chí của mình có quyền lựa chọn, quyết định việc
thực hiện hay không thực hiện hành vi tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ
án dân sự để yêu cầu TAND bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ ba, là cơ sở để Tòa án làm căn cứ giải quyết vụ án.
TAND khi xem xét, giải quyết vụ việc dân sự phải căn cứ vào chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án. Pháp luật TTDS đề cao hơn nghĩa vụ tự chứng minh của
đương sự. Theo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân
sự, Tòa án chỉ có trách nhiệm hỗ trợ và có trách nhiệm thu thập chứng cứ trong
những trường hợp cần thiết, Tòa án không làm thay nghĩa vụ chứng minh của
đương sự.
Từ những tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp, Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ việc dân sự tiến hành kiểm tra, xác định những tình tiết có thể
rường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb ư Pháp, Hà Nội,
tr.28-29.
20
Nguyễn Thị Hồi Phương (2016), Bình luận những điểm mới trong BLTTDS 2015, Nxb Hồng Đức – Hội
Luật gia Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh, tr.38.
19
19
làm cơ sở để kết luận vụ việc. Xác định sự thật khách quan của vụ việc dân sự
chính là mục tiêu của Tòa án trong hoạt động tố tụng.
Trong tố tụng dân sự, kết luận trong bản án, quyết định phải phù hợp
với những tình tiết khách quan của vụ án. Hoạt động giao nộp, tiếp cận chứng
cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự sẽ xác định sự mâu thuẫn giữa các tình tiết, sự
kiện, tài liệu, chứng cứ đang có trong vụ án để tìm ra sự thật khách quan, chỉ
rõ bản chất của sự việc; từ đó làm căn cứ để kết luận rõ tính đúng sai của vụ
việc dân sự. Kết quả của giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm
dân sự là tiền đề để thực hiện việc nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ.
Vì vậy, hoạt động giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự có
ý nghĩa giúp Tịa án tìm ra sự thật khách quan, làm sáng tỏ bản chất của vụ
việc dân sự nhằm mục đích bảo vệ cơng lý, bảo vệ quyền con người, quyền
công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; giáo dục mọi người nghiêm chỉnh
chấp hành pháp luật.
1.3. Nội dung hoạt động giao nộp, tiếp cận chứng cứ trong thủ tục sơ
thẩm dân sự
1.3.1. Giao nộp chứng cứ trong thủ tục sơ thẩm dân sự
1.3.1.1. Chủ thể giao nộp chứng cứ
Theo Điều 96 BLTTDS 2015, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài
liệu, chứng cứ cho a án. rường hợp tài liệu, chứng cứ đã được giao nộp chưa
bảo đảm đủ cơ sở để giải quyết vụ việc thì hẩm phán yêu cầu đương sự giao
nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ. Nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp
không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tịa án u cầu mà khơng có lý do chính
đáng thì Tịa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa
án đã thu thập để giải quyết vụ việc dân sự. Đương sự giao nộp cho Tòa án tài
liệu, chứng cứ bằng tiếng dân tộc thiểu số, tiếng nước ngoài phải kèm theo bản
dịch sang tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp. hời hạn giao nộp
tài liệu, chứng cứ do hẩm phán được phân công giải quyết vụ việc ấn định
nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm, thời
hạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này.